trong số này sự kiện & hoạt động [3] tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác hồ xuân Ất Mùi 2015 [5] Phó thủ tướng chính Phủ hoàng trung hải làM việc với Bộ tn&Mt về nghiên cứu tác động của
Trang 1Website: tapchimoitruong.vn
2015 vietnam environment adminiStration magazine (vem)
TẾT TRỒNG CÂY ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN BÁC HỒ
XUÂN ẤT MÙI 2015
Trang 2trong số này
sự kiện & hoạt động
[3] tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác hồ
xuân Ất Mùi 2015
[5] Phó thủ tướng chính Phủ hoàng trung hải
làM việc với Bộ tn&Mt về nghiên cứu tác
động của các công trình thủy điện trên
dòng chính sông Mê công
[6] Bộ tn&Mt: tiếP tục đẩy Mạnh Mối quan hệ
hợP tác với các đối tác quốc tế
[7] thứ trưởng Bộ tn&Mt trần hồng hà
tiếP xã giao chủ tịch hội đồng
doanh nghiệP Mỹ - asEan
[8] cùng hành động tạo sự thay đổi
[14] quy định điều Kiện tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc Môi trường
[16] Một số quy định của PháP luật về vai trò cộng đồng dân cư với BvMt nước
[18] nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợP chẤt thải rắn trên lưu vực sông đồng nai
tRAo đỔi & DiỄn đÀn
[25] qua vụ việc chặt hạ cây xanh ở hà nội
nghĩ về Phát huy sức Mạnh cộng đồng
trong công tác BvMt hiện nay
[28] vai trò của tổ chức xã hội trong BvMt
[30] tăng cường công tác quản lý hóa chẤt BvMt
[33] việt naM hướng tới Mục tiêu Phê duyệt công ước
MinaMata về thủy ngân
[34] đánh giá tiêu chí Môi trường trong chương trình
xây dựng nông thôn Mới
3
25
Trang 3[36] Giải pháp Giảm thiểu ô nhiễm, suy thoái môi trườnG
tronG sử dụnG đất nônG nGhiệp ở Việt nam
[39] thái nGuyên áp dụnG hiệu quả sản xuất sạch hơn
tronG cônG nGhiệp
[40] Giải pháp quản lý bảo Vệ rừnG Và phát triển sinh kế
bền VữnG ở một số địa phươnG miền trunG
Website: tapchimoitruong.vn
Số 3
2015 c ơ q u a n c ủ a t ổ n g c ụ c m ô i t r ư ờ n gvietnam environment adminiStration magazine (vem)
TẾT TRỒNG CÂY ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN BÁC HỒ XUÂN ẤT MÙI 2015
pGs ts Lê Văn Thăng
Gs ts trần Thục pGs ts trương Mạnh tiến
Gs ts Lê Vân trình pGs ts nguyễn Anh tuấn
Fax: (04) 39412053Email: tcbvmt@yahoo.com.vnhttp://www.tapchimoitruong.vn
giấy phép xuất bản
số 1347/Gp-btttt cấp ngày 23/8/2011
bìa 1: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trồng cây tại Khu di tích Đền Hùng, Phú Thọ - Xuân Ất Mùi
MÔI TRƯỜNG & DOANH NGHIỆP
[42] cônG ty busadco: nGhiên cứu, ứnG dụnG khoa học
cônG nGhệ Và bVmt là nền tảnG của sự phát triển
[44] cônG ty cp đào tạo kỹ thuật pVd: thực hiện nGhiêm túc
cônG tác an toàn, Vệ sinh lao độnG
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
[45] các mô hình thích ứnG Với bđkh ở Việt nam
[48] phú yên xây dựnG cơ chế, chính sách liên kết VùnG
tronG ứnG phó Với bđkh
[51] xây dựnG mô hình sinh kế nônG lâm nGhiệp bền VữnG
thân thiện Với môi trườnG Và thích ứnG Với bđkh
[52] bảo tồn, phát triển Và sử dụnG bền VữnG nGuồn tài
nGuyên khu bảo tồn biển đảo cồn cỏ
[54] xây dựnG cônG Viên độnG Vật hoanG dã tại ninh bình
[60] đánh Giá hiện trạnG Và các chức nănG
hệ sinh thái của các VùnG đất nGập nước đô thị
(ao, hồ, đầm) tại phườnG quảnG an, tây hồ, hà nội
[63] ảnh hưởnG của mật rỉ đườnG lên quá trình khử
nitow sau VùnG thiếu khí tronG thùnG phản ứnG
sinh học thEo mẻ (sbr) quy mô phònG thí nGhiệm
[67] nGhiên cứu nânG cao tốc độ phân hủy chất thải
rắn tronG điều kiện bãi chôn lấp
57
Trang 5TẾT TRỒNG CÂY ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN BÁC HỒ
XUÂN ẤT MÙI 2015
sinh thời, chủ tịch hồ chí minh luôn quan tâm
đến môi trường thiên nhiên, hiểu được ý nghĩa
sâu sắc, giá trị thiết thực của cây xanh đối với
môi trường và con người năm 1959, người đã phát
động phong trào tết trồng cây, động viên và kêu gọi
nhân dân cùng chung tay giữ lấy màu xanh đất nước
kể từ đó đến nay, như một truyền thống tốt đẹp, mỗi
dịp xuân về, “tết trồng cây” là ngày hội của toàn
đảng, toàn dân và toàn quân ta, truyền thống đó đã
mang lại giá trị thực tiễn, góp phần bVmt sinh thái
phát biểu tại lễ phát động tết trồng cây đời
đời nhớ ơn bác hồ nhân dịp xuân ất mùi, ngày
24/2/2015 tại đền hùng (phú Thọ), chủ tịch nước
trương tấn sang kêu gọi đồng bào cả nước cùng
tham gia trồng cây, ngăn chặn tình trạng chặt
phá, đốt rừng, khai thác rừng trái pháp luật; đồng
thời, đề nghị các cấp ủy đảng và chính quyền địa
phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về mục
đích, ý nghĩa của tết trồng cây; phát động tết trồng
cây phù hợp với điều kiện của từng địa phương, cơ
quan, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm
cũng nhân dịp này, để tri ân đại tướng Võ nguyên
Giáp, người đã có nhiều công lao đóng góp cho sự
nghiệp phát triển của đất nước, trong khuôn khổ
chương trình “quỹ 1 triệu cây xanh cho Việt nam”,
tổng cục môi trường phối hợp với công ty cp sữa
Việt nam Vinamilk tổ chức lễ trồng cây tại khu mộ
đại tướng (Vũng chùa, đảo yến, huyện quảng trạch,
tỉnh quảng bình) qua đó, nhằm giáo dục lý tưởng,
đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức, trách nhiệm của
cộng đồng trong việc xây dựng và bVmt, tạo dựng
cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp, góp phần
chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu (bđkh) Thay
VChủ tịch nước Trương Tấn Sang trồng cây tại Khu di tích Đền Hùng, Phú Thọ
VCác đại biểu trồng cây trong khuôn viên mộ
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
mặt bộ tn&mt, Thứ trưởng bùi cách tuyến kêu gọi các
bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hãy trồng, chăm sóc, bảo vệ thêm nhiều cây xanh vì môi trường sống và sức khỏe của mỗi người sau buổi lễ, các đại biểu, người dân và hàng trăm đoàn viên, thanh niên
đã tham gia trồng hơn 13.000 cây xanh trong khuôn viên
mộ đại tướng Võ nguyên Giáp
tại khu di tích lịch
sử kim bình (chiêm hóa, tuyên quang), trung ương đoàn Thanh niên cộng sản
hồ chí minh tổ chức lễ khởi động tháng Thanh niên với chủ đề “tự hào tiến bước dưới lá cờ đảng” và tết trồng cây “đời đời nhớ ơn bác hồ”
các đại biểu đã tham gia trồng cây lưu niệm tại khu
di tích lịch sử kim bình;
trồng mới 2 ha rừng tại xã kim bình, huyện chiêm
hóa; Thăm và tặng quà các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng; trao học bổng cho học sinh nghèo vượt khó; khánh thành công trình nhà chức năng trung tâm văn hóa thể thao xã kim bình (trị giá 400 triệu đồng) do Thanh niên xây dựng; làm đường giao thông nông thôn và ra quân tổng vệ sinh môi trường phát biểu tại buổi lễ, chủ tịch ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt nam nguyễn Thiện nhân nhấn mạnh, mỗi bạn trẻ trồng một cây xanh, cả nước sẽ
có hơn 10 triệu cây xanh và trong 10 năm sẽ có hơn 100 triệu cây, góp phần cải thiện môi trường sống và phát triển bền vững đất nước
do đó, cán bộ, đoàn viên, thanh niên và nhân dân cả nước cần tích cực hơn nữa trong việc thực hiện lời dạy của bác
Trang 6VChủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Nguyễn Thiện Nhân trồng cây tại Khu Di tích lịch sử Kim Bình
(Chiêm Hóa, Tuyên Quang)
VGắn biển Hàng cây thanh niên tại tuyến đường trục Bắc Nam, thị trấn Quốc Oai
nhiều địA phương trên Cả nướC
hưởng ứng tết trồng Cây
tại hà nội, Thành
đoàn tp hà nội phối
hợp với ubnd huyện
quốc oai tổ chức lễ ra
quân Tháng thanh niên
và phát động tết trồng
cây năm 2015 các đại
biểu cùng đoàn viên,
thanh niên đã trồng mới
trên 100 cây xanh các loại
và gắn biển công trình
“hàng cây thanh niên”
tại tuyến đường trục bắc
nam, huyện quốc oai
bên cạnh đó, nhiều cơ sở
