1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tạp chí môi trường số 3 2015

74 399 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 3,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trong số này sự kiện & hoạt động [3] tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác hồ xuân Ất Mùi 2015 [5] Phó thủ tướng chính Phủ hoàng trung hải làM việc với Bộ tn&Mt về nghiên cứu tác động của

Trang 1

Website: tapchimoitruong.vn

2015 vietnam environment adminiStration magazine (vem)

TẾT TRỒNG CÂY ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN BÁC HỒ

XUÂN ẤT MÙI 2015

Trang 2

trong số này

sự kiện & hoạt động

[3] tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác hồ

xuân Ất Mùi 2015

[5] Phó thủ tướng chính Phủ hoàng trung hải

làM việc với Bộ tn&Mt về nghiên cứu tác

động của các công trình thủy điện trên

dòng chính sông Mê công

[6] Bộ tn&Mt: tiếP tục đẩy Mạnh Mối quan hệ

hợP tác với các đối tác quốc tế

[7] thứ trưởng Bộ tn&Mt trần hồng hà

tiếP xã giao chủ tịch hội đồng

doanh nghiệP Mỹ - asEan

[8] cùng hành động tạo sự thay đổi

[14] quy định điều Kiện tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc Môi trường

[16] Một số quy định của PháP luật về vai trò cộng đồng dân cư với BvMt nước

[18] nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợP chẤt thải rắn trên lưu vực sông đồng nai

tRAo đỔi & DiỄn đÀn

[25] qua vụ việc chặt hạ cây xanh ở hà nội

nghĩ về Phát huy sức Mạnh cộng đồng

trong công tác BvMt hiện nay

[28] vai trò của tổ chức xã hội trong BvMt

[30] tăng cường công tác quản lý hóa chẤt BvMt

[33] việt naM hướng tới Mục tiêu Phê duyệt công ước

MinaMata về thủy ngân

[34] đánh giá tiêu chí Môi trường trong chương trình

xây dựng nông thôn Mới

3

25

Trang 3

[36] Giải pháp Giảm thiểu ô nhiễm, suy thoái môi trườnG

tronG sử dụnG đất nônG nGhiệp ở Việt nam

[39] thái nGuyên áp dụnG hiệu quả sản xuất sạch hơn

tronG cônG nGhiệp

[40] Giải pháp quản lý bảo Vệ rừnG Và phát triển sinh kế

bền VữnG ở một số địa phươnG miền trunG

Website: tapchimoitruong.vn

Số 3

2015 c ơ q u a n c ủ a t ổ n g c ụ c m ô i t r ư ờ n gvietnam environment adminiStration magazine (vem)

TẾT TRỒNG CÂY ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN BÁC HỒ XUÂN ẤT MÙI 2015

pGs ts Lê Văn Thăng

Gs ts trần Thục pGs ts trương Mạnh tiến

Gs ts Lê Vân trình pGs ts nguyễn Anh tuấn

Fax: (04) 39412053Email: tcbvmt@yahoo.com.vnhttp://www.tapchimoitruong.vn

giấy phép xuất bản

số 1347/Gp-btttt cấp ngày 23/8/2011

bìa 1: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trồng cây tại Khu di tích Đền Hùng, Phú Thọ - Xuân Ất Mùi

MÔI TRƯỜNG & DOANH NGHIỆP

[42] cônG ty busadco: nGhiên cứu, ứnG dụnG khoa học

cônG nGhệ Và bVmt là nền tảnG của sự phát triển

[44] cônG ty cp đào tạo kỹ thuật pVd: thực hiện nGhiêm túc

cônG tác an toàn, Vệ sinh lao độnG

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

[45] các mô hình thích ứnG Với bđkh ở Việt nam

[48] phú yên xây dựnG cơ chế, chính sách liên kết VùnG

tronG ứnG phó Với bđkh

[51] xây dựnG mô hình sinh kế nônG lâm nGhiệp bền VữnG

thân thiện Với môi trườnG Và thích ứnG Với bđkh

[52] bảo tồn, phát triển Và sử dụnG bền VữnG nGuồn tài

nGuyên khu bảo tồn biển đảo cồn cỏ

[54] xây dựnG cônG Viên độnG Vật hoanG dã tại ninh bình

[60] đánh Giá hiện trạnG Và các chức nănG

hệ sinh thái của các VùnG đất nGập nước đô thị

(ao, hồ, đầm) tại phườnG quảnG an, tây hồ, hà nội

[63] ảnh hưởnG của mật rỉ đườnG lên quá trình khử

nitow sau VùnG thiếu khí tronG thùnG phản ứnG

sinh học thEo mẻ (sbr) quy mô phònG thí nGhiệm

[67] nGhiên cứu nânG cao tốc độ phân hủy chất thải

rắn tronG điều kiện bãi chôn lấp

57

Trang 5

TẾT TRỒNG CÂY ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN BÁC HỒ

XUÂN ẤT MÙI 2015

sinh thời, chủ tịch hồ chí minh luôn quan tâm

đến môi trường thiên nhiên, hiểu được ý nghĩa

sâu sắc, giá trị thiết thực của cây xanh đối với

môi trường và con người năm 1959, người đã phát

động phong trào tết trồng cây, động viên và kêu gọi

nhân dân cùng chung tay giữ lấy màu xanh đất nước

kể từ đó đến nay, như một truyền thống tốt đẹp, mỗi

dịp xuân về, “tết trồng cây” là ngày hội của toàn

đảng, toàn dân và toàn quân ta, truyền thống đó đã

mang lại giá trị thực tiễn, góp phần bVmt sinh thái

phát biểu tại lễ phát động tết trồng cây đời

đời nhớ ơn bác hồ nhân dịp xuân ất mùi, ngày

24/2/2015 tại đền hùng (phú Thọ), chủ tịch nước

trương tấn sang kêu gọi đồng bào cả nước cùng

tham gia trồng cây, ngăn chặn tình trạng chặt

phá, đốt rừng, khai thác rừng trái pháp luật; đồng

thời, đề nghị các cấp ủy đảng và chính quyền địa

phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về mục

đích, ý nghĩa của tết trồng cây; phát động tết trồng

cây phù hợp với điều kiện của từng địa phương, cơ

quan, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm

cũng nhân dịp này, để tri ân đại tướng Võ nguyên

Giáp, người đã có nhiều công lao đóng góp cho sự

nghiệp phát triển của đất nước, trong khuôn khổ

chương trình “quỹ 1 triệu cây xanh cho Việt nam”,

tổng cục môi trường phối hợp với công ty cp sữa

Việt nam Vinamilk tổ chức lễ trồng cây tại khu mộ

đại tướng (Vũng chùa, đảo yến, huyện quảng trạch,

tỉnh quảng bình) qua đó, nhằm giáo dục lý tưởng,

đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức, trách nhiệm của

cộng đồng trong việc xây dựng và bVmt, tạo dựng

cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp, góp phần

chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu (bđkh) Thay

VChủ tịch nước Trương Tấn Sang trồng cây tại Khu di tích Đền Hùng, Phú Thọ

VCác đại biểu trồng cây trong khuôn viên mộ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

mặt bộ tn&mt, Thứ trưởng bùi cách tuyến kêu gọi các

bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hãy trồng, chăm sóc, bảo vệ thêm nhiều cây xanh vì môi trường sống và sức khỏe của mỗi người sau buổi lễ, các đại biểu, người dân và hàng trăm đoàn viên, thanh niên

đã tham gia trồng hơn 13.000 cây xanh trong khuôn viên

mộ đại tướng Võ nguyên Giáp

tại khu di tích lịch

sử kim bình (chiêm hóa, tuyên quang), trung ương đoàn Thanh niên cộng sản

hồ chí minh tổ chức lễ khởi động tháng Thanh niên với chủ đề “tự hào tiến bước dưới lá cờ đảng” và tết trồng cây “đời đời nhớ ơn bác hồ”

các đại biểu đã tham gia trồng cây lưu niệm tại khu

di tích lịch sử kim bình;

trồng mới 2 ha rừng tại xã kim bình, huyện chiêm

hóa; Thăm và tặng quà các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng; trao học bổng cho học sinh nghèo vượt khó; khánh thành công trình nhà chức năng trung tâm văn hóa thể thao xã kim bình (trị giá 400 triệu đồng) do Thanh niên xây dựng; làm đường giao thông nông thôn và ra quân tổng vệ sinh môi trường phát biểu tại buổi lễ, chủ tịch ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt nam nguyễn Thiện nhân nhấn mạnh, mỗi bạn trẻ trồng một cây xanh, cả nước sẽ

có hơn 10 triệu cây xanh và trong 10 năm sẽ có hơn 100 triệu cây, góp phần cải thiện môi trường sống và phát triển bền vững đất nước

do đó, cán bộ, đoàn viên, thanh niên và nhân dân cả nước cần tích cực hơn nữa trong việc thực hiện lời dạy của bác

Trang 6

VChủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Nguyễn Thiện Nhân trồng cây tại Khu Di tích lịch sử Kim Bình

(Chiêm Hóa, Tuyên Quang)

VGắn biển Hàng cây thanh niên tại tuyến đường trục Bắc Nam, thị trấn Quốc Oai

nhiều địA phương trên Cả nướC

hưởng ứng tết trồng Cây

tại hà nội, Thành

đoàn tp hà nội phối

hợp với ubnd huyện

quốc oai tổ chức lễ ra

quân Tháng thanh niên

và phát động tết trồng

cây năm 2015 các đại

biểu cùng đoàn viên,

thanh niên đã trồng mới

trên 100 cây xanh các loại

và gắn biển công trình

“hàng cây thanh niên”

tại tuyến đường trục bắc

nam, huyện quốc oai

bên cạnh đó, nhiều cơ sở

đoàn trên địa bàn tp đã

mới trên 3.350 cây xanh

các loại và quét vôi 4.500

gốc cây

nét mới của tết trồng

cây năm 2015 tại hải

phòng là hướng vào chất

lượng, hiệu quả, không

chạy theo phong trào;

trồng cây mùa xuân gắn với tạo cảnh quan xanh cho làng quê nông thôn mới đặc biệt, sau tết trồng cây, các địa phương tiếp tục thực hiện đề án trồng cây phân tán theo quy hoạch nông thôn mới của ubnd tp trong đó,

ưu tiên trồng dừa tại khu vực kênh, mương; phượng vĩ ở các khu di tích lịch sử, trung tâm văn hóa làng; các loại cây bóng mát trồng theo các tiểu vùng sinh thái, hướng đến 3 mục tiêu: trồng theo điểm nhấn, trồng tuyến đường cây xanh đô thị, trồng cây lâm nghiệp kết hợp cải tạo môi trường với phát triển kinh tế trước mắt, tp hải phòng hỗ trợ 83 nghìn cây giống cho ngày đầu phát động tết trồng cây

nhiều năm qua, tp nam định, tỉnh nam định đã tổ chức tốt phong trào trồng, chăm sóc

và bảo vệ cây, mỗi năm tỉnh trồng được hàng nghìn cây xanh, góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển, bảo vệ rừng Với những kết quả đạt được, liên tục trong 4 năm, nam định được hiệp hội các đô thị Việt nam bình chọn là một trong 10 đô thị dẫn đầu cả nước về sáng - xanh

- sạch - đẹp năm 2015, ubnd tp nam định phối hợp với sở nn&ptnt tổ chức lễ phát động tết trồng cây “đời đời nhớ ơn bác hồ” tại khu tưởng niệm lê đức Thọ, xã nam Vân, tp nam định

hưởng ứng phong trào tết trồng cây, tỉnh quảng trị đã có nhiều hoạt động kêu gọi, huy động người dân trồng, chăm sóc và bảo vệ cây bóng mát, rừng phòng hộ, rừng trồng và rừng nguyên sinh.Với phương châm

“nhà nhà trồng cây, người người trồng cây”, tết trồng cây năm 2015, tỉnh đã trồng mới 10.000 cây xanh và phấn đấu trong năm sẽ trồng mới 2 triệu cây xanh trên khoảng diện tích từ 5.000 - 6.000 ha

bùi hằng

Trang 7

PHó THủ TƯỚNG CHíNH PHủ HOàNG TRuNG HẢI làM VIỆC VỚI Bộ

TN&MT VỀ NGHIêN Cứu TÁC độNG CủA CÁC CÔNG TRÌNH THủy đIỆN TRêN DòNG CHíNH sÔNG Mê CÔNG

ngày 3/3/2015, tại hà nội,

phó Thủ tướng chính phủ

hoàng trung hải đã có

buổi làm việc với bộ tn&mt và ủy

ban sông mê công Việt nam về việc

nghiên cứu tác động của các công

trình thủy điện trên dòng chính sông

mê công

trong thời gian qua, bộ tn&mt

và ủy ban sông mê công Việt nam

đã tích cực triển khai thực hiện

nhiệm vụ nghiên cứu, đánh giá tác

động của các công trình thủy điện

trên dòng chính sông mê công đến

vùng hạ du mục tiêu của nghiên cứu

nhằm xây dựng một bộ cơ sở dữ liệu

hoàn chỉnh về các điều kiện nền của

lưu vực sông (lVs) mê công, đặc biệt

là vùng đồng bằng châu thổ sông mê

công (vùng ngập lũ của Việt nam và

campuchia); đánh giá định lượng

tác động của các công trình thủy

điện trên dòng chính tới vùng hạ du

(chế độ dòng chảy, vận chuyển phù

sa và dinh dưỡng, đa dạng sinh học,

chất lượng nước); khai thác thủy

sản… nghiên cứu đã được triển khai

theo đúng tiến độ và dự kiến sẽ hoàn

thành vào tháng 12/2015, nhằm đảm

bảo lợi ích của các bên liên quan và

sự phát triển bền vững lVs mê công

tại buổi làm việc, bộ trưởng bộ tn&mt nguyễn minh quang nhấn mạnh, kết quả nghiên cứu không chỉ đưa ra những cơ sở khoa học cho các quốc gia thành viên ủy hội sông mê công quốc tế mà còn giúp Việt nam ứng phó với thách thức ở đồng bằng sông cửu long, đặc biệt là vấn đề

an ninh tài nguyên nước trong điều kiện biến đổi khí hậu

phó Thủ tướng chính phủ hoàng trung hải đánh giá cao tinh thần làm việc của bộ tn&mt

nghiên cứu đã thu hút sự tham gia

và ủng hộ của nhiều tổ chức, chuyên gia quốc tế có uy tín, cũng như các

bộ, ngành, địa phương có liên quan của Việt nam, đảm bảo chất lượng

và sự minh bạch tuy nhiên, phó Thủ tướng cũng lưu ý, trong quá trình triển khai nghiên cứu, cần cân nhắc lựa chọn các kịch bản, nhất là tác động của biến đổi khí hậu đối với cuộc sống người dân trong lVs mê công; Tham khảo kinh nghiệm các nước, nhằm lựa chọn giải pháp tối ưu

và hiệu quả đồng thời, tăng cường phối hợp với các bên liên quan cũng như tranh thủ sự ủng hộ của thế giới

giA Linh

VToàn cảnh buổi làm việc

TăNG THuẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG đốI VỚI XăNG Dầu

ngày 10/3/2015, ủy ban Thường

vụ quốc hội (ubtVqh) đã

biểu quyết thông qua nghị quyết về

việc tăng thuế bVmt đối với xăng

và một số mặt hàng xăng dầu khác,

riêng dầu hỏa giữ nguyên như hiện

nay nghị quyết có hiệu lực thi hành

kể từ ngày 1/5/2015

Thừa ủy quyền của Thủ tướng

chính phủ, bộ trưởng bộ tài chính

đinh tiến dũng đã giải trình trước

ubtVqh việc Việt nam phải thực

hiện các cam kết quốc tế, cắt giảm

thuế xuất, nhập khẩu theo lộ trình

bên cạnh đó, giá xăng dầu bán lẻ hiện

nay vẫn thấp hơn lào, campuchia và trung quốc (khoảng 5.000 - 6.000 đồng), dẫn đến tình trạng buôn lậu xăng dầu qua biên giới để phù hợp với lộ trình hội nhập asEan, đồng thời bù đắp một phần giảm thu ngân

sách, chính phủ đề nghị tăng thuế bVmt cao gấp 3 lần so với hiện nay (từ 1.000 đồng/lít lên 3.000 đồng/lít) và khi tăng thuế ở mức này, thuế nhập khẩu sẽ giảm từ 35% xuống còn 20%

sau khi thảo luận, ubtVqh thống nhất với đề nghị của chính phủ, song yêu cầu điều chỉnh thời hạn thực hiện phần ngân sách tăng thu (ước tính khoảng 14.000 tỷ đồng)

sẽ được bố trí cho mục đích bVmt

và có tỷ lệ phân chia giữa ngân sách trung ương - địa phương theo pháp

luật hiện hành Vũ hồng

Trang 8

Bộ TN&MT:

Tiếp tục đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác với các đối tác quốc tế

ngày 26/2/2015, tại hà nội, bộ tn&mt

đã có buổi gặp mặt với trưởng đại diện

các tổ chức quốc tế, đại sứ các nước tại Việt

nam đây là sự kiện thường niên, nhằm tăng

cường mối quan hệ hợp tác giữa bộ với các

đối tác quốc tế

Việc đẩy mạnh, mở rộng hội nhập và hợp

tác quốc tế với các đối tác song phương, đa

phương là một trong 5 nhiệm vụ chính mà

bộ tn&mt đã thực hiện hiệu quả trong năm

2014 các hoạt động hợp tác bao trùm tất cả

các lĩnh vực quản lý của bộ, trong đó lĩnh vực

môi trường, biến đổi khí hậu, quản lý đất đai,

tài nguyên nước, khí tượng - thủy văn nhận

được sự ưu tiên hợp tác từ các đối tác quốc tế

bên cạnh đó, bộ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ

từ các tổ chức quốc tế và đối tác đa phương

như chương trình phát triển liên hợp quốc

(undp), chương trình môi trường liên

hợp quốc (unEp), quỹ môi trường toàn cầu

(GEF), ngân hàng Thế giới (wb), liên minh

châu âu (Eu) ; các đối tác song phương như

nhật bản, ôxtrâylia, đan mạch, hàn quốc,

canađa, pháp, hà lan Với sự ủng hộ tích cực

của các đối tác quốc tế, cơ chế đối thoại chính

sách toàn diện giữa bộ tn&mt và các đối tác

quốc tế đã được thiết lập, đảm bảo việc cập

nhật, chia sẻ thông tin giữa hai bên về các hoạt

động cũng như các ưu tiên hợp tác trong lĩnh

vực tn&mt

bộ trưởng bộ tn&mt nguyễn minh

quang cho biết, năm 2015, ngành tn&mt sẽ

tạo đà vững chắc để thực hiện thành công kế

hoạch 5 năm 2016 - 2020; phấn đấu đến năm

2020, phát triển ngành theo hướng hiện đại,

góp phần phát triển bền vững đất nước Theo

đó, toàn ngành tiếp tục xây dựng và hoàn

thiện hệ thống chính sách, pháp luật, chiến

lược, quy hoạch về quản lý tn&mt như: xây

dựng, hoàn thiện và trình chính phủ luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo, luật khí tượng Thủy văn;

tiếp tục hoàn thiện và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện luật bVmt 2014, luật đất đai, luật tài nguyên nước, luật khoáng sản; phối hợp với các đối tác quốc tế triển khai các dự án hợp tác trọng điểm trong các lĩnh vực quản lý của ngành