đoàn trên địa bàn tp đã
mới trên 3.350 cây xanh
các loại và quét vôi 4.500
gốc cây
nét mới của tết trồng
cây năm 2015 tại hải
phòng là hướng vào chất
lượng, hiệu quả, không
chạy theo phong trào;
trồng cây mùa xuân gắn với tạo cảnh quan xanh cho làng quê nông thôn mới đặc biệt, sau tết trồng cây, các địa phương tiếp tục thực hiện đề án trồng cây phân tán theo quy hoạch nông thôn mới của ubnd tp trong đó,
ưu tiên trồng dừa tại khu vực kênh, mương; phượng vĩ ở các khu di tích lịch sử, trung tâm văn hóa làng; các loại cây bóng mát trồng theo các tiểu vùng sinh thái, hướng đến 3 mục tiêu: trồng theo điểm nhấn, trồng tuyến đường cây xanh đô thị, trồng cây lâm nghiệp kết hợp cải tạo môi trường với phát triển kinh tế trước mắt, tp hải phòng hỗ trợ 83 nghìn cây giống cho ngày đầu phát động tết trồng cây
nhiều năm qua, tp nam định, tỉnh nam định đã tổ chức tốt phong trào trồng, chăm sóc
và bảo vệ cây, mỗi năm tỉnh trồng được hàng nghìn cây xanh, góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển, bảo vệ rừng Với những kết quả đạt được, liên tục trong 4 năm, nam định được hiệp hội các đô thị Việt nam bình chọn là một trong 10 đô thị dẫn đầu cả nước về sáng - xanh
- sạch - đẹp năm 2015, ubnd tp nam định phối hợp với sở nn&ptnt tổ chức lễ phát động tết trồng cây “đời đời nhớ ơn bác hồ” tại khu tưởng niệm lê đức Thọ, xã nam Vân, tp nam định
hưởng ứng phong trào tết trồng cây, tỉnh quảng trị đã có nhiều hoạt động kêu gọi, huy động người dân trồng, chăm sóc và bảo vệ cây bóng mát, rừng phòng hộ, rừng trồng và rừng nguyên sinh.Với phương châm
“nhà nhà trồng cây, người người trồng cây”, tết trồng cây năm 2015, tỉnh đã trồng mới 10.000 cây xanh và phấn đấu trong năm sẽ trồng mới 2 triệu cây xanh trên khoảng diện tích từ 5.000 - 6.000 ha
bùi hằng
Trang 7PHó THủ TƯỚNG CHíNH PHủ HOàNG TRuNG HẢI làM VIỆC VỚI Bộ
TN&MT VỀ NGHIêN Cứu TÁC độNG CủA CÁC CÔNG TRÌNH THủy đIỆN TRêN DòNG CHíNH sÔNG Mê CÔNG
ngày 3/3/2015, tại hà nội,
phó Thủ tướng chính phủ
hoàng trung hải đã có
buổi làm việc với bộ tn&mt và ủy
ban sông mê công Việt nam về việc
nghiên cứu tác động của các công
trình thủy điện trên dòng chính sông
mê công
trong thời gian qua, bộ tn&mt
và ủy ban sông mê công Việt nam
đã tích cực triển khai thực hiện
nhiệm vụ nghiên cứu, đánh giá tác
động của các công trình thủy điện
trên dòng chính sông mê công đến
vùng hạ du mục tiêu của nghiên cứu
nhằm xây dựng một bộ cơ sở dữ liệu
hoàn chỉnh về các điều kiện nền của
lưu vực sông (lVs) mê công, đặc biệt
là vùng đồng bằng châu thổ sông mê
công (vùng ngập lũ của Việt nam và
campuchia); đánh giá định lượng
tác động của các công trình thủy
điện trên dòng chính tới vùng hạ du
(chế độ dòng chảy, vận chuyển phù
sa và dinh dưỡng, đa dạng sinh học,
chất lượng nước); khai thác thủy
sản… nghiên cứu đã được triển khai
theo đúng tiến độ và dự kiến sẽ hoàn
thành vào tháng 12/2015, nhằm đảm
bảo lợi ích của các bên liên quan và
sự phát triển bền vững lVs mê công
tại buổi làm việc, bộ trưởng bộ tn&mt nguyễn minh quang nhấn mạnh, kết quả nghiên cứu không chỉ đưa ra những cơ sở khoa học cho các quốc gia thành viên ủy hội sông mê công quốc tế mà còn giúp Việt nam ứng phó với thách thức ở đồng bằng sông cửu long, đặc biệt là vấn đề
an ninh tài nguyên nước trong điều kiện biến đổi khí hậu
phó Thủ tướng chính phủ hoàng trung hải đánh giá cao tinh thần làm việc của bộ tn&mt
nghiên cứu đã thu hút sự tham gia
và ủng hộ của nhiều tổ chức, chuyên gia quốc tế có uy tín, cũng như các
bộ, ngành, địa phương có liên quan của Việt nam, đảm bảo chất lượng
và sự minh bạch tuy nhiên, phó Thủ tướng cũng lưu ý, trong quá trình triển khai nghiên cứu, cần cân nhắc lựa chọn các kịch bản, nhất là tác động của biến đổi khí hậu đối với cuộc sống người dân trong lVs mê công; Tham khảo kinh nghiệm các nước, nhằm lựa chọn giải pháp tối ưu
và hiệu quả đồng thời, tăng cường phối hợp với các bên liên quan cũng như tranh thủ sự ủng hộ của thế giới
giA Linh
VToàn cảnh buổi làm việc
TăNG THuẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG đốI VỚI XăNG Dầu
ngày 10/3/2015, ủy ban Thường
vụ quốc hội (ubtVqh) đã
biểu quyết thông qua nghị quyết về
việc tăng thuế bVmt đối với xăng
và một số mặt hàng xăng dầu khác,
riêng dầu hỏa giữ nguyên như hiện
nay nghị quyết có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 1/5/2015
Thừa ủy quyền của Thủ tướng
chính phủ, bộ trưởng bộ tài chính
đinh tiến dũng đã giải trình trước
ubtVqh việc Việt nam phải thực
hiện các cam kết quốc tế, cắt giảm
thuế xuất, nhập khẩu theo lộ trình
bên cạnh đó, giá xăng dầu bán lẻ hiện
nay vẫn thấp hơn lào, campuchia và trung quốc (khoảng 5.000 - 6.000 đồng), dẫn đến tình trạng buôn lậu xăng dầu qua biên giới để phù hợp với lộ trình hội nhập asEan, đồng thời bù đắp một phần giảm thu ngân
sách, chính phủ đề nghị tăng thuế bVmt cao gấp 3 lần so với hiện nay (từ 1.000 đồng/lít lên 3.000 đồng/lít) và khi tăng thuế ở mức này, thuế nhập khẩu sẽ giảm từ 35% xuống còn 20%
sau khi thảo luận, ubtVqh thống nhất với đề nghị của chính phủ, song yêu cầu điều chỉnh thời hạn thực hiện phần ngân sách tăng thu (ước tính khoảng 14.000 tỷ đồng)
sẽ được bố trí cho mục đích bVmt
và có tỷ lệ phân chia giữa ngân sách trung ương - địa phương theo pháp
luật hiện hành Vũ hồng
Trang 8Bộ TN&MT:
Tiếp tục đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác với các đối tác quốc tế
ngày 26/2/2015, tại hà nội, bộ tn&mt
đã có buổi gặp mặt với trưởng đại diện
các tổ chức quốc tế, đại sứ các nước tại Việt
nam đây là sự kiện thường niên, nhằm tăng
cường mối quan hệ hợp tác giữa bộ với các
đối tác quốc tế
Việc đẩy mạnh, mở rộng hội nhập và hợp
tác quốc tế với các đối tác song phương, đa
phương là một trong 5 nhiệm vụ chính mà
bộ tn&mt đã thực hiện hiệu quả trong năm
2014 các hoạt động hợp tác bao trùm tất cả
các lĩnh vực quản lý của bộ, trong đó lĩnh vực
môi trường, biến đổi khí hậu, quản lý đất đai,
tài nguyên nước, khí tượng - thủy văn nhận
được sự ưu tiên hợp tác từ các đối tác quốc tế
bên cạnh đó, bộ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ
từ các tổ chức quốc tế và đối tác đa phương
như chương trình phát triển liên hợp quốc
(undp), chương trình môi trường liên
hợp quốc (unEp), quỹ môi trường toàn cầu
(GEF), ngân hàng Thế giới (wb), liên minh
châu âu (Eu) ; các đối tác song phương như
nhật bản, ôxtrâylia, đan mạch, hàn quốc,
canađa, pháp, hà lan Với sự ủng hộ tích cực
của các đối tác quốc tế, cơ chế đối thoại chính
sách toàn diện giữa bộ tn&mt và các đối tác
quốc tế đã được thiết lập, đảm bảo việc cập
nhật, chia sẻ thông tin giữa hai bên về các hoạt
động cũng như các ưu tiên hợp tác trong lĩnh
vực tn&mt
bộ trưởng bộ tn&mt nguyễn minh
quang cho biết, năm 2015, ngành tn&mt sẽ
tạo đà vững chắc để thực hiện thành công kế
hoạch 5 năm 2016 - 2020; phấn đấu đến năm
2020, phát triển ngành theo hướng hiện đại,
góp phần phát triển bền vững đất nước Theo
đó, toàn ngành tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện hệ thống chính sách, pháp luật, chiến
lược, quy hoạch về quản lý tn&mt như: xây
dựng, hoàn thiện và trình chính phủ luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo, luật khí tượng Thủy văn;
tiếp tục hoàn thiện và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện luật bVmt 2014, luật đất đai, luật tài nguyên nước, luật khoáng sản; phối hợp với các đối tác quốc tế triển khai các dự án hợp tác trọng điểm trong các lĩnh vực quản lý của ngành
Về hội nhập và hợp tác quốc tế, bộ sẽ chú trọng tăng cường năng lực cho các hoạt động hợp tác tiếp nhận; Thúc đẩy các hoạt động hợp tác đối tác; đẩy mạnh vai trò làm chủ của phía Việt nam trong các hoạt động hợp tác; Thiết lập mạng lưới cán bộ đầu mối lĩnh vực tn&mt bên cạnh
các tổ chức quốc tế lớn và tại một số địa bàn trọng điểm trên thế giới bên cạnh đó, nâng cao năng lực và thể chế quản lý nhà nước về tn&mt; tăng cường vai trò cầu nối của bộ trong việc kết nối hợp tác giữa các đối tác nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước, khuyến khích đầu
tư nước ngoài vào lĩnh vực tn&mt…
phát biểu tại buổi làm việc, Giám đốc wb tại Việt nam Victoria kwakwa khẳng định, thời gian tới, wb sẽ tiếp tục hợp tác với Việt nam trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu; đồng thời, hỗ trợ cho lĩnh vực đất đai và các lĩnh vực quản lý nhà nước của
bộ tn&mt
bảo bình
VBộ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Minh Quang phát biểu tại buổi gặp mặt
Trang 9THứ TRƯởNG Bộ TN&MT TRầN HồNG Hà TIẾP Xã GIAO
CHủ TịCH HộI đồNG DOANH NGHIỆP Mỹ - AsEAN
ngày 18/3/2015, tại hà nội,
Thứ trưởng bộ tn&mt trần
hồng hà đã có buổi tiếp xã giao chủ
tịch hội đồng doanh nghiệp mỹ -
asEan, ngài alexander Feldman
phát biểu tại buổi tiếp, Thứ
trưởng bộ tn&mt trần hồng hà
đánh giá cao chuyến thăm và làm
việc của đoàn chủ tịch hội đồng
doanh nghiệp mỹ - asEan với bộ
tn&mt Thứ trưởng nhấn mạnh,
năm 2015 là năm kỷ niệm 20 năm
triển khai quan hệ hợp tác giữa Việt
nam và mỹ Thứ trưởng mong muốn
mối quan hệ hợp tác giữa hai nước
sẽ ngày càng phát triển và bền chặt,
cũng như sự hợp tác và đầu tư của
các doanh nghiệp mỹ tại Việt nam
ngày càng mạnh mẽ
Thứ trưởng cho biết, hiện nay vấn đề ưu tiên hàng đầu của bộ tn&mt đó là lĩnh vực môi trường, trong đó trọng tâm là việc khắc phục ô nhiễm tồn lưu dioxin bên cạnh đó, Việt nam là nước có chỉ số
đa dạng sinh học cao trên thế giới cho nên rất cần sự quan tâm hợp tác của các tổ chức quốc tế trong xây dựng các khu bảo tồn, nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và gìn giữ các nguồn gen quý hiếm ngoài ra, bộ tn&mt mong muốn thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực tài nguyên nước, biến đổi khí hậu, chuyển giao công nghệ về năng lượng tái tạo và năng lượng mới
đối với tài nguyên biển và hải đảo, Việt nam chủ trương đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn vốn quốc tế về khoa học công nghệ tiên tiến để phục vụ công tác điều tra cơ bản và quản
lý tài nguyên môi trường biển, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải biển đông
tại buổi tiếp, đại diện các doanh nghiệp mỹ đã bày tỏ vui mừng và cảm ơn lãnh đạo bộ tn&mt đã dành thời gian làm việc với đoàn
và cho rằng đây là một bước đánh dấu sự hợp tác trong mối quan hệ lâu dài giữa hai bên
L.trAng
nhằm tạo diễn đàn trao đổi,
thảo luận về việc xây dựng các
văn bản hướng dẫn thi hành luật
bVmt 2014, đặc biệt là các văn bản
liên quan đến việc tăng cường thể
chế hóa sự tham gia của cộng đồng
trong bVmt, ngày 16/3/2015, tại hà
nội, tổng cục môi trường phối hợp
với trung tâm con người và Thiên
nhiên tổ chức hội thảo “sự tham
gia của cộng đồng và tổ chức xã hội
trong bVmt: kinh nghiệm thực tiễn
và nhu cầu thể chế hóa cho thực thi
luật bVmt”
phát biểu tại hội thảo, phó tổng
cục trưởng tổng cục môi trường mai
Thanh dung cho biết, luật bVmt
2014 được quốc hội thông qua tại
kỳ họp thứ 7, quốc hội khóa xiii
và có hiệu lực thi hành kể từ ngày
1/1/2015, gồm 20 chương, 170 điều,
trong đó chương 15 quy định về
trách nhiệm và quyền hạn của mặt
trận tổ quốc Việt nam, các tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề
nghiệp và cộng đồng dân cư trong công tác bVmt, góp phần thể chế hóa quy định mới của hiến pháp về bVmt
trong thời gian qua, tổng cục môi trường đã xây dựng, trình bộ tn&mt để trình chính phủ, Thủ tướng chính phủ ban hành 4 nghị định, 1 quyết định quy định các điều khoản của luật bVmt 2014 trong
đó, nghị định số 18/2015/nđ-cp quy định về quy hoạch bVmt, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giác tác động môi trường và kế hoạch bVmt; nghị định số 19/2015/nđ-
cp quy định chi tiết thi hành một số điều của luật bVmt 2014 cũng dành riêng chương 8 quy định về cộng đồng dân cư tham gia bVmt để tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho công tác quản lý nhà nước về bVmt và thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2015,
bộ tn&mt đang tiến hành xây dựng các văn bản hướng dẫn triển khai thi
hành luật bVmt 2014, trong đó các quy định về sự tham gia của cộng đồng tiếp tục được cụ thể hóa với những cơ chế và đảm bảo bằng chế tài pháp lý rõ ràng
tại hội thảo, các đại biểu đã tập trung thảo luận một số nội dung: rà soát các quy định về sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; kinh nghiệm từ sự tham gia của cộng đồng dân cư và các tổ chức
xã hội trong công tác bVmt: bài học
từ chương trình hành động bảo vệ hồ
hà nội; một số khuyến nghị chính sách đảm bảo sự tham gia có hiệu quả của cộng đồng và các tổ chức xã hội Theo các đại biểu, để xây dựng
và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thực thi luật bVmt 2014, cần tạo điều kiện, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào công tác bVmt; đồng thời, cần nâng cao vai trò của các bên tham gia trong quá trình xây dựng chính sách bùi hằng
sự THAM GIA CủA CộNG đồNG Và Tổ CHứC Xã HộI TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Trang 10Cùng hành động tạo sự thay đổi
ngày 3/3/2015, tại hà nội,
đại sứ quán mỹ tại Việt
nam phối hợp với bộ
tn&mt, bộ nn&ptnt tổ chức
chương trình cùng hành động tạo
sự thay đổi (oGc), với sự tham dự
của ngài đại sứ mỹ tại Việt nam ted
osius, bộ trưởng bộ nn&ptnt cao
đức phát, Thứ trưởng bộ tn&mt
bùi cách tuyến và các tổ chức phi
chính phủ trong nước và quốc tế
Theo thống kê của các cơ quan
bảo tồn quốc tế, trong vòng 40 năm
qua, thế giới đã mất đi 52% sự đa
dạng sinh học (đdsh) trên trái
đất một trong những nguyên nhân
lớn nhất của sự mất mát này là do
nạn buôn bán bất hợp pháp xuyên
quốc gia các loài động vật hoang
dã (đVhd) đang có nguy cơ tuyệt
chủng chính nhu cầu sử dụng
đVhd và các sản phẩm từ đVhd
ngày càng tăng đã kéo theo sự gia
tăng của nạn săn trộm; kết quả là
sự suy giảm đáng báo động về số
lượng loài trên thế giới, đặc biệt là
các loài mang tính biểu tượng như tê
giác, voi và hổ, trong khi đó lại làm
tăng sức mạnh của các tổ chức tội
phạm và làm suy yếu năng lực thực
thi các quy định của pháp luật một
cách hiệu quả trung quốc, mỹ và
Việt nam là ba nước tiêu thụ các sản
phẩm từ buôn bán trái phép đVhd
hàng đầu trên thế giới
phát biểu tại chương trình
oGc, đại sứ mỹ tại Việt nam ted
osius nhấn mạnh, sự bùng nổ của
nạn buôn bán đVhd gần đây đang
đe dọa đến sự sinh tồn của nhiều loài
quý hiếm, nhất là tê giác ở châu phi
trước thực trạng trên, ngài đại sứ
ted osius cho rằng, các cơ quan của
Việt nam cần cùng hành động tạo
sự thay đổi hướng tới việc nâng cao
nhận thức của cộng đồng và giảm nhu cầu đối với đVhd bất hợp pháp
Về phía Việt nam, bộ trưởng bộ nn&ptnt cao đức phát cho biết, để có thể bảo vệ các loài hoang dã, Việt nam đã xây dựng mạng lưới Thực thi luật động vật hoang
dã (wEn) cùng với các hoạt động nâng cao nhận thức, nhằm ngăn chặn nạn buôn bán đVhd bất hợp pháp trong quốc gia cũng như qua biên giới, khu vực
Với vai trò là cơ quan chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện quản
lý nhà nước về đdsh, Thứ trưởng bộ tn&mt bùi cách tuyến khẳng định,
bộ tn&mt đã ban hành các văn bản quan trọng liên quan đến việc bảo vệ các loài nguy cấp như luật đdsh, nghị định số 160/2013/nđ-