Về hội nhập và hợp tác quốc tế, bộ sẽ chú trọng tăng cường năng lực cho các hoạt động hợp tác tiếp nhận; Thúc đẩy các hoạt động hợp tác đối tác; đẩy mạnh vai trò làm chủ của phía Việt nam trong các hoạt động hợp tác; Thiết lập mạng lưới cán bộ đầu mối lĩnh vực tn&mt bên cạnh

các tổ chức quốc tế lớn và tại một số địa bàn trọng điểm trên thế giới bên cạnh đó, nâng cao năng lực và thể chế quản lý nhà nước về tn&mt; tăng cường vai trò cầu nối của bộ trong việc kết nối hợp tác giữa các đối tác nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước, khuyến khích đầu

tư nước ngoài vào lĩnh vực tn&mt…

phát biểu tại buổi làm việc, Giám đốc wb tại Việt nam Victoria kwakwa khẳng định, thời gian tới, wb sẽ tiếp tục hợp tác với Việt nam trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu; đồng thời, hỗ trợ cho lĩnh vực đất đai và các lĩnh vực quản lý nhà nước của

bộ tn&mt

bảo bình

VBộ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Minh Quang phát biểu tại buổi gặp mặt

Trang 9

THứ TRƯởNG Bộ TN&MT TRầN HồNG Hà TIẾP Xã GIAO

CHủ TịCH HộI đồNG DOANH NGHIỆP Mỹ - AsEAN

ngày 18/3/2015, tại hà nội,

Thứ trưởng bộ tn&mt trần

hồng hà đã có buổi tiếp xã giao chủ

tịch hội đồng doanh nghiệp mỹ -

asEan, ngài alexander Feldman

phát biểu tại buổi tiếp, Thứ

trưởng bộ tn&mt trần hồng hà

đánh giá cao chuyến thăm và làm

việc của đoàn chủ tịch hội đồng

doanh nghiệp mỹ - asEan với bộ

tn&mt Thứ trưởng nhấn mạnh,

năm 2015 là năm kỷ niệm 20 năm

triển khai quan hệ hợp tác giữa Việt

nam và mỹ Thứ trưởng mong muốn

mối quan hệ hợp tác giữa hai nước

sẽ ngày càng phát triển và bền chặt,

cũng như sự hợp tác và đầu tư của

các doanh nghiệp mỹ tại Việt nam

ngày càng mạnh mẽ

Thứ trưởng cho biết, hiện nay vấn đề ưu tiên hàng đầu của bộ tn&mt đó là lĩnh vực môi trường, trong đó trọng tâm là việc khắc phục ô nhiễm tồn lưu dioxin bên cạnh đó, Việt nam là nước có chỉ số

đa dạng sinh học cao trên thế giới cho nên rất cần sự quan tâm hợp tác của các tổ chức quốc tế trong xây dựng các khu bảo tồn, nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và gìn giữ các nguồn gen quý hiếm ngoài ra, bộ tn&mt mong muốn thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực tài nguyên nước, biến đổi khí hậu, chuyển giao công nghệ về năng lượng tái tạo và năng lượng mới

đối với tài nguyên biển và hải đảo, Việt nam chủ trương đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn vốn quốc tế về khoa học công nghệ tiên tiến để phục vụ công tác điều tra cơ bản và quản

lý tài nguyên môi trường biển, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải biển đông

tại buổi tiếp, đại diện các doanh nghiệp mỹ đã bày tỏ vui mừng và cảm ơn lãnh đạo bộ tn&mt đã dành thời gian làm việc với đoàn

và cho rằng đây là một bước đánh dấu sự hợp tác trong mối quan hệ lâu dài giữa hai bên

L.trAng

nhằm tạo diễn đàn trao đổi,

thảo luận về việc xây dựng các

văn bản hướng dẫn thi hành luật

bVmt 2014, đặc biệt là các văn bản

liên quan đến việc tăng cường thể

chế hóa sự tham gia của cộng đồng

trong bVmt, ngày 16/3/2015, tại hà

nội, tổng cục môi trường phối hợp

với trung tâm con người và Thiên

nhiên tổ chức hội thảo “sự tham

gia của cộng đồng và tổ chức xã hội

trong bVmt: kinh nghiệm thực tiễn

và nhu cầu thể chế hóa cho thực thi

luật bVmt”

phát biểu tại hội thảo, phó tổng

cục trưởng tổng cục môi trường mai

Thanh dung cho biết, luật bVmt

2014 được quốc hội thông qua tại

kỳ họp thứ 7, quốc hội khóa xiii

và có hiệu lực thi hành kể từ ngày

1/1/2015, gồm 20 chương, 170 điều,

trong đó chương 15 quy định về

trách nhiệm và quyền hạn của mặt

trận tổ quốc Việt nam, các tổ chức

chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề

nghiệp và cộng đồng dân cư trong công tác bVmt, góp phần thể chế hóa quy định mới của hiến pháp về bVmt

trong thời gian qua, tổng cục môi trường đã xây dựng, trình bộ tn&mt để trình chính phủ, Thủ tướng chính phủ ban hành 4 nghị định, 1 quyết định quy định các điều khoản của luật bVmt 2014 trong

đó, nghị định số 18/2015/nđ-cp quy định về quy hoạch bVmt, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giác tác động môi trường và kế hoạch bVmt; nghị định số 19/2015/nđ-

cp quy định chi tiết thi hành một số điều của luật bVmt 2014 cũng dành riêng chương 8 quy định về cộng đồng dân cư tham gia bVmt để tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho công tác quản lý nhà nước về bVmt và thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2015,

bộ tn&mt đang tiến hành xây dựng các văn bản hướng dẫn triển khai thi

hành luật bVmt 2014, trong đó các quy định về sự tham gia của cộng đồng tiếp tục được cụ thể hóa với những cơ chế và đảm bảo bằng chế tài pháp lý rõ ràng

tại hội thảo, các đại biểu đã tập trung thảo luận một số nội dung: rà soát các quy định về sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; kinh nghiệm từ sự tham gia của cộng đồng dân cư và các tổ chức

xã hội trong công tác bVmt: bài học

từ chương trình hành động bảo vệ hồ

hà nội; một số khuyến nghị chính sách đảm bảo sự tham gia có hiệu quả của cộng đồng và các tổ chức xã hội Theo các đại biểu, để xây dựng

và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thực thi luật bVmt 2014, cần tạo điều kiện, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào công tác bVmt; đồng thời, cần nâng cao vai trò của các bên tham gia trong quá trình xây dựng chính sách bùi hằng

sự THAM GIA CủA CộNG đồNG Và Tổ CHứC Xã HộI TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Trang 10

Cùng hành động tạo sự thay đổi

ngày 3/3/2015, tại hà nội,

đại sứ quán mỹ tại Việt

nam phối hợp với bộ

tn&mt, bộ nn&ptnt tổ chức

chương trình cùng hành động tạo

sự thay đổi (oGc), với sự tham dự

của ngài đại sứ mỹ tại Việt nam ted

osius, bộ trưởng bộ nn&ptnt cao

đức phát, Thứ trưởng bộ tn&mt

bùi cách tuyến và các tổ chức phi

chính phủ trong nước và quốc tế

Theo thống kê của các cơ quan

bảo tồn quốc tế, trong vòng 40 năm

qua, thế giới đã mất đi 52% sự đa

dạng sinh học (đdsh) trên trái

đất một trong những nguyên nhân

lớn nhất của sự mất mát này là do

nạn buôn bán bất hợp pháp xuyên

quốc gia các loài động vật hoang

dã (đVhd) đang có nguy cơ tuyệt

chủng chính nhu cầu sử dụng

đVhd và các sản phẩm từ đVhd

ngày càng tăng đã kéo theo sự gia

tăng của nạn săn trộm; kết quả là

sự suy giảm đáng báo động về số

lượng loài trên thế giới, đặc biệt là

các loài mang tính biểu tượng như tê

giác, voi và hổ, trong khi đó lại làm

tăng sức mạnh của các tổ chức tội

phạm và làm suy yếu năng lực thực

thi các quy định của pháp luật một

cách hiệu quả trung quốc, mỹ và

Việt nam là ba nước tiêu thụ các sản

phẩm từ buôn bán trái phép đVhd

hàng đầu trên thế giới

phát biểu tại chương trình

oGc, đại sứ mỹ tại Việt nam ted

osius nhấn mạnh, sự bùng nổ của

nạn buôn bán đVhd gần đây đang

đe dọa đến sự sinh tồn của nhiều loài

quý hiếm, nhất là tê giác ở châu phi

trước thực trạng trên, ngài đại sứ

ted osius cho rằng, các cơ quan của

Việt nam cần cùng hành động tạo

sự thay đổi hướng tới việc nâng cao

nhận thức của cộng đồng và giảm nhu cầu đối với đVhd bất hợp pháp

Về phía Việt nam, bộ trưởng bộ nn&ptnt cao đức phát cho biết, để có thể bảo vệ các loài hoang dã, Việt nam đã xây dựng mạng lưới Thực thi luật động vật hoang

dã (wEn) cùng với các hoạt động nâng cao nhận thức, nhằm ngăn chặn nạn buôn bán đVhd bất hợp pháp trong quốc gia cũng như qua biên giới, khu vực

Với vai trò là cơ quan chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện quản

lý nhà nước về đdsh, Thứ trưởng bộ tn&mt bùi cách tuyến khẳng định,

bộ tn&mt đã ban hành các văn bản quan trọng liên quan đến việc bảo vệ các loài nguy cấp như luật đdsh, nghị định số 160/2013/nđ-

cp quy định về tiêu chí xác

định và chế độ quản lý các loài nguy cấp quý, hiếm được

ưu tiên bảo vệ; chiến lược quốc gia về đdsh đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030 Thứ trưởng cũng cho biết, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, bộ tn&mt

đã huy động sự tham gia của các bộ, ngành, cơ quan và các tổ chức phi chính phủ trong việc tăng cường công tác quản lý, bảo tồn và thực thi pháp luật để giải quyết vấn đề tiêu thụ trái phép các loài đang bị đe dọa, các loài đặc hữu và có giá trị tại Việt nam Theo Thứ trưởng, chương trình oGc là một sáng kiến quan trọng nhằm tạo ra thay đổi trong nhận thức về tiêu dùng đVhd, hướng tới những hành động thiết thực về bảo tồn thiên nhiên, đdsh và phát triển bền vững

nguyên hằng

VCác đại biểu tham gia Chương trình

Trang 11

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG NĂM 2014

gS.tS bùi CáCh tuyến

Thứ trưởng Bộ TN&MT kiêm Tổng cục trưởng

ThS nguyễn KiM tuyển

Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ

Tổng cục Môi trường

cải cách hành chính (cchc) là vấn đề

mang tính toàn cầu, là động lực mạnh

mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế,

phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống

xã hội cchc đóng vai trò quan trọng trong

thúc đẩy sự phát triển đất nước cchc được

đảng và nhà nước coi là khâu đột phá, là chìa

khóa thành công để hướng đến xây dựng nền

hành chính dân chủ, trong sạch vững mạnh,

từng bước hiện đại hóa, thực sự là nền hành

chính phục vụ nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát

triển kinh tế - xã hội công tác cchc đã đạt

những kết quả bước đầu quan trọng, góp phần

vào thành tựu chung của đất nước chức năng,

nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan

trong hệ thống hành chính nhà nước được điều

chỉnh, sắp xếp phù hợp hơn, quản lý nhà nước

ngày càng tốt hơn trong điều kiện mới chất

lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy

hành chính nhà nước có bước được nâng lên,

đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ Thủ tục

hành chính và hoạt động của các cơ quan hành

chính nhà nước có bước đổi mới, hiệu lực, hiệu

quả, kỷ luật, kỷ cương được tăng cường

tuy nhiên, nền hành chính còn bộc lộ một

số hạn chế hệ thống thể chế, pháp luật, nhất

là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa vẫn còn nhiều vướng mắc chức

năng, nhiệm vụ của một số cơ quan trong hệ

thống hành chính nhà nước chưa rõ, còn trùng

lặp và chưa bao quát hết các lĩnh vực quản lý

nhà nước; cơ cấu tổ chức bộ máy còn cồng

kềnh, chưa phù hợp chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu; tình trạng

quan liêu, lãng phí còn nghiêm trọng Thể chế,

luật pháp về quản lý tài chính công tuy có nhiều

đổi mới, nhưng còn bất cập Thủ tục hành

chính còn nhiều vướng mắc, gây phiền hà cho

tổ chức và công dân; kỷ luật, kỷ cương cán bộ,

công chức chưa nghiêm; hiệu lực, hiệu quả của

quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém

nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác cchc, ngày 8/11/2011, chính phủ

đã ban hành nghị quyết số 30/nq-cp về chương trình tổng thể cchc nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, với 6 nhiệm vụ: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách

tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa hành chính nghị quyết

đã đưa ra 7 giải pháp để thực hiện chương trình tổng thể cchc nhà nước giai đoạn

2011 - 2020

bám sát sự chỉ đạo của

bộ tn&mt theo kế hoạch cchc của bộ năm 2014, tổng cục môi trường đã ban hành

kế hoạch cchc của tổng cục năm 2014 với 5 mục tiêu, 6 nhiệm vụ và 7 giải pháp bằng

sự quyết tâm và nỗ lực của tập thể lãnh đạo, công chức, viên chức, năm 2014, tổng cục môi trường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cchc mà kế hoạch

đã đặt ra trên 6 nội dung

1 Cải CáCh thể Chế

năm 2014, công tác cchc của tổng cục môi trường đã đạt được những mốc quan trọng trong công tác xây dựng thể chế, chính sách, pháp luật về bVmt

tổng cục đã trình quốc hội thông qua luật bVmt năm 2014 tại kỳ họp thứ 7, quốc hội khóa xiii và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 các văn bản quy định chi tiết thi hành luật cũng đã được khẩn trương xây dựng tổng cục đã hoàn thành

đúng tiến độ xây dựng và trình các văn bản quy phạm pháp luật thuộc chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hàng năm của bộ; tích cực tham gia với các đơn vị thuộc

bộ, các bộ, ngành có liên quan xây dựng một số bộ luật và nhiều thông tư chuyên ngành

và liên ngành; tham mưu triển khai nhiều chính sách, nghị quyết của đảng, chính phủ

về bVmt công tác phổ biến,

tổ chức và theo dõi việc thực thi pháp luật cũng được tổng cục quan tâm thực hiện đến nay, 2 nghị định đã được ban hành, 3 nghị định đã được trình chính phủ xem xét ban hành, 2 quyết định của Thủ tướng chính phủ đã được trình theo đúng tiến độ; 7 văn bản thuộc thẩm quyền cấp bộ

đã được hoàn thiện bên cạnh

đó, tổng cục đã tham mưu bộ trình Thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị số 26/ct-ttg ngày 25/8/2014 về triển khai thi hành luật bVmt năm 2014 và nhiều hoạt động phổ biến, tổ chức và theo dõi việc thực thi pháp luật khác

2 Cải CáCh thủ tụC hành Chính

- tổng cục đã nghiêm túc thực hiện các quy định tại nghị định số 63/2010/nđ-

cp, nghị định số 48/2013/nđ-cp, Thông tư số 05/2014/tt-btp, Thông tư số 07/2014/tt-btp, cụ thể: đã xây dựng quy trình tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thủ tục hành chính (tthc) về môi trường; Theo dõi, đôn đốc tình hình thực hiện các tthc tại các đơn

vị trực thuộc; đăng tải công khai các tthc trong lĩnh vực

Trang 12

môi trường trên cổng thông tin điện

tử của tổng cục

- tiến hành rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các tthc có liên

quan trong quá trình xây dựng văn

bản quy phạm pháp luật hướng dẫn

thực hiện luật bVmt năm 2014

- tiến hành rà soát và niêm yết công khai đầy đủ 13 bộ tthc tại nơi

tiếp nhận và kết quả tthc về môi

trường và đăng tải trên cổng thông tin

điện tử của tổng cục

- Thực hiện việc tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức

đối với tthc thuộc thẩm quyền giải

quyết của tổng cục trong năm 2014,

các đơn vị trực thuộc tổng cục không

tiếp nhận phản ánh, kiến nghị nào của

cá nhân, tổ chức đối với tthc thuộc

thẩm quyền giải quyết của tổng cục

3 Cải CáCh tổ ChứC bộ

Máy

- tổng cục đã tích cực, khẩn trương phối hợp với các đơn vị trực thuộc bộ

trình Thủ tướng chính phủ ban hành

quyết định số 25/2014/qđ-ttg ngày

25/3/2014 của Thủ tướng chính phủ

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền

hạn và cơ cấu tổ chức của tổng cục môi

trường

- nhằm sửa đổi chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc

tổng cục môi trường theo quyết định

số 25/2014/qđ-ttg, bảo đảm tinh

gọn, hiệu lực, hiệu quả, tổng cục trưởng đã ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 18 đơn vị trực thuộc và 2 chi cục bVmt lưu vực sông

- tổng cục đã thực hiện tốt công tác cán bộ như rà soát, điều chỉnh và bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo cấp phòng giai đoạn 2014 - 2016; thực hiện xây dựng đề

án xác định vị trí việc làm và

cơ cấu ngạch công chức, cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức; công tác bổ nhiệm, điều động, luân chuyển và bổ nhiệm lại cán bộ lãnh đạo các cấp được thực hiện theo đúng quy trình quy định

- tổng cục đã chỉ đạo Viện khoa học môi trường xây dựng đề án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế của Viện khoa học môi trường

- Tham gia xây dựng và trình ban hành các quy định, quy chế đảm bảo quản lý tốt các hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ nói riêng

và quản lý nhà nước về bVmt nói chung

4 nâng CAo Chất Lượng đội ngũ Cán

bộ, Công ChứC, Viên ChứC

tổng cục môi trường đã tập trung công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cụ thể:

- tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức hồ chí minh; tổ chức phổ biến, quán triệt đến toàn thể cán

bộ, công chức, viên chức, người lao động về nội dung quyết định số 117-qđ/bcsđbtnmt của ban cán

sự đảng bộ tn&mt quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức viên chức và người lao động ngành tn&mt Theo

đó, tổng cục đã ban hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức viên chức và người lao động ngành môi trường

- tập trung tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành môi trường thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chỉ tính riêng năm