cp quy định về tiêu chí xác
định và chế độ quản lý các loài nguy cấp quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ; chiến lược quốc gia về đdsh đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030 Thứ trưởng cũng cho biết, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, bộ tn&mt
đã huy động sự tham gia của các bộ, ngành, cơ quan và các tổ chức phi chính phủ trong việc tăng cường công tác quản lý, bảo tồn và thực thi pháp luật để giải quyết vấn đề tiêu thụ trái phép các loài đang bị đe dọa, các loài đặc hữu và có giá trị tại Việt nam Theo Thứ trưởng, chương trình oGc là một sáng kiến quan trọng nhằm tạo ra thay đổi trong nhận thức về tiêu dùng đVhd, hướng tới những hành động thiết thực về bảo tồn thiên nhiên, đdsh và phát triển bền vững
nguyên hằng
VCác đại biểu tham gia Chương trình
Trang 11KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG NĂM 2014
gS.tS bùi CáCh tuyến
Thứ trưởng Bộ TN&MT kiêm Tổng cục trưởng
ThS nguyễn KiM tuyển
Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ
Tổng cục Môi trường
cải cách hành chính (cchc) là vấn đề
mang tính toàn cầu, là động lực mạnh
mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế,
phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống
xã hội cchc đóng vai trò quan trọng trong
thúc đẩy sự phát triển đất nước cchc được
đảng và nhà nước coi là khâu đột phá, là chìa
khóa thành công để hướng đến xây dựng nền
hành chính dân chủ, trong sạch vững mạnh,
từng bước hiện đại hóa, thực sự là nền hành
chính phục vụ nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội công tác cchc đã đạt
những kết quả bước đầu quan trọng, góp phần
vào thành tựu chung của đất nước chức năng,
nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan
trong hệ thống hành chính nhà nước được điều
chỉnh, sắp xếp phù hợp hơn, quản lý nhà nước
ngày càng tốt hơn trong điều kiện mới chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy
hành chính nhà nước có bước được nâng lên,
đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ Thủ tục
hành chính và hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước có bước đổi mới, hiệu lực, hiệu
quả, kỷ luật, kỷ cương được tăng cường
tuy nhiên, nền hành chính còn bộc lộ một
số hạn chế hệ thống thể chế, pháp luật, nhất
là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa vẫn còn nhiều vướng mắc chức
năng, nhiệm vụ của một số cơ quan trong hệ
thống hành chính nhà nước chưa rõ, còn trùng
lặp và chưa bao quát hết các lĩnh vực quản lý
nhà nước; cơ cấu tổ chức bộ máy còn cồng
kềnh, chưa phù hợp chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu; tình trạng
quan liêu, lãng phí còn nghiêm trọng Thể chế,
luật pháp về quản lý tài chính công tuy có nhiều
đổi mới, nhưng còn bất cập Thủ tục hành
chính còn nhiều vướng mắc, gây phiền hà cho
tổ chức và công dân; kỷ luật, kỷ cương cán bộ,
công chức chưa nghiêm; hiệu lực, hiệu quả của
quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém
nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác cchc, ngày 8/11/2011, chính phủ
đã ban hành nghị quyết số 30/nq-cp về chương trình tổng thể cchc nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, với 6 nhiệm vụ: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách
tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa hành chính nghị quyết
đã đưa ra 7 giải pháp để thực hiện chương trình tổng thể cchc nhà nước giai đoạn
2011 - 2020
bám sát sự chỉ đạo của
bộ tn&mt theo kế hoạch cchc của bộ năm 2014, tổng cục môi trường đã ban hành
kế hoạch cchc của tổng cục năm 2014 với 5 mục tiêu, 6 nhiệm vụ và 7 giải pháp bằng
sự quyết tâm và nỗ lực của tập thể lãnh đạo, công chức, viên chức, năm 2014, tổng cục môi trường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cchc mà kế hoạch
đã đặt ra trên 6 nội dung
1 Cải CáCh thể Chế
năm 2014, công tác cchc của tổng cục môi trường đã đạt được những mốc quan trọng trong công tác xây dựng thể chế, chính sách, pháp luật về bVmt
tổng cục đã trình quốc hội thông qua luật bVmt năm 2014 tại kỳ họp thứ 7, quốc hội khóa xiii và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 các văn bản quy định chi tiết thi hành luật cũng đã được khẩn trương xây dựng tổng cục đã hoàn thành
đúng tiến độ xây dựng và trình các văn bản quy phạm pháp luật thuộc chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hàng năm của bộ; tích cực tham gia với các đơn vị thuộc
bộ, các bộ, ngành có liên quan xây dựng một số bộ luật và nhiều thông tư chuyên ngành
và liên ngành; tham mưu triển khai nhiều chính sách, nghị quyết của đảng, chính phủ
về bVmt công tác phổ biến,
tổ chức và theo dõi việc thực thi pháp luật cũng được tổng cục quan tâm thực hiện đến nay, 2 nghị định đã được ban hành, 3 nghị định đã được trình chính phủ xem xét ban hành, 2 quyết định của Thủ tướng chính phủ đã được trình theo đúng tiến độ; 7 văn bản thuộc thẩm quyền cấp bộ
đã được hoàn thiện bên cạnh
đó, tổng cục đã tham mưu bộ trình Thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị số 26/ct-ttg ngày 25/8/2014 về triển khai thi hành luật bVmt năm 2014 và nhiều hoạt động phổ biến, tổ chức và theo dõi việc thực thi pháp luật khác
2 Cải CáCh thủ tụC hành Chính
- tổng cục đã nghiêm túc thực hiện các quy định tại nghị định số 63/2010/nđ-
cp, nghị định số 48/2013/nđ-cp, Thông tư số 05/2014/tt-btp, Thông tư số 07/2014/tt-btp, cụ thể: đã xây dựng quy trình tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thủ tục hành chính (tthc) về môi trường; Theo dõi, đôn đốc tình hình thực hiện các tthc tại các đơn
vị trực thuộc; đăng tải công khai các tthc trong lĩnh vực
Trang 12môi trường trên cổng thông tin điện
tử của tổng cục
- tiến hành rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các tthc có liên
quan trong quá trình xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật hướng dẫn
thực hiện luật bVmt năm 2014
- tiến hành rà soát và niêm yết công khai đầy đủ 13 bộ tthc tại nơi
tiếp nhận và kết quả tthc về môi
trường và đăng tải trên cổng thông tin
điện tử của tổng cục
- Thực hiện việc tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức
đối với tthc thuộc thẩm quyền giải
quyết của tổng cục trong năm 2014,
các đơn vị trực thuộc tổng cục không
tiếp nhận phản ánh, kiến nghị nào của
cá nhân, tổ chức đối với tthc thuộc
thẩm quyền giải quyết của tổng cục
3 Cải CáCh tổ ChứC bộ
Máy
- tổng cục đã tích cực, khẩn trương phối hợp với các đơn vị trực thuộc bộ
trình Thủ tướng chính phủ ban hành
quyết định số 25/2014/qđ-ttg ngày
25/3/2014 của Thủ tướng chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của tổng cục môi
trường
- nhằm sửa đổi chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc
tổng cục môi trường theo quyết định
số 25/2014/qđ-ttg, bảo đảm tinh
gọn, hiệu lực, hiệu quả, tổng cục trưởng đã ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 18 đơn vị trực thuộc và 2 chi cục bVmt lưu vực sông
- tổng cục đã thực hiện tốt công tác cán bộ như rà soát, điều chỉnh và bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo cấp phòng giai đoạn 2014 - 2016; thực hiện xây dựng đề
án xác định vị trí việc làm và
cơ cấu ngạch công chức, cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức; công tác bổ nhiệm, điều động, luân chuyển và bổ nhiệm lại cán bộ lãnh đạo các cấp được thực hiện theo đúng quy trình quy định
- tổng cục đã chỉ đạo Viện khoa học môi trường xây dựng đề án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế của Viện khoa học môi trường
- Tham gia xây dựng và trình ban hành các quy định, quy chế đảm bảo quản lý tốt các hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ nói riêng
và quản lý nhà nước về bVmt nói chung
4 nâng CAo Chất Lượng đội ngũ Cán
bộ, Công ChứC, Viên ChứC
tổng cục môi trường đã tập trung công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cụ thể:
- tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức hồ chí minh; tổ chức phổ biến, quán triệt đến toàn thể cán
bộ, công chức, viên chức, người lao động về nội dung quyết định số 117-qđ/bcsđbtnmt của ban cán
sự đảng bộ tn&mt quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức viên chức và người lao động ngành tn&mt Theo
đó, tổng cục đã ban hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức viên chức và người lao động ngành môi trường
- tập trung tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành môi trường thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chỉ tính riêng năm
2014, tổng cục đã cử gần
500 lượt cán bộ, công chức, viên chức tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ quản lý nhà nước, lý luận chính trị trong và ngoài nước các đơn vị trực thuộc tổng cục đã tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ nhằm tăng cường năng lực chuyên môn cho 1.545 lượt cán bộ, công chức và viên chức của ngành môi trường
- tổng cục môi trường
VCổng thông tin điện tử Tổng cục Môi trường đã hỗ trợ tích cực công tác cải cách hành chính
Trang 13đang triển khai xây dựng đề án “kiện toàn tổ
chức bộ máy bVmt từ trung ương đến địa
phương” và đề án “tăng cường năng lực đội
ngũ cán bộ quản lý môi trường, ưu tiên cấp
quận, huyện, phường, xã” để trình Thủ tướng
chính phủ vào quý iV/2015
5 Cải CáCh tài Chính Công
- trọng tâm của công tác cải cách tài chính
công là thực hiện xây dựng và hướng dẫn thực
hiện các quy định, quy chế về công tác kế hoạch
- tài chính; tổ chức hội nghị tập huấn công tác
quản lý kế hoạch - tài chính cho các đơn vị dự
toán cấp 3, các ban quản lý dự án trực thuộc
tổng cục
- nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho công tác
quản lý nguồn ngân sách sự nghiệp môi trường
của tổng cục trong thời gian tới, tổng cục môi
trường đã triển khai áp dụng đưa phần mềm
quản lý các nhiệm vụ, dự án từ nguồn chi sự
nghiệp môi trường
- nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công
tác triển khai các nhiệm vụ, dự án, đề án trong
những năm tới, tổng cục môi trường đang tiếp
tục rà soát danh mục các định mức kinh tế kỹ
thuật trong lĩnh vực môi trường cần xây dựng
mới, hoặc bổ sung
- ban hành chương trình thực hành tiết
kiệm chống lãng phí năm 2014 của tổng cục
môi trường; chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị
trực thuộc tổng cục tăng cường trong công tác
quản lý tài sản nhà nước
- xây dựng và thực hiện phương án tự chủ,
tự chịu trách nhiệm theo quy định tại nghị
định số 43/2006/nđ-cp ngày 25/4/2006 của
chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự
nghiệp công giai đoạn 2013 - 2015 của 5 đơn
vị sự nghiệp môi trường và 1 đơn vị sự nghiệp
khoa học
- tiếp tục thực hiện nghiêm túc nghị quyết
số 11/nq-cp ngày 24/2/2011 của chính phủ
về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an
sinh xã hội
6 hiện đại hóA
nền hành Chính
- Việc tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin (cntt), truyền thông, triển khai
cổng thông tin điện tử điều hành tác nghiệp
đã và đang được tổng cục môi trường thực
hiện có hiệu quả năm
2014, cổng thông tin điện tử của tổng cục đã đạt trên 41 triệu lượt truy cập khai thác sử dụng
cổng thông tin đối ngoại cũng được duy trì thường xuyên với 4 thứ tiếng:
anh, pháp, trung quốc, tây ban nha trên cổng thông tin điện tử của tổng cục đã xây dựng chuyên mục “tin tức cải cách thủ tục hành chính”
tại địa chỉ: http://vea.gov
vn/vn/vanbanphapquy/
caicachthutuchc
- tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch ứng dụng cntt của bộ và tổng cục giai đoạn 2011-2015; hoàn thiện dự án
“tăng cường năng lực ứng dụng cntt tại tổng cục môi trường”
- ngày 20/3/2014, tổng cục trưởng tổng cục môi trường đã ký ban hành quyết định số 195/
qđ-tcmt về việc ban hành quy chế quản lý, sử dụng phần mềm quản lý văn bản, hồ sơ công việc trên cổng thông tin điện
tử tổng cục đây là cơ sở quan trọng và là sự thể hiện chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo tổng cục trong việc triển khai phần mềm quản lý văn bản, hồ sơ công việc trong toàn tổng cục
- xây dựng phần mềm Giao lưu trực tuyến nhằm tăng cường trao đổi giữa tổng cục môi trường
và sở tn&mt các tỉnh với người dân và doanh nghiệp hiện nay có thể triển khai thử nghiệm hoạt động Giao lưu trực tuyến của tổng cục môi trường
- Thực hiện kế hoạch của bộ tn&mt, tổng cục môi trường triển khai xây dựng hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn iso 9001:2008 tại khối Văn phòng tổng cục với 26 quy trình; trong
đó có 9 quy trình chung
hệ thống và 17 quy trình nghiệp vụ
- tổng cục môi trường đã phối hợp với quỹ hemisphere singapore để triển khai
dự án “xây dựng Văn phòng xanh” tại các đơn
vị thuộc tổng cục, với mục tiêu: “xây dựng văn phòng xanh tại cơ quan công sở nhằm hướng tới thay đổi các hành vi của nhân viên theo hướng tiết kiệm, bVmt”
công tác cchc của tổng cục môi trường năm
2014 đã đạt được các kết quả rất đáng khích lệ, thực hiện thành công kế hoạch đặt ra trên cả 6 nhiệm vụ
để đạt được những kết quả trên là do có sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo tổng cục, sự quyết tâm của toàn thể cán bộ, công chức và viên chức của tổng cục
tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới toàn diện của nền hành chính, trong năm 2015, tổng cục môi trường cần tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được
và khắc phục những khó khăn mới đặt ra để nâng cao hiệu quả của công tác cchc tổng cục phấn đấu thực hiện mục tiêu kép là bộ máy tổ chức hoạt động có hiệu quả, đội ngũ cán bộ công chức và viên chức tận tâm, tận tụy với công việc và nhân dânn
Trang 14Nội dung cơ bản của Quyết định số 73/2014/QĐ-TTg quy định Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất
nguyễn đứC hưng - Phó Cục trưởng
Cục Kiểm soát ô nhiễm
Tổng cục Môi trường
CĂn Cứ bAn hành
Quyết định
luật bVmt năm 2014 đã có hiệu lực thi
hành từ ngày 1/1/2015, trong đó tại điều 76
quy định các nội dung về bVmt trong nhập
khẩu phế liệu Theo đó, tổ chức, cá nhân nhập
khẩu phế liệu phải đáp ứng yêu cầu quy định
tại khoản 2 điều 76 và phế liệu nhập khẩu phải
đáp ứng quy định tại khoản 1 điều 76 tức là
phải thuộc danh mục phế liệu được phép
nhập khẩu do Thủ tướng chính phủ quy định
và phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về môi trường do bộ tn&mt quy định trên
cơ sở đó, Thủ tướng chính phủ đã ban hành
quyết định số 1338/qđ-ttg ngày 11/8/2014
về việc ban hành danh mục và phân công cơ
quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi
tiết thi hành các luật được quốc hội khóa xiii
thông qua tại kỳ họp thứ 7 trong đó, giao bộ
tn&mt chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành,
địa phương xây dựng dự thảo quyết định của
Thủ tướng chính phủ quy định danh mục phế
liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài
liên quan đến hoạt động quản lý, bVmt
trong kinh doanh, nhập khẩu phế liệu, luật
bVmt 2005 và các văn bản hướng dẫn luật đã
đóng vai trò tích cực trong công tác quản lý nhà
nước về bVmt và bảo đảm thực hiện các quy
định của pháp luật về bVmt trong hoạt động
này tuy nhiên, một trong những khó khăn nảy
sinh là việc áp dụng các quy định về bVmt