2014, tổng cục đã cử gần

500 lượt cán bộ, công chức, viên chức tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ quản lý nhà nước, lý luận chính trị trong và ngoài nước các đơn vị trực thuộc tổng cục đã tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ nhằm tăng cường năng lực chuyên môn cho 1.545 lượt cán bộ, công chức và viên chức của ngành môi trường

- tổng cục môi trường

VCổng thông tin điện tử Tổng cục Môi trường đã hỗ trợ tích cực công tác cải cách hành chính

Trang 13

đang triển khai xây dựng đề án “kiện toàn tổ

chức bộ máy bVmt từ trung ương đến địa

phương” và đề án “tăng cường năng lực đội

ngũ cán bộ quản lý môi trường, ưu tiên cấp

quận, huyện, phường, xã” để trình Thủ tướng

chính phủ vào quý iV/2015

5 Cải CáCh tài Chính Công

- trọng tâm của công tác cải cách tài chính

công là thực hiện xây dựng và hướng dẫn thực

hiện các quy định, quy chế về công tác kế hoạch

- tài chính; tổ chức hội nghị tập huấn công tác

quản lý kế hoạch - tài chính cho các đơn vị dự

toán cấp 3, các ban quản lý dự án trực thuộc

tổng cục

- nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho công tác

quản lý nguồn ngân sách sự nghiệp môi trường

của tổng cục trong thời gian tới, tổng cục môi

trường đã triển khai áp dụng đưa phần mềm

quản lý các nhiệm vụ, dự án từ nguồn chi sự

nghiệp môi trường

- nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công

tác triển khai các nhiệm vụ, dự án, đề án trong

những năm tới, tổng cục môi trường đang tiếp

tục rà soát danh mục các định mức kinh tế kỹ

thuật trong lĩnh vực môi trường cần xây dựng

mới, hoặc bổ sung

- ban hành chương trình thực hành tiết

kiệm chống lãng phí năm 2014 của tổng cục

môi trường; chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị

trực thuộc tổng cục tăng cường trong công tác

quản lý tài sản nhà nước

- xây dựng và thực hiện phương án tự chủ,

tự chịu trách nhiệm theo quy định tại nghị

định số 43/2006/nđ-cp ngày 25/4/2006 của

chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu

trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức

bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự

nghiệp công giai đoạn 2013 - 2015 của 5 đơn

vị sự nghiệp môi trường và 1 đơn vị sự nghiệp

khoa học

- tiếp tục thực hiện nghiêm túc nghị quyết

số 11/nq-cp ngày 24/2/2011 của chính phủ

về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế

lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an

sinh xã hội

6 hiện đại hóA

nền hành Chính

- Việc tăng cường ứng dụng công nghệ

thông tin (cntt), truyền thông, triển khai

cổng thông tin điện tử điều hành tác nghiệp

đã và đang được tổng cục môi trường thực

hiện có hiệu quả năm

2014, cổng thông tin điện tử của tổng cục đã đạt trên 41 triệu lượt truy cập khai thác sử dụng

cổng thông tin đối ngoại cũng được duy trì thường xuyên với 4 thứ tiếng:

anh, pháp, trung quốc, tây ban nha trên cổng thông tin điện tử của tổng cục đã xây dựng chuyên mục “tin tức cải cách thủ tục hành chính”

tại địa chỉ: http://vea.gov

vn/vn/vanbanphapquy/

caicachthutuchc

- tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch ứng dụng cntt của bộ và tổng cục giai đoạn 2011-2015; hoàn thiện dự án

“tăng cường năng lực ứng dụng cntt tại tổng cục môi trường”

- ngày 20/3/2014, tổng cục trưởng tổng cục môi trường đã ký ban hành quyết định số 195/

qđ-tcmt về việc ban hành quy chế quản lý, sử dụng phần mềm quản lý văn bản, hồ sơ công việc trên cổng thông tin điện

tử tổng cục đây là cơ sở quan trọng và là sự thể hiện chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo tổng cục trong việc triển khai phần mềm quản lý văn bản, hồ sơ công việc trong toàn tổng cục

- xây dựng phần mềm Giao lưu trực tuyến nhằm tăng cường trao đổi giữa tổng cục môi trường

và sở tn&mt các tỉnh với người dân và doanh nghiệp hiện nay có thể triển khai thử nghiệm hoạt động Giao lưu trực tuyến của tổng cục môi trường

- Thực hiện kế hoạch của bộ tn&mt, tổng cục môi trường triển khai xây dựng hệ thống quản

lý chất lượng theo tiêu chuẩn iso 9001:2008 tại khối Văn phòng tổng cục với 26 quy trình; trong

đó có 9 quy trình chung

hệ thống và 17 quy trình nghiệp vụ

- tổng cục môi trường đã phối hợp với quỹ hemisphere singapore để triển khai

dự án “xây dựng Văn phòng xanh” tại các đơn

vị thuộc tổng cục, với mục tiêu: “xây dựng văn phòng xanh tại cơ quan công sở nhằm hướng tới thay đổi các hành vi của nhân viên theo hướng tiết kiệm, bVmt”

công tác cchc của tổng cục môi trường năm

2014 đã đạt được các kết quả rất đáng khích lệ, thực hiện thành công kế hoạch đặt ra trên cả 6 nhiệm vụ

để đạt được những kết quả trên là do có sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo tổng cục, sự quyết tâm của toàn thể cán bộ, công chức và viên chức của tổng cục

tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới toàn diện của nền hành chính, trong năm 2015, tổng cục môi trường cần tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được

và khắc phục những khó khăn mới đặt ra để nâng cao hiệu quả của công tác cchc tổng cục phấn đấu thực hiện mục tiêu kép là bộ máy tổ chức hoạt động có hiệu quả, đội ngũ cán bộ công chức và viên chức tận tâm, tận tụy với công việc và nhân dânn

Trang 14

Nội dung cơ bản của Quyết định số 73/2014/QĐ-TTg quy định Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất

nguyễn đứC hưng - Phó Cục trưởng

Cục Kiểm soát ô nhiễm

Tổng cục Môi trường

CĂn Cứ bAn hành

Quyết định

luật bVmt năm 2014 đã có hiệu lực thi

hành từ ngày 1/1/2015, trong đó tại điều 76

quy định các nội dung về bVmt trong nhập

khẩu phế liệu Theo đó, tổ chức, cá nhân nhập

khẩu phế liệu phải đáp ứng yêu cầu quy định

tại khoản 2 điều 76 và phế liệu nhập khẩu phải

đáp ứng quy định tại khoản 1 điều 76 tức là

phải thuộc danh mục phế liệu được phép

nhập khẩu do Thủ tướng chính phủ quy định

và phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

về môi trường do bộ tn&mt quy định trên

cơ sở đó, Thủ tướng chính phủ đã ban hành

quyết định số 1338/qđ-ttg ngày 11/8/2014

về việc ban hành danh mục và phân công cơ

quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi

tiết thi hành các luật được quốc hội khóa xiii

thông qua tại kỳ họp thứ 7 trong đó, giao bộ

tn&mt chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành,

địa phương xây dựng dự thảo quyết định của

Thủ tướng chính phủ quy định danh mục phế

liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài

liên quan đến hoạt động quản lý, bVmt

trong kinh doanh, nhập khẩu phế liệu, luật

bVmt 2005 và các văn bản hướng dẫn luật đã

đóng vai trò tích cực trong công tác quản lý nhà

nước về bVmt và bảo đảm thực hiện các quy

định của pháp luật về bVmt trong hoạt động

này tuy nhiên, một trong những khó khăn nảy

sinh là việc áp dụng các quy định về bVmt

trong việc mua, bán phế liệu đối với doanh

nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi

thuế quan với các doanh nghiệp bên ngoài

mặt khác, tiến trình công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước đã dẫn đến việc gia tăng nhu

cầu về nguyên liệu sản xuất, cùng với việc đẩy

mạnh công nghệ sản xuất, tái chế nên nhu cầu

nhập khẩu phế liệu vào Việt nam trong những

năm gần đây có xu hướng tăng cả về số lượng

cũng như chủng loại Theo đó, rủi ro môi

trường từ hoạt động nhập khẩu phế liệu cũng

gia tăng luật bVmt năm 2014 được ban hành

đã quy định cụ thể về yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân nhập khập khẩu phế liệu, trách nhiệm ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu và sẽ được bộ tn&mt xây dựng quy định hướng dẫn thực hiện trong

dự thảo nghị định về quản

lý chất thải và phế liệu đồng thời, luật bVmt năm 2014 cũng quy định thẩm quyền của Thủ tướng chính phủ ban hành danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài

và giao tn&mt xây dựng

hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu nhập khẩu

như vậy, việc ban hành quyết định số 73/2014/qđ-ttg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng chính phủ quy định danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất là cần thiết đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế và bVmt

nội Dung Cơ bản CủA Quyết định

quyết định số 73/2014/

qđ-ttg ngày 19/12/2014 của

Thủ tướng chính phủ quy định danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài

để làm nguyên liệu sản xuất gồm có 5 điều và 1 phụ lục:

- điều 1 ban hành danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất

- điều 2 quy định về đối tượng được điều chỉnh bởi quyết định này chỉ bao gồm

36 loại phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất ở trong nước

và không áp dụng đối với hoạt động tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnh phế liệu qua lãnh thổ Việt nam

- điều 3 quy định về trách nhiệm của bộ tn&mt chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành

có liên quan xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với 36 loại phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất

- điều 4 quy định về hiệu lực thi hành của quyết định từ ngày 5/2/2015

VLuật BVMT năm 2014 đã quy định cụ thể yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu, trách nhiệm ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu

Trang 15

DAnh MụC phế Liệu đượC phép nhập KhẨu

tỪ nướC ngoài LàM nguyên Liệu Sản xuất

(Theo Quyết định số 73/2014/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ)

2 Xỉ hạt nhỏ (xỉ cát) từ công nghiệp luyện sắt hoặc thép 2618 00 00

3 Các nguyên tố hóa học đã được kích tạp dùng trong điện tử, ở dạng đĩa, tấm mỏng, hoặc các dạng tương tự 3818 00 00

4 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme etylen (PE): Dạng xốp, không cứng 3915 10 10

5 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme etylen (PE): Loại khác 3915 10 90

6 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme styren (PS): Dạng xốp, không cứng 3915 20 10

7 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme styren (PS): Loại khác 3915 20 90

8 Phế liệu và mảnh vụn của plastic (nhựa) từ polyme vinyl clorua (PVC): Dạng xốp, không cứng 3915 30 10

9 Phế liệu và mảnh vụn của plastic (nhựa) từ polyme vinyl clorua (PVC): Loại khác 3915 30 90

10 Phế liệu và mẩu vụn từ plastic (nhựa) khác 3915 90 00

11 Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn thừa): Giấy kraft hoặc bìa kraft hoặc giấy hoặc bìa sóng, chưa tẩy trắng. 4707 10 00

12 Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn thừa): Giấy hoặc bìa khác được làm chủ yếu bằng bột giấy thu được từ quá trình hóa học đã tẩy trắng, chưa nhuộm màu toàn bộ. 4707 20 00

13 Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn thừa): Giấy hoặc bìa khác được làm chủ yếu bằng bột giấy thu được từ quá trình cơ học (ví dụ, giấy in báo, tạp chí và các ấn phẩm tương tự). 4707 30 00

14 Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn thừa): Loại khác, kể cả phế liệu và vụn thừa chưa phân loại 4707 90 00

15 Tơ tằm phế liệu (kể cả kén không thích hợp để quay tơ, xơ sợi phế liệu và xơ sợi tái chế) 5003 00 00

16 Thủy tinh vụn và thủy tinh phế liệu và mảnh vụn khác; thủy tinh ở dạng khối 7001 00 00

18 Phế liệu và mảnh vụn của thép hợp kim: bằng thép không gỉ 7204 21 00

19 Phế liệu và mảnh vụn của thép hợp kim: Loại khác (khác với loại bằng thép không gỉ) 7204 29 00

20 Phế liệu và mảnh vụn của sắt hoặc thép tráng thiếc 7204 30 00

21 Phế liệu và mảnh vụn của sắt hoặc thép: Phoi tiện, phoi bào, mảnh vỡ, vảy cán, phoi cắt và bavia, chưa được ép thành khối hay đóng thành kiện, bánh, bó. 7204 41 00

22 Phế liệu và mảnh vụn khác của sắt 5hoặc thép: Loại khác 7204 49 00

23 Thỏi đúc phế liệu (bằng sắt, thép, gang) nấu lại 7204 50 00

- điều 5 quy định về trách nhiệm của bộ tn&mt

hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi việc thực hiện quyết định

này

- phụ lục kèm theo quyết định là danh mục 36 loại

phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm

nguyên liệu sản xuất và mã hàng nhập khẩu (mã hs)

theo quy định của bộ tài chính ban hành biểu thuế xuất

khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt

hàng chịu thuế

Kết Luận

để đảm bảo hạn chế các rủi ro về môi trường trong

hoạt động nhập khẩu phế liệu, bộ tn&mt đã đề nghị

Thủ tướng chính phủ giao bộ tn&mt phối hợp với

bộ công Thương, bộ tài chính thường xuyên rà soát,

nghiên cứu, báo cáo Thủ tướng chính phủ về việc bổ sung một số loại phế liệu có giá trị kinh tế khi tái chế, tái

sử dụng và ít gây tác động xấu tới môi trường

cùng với việc ban hành quyết định này, hệ thống các quy định về bVmt trong nhập khẩu phế liệu đã được hình thành và có sự khác biệt đáng kể so với hệ thống các quy định theo luật bVmt 2005, nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, bVmt trong hoạt động nhập khẩu phế liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho nhu cầu nguyên liệu sản xuất của doanh nghiệp ngoài ra, các quy định liên quan đến bVmt trong hoạt động nhập khẩu phế liệu theo quy định tại luật bVmt năm 2014 là phù hợp với các quy định, điều ước quốc tế mà Việt nam tham gia, đặc biệt là các quy định này hỗ trợ hiệu quả cho việc thực hiện công ước basel về vận chuyển chất thải xuyên biên giớin

Trang 16

QUY ĐỊNH ĐIỀU KIỆN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG

DỊCH VỤ QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG

nguyễn VĂn thùy - nguyễn thị nguyệt ánh

Trung tâm Quan trắc Môi trường,

Tổng cục Môi trường

luật bVmt năm 2014 được quốc hội

khóa xiii, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày

23/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày

1/1/2015 thay thế luật bVmt năm 2005 Theo

đó, việc rà soát, chỉnh sửa, bổ sung hoặc thay

thế những văn bản quy định chi tiết và thi hành

luật bVmt năm 2005 cũng được triển khai

đồng bộ

nghị định số 27/2013/nđ-cp ngày

29/3/2013 của chính phủ quy định điều kiện

của tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc môi

trường (qtmt), có hiệu lực thi hành từ ngày

5/6/2013 nhằm quy định chi tiết khoản 3, điều

95 luật bVmt năm 2005 nghị định quy định

về điều kiện hoạt động dịch vụ qtmt; hồ sơ và

thủ tục cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung, cấp

lại, tạm thời đình chỉ hiệu lực, thu hồi và hủy

bỏ Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động

dịch vụ qtmt Việc thẩm định, chứng nhận tổ

chức đủ điều kiện hoạt động dịch vụ qtmt sẽ

được thực hiện căn cứ theo các điều kiện quy

định tại điều 9, điều 10 nghị định số 27/2013/

nđ-cp

qua hơn một năm triển khai thực hiện

nghị định số 27/2013/nđ-cp cho thấy, văn

bản đã thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống nhìn

chung, chất lượng của hoạt động qtmt đã

được nâng cao và đi vào nề nếp, bài bản

tuy vậy, để thực hiện quy định của luật ban

hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất

của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống

pháp luật về môi trường, căn cứ quy định của

luật bVmt năm 2014, việc xây dựng nghị định

quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch

vụ qtmt căn cứ điều 126 luật bVmt năm

2014, thay thế nghị định số 27/2013/nđ-cp

ngày 29/3/2013 đã được bộ tn&mt tổ chức

thực hiện ngày 31/12/2014, Thủ tướng chính

phủ đã ký ban hành nghị định số 127/2014/

nđ-cp của chính phủ quy định điều kiện

của tổ chức hoạt động dịch vụ qtmt (sau đây

gọi tắt là nghị định) nghị định có hiệu lực thi

hành kể từ ngày 15/2/2015

Về cơ bản, nghị định kế thừa toàn bộ nội dung của nghị định số 27/2013/nđ-

cp do những nội dung trong nghị định số 27/2013/nđ-

cp vẫn còn phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan, đặc biệt khoản 1, điều

126 luật bVmt 2014 vẫn giữ nguyên như khoản 3, điều

95 luật bVmt 2005 Vì vậy, cấu trúc và các nội dung quy định của nghị định cơ bản vẫn không thay đổi so với trước đây, ngoại trừ quy định

về "các hành vi bị cấm” tại điều 4 nghị định số 27/2013/

nđ-cp trước đây đã không còn được quy định tại nghị định số 127/2014/nđ-cp để đảm bảo tính hợp hiến theo quy định tại khoản 2, điều 14 hiến pháp năm 2013

nghị định này áp dụng đối với các cơ quan quản lý về môi trường, tổ chức hoạt động dịch

vụ qtmt trên lãnh thổ nước

cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam trong đó, tổ chức hoạt động dịch vụ qtmt bao gồm: doanh nghiệp thành lập theo luật doanh nghiệp; các

tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ thành lập theo luật khoa học và công nghệ; và các

tổ chức sự nghiệp môi trường được thành lập và hoạt động theo nghị định số 55/2012/nđ-cp ngày 28/6 /2012 của chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn

vị sự nghiệp công lập các tổ chức sự nghiệp công lập thực hiện hoạt động qtmt do cơ quan quản lý nhà nước giao

kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước không chịu sự điều chỉnh của nghị định này.cũng theo nghị định, các

tổ chức khi hoạt động dịch vụ qtmt (bao gồm hoạt động quan trắc tại hiện trường

và hoạt động phân tích môi trường) phải có Giấy chứng

VHoạt động dịch vụ quan trắc môi trường góp phần nâng cao chất lượng quan trắc môi trường, phù hợp với chủ trương xã hội hóa môi trường

Trang 17

nhận đủ điều kiện hoạt động

hoặc Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh hoặc Giấy

chứng nhận đầu tư do cơ quan

nhà nước có thẩm quyền cấp,

trong đó có hoạt động qtmt;

có đủ điều kiện về nhân lực,

chuyên môn, trang thiết bị và

cơ sở vật chất thực hiện hoạt

động qtmt các điều kiện

này được quy định cụ thể tại

điều 8 và điều 9 của nghị

tn&mt là cơ quan có thẩm

quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh

nội dung, cấp lại, tạm thời

đình chỉ hiệu lực, thu hồi và

hủy bỏ Giấy chứng nhận

nghị định cũng quy định

về trình tự và thủ tục cấp, gia

hạn, điều chỉnh nội dung, cấp

lại, tạm thời đình chỉ, thu hồi

trường hợp được cấp, gia hạn,

điều chỉnh nội dung và cấp

lại Giấy chứng nhận theo quy

tổ chức tham gia hoạt động qtmt không đúng phạm vi, lĩnh vực được cấp Giấy chứng nhận; tổ chức sử dụng Giấy chứng nhận không đúng mục đích; tổ chức không thực hiện đúng các quy định về chứng nhận; tổ chức không thực hiện đúng và đầy đủ các quy định kỹ thuật về quy trình, phương pháp qtmt do bộ tn&mt quy định, không duy trì chương trình bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng trong qtmt trường hợp tổ chức bị cấm hoạt động, bị tuyên bố phá sản, bị giải thể, chia, tách hoặc khi tổ chức không còn đáp ứng đủ một trong các điều kiện quy định tại điều 8 và điều 9 của nghị định; không thực hiện đúng quy định kỹ thuật về qtmt và không thực hiện, duy trì chương trình bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng trong qtmt sẽ bị thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận

Với sự ra đời của nghị định số 27/2013/nđ-cp trước đây và nghị định số 127/2014/nđ-cp hiện tại quy định về điều kiện của

tổ chức hoạt động dịch vụ qtmt, hoạt động qtmt nói chung và hoạt động dịch

vụ qtmt nói riêng đã và đang có những chuyển biến

rõ nét; góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng của hoạt động qtmt, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ đắc lực, hiệu quả cho công tác bVmt ở nước ta, phù hợp với chủ trương xã hội hóa dịch vụ qtmtn

Quy HOạCH QuẢN lý CHấT THẢI RắN lƯu VựC sÔNG NHuỆ - sÔNG đÁy đẾN NăM 2030

ngày 12/2/2015, Thủ tướng

chính phủ ban hành quyết định số 223/qđ-ttg về phê duyệt quy hoạch quản lý chất thải rắn (ctr) lưu vực (lV) sông nhuệ - sông đáy đến năm 2030 Theo đó, phạm vi quy hoạch thuộc toàn bộ ranh giới hành chính của tỉnh hà nam, ninh bình và một phần tỉnh hòa bình, nam định và tp hà nội, với tổng diện tích khoảng 7.665

km2 quy hoạch đề ra chỉ tiêu đến năm 2020, tỷ lệ thu gom ctr sinh hoạt khu vực đô thị 95%, nông thôn 70%; ctr xây dựng 80%; ctr công nghiệp, làng nghề thông thường 80-90%, ctr nguy hại (công nghiệp, làng nghề) khoảng 70-80%

nội dung của quy hoạch gồm:

đến năm 2030, đầu tư nâng cấp

18 cơ sở xử lý ctr thuộc lV sông nhuệ - sông đáy; các cơ sở xử lý ctr cần được bố trí ở ngoài phạm

vi đô thị, cuối hướng gió chính, cuối dòng chảy của sông suối và trồng cây xanh cách ly, đảm bảo khoảng cách an toàn về môi trường theo đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành nhằm bảo vệ nguồn nước trong lV sông nhuệ - sông đáy; các địa phương cần rà soát, xây dựng và thực hiện các giải pháp hạn chế ảnh hưởng tới môi trường đối với các cơ sở xử lý ctr hiện hữu; xây dựng hệ thống thu gom

xử lý nước rỉ rác, chuyển đổi công nghệ, hạn chế chôn lấp, đóng cửa các bãi chôn lấp ctr không hợp

vệ sinh; nâng cấp, cải tạo, xử lý và kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ sở

xử lý ctr khác nhằm bảo vệ nguồn nước trong toàn lV

ước tính vốn đầu tư triển khai quy hoạch quản lý ctr các tỉnh thuộc lV sông nhuệ - sông đáy đến năm 2030 khoảng 7.600 tỷ đồng

Trang 18

Một số quy định của pháp luật về vai trò cộng đồng dân cư với bảo vệ môi trường nước

nghiêM xuân bạCh

Liên minh Nước sạch

ngày nay, công tác bVmt được

nhà nước, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đặc biệt quan tâm tại Việt nam, pháp luật bVmt

đang dần được cụ thể hóa trong nội

dung hiến pháp bài viết giới thiệu

những quy định của pháp luật liên

quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa

vụ của công dân và cộng đồng dân cư

trong lĩnh vực bVmt nói chung, môi

trường nước nói riêng sau khi hiến

pháp 2013 và luật bVmt năm 2014

có hiệu lực

hiến pháp năm 2013 có hiệu lực

từ năm 2014, gồm một số quy định cơ

bản quan trọng về quyền của công dân

liên quan tới bVmt như sau: điều 28

quy định, công dân có quyền tham gia

quản lý nhà nước, xã hội: Thảo luận

và kiến nghị với cơ quan nhà nước về

các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả

nước; nhà nước tạo điều kiện để công

dân tham gia quản lý nhà nước, xã hội

và công khai, minh bạch trong việc

tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị

của công dân điều 30, khoản 1 quy

định, mọi người có quyền khiếu nại,

tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền về những việc làm trái

pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá

nhân điều 43 quy định, mọi người

có quyền được sống trong môi trường

trong lành và có nghĩa vụ bVmt nhà

nước có chính sách bVmt; quản lý,

sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn

tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên

nhiên, đa dạng sinh học (đdsh); chủ

động phòng, chống thiên tai, ứng phó

với biến đổi khí hậu; khuyến khích

mọi hoạt động bVmt, sử dụng năng

lượng mới, năng lượng tái tạo tổ chức,

cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm

suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy

giảm đdsh phải bị xử lý nghiêm và

có trách nhiệm khắc phục, bồi thường

thiệt hại (điều 63)

tại kỳ họp thứ 7, quốc hội khóa xiii, quốc hội đã thông qua luật bVmt năm

2014, trong đó cụ thể hóa một bước các quy định của hiến pháp về quyền và nghĩa vụ của

cá nhân, cộng đồng dân cư bVmt nói chung và liên quan trực tiếp đối với môi trường nước nói riêng, cụ thể:

điều 5, khoản 1 quy định, nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tham gia hoạt động bVmt; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động bVmt;

khoản 10 quy định nhà nước ghi nhận, tôn vinh cơ quan, tổ

chức, hộ gia đình, cá nhân có đóng góp tích cực trong công tác bVmt

điều 6 quy định, nhà nước khuyến khích công dân

và cộng đồng dân cư xây dựng thôn, làng, bản, ấp, khu dân

cư thân thiện với môi trường (khoản 9); phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư (khoản 10); công dân, cộng đồng dân cư hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xóa bỏ hủ tục gây hại đến môi trường (khoản 11)

VLuật BVMT năm 2014 khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập tổ tự quản BVMT nơi mình sinh sống và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện

Trang 19

điều 7 nêu ra một số hành vi gây ô nhiễm

môi trường bị cấm như: xả thải chất thải chưa

được xử lý đạt quy chuẩn ra môi trường; chất

độc, phóng xạ và các loại chất thải nguy hại

khác vào đất, nguồn nước, không khí (khoản

5); đưa vào nguồn nước hóa chất độc hại,

chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và

tác nhân độc hại khác đối với con người, sinh

vật (khoản 6); che dấu hành vi hủy hoại môi

trường, cản trở hoạt động bVmt, làm sai lệch

thông tin dẫn đến hậu quả xấu đối với môi

trường (khoản 15); người có thẩm quyền lợi

dụng chức vụ, vượt quá quyền hạn để làm trái

quy định về quản lý môi trường (khoản 16)

điều 56 quy định, nguồn nước hồ, ao, kênh,

mương, rạch phải được điều tra, đánh giá trữ

lượng, chất lượng và bảo vệ để điều hòa nguồn

nước; hồ, ao, kênh, mương, rạch trong đô thị,

khu dân cư phải được quy hoạch để cải tạo, bảo

vệ; tổ chức, cá nhân không được lấn chiếm, xây

dựng trái phép công trình, nhà ở trên mặt nước

hoặc trên bờ tiếp giáp mặt nước hồ, ao, kênh,

mương, rạch; hạn chế tối đa việc san lấp hồ, ao

trong đô thị, dân cư ubnd cấp tỉnh có trách

nhiệm điều tra, đánh giá trữ lượng, chất lượng

và lập kế hoạch bảo vệ, điều hòa chế độ nước

của hồ, ao, kênh, mương, rạch; cải tạo hoặc di

dời các khu, cụm nhà ở, công trình trên hồ, ao,

kênh, mương, rạch, gây ô nhiễm môi trường,

làm tắc nghẽn dòng chảy, suy thoái hệ sinh thái

đất ngập nước và làm mất mỹ quan đô thị

điều 58 quy định, cơ sở sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ có sử dụng hóa chất độc hại,

chất phóng xạ phải có biện pháp bảo đảm

không để rò rỉ, phát tán vào nguồn nước dưới

đất

điểm a, khoản 1, điều 68 quy định, cơ sở

sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải thu gom, xử

lý nước thải, bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi

trường trước khi xả ra môi trường tự nhiên

điều 69 quy định, phân bón, sản phẩm xử

lý môi trường chăn nuôi đã hết hạn sử dụng;

dụng cụ, bao bì đựng phân bón, thuốc bảo

vệ thực vật, thuốc thú y sau khi sử dụng phải

được xử lý theo quy định về quản lý chất thải

(khoản2) khu chăn nuôi tập trung phải có

phương án về bVmt ; Thu gom, xử lý nước

thải, chất thải rắn theo quy định; Vệ sinh

chuồng, trại định kỳ, phòng ngừa, ứng phó

với dịch bệnh; xác vật nuôi bị chết do dịch

bệnh phải được quản lý theo quy định về quản

lý chất thải nguy hại và vệ sinh phòng bệnh

(khoản 3)

điều 70 quy định, làng

có nghề phải có phương án bVmt làng nghề; kết cấu

hạ tầng bảo đảm thu gom, phân loại, lưu trữ, xử lý, thải

bỏ chất thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; có tổ chức

tự quản về bVmt (khoản1);

ubnd cấp xã có làng nghề phải lập, triển khai thực hiện phương án bVmt (khoản 4)

và hàng năm có báo cáo gửi ubnd cấp huyện; ubnd cấp huyện có làng nghề phải chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra, thanh tra công tác bVmt làng nghề trên địa bàn, hàng năm báo cáo ubnd cấp tỉnh

về công tác bVmt làng nghề (khoản 5); ubnd cấp tỉnh

có làng nghề phải quy hoạch, xây dựng, cải tạo và phát triển làng nghề gắn với bVmt

đồng thời, bố trí ngân sách cho các hoạt động bVmt làng nghề; chỉ đạo, tổ chức đánh giá mức độ ô nhiễm

và xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn; xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải; khu tập kết, xử lý chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại cho làng nghề; quy hoạch khu công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề và có kế hoạch di rời cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư (khoản 6)

điều 71 quy định, thuốc thú y thủy sản, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản đã hết hạn sử dụng, bao bì đựng thuốc thú y thủy sản, hóa chất sau khi sử dụng, bùn đất

và thức ăn lắng đọng khi làm

vệ sinh ao nuôi thủy sản phải được thu gom, xử lý theo quy định về quản lý chất thải (khoản 3)

điều 72 quy định, bệnh viện, cơ sở y tế phải thu gom,

xử lý nước thải y tế đạt quy

chuẩn kỹ thuật môi trường (điểm a, khoản 1);

điều 73, khoản 3 quy định, công trình xây dựng trong khu dân cư phải bảo đảm không phát tán bụi, nhiệt, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường; Việc vận chuyển vật liệu được thực hiện bằng phương tiện bảo đảm yêu cầu kỹ thuật, không làm rò rỉ, rơi vãi gây ô nhiễm môi trường; nước thải, chất thải rắn và các loại chất thải khác phải được thu gom, xử

lý theo đúng quy định

điều 82 yêu cầu hộ gia đình giảm thiểu, phân loại rác thải tại nguồn, thu gom

và chuyển rác thải, nước thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định; Tham gia hoạt động bVmt công cộng tại khu dân cư

điều 83 khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập

tổ tự quản về bVmt nơi mình sinh sống và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thực hiện các nhiệm vụ: kiểm tra, đôn đốc hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định về giữ gìn vệ sinh và bVmt; tổ chức thu gom, tập kết và xử

lý chất thải, giữ gìn vệ sinh môi trường tại khu dân cư và nơi công cộng; xây dựng và

tổ chức thực hiện hương ước

về bVmt; tuyên truyền, vận động nhân dân xóa bỏ hủ tục, thói quen mất vệ sinh, có hại cho sức khỏe và môi trường; Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về bVmt của

cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn bên cạnh đó, quy định ubnd cấp

Trang 20

doanh, dịch vụ phải được thu gom,

xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi

trường

điều 101 quy định, các khu sản

xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung,

khu, cụm công nghiệp làng nghề là

các đối tượng phải có hệ thống xử lý

nước thải chung

điều 129 quy định, ubnd từ cấp

tỉnh đến cấp xã có trách nhiệm thu

thập, quản lý thông tin môi trường

trong phạm vi quản lý của mình

điều 131 quy định, các nội dung

thông tin môi trường phải được công

khai (trừ thông tin thuộc danh mục

bí mật nhà nước) trong đó có thông

tin về nguồn thải, chất thải, xử lý

chất thải; khu vực môi trường bị ô

nhiễm, suy thoái nghiêm trọng và

kết quả thanh tra, kiểm tra về bVmt

ngoài trách nhiệm của ubnd

nêu ra trong hiến pháp năm 2013 và

luật bVmt năm 2014 có thể thấy,

mỗi công dân, cộng đồng dân cư đã

có đầy đủ cơ sở pháp lý để chủ động

thực hiện nghĩa vụ cũng như phát

huy quyền của mình trong công tác

bVmt nói chung, bVmt nước nói

riêng điểm sáng của luật bVmt

2014 là đã cụ thể hóa hơn vai trò của

mttq, các tổ chức chính tri - xã hội,

tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đặc

biệt là vai trò của cộng đồng dân cư

trong bVmt những quy định trong

luật thể hiện được tinh thần của

hiến pháp năm 2013 và chủ trương,

chính sách xã hội hóa hoạt động

bVmt của đảng và nhà nước hy

vọng, thời gian tới, cộng đồng dân cư

cũng như mỗi công dân sẽ tích cực,

cùng chung tay với chính quyền các

cấp để bVmt, nhất là bVmt nước,

góp phần phát triển đất nước bền

vững trong thời kỳ mớin

Nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợp chất thải rắn

trên lưu vực sông Đồng Nai

nguyễn ái Dương

Bộ Xây dựng

để nâng cao hiệu quả

quản lý tổng hợp chất thải rắn (ctr), cải thiện chất lượng môi trường, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 07/qđ-ttg phê duyệt quy hoạch quản lý ctr lưu vực sông đồng nai đến năm

2030 phạm vi của quy hoạch bao gồm ranh giới hành chính của 11 tỉnh, thành phố: ninh Thuận, bình Thuận, đắc nông, lâm đồng, bình phước, bình dương, tây ninh, đồng nai,

bà rịa - Vũng tàu, tp hồ chí minh và long an với diện tích khoảng 47.000km2

mục tiêu của quy hoạch nhằm cụ thể hóa đề án bVmt lưu vực hệ thống sông đồng nai đến năm 2020 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt; dự báo tổng lượng ctr phát sinh, xác định phương thức phân loại, thu gom, vận chuyển ctr;

xác định các cơ sở xử lý ctr và phạm vi phục vụ đáp ứng nhu cầu xử lý ctr cho lưu vực hệ thống sông đồng nai…

quy hoạch được lập trên

cơ sở từng bước đóng cửa các bãi chôn lấp ctr không hợp

vệ sinh và quá tải bảo đảm giải quyết ô nhiễm môi trường, phát triển bền vững xây dựng đồng

bộ các cơ sở xử lý ctr cấp vùng liên tỉnh, vùng tỉnh và hệ thống thu gom, vận chuyển phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương bên cạnh đó, ctr được phân loại tại nguồn, việc thu gom, tái sử dụng, tái chế được ưu tiên xử lý bằng công nghệ tiên tiến, phù hợp, hạn chế tối đa việc chôn lấp ctr nhằm tiết kiệm tài nguyên đất

và bVmt đối với ctr nguy hại được thu gom, vận chuyển và xử

lý theo quy định bảo đảm không phát tán ra môi trường đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng và quản lý các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý ctr

nội Dung Quy hoạCh

Các chỉ tiêu quy hoạch

các chỉ tiêu tính toán quy hoạch căn cứ theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành các chỉ tiêu ctr đối với lưu vực sông đồng nai được thể hiện ở bảng 1

bảng 1: Các chỉ tiêu Ctr đối với lưu vực sông đồng nai

TT Các loại CTR Chỉ tiêu phát sinh CTR

1 CTR sinh hoạt đô thị 0,8 - 1,3 kg/người.ngày (theo loại đô thị)

2 CTR sinh hoạt nông thôn 0,3-0,5 kg/người.ngày

3 CTR xây dựng 12-15% khối lượng CTR sinh hoạt đô thị

4 CTR công nghiệp 0,2 - 0,25 tấn/ha.ngày

5 CTR làng nghề Đến năm 2030 tăng trung bình 7,5%

6 CTR nguy hại 15-35% tổng lượng CTR công nghiệp phát

sinh (theo loại hình sản xuất)