trong việc mua, bán phế liệu đối với doanh
nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi
thuế quan với các doanh nghiệp bên ngoài
mặt khác, tiến trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước đã dẫn đến việc gia tăng nhu
cầu về nguyên liệu sản xuất, cùng với việc đẩy
mạnh công nghệ sản xuất, tái chế nên nhu cầu
nhập khẩu phế liệu vào Việt nam trong những
năm gần đây có xu hướng tăng cả về số lượng
cũng như chủng loại Theo đó, rủi ro môi
trường từ hoạt động nhập khẩu phế liệu cũng
gia tăng luật bVmt năm 2014 được ban hành
đã quy định cụ thể về yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân nhập khập khẩu phế liệu, trách nhiệm ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu và sẽ được bộ tn&mt xây dựng quy định hướng dẫn thực hiện trong
dự thảo nghị định về quản
lý chất thải và phế liệu đồng thời, luật bVmt năm 2014 cũng quy định thẩm quyền của Thủ tướng chính phủ ban hành danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài
và giao tn&mt xây dựng
hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu nhập khẩu
như vậy, việc ban hành quyết định số 73/2014/qđ-ttg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng chính phủ quy định danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất là cần thiết đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế và bVmt
nội Dung Cơ bản CủA Quyết định
quyết định số 73/2014/
qđ-ttg ngày 19/12/2014 của
Thủ tướng chính phủ quy định danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài
để làm nguyên liệu sản xuất gồm có 5 điều và 1 phụ lục:
- điều 1 ban hành danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất
- điều 2 quy định về đối tượng được điều chỉnh bởi quyết định này chỉ bao gồm
36 loại phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất ở trong nước
và không áp dụng đối với hoạt động tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnh phế liệu qua lãnh thổ Việt nam
- điều 3 quy định về trách nhiệm của bộ tn&mt chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành
có liên quan xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với 36 loại phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất
- điều 4 quy định về hiệu lực thi hành của quyết định từ ngày 5/2/2015
VLuật BVMT năm 2014 đã quy định cụ thể yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu, trách nhiệm ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu
Trang 15DAnh MụC phế Liệu đượC phép nhập KhẨu
tỪ nướC ngoài LàM nguyên Liệu Sản xuất
(Theo Quyết định số 73/2014/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ)
2 Xỉ hạt nhỏ (xỉ cát) từ công nghiệp luyện sắt hoặc thép 2618 00 00
3 Các nguyên tố hóa học đã được kích tạp dùng trong điện tử, ở dạng đĩa, tấm mỏng, hoặc các dạng tương tự 3818 00 00
4 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme etylen (PE): Dạng xốp, không cứng 3915 10 10
5 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme etylen (PE): Loại khác 3915 10 90
6 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme styren (PS): Dạng xốp, không cứng 3915 20 10
7 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme styren (PS): Loại khác 3915 20 90
8 Phế liệu và mảnh vụn của plastic (nhựa) từ polyme vinyl clorua (PVC): Dạng xốp, không cứng 3915 30 10
9 Phế liệu và mảnh vụn của plastic (nhựa) từ polyme vinyl clorua (PVC): Loại khác 3915 30 90
10 Phế liệu và mẩu vụn từ plastic (nhựa) khác 3915 90 00
11 Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn thừa): Giấy kraft hoặc bìa kraft hoặc giấy hoặc bìa sóng, chưa tẩy trắng. 4707 10 00
12 Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn thừa): Giấy hoặc bìa khác được làm chủ yếu bằng bột giấy thu được từ quá trình hóa học đã tẩy trắng, chưa nhuộm màu toàn bộ. 4707 20 00
13 Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn thừa): Giấy hoặc bìa khác được làm chủ yếu bằng bột giấy thu được từ quá trình cơ học (ví dụ, giấy in báo, tạp chí và các ấn phẩm tương tự). 4707 30 00
14 Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn thừa): Loại khác, kể cả phế liệu và vụn thừa chưa phân loại 4707 90 00
15 Tơ tằm phế liệu (kể cả kén không thích hợp để quay tơ, xơ sợi phế liệu và xơ sợi tái chế) 5003 00 00
16 Thủy tinh vụn và thủy tinh phế liệu và mảnh vụn khác; thủy tinh ở dạng khối 7001 00 00
18 Phế liệu và mảnh vụn của thép hợp kim: bằng thép không gỉ 7204 21 00
19 Phế liệu và mảnh vụn của thép hợp kim: Loại khác (khác với loại bằng thép không gỉ) 7204 29 00
20 Phế liệu và mảnh vụn của sắt hoặc thép tráng thiếc 7204 30 00
21 Phế liệu và mảnh vụn của sắt hoặc thép: Phoi tiện, phoi bào, mảnh vỡ, vảy cán, phoi cắt và bavia, chưa được ép thành khối hay đóng thành kiện, bánh, bó. 7204 41 00
22 Phế liệu và mảnh vụn khác của sắt 5hoặc thép: Loại khác 7204 49 00
23 Thỏi đúc phế liệu (bằng sắt, thép, gang) nấu lại 7204 50 00
- điều 5 quy định về trách nhiệm của bộ tn&mt
hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi việc thực hiện quyết định
này
- phụ lục kèm theo quyết định là danh mục 36 loại
phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm
nguyên liệu sản xuất và mã hàng nhập khẩu (mã hs)
theo quy định của bộ tài chính ban hành biểu thuế xuất
khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt
hàng chịu thuế
Kết Luận
để đảm bảo hạn chế các rủi ro về môi trường trong
hoạt động nhập khẩu phế liệu, bộ tn&mt đã đề nghị
Thủ tướng chính phủ giao bộ tn&mt phối hợp với
bộ công Thương, bộ tài chính thường xuyên rà soát,
nghiên cứu, báo cáo Thủ tướng chính phủ về việc bổ sung một số loại phế liệu có giá trị kinh tế khi tái chế, tái
sử dụng và ít gây tác động xấu tới môi trường
cùng với việc ban hành quyết định này, hệ thống các quy định về bVmt trong nhập khẩu phế liệu đã được hình thành và có sự khác biệt đáng kể so với hệ thống các quy định theo luật bVmt 2005, nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, bVmt trong hoạt động nhập khẩu phế liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho nhu cầu nguyên liệu sản xuất của doanh nghiệp ngoài ra, các quy định liên quan đến bVmt trong hoạt động nhập khẩu phế liệu theo quy định tại luật bVmt năm 2014 là phù hợp với các quy định, điều ước quốc tế mà Việt nam tham gia, đặc biệt là các quy định này hỗ trợ hiệu quả cho việc thực hiện công ước basel về vận chuyển chất thải xuyên biên giớin
Trang 16QUY ĐỊNH ĐIỀU KIỆN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
DỊCH VỤ QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG
nguyễn VĂn thùy - nguyễn thị nguyệt ánh
Trung tâm Quan trắc Môi trường,
Tổng cục Môi trường
luật bVmt năm 2014 được quốc hội
khóa xiii, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày
23/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày
1/1/2015 thay thế luật bVmt năm 2005 Theo
đó, việc rà soát, chỉnh sửa, bổ sung hoặc thay
thế những văn bản quy định chi tiết và thi hành
luật bVmt năm 2005 cũng được triển khai
đồng bộ
nghị định số 27/2013/nđ-cp ngày
29/3/2013 của chính phủ quy định điều kiện
của tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc môi
trường (qtmt), có hiệu lực thi hành từ ngày
5/6/2013 nhằm quy định chi tiết khoản 3, điều
95 luật bVmt năm 2005 nghị định quy định
về điều kiện hoạt động dịch vụ qtmt; hồ sơ và
thủ tục cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung, cấp
lại, tạm thời đình chỉ hiệu lực, thu hồi và hủy
bỏ Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động
dịch vụ qtmt Việc thẩm định, chứng nhận tổ
chức đủ điều kiện hoạt động dịch vụ qtmt sẽ