Trang 21

bảng 2: tỷ lệ thu gom và xử lý Ctr theo

các giai đoạn đến năm 2030

TT Các loại CTR

Tỷ lệ thu gom và xử lý (%) đến năm

2020

đến năm 2030

I CTR thông thường

1 CTR sinh hoạt đô thị 95 100

2 CTR sinh hoạt nông thôn 70 90

dự báo tổng lượng ctr phát sinh trong

toàn lưu vực hệ thống sông đồng nai đến

năm 2020: lượng ctr thông thường phát sinh

là 48.100 tấn/ngày, ctr nguy hại phát sinh

là 3.400 tấn/ngày; đến năm 2030 lượng ctr

thông thường phát sinh là 68.200 tấn/ngày,

ctr nguy hại phát sinh là 6.000 tấn/ngày

phân loại, thu gom và vận chuyển Ctr

ctr phát sinh toàn lưu vực được thu gom,

vận chuyển theo phân vùng phạm vi phục vụ

đến các cơ sở xử lý ctr theo quy hoạch phương

thức phân loại, thu gom, vận chuyển ctr được

lựa chọn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội,

giao thông, địa hình đặc thù của khu vực và

năng lực thu gom, vận chuyển của địa phương,

đảm bảo các điều kiện vệ sinh môi trường

Phân loại, thu gom, vận chuyển CTR thông

thường: ctr thông thường từ các nguồn thải

được phân loại tại nguồn thành 2 loại là chất

thải hữu cơ (rau quả, thức ăn thừa ) và chất

thải vô cơ có thể tái sử dụng, tái chế (giấy, nhựa,

kim loại ) phù hợp với công nghệ xử lý ctr;

tăng cường tái sử dụng ctr phát sinh nhằm

hạn chế ctr cần phải xử lý sau đó ctr thông

thường được thu gom về các điểm tập kết theo

đúng quy định

Phân loại, thu gom, vận chuyển CTR nguy

hại: ctr nguy hại từ các nguồn thải được phân

loại, bảo quản, lưu giữ, thu gom, vận chuyển đến

các cơ sở xử lý ctr vùng liên tỉnh, vùng tỉnh

theo quy hoạch và tuân thủ các quy chuẩn, tiêu

chuẩn an toàn vệ sinh môi trường; thực hiện

theo quy định về quản lý ctr nguy hại chủ

nguồn thải phát sinh ctr nguy hại có trách

nhiệm ký hợp đồng với các đơn vị có chức năng

thu gom, vận chuyển và xử lý ctr nguy hại theo

đúng quy định hiện hành

Quy hoạch các cơ sở xử lý Ctr

cơ sở xử lý ctr bố trí ở ngoài phạm vi đô thị, ưu tiên các vị trí cuối hướng gió chính, cuối dòng chảy của sông suối và được trồng cây xanh cách ly, đảm bảo khoảng cách an toàn về môi trường theo đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành nhằm bảo vệ nguồn nước trong lưu vực hệ thống sông đồng nai

và ứng phó với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng thông qua giải pháp về mặt công nghệ, lộ trình đóng cửa các cơ sở

xử lý ctr quá tải, gây ô nhiễm môi trường, xây dựng mới các cơ

sở xử lý ctr

các địa phương cần rà soát, xây dựng giải pháp cụ thể hạn chế ảnh hưởng tới môi trường của các cơ sở xử lý ctr hiện hữu đang gây ô nhiễm lưu vực

hệ thống sông đồng nai như:

xây dựng hệ thống thu gom

xử lý nước rỉ rác, chuyển đổi công nghệ, hạn chế chôn lấp hoặc đóng cửa các bãi chôn lấp ctr không hợp vệ sinh, thực hiện quan trắc và giải pháp xử

lý giảm thiểu ảnh hưởng tới môi trường sau khi đóng bãi chôn lấp ctr; nâng cấp, cải tạo, xử

lý và kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ sở xử lý ctr khác nhằm bảo vệ nguồn nước trong toàn lưu vực

quy hoạch các cơ sở xử lý ctr thuộc lưu vực hệ thống sông đồng nai đến năm 2030 bao gồm 34 cơ sở xử lý, cụ thể:

2 cơ sở xử lý ctr cấp vùng liên tỉnh và 32 cơ sở xử lý ctr vùng tỉnh trong đó xác định 18

cơ sở xử lý ctr vùng tỉnh nằm trong phạm vi ảnh hưởng đến các đoạn sông đang là nguồn cấp nước và 14 cơ sở xử lý ctr vùng tỉnh nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng đến các đoạn sông đang là nguồn cấp nước

Công nghệ xử lý Ctr

công nghệ xử lý ctr được lựa chọn phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; khả năng phân loại, tính chất, thành phần ctr của từng địa phương; ưu tiên các công nghệ trong nước, tiết kiệm năng lượng và bVmt, các công nghệ tái chế có sản phẩm phù hợp với thị trường tiêu thụ của mỗi địa phương

Công nghệ áp dụng đối với CTR thông thường: các cơ sở

xử lý ctr nằm trong phạm vi ảnh hưởng đến các đoạn sông

là nguồn cấp nước từ thượng lưu sông đồng nai đến huyện long Thành (tỉnh đồng nai);

từ thượng lưu sông sài Gòn đến huyện củ chi (Thành phố

hồ chí minh); toàn bộ lưu vực sông bé, sông la ngà; từ thượng lưu sông Vàm cỏ đông đến

dự kiến tỷ lệ thu gom và xử lý ctr theo

các giai đoạn đến năm 2030 của các tỉnh thuộc

lưu vực hệ thống sông đồng nai thể hiện ở

bảng 2

VPhân loại rác tại nguồn- khâu quan trọng trong công nghệ

xử lý chất thải rắn

Trang 22

huyện trảng bàng (tỉnh tây ninh); từ thượng

lưu sông dinh đến Thành phố bà rịa (tỉnh bà

rịa - Vũng tàu) phải áp dụng công nghệ xử lý

tái chế, thu hồi ctr, chế biến phân hữu cơ, đốt

thu hồi năng lượng , không chôn lấp ctr hữu

cơ và ctr nguy hại các cơ sở xử lý ctr còn

lại nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng đến các đoạn

sông đang là nguồn cấp nước áp dụng công nghệ

chế biến phân vi sinh, công nghệ đốt thu hồi

năng lượng, công nghệ tái chế , khuyến khích

áp dụng công nghệ hạn chế chôn lấp

Công nghệ áp dụng đối với CTR nguy hại:

công nghệ xử lý lý hóa, công nghệ đốt, hạn chế

chôn lấp…

đánh giá môi trường chiến lược

Tác động tích cực đến môi trường: Thu gom

và xử lý ctr thông thường và nguy hại đảm bảo

các yêu cầu vệ sinh môi trường, giảm thiểu ô

nhiễm do ctr gây ra; hạn chế, xóa bỏ các điểm

tập kết ctr và các bãi chôn lấp ctr không hợp

vệ sinh, nhằm giảm thiểu ô nhiễm, cải tạo môi

trường và bảo vệ sức khỏe cho người dân trong

lưu vực sông đồng nai; xác định địa điểm, quy

mô, công suất các cơ sở xử lý ctr trên địa bàn

các tỉnh, đảm bảo phục vụ nhu cầu xử lý ctr

đô thị - nông thôn, khu công nghiệp, làng nghề

trong lưu vực sông đồng nai; các công nghệ xử

lý các loại ctr được đề xuất theo hướng hạn chế

chôn lấp góp phần tiết kiệm đất và xử lý triệt để

đảm bảo yêu cầu vệ sinh môi trường; Góp phần

bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng và sự phát triển

bền vững của các địa phương trong lưu vực sông

đồng nai

Dự báo tác động môi trường khi thực hiện quy

hoạch: hoạt động của các xe vận chuyển ctr có

nguy cơ gây ô nhiễm; quá trình xây dựng các

cơ sở xử lý sẽ gây ra các tác động tới môi trường

và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng (các tác

động này chỉ diễn ra cục bộ và trong thời gian

ngắn); quá trình vận hành các cơ sở xử lý sẽ làm

tăng tiếng ồn, gây bụi tại khu vực đặt khu xử

lý ctr; hoạt động của các điểm tập kết, trạm

trung chuyển và cơ sở xử lý có thể gây ô nhiễm

môi trường nếu quy trình vận hành không đảm

bảo tiêu chuẩn môi trường; nguy cơ xảy ra sự

cố môi trường (phân tán khí độc, chất độc hại

ra môi trường ) và tai nạn lao động trong quá

trình vận chuyển ctr nguy hại từ nguồn phát

sinh đến trạm trung chuyển

Các giải pháp giảm thiểu tác động đến môi

trường: các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường

không khí, tiếng ồn đối với các phương tiện vận

chuyển, thi công cơ giới trên công trường và dọc

tuyến đường vận chuyển; các biện pháp thu

gom, xử lý nước thải sinh hoạt và ctr trên công trường xây dựng

cơ sở xử lý ctr và các biện pháp

an toàn và phòng chống tai nạn,

sự cố trong quá trình xây dựng;

các dự án khi triển khai phải thực hiện đánh giá tác động môi trường; các biện pháp thu gom

và xử lý khí thải, khói bụi và nước thải từ các cơ sở xử lý ctr

và các biện pháp giảm thiểu tuân thủ theo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt; chương trình quan trắc chất lượng môi trường không khí, nước mặt, nước ngầm và đất; cảnh báo các sự cố môi trường và đề xuất các giải pháp phòng chống giảm thiểu các ảnh hưởng xấu tới môi trường

Về tổ ChứC thựC hiện

Bộ Xây dựng tổ chức công bố

quy hoạch quản lý ctr lưu vực sông đồng nai đến năm 2030 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt theo hình thức phù hợp

và bàn giao hồ sơ quy hoạch cho các địa phương theo quy định hiện hành; hướng dẫn và kiểm tra các địa phương rà soát, điều chỉnh các quy hoạch xây dựng, quy hoạch chuyên ngành quản

lý ctr của các địa phương phù hợp với quy hoạch này

Các Bộ, ngành có liên quan

(kế hoạch - đầu tư, tài chính, công thương, tn&mt, y tế, nn&ptnt): Theo chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với bộ xây dựng, ubnd các tỉnh trong vùng lưu vực hệ thống sông đồng nai tổ chức thực hiện quy hoạch theo quy định

Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai

chỉ đạo, điều phối liên ngành, liên vùng thực hiện thống nhất,

có hiệu quả quy hoạch này sau khi được phê duyệt

UBND các tỉnh, thành phố trong lưu vực hệ thống sông Đồng Nai tổ chức rà soát, điều

chỉnh các quy hoạch xây dựng, quy hoạch chuyên ngành quản

lý ctr trên địa bàn tỉnh phù hợp với quy hoạch quản lý ctr lưu vực hệ thống sông đồng nai đến năm 2030 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt trước năm 2020, tổ chức rà soát, xây dựng và thực hiện các giải pháp hạn chế ảnh hưởng tới môi trường đối với các cơ sở xử lý ctr hiện hữu

và đóng cửa các bãi chôn lấp ctr không hợp vệ sinh theo quy định, có giải pháp xử lý giảm thiểu ảnh hưởng tới môi trường sau khi đóng bãi; cải tạo, xử lý và kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ sở xử lý ctr khác nhằm bảo vệ nguồn nước trong toàn lưu vực xây dựng kế hoạch tài chính phù hợp với kế hoạch đầu tư cho thu gom, vận chuyển và xử lý ctr đáp ứng theo từng giai đoạn; xây dựng

cơ chế, chính sách huy động các nguồn vốn triển khai quy hoạch này; rà soát và lập kế hoạch sử dụng đất cho các trạm trung chuyển, cơ sở xử lý ctr theo quy hoạch; chỉ đạo lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các

dự án đầu tư xây dựng thu gom, vận chuyển và xử lý ctr trên địa bàn theo quy hoạch đã được duyệt; xây dựng các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng về vệ sinh môi trường, phân loại ctr tại nguồn đối với các đô thị và nhân rộng với khu vực nông thôn

quy hoạch quản lý ctr lưu vực sông đồng nai là một trong các công cụ hữu hiệu để nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợp chất thải rắn, cải thiện chất lượng môi trường, bảo đảm sức khỏe cộng đồng, phát triển bền vững trong lưu vực đồng thời làm cơ sở cho việc triển khai các dự án đầu tư xây dựng cơ sở

xử lý ctr trên địa bàn các tỉnh thuộc lưu vực hệ thống sông đồng nain

Trang 23

NGHị địNH Quy địNH VỀ Quy HOạCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG,

đÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHIẾN lƯợC, đÁNH GIÁ TÁC độNG MÔI TRƯỜNG

ngày 14/2/2015, chính phủ ban

hành nghị định số 18/2015/

nđ-cp quy định về quy hoạch

bVmt, đánh giá môi trường chiến

lược (đmc), đánh giá tác động môi

trường (đtm) và kế hoạch bVmt

nghị định quy định: quy hoạch

bVmt phải được lập phù hợp với

quy hoạch phát triển kinh tế - xã

hội giai đoạn 2021- 2030, tầm nhìn

2040 theo hai cấp độ là quy hoạch

bVmt cấp quốc gia và quy hoạch

bVmt cấp tỉnh Việc thẩm định

quy hoạch bVmt cấp quốc gia và

cấp tỉnh dưới hình thức báo cáo

riêng được thực hiện thông qua

hội đồng thẩm định và phải lập hồ

sơ đề nghị thẩm định…

Về điều kiện tổ chức thực hiện

đmc: cơ quan được giao nhiệm

vụ xây dựng chiến lươc, quy hoạch,

kế hoạch, tổ chức dịch vụ tư vấn

đmc phải có phòng thí nghiệm, các thiết bị kiểm chuẩn, đo đạc, lấy mẫu, xử lý, phân tích mẫu về môi trường; Việc thẩm định báo cáo đmc được tiến hành thông qua hội đồng thẩm định do Thủ trưởng hoặc người đứng dầu cơ quan có trách nhiệm tổ chức thẩm định;

cơ quan thẩm định có trách nhiệm khảo sát vùng thực hiện dự án;

kiểm chứng, đánh giá thông tin, lấy

ý kiến của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp…

các đối tượng phải thực hiện đtm gồm: các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu

tư của quốc hội, chính phủ, Thủ tướng chính phủ; dự án có sử dụng đất của Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển; các dự

án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu

công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu thương mại, làng nghề…

chủ các dự án trên có trách nhiệm tự thực hiện hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện đtm theo quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện đtm.trong quá trình thực hiện đtm, chủ dự án phải tiến hành tham vấn ubnd xã, phường, thị trấn nơi thực hiện dự án, các tổ chức và cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án; nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến khách quan, kiến nghị hợp lý của các đối tượng liên quan được tham vấn để hạn chế thấp nhất tác động bất lợi của dự án đến môi trường tự nhiên,

đa dạng sinh học và sức khỏe cộng đồng…

NGHị địNH Quy địNH CHI TIẾT THI HàNH MộT số đIỀu

CủA luậT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

ngày 14/2/2015, chính phủ ban

hành nghị định số 19/2015/

nđ-cp quy định chi tiết thi hành

một số điều của luật bVmt nghị

định quy định chi tiết các điều của

luật bVmt, bao gồm: cải tạo, phục

hồi môi trường và ký quỹ cải tạo,

phục hồi môi trường đối với hoạt

động khai thác khoáng sản; kiểm

soát ô nhiễm môi trường (ônmt)

đất; bVmt làng nghề; hoạt động

nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua

sử dụng; xác nhận hệ thống quản lý

môi trường; bảo hiểm trách nhiệm

bồi thường thiệt hại về môi trường;

xử lý cơ sở gây ônmt nghiêm

trọng; ưu đãi, hỗ trợ hoạt động

bVmt; cộng đồng dân cư tham gia

bVmt

Theo quy định của nghị định:

phương án cải tạo, phục hồi môi

trường đối với hoạt động khai thác

khoáng sản phải phù hợp với quy

hoạch phát triển kinh tế - xã hội,

quy hoạch khai thác khoáng sản, quy hoạch sử dụng đất và bVmt của địa phương số tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản bằng tổng kinh phí thực hiện các hạng mục công trình cải tạo, phục hồi môi trường…

đối với hoạt động kiểm soát ônmt đất phải xác định, thống kê, đánh giá và kiểm soát các chất gây ô nhiễm phát sinh đồng thời, áp dụng các biện pháp phòng ngừa, hạn chế các tác động tới môi trường; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát sinh yếu tố ônmt đất cần phải kiểm soát nghiêm ngặt…

phương án bVmt làng nghề bao gồm: hiện trạng hoạt động sản xuất, sinh hoạt của làng nghề; các loại và lượng chất thải phát sinh; các biện pháp giảm thiểu, thu gom, xử lý chất thải phát sinh từ làng nghề; bố trí nguồn lực thực hiện các hoạt động bVmt các biện pháp bVmt làng

nghề phải được nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bVmt, đề ánbVmt chi tiết,

đề án bVmt đơn giản hoặc báo cáo

về các biện pháp bVmt…

xử lý cơ sở gây ônmt nghiêm trọng phải được tiến hành khách quan, công bằng, đúng pháp luật; căn cứ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và mức độ vi phạm của các hành vi gây ônmt cơ sở gây ônmt nghiêm trọng sau khi bị xử phạt vi phạm hành chính phải được đưa vào danh mục kèm theo biện pháp xử lý ônmt và thời hạn thực hiện, trừ các trường hợp bị tạm đình chỉ hoạt động hoặc cấm hoạt động…

bộ tn&mt chủ trì, hướng dẫn việc thực hiện và kiểm tra tình hình thực hiện nghị định này; đồng thời, đào tạo, tập huấn, truyền thông, phổ biến pháp luật về bVmt nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2015

Trang 24

CÔNG BỐ SỐ LIỆU QUAN TRẮC KHÔNG KHÍ

TỰ ĐỘNG, LIÊN TỤC THÁNG 2/2015

Trung tâm Quan trắc Môi trường công bố số liệu trung bình giờ và trung bình ngày dưới dạng biểu đồ của 6 trạm khí tự động Dưới đây là số liệu trung bình trong tháng 2/2015 để bạn đọc tham khảo Bạn đọc có nhu cầu tham khảo số liệu quan trắc chi tiết xin liên hệ với Trung tâm Quan trắc Môi trường để được cung cấp.

TRạM TạI 556 NGuyễN VăN Cừ, lONG BIêN, Hà NộI

(Trạm có tổng số 6 module)

TRạM TạI 41 lê DuẩN, đà NẵNG

(Trạm có tổng số 6 module)

TRạM TạI PHƯỜNG Âu Cơ, TP VIỆT TRÌ, PHú THọ

Trang 25

TRạM TạI 83 HùNG VƯơNG, TP HuẾ, THừA THIêN - HuẾ

Trang 26

LTS: Tại Kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XIII, cử tri và nhân dân tiếp tục kiến nghị Chính phủ, Bộ TN&MT

rà soát các chính sách liên quan, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các đơn vị vi phạm; kiên quyết tạm đình chỉ hoặc cấm hoạt động đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng; công khai danh sách các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về BVMT Đây cũng chính là những nội dung, vấn đề mà bạn đọc Tạp chí luôn quan tâm Chuyên mục Tạp chí với bạn đọc sẽ đăng toàn văn những nội dung giải đáp của Bộ TN&MT về các ý kiến, kiến nghị của cử tri, bạn đọc.

9Tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra ngày càng phức tạp, gây nguy hại đến sức khỏe và đời sống của người dân Trong thời gian qua, Bộ TN&MT đã có những giải pháp cụ thể nào để tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra, xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm?

Bạn đọc và Cử tri các tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Đà Nẵng, Hải Dương,

Sóc Trăng, Long An, Hà Nam, An Giang, Đồng Nai

năm 2014, bộ đã triển khai

12 đoàn thanh tra, kiểm tra công tác bVmt trên địa bàn

sở, bộ phận gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ngoài

ra, bộ đã triển khai 2 đoàn kiểm tra về bVmt và bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn 26 tỉnh, thành phố;

12 đoàn kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về bVmt đối với các cơ

sở sản xuất, dịch vụ tại các làng nghề và các cụm công nghiệp làng nghề, việc thực hiện quan trắc môi trường quốc gia và địa phương

bên cạnh việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bVmt cho các cơ sở trong quá trình thanh tra, kiểm tra, bộ cũng

đã kiên quyết xử lý các vi phạm về bVmt, đặc biệt là các vi phạm về xả chất thải gây ô nhiễm môi trường, đồng thời đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để tạo sức ép trước công luận, điển hình là vụ việc vi phạm về điều kiện

hành nghề quản lý chất thải nguy hại của hợp tác

xã Thương mại và dịch

vụ phúc lợi; vụ việc gây ô nhiễm môi trường của các công ty sản xuất hóa chất trong kcn tằng loỏng thuộc tỉnh lào cai, công

ty tnhh Thép đồng tiến, công ty cổ phần dầu thực vật quang minh, công ty phát triển số 1 - tnhh mtV - nhà máy tuyển quặng sắt làng mị, công ty

cổ phần bitexco nam long

và nhiều vụ việc vi phạm pháp luật khác

để pháp luật bVmt thật sự đi vào cuộc sống, trong thời gian tới, ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và

xử lý vi phạm pháp luật về bVmt, công khai thông tin về vi phạm pháp luật về bVmt của các cơ sở theo quy định của pháp luật, bộ tn&mt sẽ phối hợp với các địa phương đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bVmt, qua đó từng bước nâng cao nhận thức cộng đồng về lĩnh vực môi trường, tạo cơ sở vững chắc

để nước ta phát triển theo hướng bền vữngn nh

trong những năm qua, bên cạnh

những kết quả đạt được trong tăng

trưởng kinh tế, giải quyết an sinh xã

hội thì bVmt luôn là một trong những vấn

đề trọng tâm của đảng và chính phủ trong

7 nhóm giải pháp cơ bản thực hiện nghị

quyết số 41-nq/tw ngày 15/11/2004 của

bộ chính trị về bVmt trong thời kỳ đẩy

mạnh cnh-hđh đất nước, có nhấn mạnh

đến nhóm giải pháp thứ nhất là: "đẩy mạnh

công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao

nhận thức và trách nhiệm bVmt" đây là

một nội dung quan trọng nhằm tăng cường

và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền,

phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật,

các thông tin về môi trường và phát triển

bền vững đến mọi người dân hàng năm, bộ

tn&mt đều có văn bản hướng dẫn các bộ,

ngành và địa phương tổ chức các sự kiện,

chiến dịch truyền thông môi trường; phối

hợp với các bộ, ngành liên quan đẩy mạnh

công tác giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận

thức môi trường cho cộng đồng

bên cạnh đó, bộ tn&mt cũng đã tổ

chức nhiều hoạt động giáo dục, tuyên truyền

phổ biến pháp luật về môi trường như đào

tạo, tập huấn kiến thức, nghiệp vụ quản lý

môi trường cho cán bộ làm công tác quản

lý môi trường cấp bộ, ngành, địa phương,

các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp,

làng nghề và khu công nghiệp trên cả nước;

phối hợp với các cơ quan truyền thông đại

chúng triển khai có hiệu quả nhiều hoạt

động truyền thông về bVmt thông qua các

phóng sự, videoclip về môi trường

bộ tn&mt luôn coi công tác thanh

tra, kiểm tra về bVmt là một trong những

nhiệm vụ trọng tâm của bộ, cụ thể: trong

Bộ TN&MT TRả LờI:

Trang 27

QUA VỤ VIỆC CHẶT HẠ CÂY XANH Ở HÀ NỘI

NGHĨ VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH CỘNG ĐỒNG

TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY

Vũ ngọC Lân

một sự kiện thu hút dư luận xã hội ở

Thủ đô hà nội, của cả nước và của

cả báo chí quốc tế thời gian qua là

việc sở xây dựng tp hà nội triển khai thực

hiện dự án chặt hạ, thay thế 6700 cây xanh

trên một số tuyến phố của Thủ đô tuy nhiên,

dự án này mới thực hiện được một thời gian

thì vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của giới

truyền thông, của nhiều nhà khoa học, của

đông đảo người dân thủ đô và của cả nước

qua vụ việc này, có rất nhiều chuyện để bàn,

trong đó nổi lên một câu hỏi lớn là: tại sao

một dự án không phải là lớn lắm, kinh phí

thực hiện cũng không nhiều lại vấp phải sự

phản ứng gay gắt của cộng đồng? chắc mỗi

người sẽ có câu trả lời khác nhau dưới đây là

một số lý giải bước đầu của người viết bài này

về vụ việc nêu trên

Trước hết, phải khẳng định rằng, vấn đề

bVmt, nhất là tình trạng suy giảm, hủy hoại

môi trường một cách nghiêm trọng, trong đó

có nạn chặt phá rừng, ở nhiều địa phương

nước ta hiện nay là một trong những vấn đề

sự chuyển biến tích cực, tác động đến ý thức, tinh thần trách nhiệm, hành vi của

cả cộng đồng, từng cá nhân trong xã hội về sự cần thiết, cấp bách, lâu dài của công tác bVmt trong quá trình phát triển đất nước chính vì vậy, khi ở ngay Thủ đô hà nội lại diễn ra cảnh chặt hạ hàng loạt cây xanh, được coi là tài sản của người dân, lại thiếu

sự tuyên truyền, giải thích của các tổ chức, cơ quan, đơn

vị chức năng thì sự phản ứng mạnh mẽ của giới truyền thông và của đông đảo người dân là một điều hiển nhiên

Thứ hai, không biết vì

những lý do cấp bách, quan trọng gì, nhưng việc lãnh đạo Thành phố phê duyệt, cho triển khai tiến hành dự

án liên quan đến vấn đề môi trường sống của người dân Thủ đô, với số lượng cây bị chặt hạ, thay thế là rất lớn lại được thực hiện giữa “thanh thiên bạch nhật” trên một dãy phố có nhiều cây đang xanh tốt xum xuê, không bị sâu mọt, mục ruỗng; vụ việc diễn ra trong một thời gian dài lại được triển khai vội

vã, thiếu thận trọng, ngay trong tháng “tết trồng cây”

và trước ngưỡng cửa của mùa hè nóng nực, không tham khảo ý kiến của các tổ chức, cơ quan, đơn vị có liên quan, thiếu sự tuyên truyền, giải thích cặn kẽ, chu đáo trong khi hà nội đang phấn đấu cho môi trường “xanh,

VDự án thay thế 6.700 cây xanh các loại trên một số tuyến phố của Thủ đô vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của đông đảo người dân

Trang 28

thông tin thiếu minh

bạch của đơn vị triển

khai là nguyên nhân

dẫn đến sự không đồng

tình của nhân dân; việc

này đã thông qua hội

đồng nhân dân tp ) lại

cả cây già cỗi, sâu mục,

cong nghiêng không

đảm bảo an toàn giao

thông” thì trên thực tế

diễn ra không hoàn toàn

như vậy một loạt câu

hỏi đặt ra sau khi có sự

giải thích trên đây

ngày 23/3/2015,

tại hà nội, trung tâm con người và Thiên nhiên phối hợp với trung tâm truyền thông Giáo dục cộng đồng (liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt nam - Vusta) tổ chức tọa đàm “từ đề án 6.700 nhìn lại quy hoạch cây xanh hà nội” thu hút

sự tham gia của nhiều nhà khoa học

tại buổi tọa đàm,

đa số các ý kiến đều tán thành chủ trương cần phải cải tạo hệ thống cây xanh hà nội tuy nhiên, các chuyên gia đều phản đối cách triển khai thiếu khoa học của giới chức Thủ đô trong đề án sở xây dựng hà nội trước

đó khẳng định, mới chỉ chặt 500 cây, nhưng nhiều ý kiến khẳng định, con số thực tế lớn hơn rất nhiều lần tạp chí môi trường xin trích đăng ý kiến của các nhà khoa học về vấn đề này

gS.tS nguyễn Lân Dũng - chủ tịch hội

các ngành sinh vật Việt nam: “hà nội là thủ đô rộng thứ 3 trên thế giới, sau bắc kinh (trung quốc) và tokyo (nhật bản), hà nội rất đẹp nhờ có nhiều hồ và cây

nhưng trong đề án thay thế 6.700 cây xanh vừa qua, giới chức hà nội

đã không quan tâm đến

ý kiến của các nhà khoa học, phản ứng của người dân và điều đau xót nhất

là hà nội không biết rút kinh nghiệm từ những bài học của việc lấp một

số sông, hồ trước đây cả Thủ đô hiện có 50.000 cây mà đề án chặt tới 1/7

là điều không thể tưởng tượng nổi”

Luật sư phạm đức bảo, đh luật hà nội:

“hành động chặt cây của giới chức hà nội mang tính triệt hạ, vi phạm điều 10, điều 14 luật Thủ đô quy định về quản

lý và bVmt phải thực hiện theo nguyên tắc phát triển bền vững gắn với duy trì các yếu tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử

ở Thủ đô và bảo đảm tỷ

lệ không gian xanh theo quy hoạch”

gS.tS Kh phạm ngọc đăng - phó chủ

tịch hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt nam: “nghị định

số 64/2010/nđ-cp của chính phủ quy định chỉ

có 3 loại cây được phép chặt mà không cần xin phép, bao gồm cây bị

đổ và có nguy cơ đổ gây

nguy hại, cây chết và cây nằm trong các dự án phát triển kinh tế đối với các trường hợp khác, muốn chặt cây phải có đơn xin phép và chỉ rõ chặt cây nào (có chụp ảnh gửi kèm), ở đâu, lý

tS.KtS phó đức tùng, nguyên chủ

nhiệm bộ môn lâm nghiệp đô thị, đh lâm nghiệp đặt ra câu hỏi:

“tại sao những cây đó yếu và bị sâu bệnh? Vì

từ trước đến nay, hà nội chưa bao giờ trồng cây đúng quy cách cây đô thị phải được trồng bằng giá thể, vi lượng, khác với trồng cây lâm nghiệp hay nông nghiệp Với hiện trạng trồng cây như hiện nay, dù cây thay thế

có là giống cây gì đi nữa nhưng kỹ thuật vẫn như

cũ thì cây khó mà sống được.”n

Ý kiến của các nhà khoa học về Đề án thay thế 6.700 cây xanh tại Hà Nội

VHội thảo thu hút sự tham dự của nhiều nhà khoa học, chuyên gia

Trang 29

rằng, vậy thì tại sao từ trước

đến nay việc chặt hạ, thay thế cây

xanh không bị người dân phản

ứng? tại sao từ trước đến nay,

công ty công viên cây xanh vẫn

thực hiện duy tu bảo trì mà không

cần chiến dịch chặt cây? tại sao

nhiều cây cao, thẳng, khỏe mạnh

cũng bị chặt? có ở đâu, nơi nào,

khi nào người ta duy tu bảo trì cây

xanh bằng cách chặt cây hàng loạt

hay không? động cơ của các doanh

nghiệp “tài trợ” cho dự án này là gì

trên thực tế có cả một dự án chặt

hạ, thay thế cây xanh, thay toàn bộ

cây xanh trên một số tuyến phố,

chứ không phải chỉ thay những cây

mục ruỗng nếu ý kiến của một số

cán bộ lãnh đạo trên đây là đúng

thì lại lộ ra sự bất cập trong quản

lý, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát,

khi dư luận phản ứng mạnh mẽ, rà

soát lại mới thấy thiếu sót, rút kinh

nghiệm thì việc đã rồi có cán bộ

lãnh đạo của hà nội còn dám quả

quyết rằng, việc chặt cây để thay

thế cây khác ở hà nội do cơ quan

quản lý quyết định, không cần thiết

phải hỏi ý kiến người dân! đó là

những phát ngôn thiếu cân nhắc

Thứ tư, việc chặt hạ hàng loạt

cây xanh, có thể được coi là tài sản

của dân, ảnh hưởng đến môi trường

sống, lợi ích của người dân nhẽ ra

phải được cân nhắc, hỏi ý kiến các

tổ chức, cơ quan, đơn vị, nhà khoa

học đầu ngành, các chuyên gia về

thực vật học, về môi trường sinh

thái và được sự đồng thuận của cả

hệ thống chính trị và đồng thuận

của đông đảo người dân Thế nhưng

việc phê duyệt, thực thi dự án quan

trọng này chỉ có mấy cơ quan thuộc

thẩm quyền của chính quyền Thành

phố hà nội cho nên khi bị người

dân chất vấn thì những người có

trách nhiệm trong dự án này tỏ ra

lúng túng các tổ chức, đoàn thể

chính trị-xã hội của hà nội cũng

hoàn toàn không được tham gia

thẩm định, góp ý trước khi thực

hiện dự án này

có thể khẳng định rằng, nếu như dự án mà tp hà nội đã và đang thực hiện không thuộc dự án đụng chạm đến vấn đề môi trường thì chắc chắn cộng đồng dân cư không phản ứng một cách mạnh

mẽ như thế như vậy, nói một cách hình ảnh thì cây xanh đã cố kết, làm nên sức mạnh cộng đồng thời gian qua Vì vậy, lãnh đạo hà nội đã bước đầu nhận ra thiếu sót

và cho dừng dự án để rà soát toàn diện, xử lý những tập thể, cá nhân liên quan

qua vụ việc chặt hạ, thay thế cây xanh trên một số tuyến phố của Thủ đô hà nội có thể là bài học kinh nghiệm cho nhiều nơi khác:

- các ngành, lĩnh vực, địa phương, tổ chức, đơn vị, cá nhân cần rất thận trọng khi phê duyệt, triển khai thực hiện những dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

nhưng lại liên quan, đụng chạm đến vấn đề bVmt, bảo đảm phát triển bền vững

- trong thời gian từ nay đến hết năm 2015, các tổ chức cơ sở đảng từ

cơ sở đến tỉnh, thành phố tiến hành đại hội, tiến tới đại hội lần thứ xii của đảng, trong đó sẽ thông qua các kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như các nhiệm vụ, giải pháp bVmt để các kế hoạch này khi được thông qua không gặp sự phản ứng của cộng đồng dân cư thì ngay

từ bây giờ các dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội nhất thiết phải có

sự thống nhất trong cấp ủy đảng, chính quyền, của hệ thống chính trị,

có sự tham vấn, hỏi ý kiến các cấp, các ngành liên quan, các nhà khoa học và sự đồng thuận của đông đảo nhân dân trong thực hiện cần nêu cao tinh thần trách nhiệm của tập thể, cá nhân người lãnh đạo, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng, người lãnh đạo khi các kế hoạch, chương trình, dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có yếu tố môi trường

- Vấn đề bVmt hiện nay được ví như yếu tố tăng cường liên kết, sức mạnh cộng đồng do vậy, các cấp, các ngành, các địa phương, trong

đó có lĩnh vực bVmt, cần phát huy sức mạnh, nhân rộng mối liên kết,

để chung tay, góp sức bVmt thông qua quy chế giám sát và phản biện

xã hội đã được bộ chính trị bch trung ương đảng ban hành vào tháng 12/2013 Theo đó, các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia), phải được các đoàn thể chính trị-xã hội

có chức năng chủ trì phản biện trước khi được biểu quyết thông qua, thực hiện

cách đây đã lâu, trong chỉ thị của Thủ tướng chính phủ ngày 21/9/2000 “Về tăng cường công tác dân vận” có đoạn viết: “khi soạn thảo các văn bản pháp luật, các chính sách, triển khai các chương trình, dự án phải tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân, tiếp thu

ý kiến đóng góp của nhân dân, làm cho các văn bản pháp luật, các chính sách, chương trình, dự án phù hợp với thực tiễn, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, được nhân dân đồng tình, ủng hộ” trong tác phẩm “sửa đổi lối làm việc” năm 1947, bác hồ

đã viết: “chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng Vì vậy, mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng”

nếu như thời gian qua hà nội làm được như lời bác hồ dạy và như chỉ thị trên đây thì dứt khoát nhân dân sẽ đồng tình ủng hộ, không có những phản ứng gay gắt như đã xảy ran

Trang 30

VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC XÃ HỘI

TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

tS nguyễn VĂn phương

Trường Đại học Luật Hà Nội

hội nằm ngoài nhà nước, nằm ngoài

các hoạt động của doanh nghiệp (thị

trường), nằm ngoài gia đình, để liên

kết người dân với nhau trong những

hoạt động vì một mục đích chung”

như vậy, có thể hiểu thành phần quan

trọng của “xã hội dân sự” là các hội,

hiệp hội trong dân chúng, trong làng

xóm, mang tính chất liên kết cộng

đồng và bao hàm cả cộng đồng dân cư

ở Việt nam, cho đến nay, mặc dù các văn kiện đảng và nhà nước chưa

trực tiếp nêu khái niệm “xã hội dân

sự”, song trên thực tế, ở mức độ nhất

định, đảng và nhà nước đã bước đầu

chú ý đến việc xây dựng các thể chế và

cơ sở pháp lý cho sự tham gia và xác

định vai trò của “xã hội dân sự” trong

tổ quốc Việt nam, tổng liên đoàn

lao động Việt nam, đoàn Thanh niên

cộng sản hồ chí minh, hội nông dân

Việt nam, hội cựu chiến binh Việt

nam, hội liên hiệp phụ nữ Việt nam

và các tổ chức giáo hội tổ chức xã hội

với hình thức là tổ chức phi chính trị

và phi nhà nước theo nghĩa hẹp được

xác định theo khoản 1, điều 2 nghị

định số 45/2010/nđ-cp quy định tổ

chức, hoạt động và quản lý hội, “hội

là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng;

hỗ trợ hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước”

căn cứ vào các hình thức

tổ chức pháp nhân của bộ luật dân sự 2005, điều 100 - các loại pháp nhân, tổ chức “xã hội dân sự” bao gồm: tổ chức chính trị - xã hội; xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tự nguyện, quỹ xã hội, quỹ từ thiện

Theo quan niệm đó, tổ chức “xã hội dân sự” ở Việt nam gồm mặt trận tổ quốc, là

tổ chức xã hội dân sự lớn nhất bao gồm các đoàn thể (công đoàn, phụ nữ, thanh niên, nông dân ), hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư

một trong những biểu hiện mang tính khái quát cho thấy vai trò và sự tham gia của

“xã hội dân sự” là chủ trương

“dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” Việc đánh giá vai trò của “xã hội dân sự”

trong bVmt dựa trên quan niệm này

2 VAi trò CủA xã hội Dân Sự trong bVMt

Các quy định của pháp luật về thông tin môi trường (Dân biết)

luật bVmt 2014 đã có những quy định mới về vấn

đề thông tin môi trường so với

luật bVmt 2005 điều 145 luật bVmt 2014 quy định về quyền của tổ chức chính trị -

xã hội, xã hội - nghề nghiệp:

“được cung cấp và yêu cầu cung cấp thông tin về bVmt theo quy định của pháp luật”

và điều 146 quy định về quyền đại diện cộng đồng dân

cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quyền yêu cầu chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cung cấp thông tin về bVmt thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản; tổ chức tìm hiểu thực

tế về công tác bVmt của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thu thập, cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền

và chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp và có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước

có liên quan cung cấp kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với cơ sở

Các quy định của pháp luật về sự tham gia của “xã hội dân sự” trong hoạt động xây dựng chủ trương, chính sách, kế hoạch và các quy định về BVMT (Dân bàn)

mặt trận tổ quốc Việt nam thực hiện tư vấn, phản biện, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bVmt theo quy định của pháp luật cơ quan quản lý nhà nước các cấp

có trách nhiệm tạo điều kiện

để mặt trận tổ quốc Việt nam tham gia bVmt

Trang 31

mình, tư vấn, phản biện về bVmt với cơ quan

quản lý nhà nước và chủ cơ sở sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ có liên quan theo quy định của

pháp luật;

đại diện cộng đồng dân cư có quyền tham

gia đánh giá kết quả bVmt của cơ sở sản xuất,

kinh doanh, dịch vụ; thực hiện các biện pháp

để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng dân

cư theo quy định của pháp luật

Các quy định của pháp luật về sự tham

gia của “xã hội dân sự” vào hoạt động BVMT

(Dân làm)

điều 43 hiến pháp 2013 quy định: mọi

người có quyền được sống trong môi trường

trong lành và có nghĩa vụ bVmt điều 4 luật

bVmt 2014 quy định: bVmt là trách nhiệm

và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia

đình và cá nhân như vậy, mọi chủ thể trong

xã hội phải có nghĩa vụ bVmt, trong đó có “xã

chức tự quản về bVmt có trách nhiệm xây

dựng và thực hiện hương ước về bVmt; tuyên

truyền, vận động nhân dân xóa bỏ hủ tục, thói

quen mất vệ sinh, có hại cho sức khỏe và môi

trường

một trong những nội dung hoàn toàn

mới là tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề

nghiệp có quyền kiến nghị cơ quan nhà nước

có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp

luật về bVmt và đại diện cộng đồng dân cư có

quyền tham gia đánh giá kết quả bVmt của cơ

sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thực hiện các

biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng

đồng dân cư theo quy định của pháp luật

như vậy, luật bVmt 2014 đã quy định

tương đối đầy đủ về sự tham gia của các tổ chức

chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng

đồng dân cư trong bVmt

Các quy định của pháp luật về sự tham gia

của tổ chức chính trị - xã hội; xã hội - nghề

nghiệp, cộng đồng trong hoạt động giám sát,

phát hiện hành vi vi phạm pháp luật BVMT

(Dân kiểm tra)

tổ chức tự quản về bVmt có quyền tham

gia giám sát việc thực hiện pháp luật về bVmt

của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên

địa bàn

tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề

nghiệp có quyền tham gia hoạt động kiểm tra

về bVmt tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có liên quan đến chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của mình, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bVmt

3 Kết Luận

Và Kiến nghị

có thể thấy, luật bVmt

2014 đã có những quy định tiến bộ hơn luật bVmt 2005

về sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong việc tư vấn, phản biện, giám sát, kiểm tra việc thực thi pháp luật của

tổ chức, cá nhân khác tuy nhiên, những quy định này còn mạng tính chung chung

và cần có quy định hướng dẫn về cơ chế thực hiện các quy định này có phát huy trên thực tế hay không còn phụ thuộc vào những quy định hướng dẫn thi hành và cơ chế để bảo đảm thực hiện các quyền này của tổ chức xã hội

và cộng đồng dân cư

Việc hình thành khung pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức chính trị -

xã hội, xã hội - nghề nghiệp

và cộng đồng dân cư tham gia bVmt sẽ tạo cơ sở pháp

lý vững chắc cho việc bảo đảm sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong hoạt động bVmt

Vì vậy, hoàn thiện hệ thống luật pháp bằng cách đưa

ra các quy định rõ ràng để bảo đảm có sự tham gia rộng rãi của tổ chức chính trị - xã hội,

xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư vào giải quyết các vấn đề môi trường là vấn đề cấp thiết

các quy định của pháp luật sẽ phải xác định những lĩnh vực có sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân

cư, ranh giới của sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội,

xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư, quyền và nghĩa

vụ của các chủ thể pháp luật

có liên quan tới sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội,

xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong hoạt động bVmt

để bảo đảm vai trò của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội

- nghề nghiệp và cộng đồng dân cư, các quy định này cần tuân thủ những những nguyên tắc như: bảo đảm quyền của cộng đồng, công bằng và hợp lý trong bVmt

và phát triển bền vữngn

VĐoàn Thanh niên tham gia dọn dẹp vệ sinh, BVMT

Trang 32

Tăng cường công tác quản lý an toàn hóa chất bảo vệ môi trường

Hiện nay tại Việt Nam, ngành hóa chất gồm 12 phân ngành chủ chốt

như sản xuất phân bón, cao su, chất tẩy rửa, công nghiệp hóa dầu,

hóa dược là ngành công nghiệp quan trọng phục vụ sự phát triển

của nhiều ngành công nghiệp khác Đồng thời, các hoạt động sản

xuất, kinh doanh, sử dụng hóa chất cũng có những đóng góp lớn cho

ngành kinh tế Để quản lý công tác an toàn hóa chất, Luật Hóa chất

ra đời và có hiệu lực thi hành từ năm 2007 cùng với hệ thống văn

bản pháp lý bao gồm các Nghị định, Thông tư hướng dẫn cũng được

ban hành, góp phần đưa hoạt động hóa chất vào khuôn khổ Tuy

nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp vì lợi ích trước mắt, chưa thực

hiện biện pháp an toàn hóa chất, tiềm ẩn những yếu tố nguy hại với

môi trường, hệ sinh thái cũng như sức khỏe của con người Tạp chí

Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Xuân Sinh -Giám đốc

Trung tâm Dữ liệu và Hỗ trợ ứng phó sự cố hóa chất - Cục Hóa chất -

Bộ Công Thương về vấn đề này.

9Xin ông cho biết thực trạng quản lý, sản xuất

và kinh doanh hóa chất trên địa bàn cả nước

hiện nay?

tS nguyễn xuân Sinh: hoạt động sản

xuất, kinh doanh và sử dụng hóa chất đang

phát triển mạnh trong thời gian gần đây hầu

hết doanh nghiệp sản xuất trong các ngành

công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến

thực phẩm và đồ uống, chế biến thuốc lá, sản

xuất sản phẩm dệt, may mặc, da và giả da đều

sử dụng hóa chất đặc tính hóa chất chủ yếu

mang tính cháy nổ, kích ứng, độc và ăn mòn

qua công tác kiểm tra thực tế tại các doanh

nghiệp đang hoạt động có liên quan đến hóa

chất hiện nay cho thấy, vẫn còn tình trạng một

số doanh nghiệp, cơ sở chưa quan tâm đến công

tác đảm bảo an toàn trong hoạt động hóa chất

nhiều doanh nghiệp chưa cập nhật thông tin

về phiếu an toàn hóa chất chưa đầy đủ, không

có nhãn mác, không sử dụng bảo hộ lao động

trong sản xuất, bố trí kho chưa ngăn nắp…

đặc biệt, là hiện tượng hóa chất rơi vãi tại khu

sản xuất, đây là hành vi gây nguy hiểm đến sức

khỏe con người dễ xảy ra các sự cố phát sinh từ

hóa chất Vẫn còn một số cơ sở, doanh nghiệp

kinh doanh hóa chất độc hại nằm xen lẫn trong

khu dân cư một số doanh nghiệp không xây

dựng phương án ứng cứu sự cố rò rỉ hay tràn

đổ hóa chất theo đúng quy định

bên cạnh đó, các hoạt động kinh doanh

hóa chất trái phép cũng diễn

ra mạnh mẽ ngay tại chợ kim biên (tp hồ chí minh), hóa chất dùng trong công nghiệp

và hóa chất được phép sử dụng trong thực phẩm bày bán lẫn lộn.kết quả kiểm tra của sở y

tế trong 6 tháng đầu năm 2013 cho thấy, trong số hơn 5.000 mẫu thực phẩm được đưa đi kiểm nghiệm có tới gần 20%

chứa hóa chất gây hại cho sức khỏe người sử dụng hậu quả của việc dung nạp nhiều độc

tố vào cơ thể dẫn tới hàng loạt

vụ ngộ độc cấp tính trong thời gian qua, nhưng nguy hiểm hơn là tình trạng ngộ độc mãn tính khiến con người gặp phải các chứng bệnh nan y như suy gan, suy thận, ung thư…

Thực trạng trên cho thấy, công tác quản lý hóa chất còn nhiều bất cập do các nguyên nhân: hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động hóa chất còn chồng chéo, với nhiều cơ quan tham gia như bộ công Thương, bộ tn&mt, bộ nông nghiệp

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, trong cả nước,

địa phương có nguy cơ xảy ra sự cố an toàn hóa chất cao nhất là TP Hồ Chí Minh Kết quả thống

kê từ năm 2010- 2014, trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh đã xảy ra 7 vụ cháy nổ liên quan đến hóa chất, làm chết 8 người và bị thương 7 người, thiệt hại tài sản trên 40 tỷ đồng Riêng trong năm 2014 xảy ra 4 vụ, làm chết 7 người,

bị thương 6 người, thiệt hại trên 30 tỷ đồng Một ví dụ điển hình của việc vi phạm các quy định quản lý hóa chất

là công ty TNHH sản xuất và thương mại Đăng Huỳnh tại TP Hồ Chí Minh đã sử dụng tiền chất thuốc nổ để sản xuất phân bón đã gây ra sự cố nổ nhà máy vào tháng 10/2014 dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm chết

4 người và 3 người bị thương.

VÔng Nguyễn Xuân Sinh,

GĐ Trung tâm Dữ liệu và

Hỗ trợ ứng phó sự cố hóa chất - Cục Hóa chất - Bộ Công Thương

Trang 33

phát triển nông thôn, bộ khoa học và công

nghệ, bộ công an, bộ quốc phòng, bộ y tế, bộ

lao động Thương binh và xã hội

trong khi đó, bộ máy nhân sự quản lý hóa

chất tại các địa phương còn mỏng, nhiều địa

phương còn thiếu cán bộ chuyên môn nên

trong quá trình thực thi nhiệm vụ còn lúng

túng

Việc chấp hành pháp luật của các doanh

nghiệp hoạt động hóa chất còn chưa tốt do

nhiều nguyên nhân: sự thiếu hiểu biết pháp luật

của doanh nghiệp, còn tình trạng doanh nghiệp

cố tình vi phạm các quy định pháp luật về quản

lý hóa chất bên cạnh đó, công tác tuyên truyền

văn bản pháp luật về hóa chất chưa được thực

hiện thường xuyên…

9Tình trạng phát thải hóa chất độc hại ra môi

trường đang có chiều hướng gia tăng và để lại

nhiều hậu quả lâu dài về ô nhiễm môi trường,

theo ông cần có giải pháp gì để khắc phục tình

trạng trên?

tS nguyễn xuân Sinh: hóa chất là ngành

có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt

có xu hướng tăng nhanh trong thời gian gần đây

phát thải hóa chất ra môi trường có thể xảy ra

trong trường hợp có sự cố hóa chất (cháy, nổ, rò

rỉ….), hoặc không có sự cố nhưng vẫn thải hóa

chất ra môi trường qua các nguồn thải thường

xuyên (nước thải, khí thải, chất thải rắn) các

hóa chất hết hạn sử dụng… cũng là nguồn phát

thải ra môi trường để khắc phục tình trạng

trên, các giải pháp cần được thực hiện là:

Về phía Nhà nước: cần ban hành các quy

định về đảm bảo an toàn trong hoạt động hóa

chất; Thường xuyên thực hiện công tác thanh

tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định

pháp luật trong hoạt động hóa chất; Thực hiện

nghiêm chế độ xử phạt các doanh nghiệp vi

phạm các quy định về hoạt động hóa chất và

môi trường; xây dựng cơ sở dữ liệu hóa chất

quốc gia; Thống nhất quản lý hoạt động phân

loại, ghi nhãn hóa chất nguy hiểm; đăng ký, khai

báo hóa chất; thông tin an toàn hóa chất; tổng

hợp, thống kê tình hình thực hiện an toàn hóa

chất trong phạm vi cả nước; hướng dẫn xây

dựng, tổ chức việc thẩm định kế hoạch phòng

ngừa, ứng phó sự cố hóa chất; phối hợp với các

cơ quan hữu quan trong việc phòng ngừa, ứng

phó, khắc phục sự cố hóa chất; yêu cầu kiểm

soát chặt chẽ về kỹ thuật an toàn trong sản xuất,

kinh doanh các loại hóa chất thuộc danh mục

hóa chất nguy hiểm; hướng dẫn, quản lý việc

phân loại và ghi nhãn hóa chất theo hệ thống

hài hòa toàn cầu; xác định lộ trình áp dụng các quy định về phân loại đối với chất, hỗn hợp chất; Thực hiện hợp tác quốc

tế trong hoạt động hóa chất

và an toàn hóa chất;Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hóa chất…

Về phía doanh nghiệp:

Việc kinh doanh hóa chất phải thực hiện các quy định

về quản lý và an toàn hóa chất theo quy định, thường xuyên bảo dưỡng, vận hành hệ thống

an toàn hóa chất; có cán bộ chuyên trách về an toàn hóa chất, có trình độ chuyên môn phù hợp với quy mô và loại hình sản xuất, kinh doanh hóa chất, nắm vững công nghệ, phương án và các biện pháp bảo đảm an toàn hóa chất

đồng thời, các doanh nghiệp phải xây dựng biện pháp phòng ngừa, ứng phó

sự cố hóa chất, thường xuyên thực hiện các cải tiến kỹ thuật, tiếp thu và áp dụng các công nghệ sản xuất mới, hiện đại, ít chất thải áp dụng các kỹ thuật sản xuất sạch hơn, thực hiện trách nhiệm xã hội…; nêu cao ý thức chấp hành pháp luật về an toàn trong hoạt động sản xuất, giảm thiểu và

triệt tiêu các nguy cơ gây mất

an toàn trong sản xuất, lưu giữ hóa chất các nguồn thải phải được lắp đặt các hệ thống xử

lý, vận hành đúng chế độ, đảm bảo các quy định về thải nước thải, khí thải, chất thải rắn…

9Được biết hiện nay, tỷ lệ các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp an toàn trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng hóa chất còn thấp Trung tâm

đã và đang triển khai các hoạt động nào để hỗ trợ các doanh nghiệp ứng phó sự cố hóa chất?

trung tâm dữ liệu và hỗ trợ ứng phó sự cố hóa chất trực thuộc cục hóa chất, bộ công thương được giao thực hiện nhiệm vụ về quản lý an toàn hóa chất như chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu về an toàn hóa chất, xây dựng kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất, tham gia phổ biến các văn bản pháp lý và thực hiện các hoạt động đào tạo

kỹ thuật an toàn trong sản xuất, sử dụng hóa chất cho các doanh nghiệp…

để thực hiện nhiệm vụ trên, trong thời gian tới, trung tâm sẽ đẩy mạnh công tác dịch

Trang 34

PHÒNG NGỪA, ỨNG PHÓ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG

LIÊN QUAN ĐẾN HÓA CHẤT ĐỘC HẠI/PCB

đó là chủ đề của hội thảo do dự án

quản lý pcb tại Việt nam thuộc tổng

cục môi trường, bộ tài nguyên và môi

trường tổ chức ngày 10/3/2015 tại nha trang,

khánh hòa

hoạt động phát triển kinh tế - xã hội hiện

nay đã và đang tạo ra nhiều áp lực tiêu cực

lên môi trường và đặt ra những yêu cầu cấp

thiết trong công tác bảo vệ môi trường, trong

đó, việc phòng ngừa, ứng phó và khắc phục

sự cố môi trường nói chung và sự cố do hóa

chất cần được đặc biệt quan tâm có nhiều

nguyên nhân gây ra sự cố hóa chất, do cháy, nổ

hóa chất, rò rỉ hóa chất độc hại,… nhưng thiệt

hại gây ra đều rất lớn, làm chết người, tổn hại

lớn về kinh tế và hủy hoại nghiêm trọng môi

trường trên thế giới đã xảy ra nhiều thảm họa

do sự cố hóa chất, như vụ nổ tại nhà máy sản

xuất nitrat amôn oppau, đức ngày 21/9/1921

làm chết gần 500 người; tại nhà máy sản xuất

nitrat amôn ở thành phố texas, hoa kỳ ngày

16/4/1947 phá hủy hơn 90% các công trình

của thành phố và làm chết gần 600 người; Vụ

rò rỉ methyl isocyanate tại công ty thuốc trừ

sâu union carbide, bhopal, ấn độ ngày 2 và

3/12/1984 làm chết tại chỗ hơn 2800 người,

gây bệnh hô hấp và mắt cấp tính cho khoảng

20.000 người, thiệt hại kinh tế ước tính từ 350

triệu đến 3 tỷ đô la mỹ… và nhiều sự cố tràn

dầu khác làm thiệt hại vô cùng lớn về kinh tế

và phá hủy nghiêm trọng môi trường và các hệ

sinh thái tại Việt nam cũng đã xẩy ra nhiều sự

cố hóa chất gây ảnh hưởng lớn đến môi trường

và các hoạt động kinh tế, xã hội có rất nhiều

nguyên nhân dẫn đến hậu quả nghiêm trọng

khi các sự cố môi trường nói chung và sự cố

do hóa chất nói riêng xảy ra mà chủ yếu là do

những sơ xuất, bất cập trong công tác phòng

ngừa, năng lực và hiệu quả hạn chế trong các

hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố

tại hội thảo, các nhà nhà khoa học, quản

lý môi trường và đại diện các doanh nghiệp

đã trao đổi, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm

về những khó khăn, bất cập và tồn tại liên

quan đến hoạt động phòng ngừa, ứng phó

sự cố môi trường, sự cố hóa chất ở nước ta

hiện nay có thể thấy, mặc dù đã có nhiều quy

định và hướng dẫn nhưng công tác phòng

ngừa, ứng phó sự cố môi trường nói chung và sự cố môi trường liên quan đến hóa chất nói riêng ở nước ta vẫn chưa đạt hiệu quả cao và còn nhiều điểm bất cập công tác phòng ngừa chưa được các tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đúng mức, dẫn đến nhiều sự

cố xảy ra nguyên nhân dẫn đến công tác ứng phó sự cố môi trường chưa hiệu quả là

do còn hạn chế về nguồn lực, năng lực và cơ chế phối hợp

các đại biểu cũng đã thảo luận, đề xuất những giải pháp

ưu tiên nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường liên quan đến hóa chất độc hại/

pcb, tiếp cận theo nguyên tắc ngăn ngừa không để xảy ra sự

cố và khi sự cố xảy ra thì phải ứng phó hiệu quả ngay tại chỗ(từ cơ sở, doanh nghiệp, địa phương) Theo đó, về chính sách cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và ban hành

các văn bản pháp quy, các quy định cụ thể(về xây dựng kế hoạch, quy trình ngăn ngừa, ứng phó, cơ chế tài chính, thông tin báo cáo ); Về tăng cường năng lực, trước hết cần nâng cao nhận thức cho các đối tượng liên quan; xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật

và phổ biến rộng rãi các quy định, quy trình, hướng dẫn

và huy động sự tham gia của cộng đồng trong phòng ngừa, cảnh báo, ứng phó và khắc phục sự cố Thực hiện các hoạt động đào tạo, tập huấn, diễn tập thường xuyên nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả ứng phó; phân định rõ trách nhiệm các cơ quan, tổ chức và xây dựng cơ chế phối hợp, quy trình ứng phó hiệu quả; đồng thời cần xây dựng

và áp dụng chế tài đối với các hoạt động từ ngăn ngừa, ứng phó xử lý cho đến khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại

đỗ hoàng

VDiễn tập ứng phó sự cố hóa chất tại Lâm Thao, Phú Thọ

Trang 35

tại hội thảo, ông patrick

J.Gilabert, trưởng đại diện

của unido tại Việt nam

cho biết “Thủy ngân là một kim loại

có khả năng bốc hơi tương đối dễ ở

nhiệt độ phòng, lan truyền nhanh

trong không khí, lưu truyền trong

chuỗi thức ăn hiện nay, thủy ngân

được sử dụng trong các thiết bị đo

lường nhiệt độ và áp suất, trong

nha khoa (hàn, trám men chiếm

51% hàm lượng thủy ngân), bóng

đèn, nhiệt kế… đặc biệt, trong

ngành công nghiệp như: luyện kim,

sản xuất xi măng hay khai khoáng

vàng… cũng gây ô nhiễm thủy ngân

cho môi trường và tác động đến sức

khỏe của con người”

đối với sức khỏe con người, thủy

ngân sẽ gây tổn thương hệ thần kinh,

thận, gây mất ngủ, trầm cảm, teo

cơ, suy giảm thị lực, nói khó, khiếm thính, rối loạn tâm thần… còn nếu thẩm thấu qua nhau thai thì sẽ gây sảy thai tự nhiên hoặc em bé được sinh ra với các triệu chứng thần kinh năng hoặc ngớ ngẩn

ông trần anh dũng - cục quản lý môi trường, bộ y tế cho biết: “qua khảo sát và thống kê tại các địa phương và cơ sở khám chữa bệnh trên cả nước, trung bình mỗi tháng có 1.629 nhiệt kế thủy ngân bị

vỡ và ước tính trên cả nước mỗi năm tại các cơ sở y tế có khoảng 447.588 nhiệt kế thủy ngân bị vỡ như vậy ước lượng thủy ngân giải phóng từ nhiệt kế và huyết áp kế bị vỡ trung bình mỗi năm là 550 kg”

Theo ông nguyễn anh tuấn - cục kiểm soát ô nhiễm, tổng cục môi trường: “hiện tại một số mỏ

khai khoáng vàng như mỏ khau

âu, thông qua kiểm tra mẫu nước (2009) hàm lượng thủy ngân đạt 0,0345mg/l cao gấp 3 lần so với tiêu chuẩn nước thải công nghiệp (tcVn 5945:2005), hay tại mỏ vàng bồng miêu với sản lượng vàng 600 kg/năm thì mỏ này phát thải ra môi trường 1.800kg thủy ngân/năm Với trữ lượng ước tính khoảng 300 tấn vàng Việt nam quy hoạch khai thác trong tương lai thì sẽ có 900 tấn thủy ngân sẽ được phát thải”

hướng đi CủA Việt nAM

Với chức năng, nhiệm vụ của mình, tại quyết định số 1811/qđ-ttg ngày 4/10/2013, bộ công Thương đã được chính phủ giao nhiệm vụ là cơ quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu trình chính phủ xem xét, phê duyệt công ước vào thời điểm thích hợp ông lưu hoàng ngọc, phó cục trưởng cục hóa chất - Giám đốc dự

án cho biết “dự án được phê duyệt với mức kinh phí 500.000 usd, trong đó 25.000 usd là từ nguồn đối ứng của chính phủ Việt nam, 22.000 usd từ unido dự án sẽ hoàn thành các hoạt động trước khi phê duyệt theo công ước minamata

để xác định các chính sách, các quyết định chiến lược và các lĩnh vực ưu

Việt Nam hướng tới mục tiêu phê duyệt Công ước Minamata về thủy ngân

Năm 2013, tại Kumamoto - Nhật Bản, cùng với 96 quốc gia đầu tiên trên thế giới, Việt Nam đã tham gia ký Công ước Minamata về thủy ngân Để thực hiện Công ước này, ngày 10/3/2015 tại

Hà Nội, Cục Hóa Chất - Bộ Công Thương đã phối hợp với Chương trình Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) thực hiện Hội thảo khởi động Dự án “Đánh giá ban đầu Công ước

Minamata về thủy ngân tại Việt Nam” do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ dưới dạng dự

án hỗ trợ kỹ thuật sử dụng vốn ODA Đây là hoạt động khởi đầu của Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu phê duyệt Công ước Minamata và theo lộ trình của Công ước việc sản xuất và sử dụng các sản phẩm có chứa thủy ngân hết hạn vào năm 2020.

VHội thảo Khởi động Dự án

(Xem tiếp trang 43)

Trang 36

Đánh giá tiêu chí môi trường trong

Chương trình xây dựng nông thôn mới

tS phạM thị tố oAnh

Liên minh Hợp tác xã Việt Nam

Vũ thu hạnh

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội

Với khoảng 70% dân số cả nước

tập trung sinh sống, nông thôn Việt nam đang trên con đường đổi mới và đóng vai trò quan

trọng trong quá trình phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước chương trình

mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn

mới (ntm), đã trở thành một phong

trào rộng lớn, tạo sự chuyển biến tích

cực về nhận thức trong cả hệ thống

chính trị và toàn xã hội Với sự vào

cuộc quyết liệt của nhiều cấp ủy, chính

quyền các cấp, sự hưởng ứng và tham

gia tích cực của người dân, chương

trình ntm đã đạt được kết quả bước

đầu khả quan tuy nhiên, theo đánh

giá của các chuyên gia, tiêu chí môi

trường trong chương trình vẫn là tiêu

đến năm 2020 là 50% Theo quy định,

để xã được công nhận là xã ntm phải

đạt 19 tiêu chí, trong đó, để đạt tiêu

chí về môi trường phải hoàn thành 5

nội dung, đó là: tỷ lệ hộ được sử dụng

nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn

quốc gia đạt 75%; 100% các cơ sở sản

xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi

trường; không có các hoạt động gây

suy giảm môi trường và có các hoạt

động phát triển môi trường xanh,

sạch, đẹp; nghĩa trang được xây dựng

theo quy hoạch; chất thải, nước thải

được thu gom và xử lý theo quy định

Theo số liệu báo cáo của ban chỉ đạo chương trình ntm, tính đến nay,

các tỉnh đã hoàn thành 100% công

tác lập quy hoạch xây dựng ntm

chương trình đã góp phần phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nhiều vùng nông thôn, nổi bật

là đầu tư phát triển giao thông nông thôn, thủy lợi, điện cả nước đã và đang triển khai xây dựng trên 5.000 công trình với khoảng 70.000 km đường giao thông nông thôn Về nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn đã nâng cấp hơn 1.000 công trình nước sạch tập trung, 500 bãi thu gom rác thải, 1.200 cống rãnh thoát nước thải vệ sinh; có 40% xã lập tổ thu gom rác thải tăng 10% so với trước khi thực hiện chương trình cơ sở vật chất văn hóa được chú trọng xây dựng và nâng cấp…

bên cạnh các tiêu chí đạt được, tiêu chí môi trường là tiêu chí khó thực hiện nhất, hiện cả nước mới có 26% các

xã điểm ntm đạt tiêu chí về môi trường nguyên nhân tiêu chí này đạt thấp là do môi trường nông thôn đang chịu sức ép ô nhiễm ngày càng lớn

từ sự gia tăng dân số, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi, bỏ trống khâu xử

lý chất thải trong chăn nuôi, chất thải nông nghiệp, sinh hoạt, sản xuất nghề…

cụ thể, tỷ lệ hộ dân được

sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia trên địa bàn nông thôn chưa bảo đảm yêu cầu, tỷ lệ đạt thấp ranh giới giữa nước sạch và nước hợp vệ sinh còn chưa rõ ràng, nhiều xã mới chỉ đạt tiêu chuẩn nước hợp

vệ sinh chứ chưa đạt tiêu chuẩn nước sạch

các hộ chăn nuôi gia đình dù đã xử lý môi trường nhưng không triệt để, gây

VXã Khánh Hưng (tỉnh Cà Mau) đã có nhiều khởi sắc khi triển khai xây dựng Chương trình NTM

Trang 37

thất thoát xả thải ra môi trường; chưa kể đến

những doanh nghiệp vì lợi nhuận mà “bán rẻ

lương tâm”, bất chấp tính mạng và sức khỏe

của người dân, còn có hành vi che giấu sai

phạm gây hậu quả nghiêm trọng

mặt khác, các cơ sở sản xuất kinh doanh

đa phần nhỏ lẻ, vốn ít, công nghệ lạc hậu, việc

xử lý môi trường là tự phát, chưa có báo cáo

đánh giá tác động môi trường; các làng nghề

chưa được quy hoạch, gây ô nhiễm môi trường;

ý thức của chủ doanh nghiệp chưa cao, còn tư

tưởng chạy theo lợi nhuận là những nguy cơ

gây ảnh hưởng đến môi trường

Thêm vào đó, việc quan tâm quy hoạch

nghĩa trang đạt chuẩn, tăng cường trồng cây

xanh, có hệ thống thu gom, xử lý nước thải,

chất thải tập trung ở mỗi xã đang là vấn đề

khó thực hiện triệt để do quỹ đất cũng như

kinh phí hạn hẹp

ngoài ra, do thiết bị, công nghệ trong sản

xuất công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công

nghiệp còn lạc hậu và thủ công, khu vực sản

xuất, kinh doanh hầu như chưa có các công

trình xử lý nước thải nên hậu quả về ô nhiễm

môi trường ngày càng gia tăng hiệu quả của

công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động của

doanh nghiệp về bVmt chưa cao, chưa xử lý

kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong

công tác quản lý, bVmt…

mặt trái và hệ lụy của quá trình đô thị hóa

tăng nhanh đã tác động rất lớn đến môi trường,

trong đó không thể tránh khỏi việc môi trường

sống của con người đang bị đe dọa, suy thoái

nghiêm trọng bởi ô nhiễm từ các chất thải,

nước thải của các khu công nghiệp, làng nghề,

khu dân cư Vì vậy, việc xây dựng ntm đặt ra

mục tiêu, tiêu chí cho các vùng nông thôn cũng

vừa là thách thức, vừa là động lực, là cơ hội để

bộ mặt nông thôn khởi sắc trên đà phát triển

song, vấn đề cốt lõi là suy nghĩ và hành xử

đúng mực của con người đối với thiên nhiên,

môi trường

bên cạnh đó, chất thải rắn phát sinh từ các

hộ gia đình, nhà kho, chợ, trường học, bệnh

viện, làng nghề cũng ảnh hưởng môi trường

nông thôn trong nhiều năm qua mặc dù, nhiều

địa phương đã có những giải pháp tích cực như

ra nghị quyết chuyên đề, giao cho các đoàn thể

phụ trách, hỗ trợ một phần kinh phí cho người

dân, xây lò đốt rác thải tại gia đình để giảm

thiểu ô nhiễm môi trường, song dường như

mới chỉ là giải pháp tạm thời chứ chưa có tính

bền vững lâu dài

cụ thể, lấy số liệu để phân tích thí điểm tại tỉnh lạng sơn, tính đến hết tháng 3/2015, toàn tỉnh đã hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch chung

và đề án xây dựng ntm cho 207/207 xã, 11 huyện, thành phố tuy nhiên, đến nay chưa

có xã nào trong tỉnh được đánh giá hoàn thành chỉ tiêu

về môi trường mặc dù, toàn tỉnh có trên 70% dân số nông thôn được dùng nước sạch hợp vệ sinh nhưng chỉ có hơn 50% trong số này được dùng nước sạch theo tiêu chuẩn của

bộ y tế ngoài ra, đánh giá chỉ tiêu về thu gom, xử lý rác thải, chất thải bảo đảm theo quy định cũng khó thực hiện

trung bình mỗi ngày, trên mỗi

xã phát sinh hàng trăm tạ rác sinh hoạt, trong đó có khoảng 50% được thu gom nhưng tỷ lệ rác được xử lý bảo đảm công nghệ, kỹ thuật hầu như không

có tại các xã…

qua đánh giá thí điểm các số liệu tỉnh lạng sơn cho thấy, ngay lúc này cần phải

có định hướng chiến lược cụ thể trong thực hiện tiêu chí môi trường gắn với từng địa bàn trước tiên, cần có tổ chức tuyên truyền cho các cấp chính quyền, người dân, nâng cao nhận thức về môi trường,

về các tiêu chí ntm trong triển khai thực hiện, đẩy mạnh sự phối kết hợp giữa các cấp chính quyền và hoạt động của người dân để mục tiêu đạt được trong xây dựng ntm là bền vững, đặc biệt tăng cường công tác kiểm tra, giám sát

để triển khai hiệu quả chương trình ntm, ban chỉ đạo chương trình đã đề ra một số giải pháp như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, phát huy sự tham gia tích cực chủ động của nhân

dân thực hiện và giám sát chương trình ntm; Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch; tạo điều kiện để người dân thực sự là chủ thể thực hiện chương trình

đồng thời, các địa phương tập trung chỉ đạo các xã đã đạt các tiêu chí xây dựng ntm phải hoàn thiện nâng cao chất lượng xây dựng ntm bền vững đối với các tỉnh chưa

có xã đạt chuẩn ntm phải chỉ đạo các xã điểm để làm cơ

sở rút kinh nghiệm trên diện rộng; huy động, lồng ghép các nguồn lực nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhất là cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế; chú trọng thực hiện nội dung phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn, xóa đói, giảm nghèo gắn với việc thực hiện chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trên địa bàn; ưu tiên nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao,

kỹ thuật tiên tiến để nâng cao chất lượng sản xuất nông nghiệp…

như vậy, việc thực hiện chương trình tổng thể về xây dựng ntm là cần thiết,

đã phát huy được nội lực và ngoại lực của khu vực nông thôn, hướng tới sự phát triển bền vững tuy nhiên, từ chính sách đến triển khai là cả lộ trình để thực hiện sát với thực tế chính vì vậy, trong định hướng triển khai, cần có những nghiên cứu, xem xét, điều chỉnh những quy định cụ thể, rõ ràng và thống nhất giữa chính sách và thực thi chính sách, nhờ vậy mới phát huy thực sự hiệu quả, phục vụ mục tiêu nông thôn đổi mớin

Ngày đăng: 23/08/2016, 15:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các chỉ tiêu Ctr đối với lưu vực sông đồng nai - Tạp chí môi trường số 3   2015
Bảng 1 Các chỉ tiêu Ctr đối với lưu vực sông đồng nai (Trang 20)
Hình làm đê bao, bờ bao và hệ thống cống điều - Tạp chí môi trường số 3   2015
Hình l àm đê bao, bờ bao và hệ thống cống điều (Trang 48)
Hình như: - Tạp chí môi trường số 3   2015
Hình nh ư: (Trang 52)
Bảng 2.Chất lượng nước các ao, hồ, đầm phường Quảng An - Tạp chí môi trường số 3   2015
Bảng 2. Chất lượng nước các ao, hồ, đầm phường Quảng An (Trang 63)
Bảng 1. Diện tích và kết quả tham vấn cộng đồng về hiện trạng các vùng đnn phường Quảng An - quận tây hồ - Tạp chí môi trường số 3   2015
Bảng 1. Diện tích và kết quả tham vấn cộng đồng về hiện trạng các vùng đnn phường Quảng An - quận tây hồ (Trang 63)
Bảng 4.giá trị chức năng chính của các hồ, ao, đầm tại phường Quảng An - Tạp chí môi trường số 3   2015
Bảng 4.gi á trị chức năng chính của các hồ, ao, đầm tại phường Quảng An (Trang 64)
Bảng 3. hSt các hồ, ao, đầm tại phường Quảng An - Tạp chí môi trường số 3   2015
Bảng 3. hSt các hồ, ao, đầm tại phường Quảng An (Trang 64)
Bảng 1. đặc tính nước thải đầu vào - Tạp chí môi trường số 3   2015
Bảng 1. đặc tính nước thải đầu vào (Trang 66)
Hình này cung cấp lợi thế rất  lớn trong việc giám sát riêng  biệt các quá trình nitrat hóa và  khử nitơ và cũng cung cấp thời  gian lưu thủy lực (hrt) hoặc  thời  gian  lưu  bùn  (srt)  phù  hợp - Tạp chí môi trường số 3   2015
Hình n ày cung cấp lợi thế rất lớn trong việc giám sát riêng biệt các quá trình nitrat hóa và khử nitơ và cũng cung cấp thời gian lưu thủy lực (hrt) hoặc thời gian lưu bùn (srt) phù hợp (Trang 66)
Bảng 2. nồng độ CoD được đo trong các Sbr - Tạp chí môi trường số 3   2015
Bảng 2. nồng độ CoD được đo trong các Sbr (Trang 67)
Bảng 3. nồng độ no 3 -  được đo trong các Sbr - Tạp chí môi trường số 3   2015
Bảng 3. nồng độ no 3 - được đo trong các Sbr (Trang 67)
Bảng 2.Thống kê sản lượng khí sinh học thu được trong mô hình - Tạp chí môi trường số 3   2015
Bảng 2. Thống kê sản lượng khí sinh học thu được trong mô hình (Trang 71)
Hình mh1 (đối chứng) và mh 2.2 (tuần hoàn - Tạp chí môi trường số 3   2015
Hình mh1 (đối chứng) và mh 2.2 (tuần hoàn (Trang 71)
Bảng 3. Thống kê các thông số động học - Tạp chí môi trường số 3   2015
Bảng 3. Thống kê các thông số động học (Trang 72)
Hình tuần hoàn 0,14 m 3 /m 2 .h) và 1.299 mg/l (đối với mô hình - Tạp chí môi trường số 3   2015
Hình tu ần hoàn 0,14 m 3 /m 2 .h) và 1.299 mg/l (đối với mô hình (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w