được thực hiện căn cứ theo các điều kiện quy
định tại điều 9, điều 10 nghị định số 27/2013/
nđ-cp
qua hơn một năm triển khai thực hiện
nghị định số 27/2013/nđ-cp cho thấy, văn
bản đã thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống nhìn
chung, chất lượng của hoạt động qtmt đã
được nâng cao và đi vào nề nếp, bài bản
tuy vậy, để thực hiện quy định của luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008
về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất
của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống
pháp luật về môi trường, căn cứ quy định của
luật bVmt năm 2014, việc xây dựng nghị định
quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch
vụ qtmt căn cứ điều 126 luật bVmt năm
2014, thay thế nghị định số 27/2013/nđ-cp
ngày 29/3/2013 đã được bộ tn&mt tổ chức
thực hiện ngày 31/12/2014, Thủ tướng chính
phủ đã ký ban hành nghị định số 127/2014/
nđ-cp của chính phủ quy định điều kiện
của tổ chức hoạt động dịch vụ qtmt (sau đây
gọi tắt là nghị định) nghị định có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 15/2/2015
Về cơ bản, nghị định kế thừa toàn bộ nội dung của nghị định số 27/2013/nđ-
cp do những nội dung trong nghị định số 27/2013/nđ-
cp vẫn còn phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan, đặc biệt khoản 1, điều
126 luật bVmt 2014 vẫn giữ nguyên như khoản 3, điều
95 luật bVmt 2005 Vì vậy, cấu trúc và các nội dung quy định của nghị định cơ bản vẫn không thay đổi so với trước đây, ngoại trừ quy định
về "các hành vi bị cấm” tại điều 4 nghị định số 27/2013/
nđ-cp trước đây đã không còn được quy định tại nghị định số 127/2014/nđ-cp để đảm bảo tính hợp hiến theo quy định tại khoản 2, điều 14 hiến pháp năm 2013
nghị định này áp dụng đối với các cơ quan quản lý về môi trường, tổ chức hoạt động dịch
vụ qtmt trên lãnh thổ nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam trong đó, tổ chức hoạt động dịch vụ qtmt bao gồm: doanh nghiệp thành lập theo luật doanh nghiệp; các
tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ thành lập theo luật khoa học và công nghệ; và các
tổ chức sự nghiệp môi trường được thành lập và hoạt động theo nghị định số 55/2012/nđ-cp ngày 28/6 /2012 của chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn
vị sự nghiệp công lập các tổ chức sự nghiệp công lập thực hiện hoạt động qtmt do cơ quan quản lý nhà nước giao
kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước không chịu sự điều chỉnh của nghị định này.cũng theo nghị định, các
tổ chức khi hoạt động dịch vụ qtmt (bao gồm hoạt động quan trắc tại hiện trường
và hoạt động phân tích môi trường) phải có Giấy chứng
VHoạt động dịch vụ quan trắc môi trường góp phần nâng cao chất lượng quan trắc môi trường, phù hợp với chủ trương xã hội hóa môi trường
Trang 17nhận đủ điều kiện hoạt động
hoặc Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh hoặc Giấy
chứng nhận đầu tư do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấp,
trong đó có hoạt động qtmt;
có đủ điều kiện về nhân lực,
chuyên môn, trang thiết bị và
cơ sở vật chất thực hiện hoạt
động qtmt các điều kiện
này được quy định cụ thể tại
điều 8 và điều 9 của nghị
tn&mt là cơ quan có thẩm
quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh
nội dung, cấp lại, tạm thời
đình chỉ hiệu lực, thu hồi và
hủy bỏ Giấy chứng nhận
nghị định cũng quy định
về trình tự và thủ tục cấp, gia
hạn, điều chỉnh nội dung, cấp
lại, tạm thời đình chỉ, thu hồi
trường hợp được cấp, gia hạn,
điều chỉnh nội dung và cấp
lại Giấy chứng nhận theo quy
tổ chức tham gia hoạt động qtmt không đúng phạm vi, lĩnh vực được cấp Giấy chứng nhận; tổ chức sử dụng Giấy chứng nhận không đúng mục đích; tổ chức không thực hiện đúng các quy định về chứng nhận; tổ chức không thực hiện đúng và đầy đủ các quy định kỹ thuật về quy trình, phương pháp qtmt do bộ tn&mt quy định, không duy trì chương trình bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng trong qtmt trường hợp tổ chức bị cấm hoạt động, bị tuyên bố phá sản, bị giải thể, chia, tách hoặc khi tổ chức không còn đáp ứng đủ một trong các điều kiện quy định tại điều 8 và điều 9 của nghị định; không thực hiện đúng quy định kỹ thuật về qtmt và không thực hiện, duy trì chương trình bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng trong qtmt sẽ bị thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận
Với sự ra đời của nghị định số 27/2013/nđ-cp trước đây và nghị định số 127/2014/nđ-cp hiện tại quy định về điều kiện của
tổ chức hoạt động dịch vụ qtmt, hoạt động qtmt nói chung và hoạt động dịch
vụ qtmt nói riêng đã và đang có những chuyển biến
rõ nét; góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng của hoạt động qtmt, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ đắc lực, hiệu quả cho công tác bVmt ở nước ta, phù hợp với chủ trương xã hội hóa dịch vụ qtmtn
Quy HOạCH QuẢN lý CHấT THẢI RắN lƯu VựC sÔNG NHuỆ - sÔNG đÁy đẾN NăM 2030
ngày 12/2/2015, Thủ tướng
chính phủ ban hành quyết định số 223/qđ-ttg về phê duyệt quy hoạch quản lý chất thải rắn (ctr) lưu vực (lV) sông nhuệ - sông đáy đến năm 2030 Theo đó, phạm vi quy hoạch thuộc toàn bộ ranh giới hành chính của tỉnh hà nam, ninh bình và một phần tỉnh hòa bình, nam định và tp hà nội, với tổng diện tích khoảng 7.665
km2 quy hoạch đề ra chỉ tiêu đến năm 2020, tỷ lệ thu gom ctr sinh hoạt khu vực đô thị 95%, nông thôn 70%; ctr xây dựng 80%; ctr công nghiệp, làng nghề thông thường 80-90%, ctr nguy hại (công nghiệp, làng nghề) khoảng 70-80%
nội dung của quy hoạch gồm:
đến năm 2030, đầu tư nâng cấp
18 cơ sở xử lý ctr thuộc lV sông nhuệ - sông đáy; các cơ sở xử lý ctr cần được bố trí ở ngoài phạm
vi đô thị, cuối hướng gió chính, cuối dòng chảy của sông suối và trồng cây xanh cách ly, đảm bảo khoảng cách an toàn về môi trường theo đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành nhằm bảo vệ nguồn nước trong lV sông nhuệ - sông đáy; các địa phương cần rà soát, xây dựng và thực hiện các giải pháp hạn chế ảnh hưởng tới môi trường đối với các cơ sở xử lý ctr hiện hữu; xây dựng hệ thống thu gom
xử lý nước rỉ rác, chuyển đổi công nghệ, hạn chế chôn lấp, đóng cửa các bãi chôn lấp ctr không hợp
vệ sinh; nâng cấp, cải tạo, xử lý và kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ sở
xử lý ctr khác nhằm bảo vệ nguồn nước trong toàn lV
ước tính vốn đầu tư triển khai quy hoạch quản lý ctr các tỉnh thuộc lV sông nhuệ - sông đáy đến năm 2030 khoảng 7.600 tỷ đồng
Trang 18Một số quy định của pháp luật về vai trò cộng đồng dân cư với bảo vệ môi trường nước
nghiêM xuân bạCh
Liên minh Nước sạch
ngày nay, công tác bVmt được
nhà nước, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đặc biệt quan tâm tại Việt nam, pháp luật bVmt
đang dần được cụ thể hóa trong nội
dung hiến pháp bài viết giới thiệu
những quy định của pháp luật liên
quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa
vụ của công dân và cộng đồng dân cư
trong lĩnh vực bVmt nói chung, môi
trường nước nói riêng sau khi hiến
pháp 2013 và luật bVmt năm 2014
có hiệu lực
hiến pháp năm 2013 có hiệu lực
từ năm 2014, gồm một số quy định cơ
bản quan trọng về quyền của công dân
liên quan tới bVmt như sau: điều 28
quy định, công dân có quyền tham gia
quản lý nhà nước, xã hội: Thảo luận
và kiến nghị với cơ quan nhà nước về
các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả
nước; nhà nước tạo điều kiện để công
dân tham gia quản lý nhà nước, xã hội
và công khai, minh bạch trong việc
tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị
của công dân điều 30, khoản 1 quy
định, mọi người có quyền khiếu nại,
tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền về những việc làm trái
pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá
nhân điều 43 quy định, mọi người
có quyền được sống trong môi trường
trong lành và có nghĩa vụ bVmt nhà
nước có chính sách bVmt; quản lý,
sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn
tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên
nhiên, đa dạng sinh học (đdsh); chủ
động phòng, chống thiên tai, ứng phó
với biến đổi khí hậu; khuyến khích
mọi hoạt động bVmt, sử dụng năng
lượng mới, năng lượng tái tạo tổ chức,
cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm
suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy
giảm đdsh phải bị xử lý nghiêm và
có trách nhiệm khắc phục, bồi thường
thiệt hại (điều 63)
tại kỳ họp thứ 7, quốc hội khóa xiii, quốc hội đã thông qua luật bVmt năm
2014, trong đó cụ thể hóa một bước các quy định của hiến pháp về quyền và nghĩa vụ của
cá nhân, cộng đồng dân cư bVmt nói chung và liên quan trực tiếp đối với môi trường nước nói riêng, cụ thể:
điều 5, khoản 1 quy định, nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tham gia hoạt động bVmt; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động bVmt;
khoản 10 quy định nhà nước ghi nhận, tôn vinh cơ quan, tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân có đóng góp tích cực trong công tác bVmt
điều 6 quy định, nhà nước khuyến khích công dân
và cộng đồng dân cư xây dựng thôn, làng, bản, ấp, khu dân
cư thân thiện với môi trường (khoản 9); phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư (khoản 10); công dân, cộng đồng dân cư hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xóa bỏ hủ tục gây hại đến môi trường (khoản 11)
VLuật BVMT năm 2014 khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập tổ tự quản BVMT nơi mình sinh sống và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện
Trang 19điều 7 nêu ra một số hành vi gây ô nhiễm
môi trường bị cấm như: xả thải chất thải chưa
được xử lý đạt quy chuẩn ra môi trường; chất
độc, phóng xạ và các loại chất thải nguy hại
khác vào đất, nguồn nước, không khí (khoản
5); đưa vào nguồn nước hóa chất độc hại,
chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và
tác nhân độc hại khác đối với con người, sinh
vật (khoản 6); che dấu hành vi hủy hoại môi
trường, cản trở hoạt động bVmt, làm sai lệch
thông tin dẫn đến hậu quả xấu đối với môi
trường (khoản 15); người có thẩm quyền lợi
dụng chức vụ, vượt quá quyền hạn để làm trái
quy định về quản lý môi trường (khoản 16)
điều 56 quy định, nguồn nước hồ, ao, kênh,
mương, rạch phải được điều tra, đánh giá trữ
lượng, chất lượng và bảo vệ để điều hòa nguồn
nước; hồ, ao, kênh, mương, rạch trong đô thị,
khu dân cư phải được quy hoạch để cải tạo, bảo
vệ; tổ chức, cá nhân không được lấn chiếm, xây
dựng trái phép công trình, nhà ở trên mặt nước
hoặc trên bờ tiếp giáp mặt nước hồ, ao, kênh,
mương, rạch; hạn chế tối đa việc san lấp hồ, ao
trong đô thị, dân cư ubnd cấp tỉnh có trách
nhiệm điều tra, đánh giá trữ lượng, chất lượng
và lập kế hoạch bảo vệ, điều hòa chế độ nước
của hồ, ao, kênh, mương, rạch; cải tạo hoặc di
dời các khu, cụm nhà ở, công trình trên hồ, ao,
kênh, mương, rạch, gây ô nhiễm môi trường,
làm tắc nghẽn dòng chảy, suy thoái hệ sinh thái
đất ngập nước và làm mất mỹ quan đô thị
điều 58 quy định, cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ có sử dụng hóa chất độc hại,
chất phóng xạ phải có biện pháp bảo đảm
không để rò rỉ, phát tán vào nguồn nước dưới
đất
điểm a, khoản 1, điều 68 quy định, cơ sở
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải thu gom, xử
lý nước thải, bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi
trường trước khi xả ra môi trường tự nhiên
điều 69 quy định, phân bón, sản phẩm xử
lý môi trường chăn nuôi đã hết hạn sử dụng;
dụng cụ, bao bì đựng phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, thuốc thú y sau khi sử dụng phải
được xử lý theo quy định về quản lý chất thải
(khoản2) khu chăn nuôi tập trung phải có
phương án về bVmt ; Thu gom, xử lý nước
thải, chất thải rắn theo quy định; Vệ sinh
chuồng, trại định kỳ, phòng ngừa, ứng phó
với dịch bệnh; xác vật nuôi bị chết do dịch
bệnh phải được quản lý theo quy định về quản
lý chất thải nguy hại và vệ sinh phòng bệnh
(khoản 3)
điều 70 quy định, làng
có nghề phải có phương án bVmt làng nghề; kết cấu
hạ tầng bảo đảm thu gom, phân loại, lưu trữ, xử lý, thải
bỏ chất thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; có tổ chức
tự quản về bVmt (khoản1);
ubnd cấp xã có làng nghề phải lập, triển khai thực hiện phương án bVmt (khoản 4)
và hàng năm có báo cáo gửi ubnd cấp huyện; ubnd cấp huyện có làng nghề phải chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra, thanh tra công tác bVmt làng nghề trên địa bàn, hàng năm báo cáo ubnd cấp tỉnh
về công tác bVmt làng nghề (khoản 5); ubnd cấp tỉnh
có làng nghề phải quy hoạch, xây dựng, cải tạo và phát triển làng nghề gắn với bVmt
đồng thời, bố trí ngân sách cho các hoạt động bVmt làng nghề; chỉ đạo, tổ chức đánh giá mức độ ô nhiễm
và xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn; xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải; khu tập kết, xử lý chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại cho làng nghề; quy hoạch khu công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề và có kế hoạch di rời cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư (khoản 6)
điều 71 quy định, thuốc thú y thủy sản, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản đã hết hạn sử dụng, bao bì đựng thuốc thú y thủy sản, hóa chất sau khi sử dụng, bùn đất
và thức ăn lắng đọng khi làm
vệ sinh ao nuôi thủy sản phải được thu gom, xử lý theo quy định về quản lý chất thải (khoản 3)
điều 72 quy định, bệnh viện, cơ sở y tế phải thu gom,
xử lý nước thải y tế đạt quy
chuẩn kỹ thuật môi trường (điểm a, khoản 1);
điều 73, khoản 3 quy định, công trình xây dựng trong khu dân cư phải bảo đảm không phát tán bụi, nhiệt, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường; Việc vận chuyển vật liệu được thực hiện bằng phương tiện bảo đảm yêu cầu kỹ thuật, không làm rò rỉ, rơi vãi gây ô nhiễm môi trường; nước thải, chất thải rắn và các loại chất thải khác phải được thu gom, xử
lý theo đúng quy định
điều 82 yêu cầu hộ gia đình giảm thiểu, phân loại rác thải tại nguồn, thu gom
và chuyển rác thải, nước thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định; Tham gia hoạt động bVmt công cộng tại khu dân cư
điều 83 khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập
tổ tự quản về bVmt nơi mình sinh sống và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thực hiện các nhiệm vụ: kiểm tra, đôn đốc hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định về giữ gìn vệ sinh và bVmt; tổ chức thu gom, tập kết và xử
lý chất thải, giữ gìn vệ sinh môi trường tại khu dân cư và nơi công cộng; xây dựng và
tổ chức thực hiện hương ước
về bVmt; tuyên truyền, vận động nhân dân xóa bỏ hủ tục, thói quen mất vệ sinh, có hại cho sức khỏe và môi trường; Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về bVmt của
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn bên cạnh đó, quy định ubnd cấp
Trang 20doanh, dịch vụ phải được thu gom,
xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi
trường
điều 101 quy định, các khu sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung,
khu, cụm công nghiệp làng nghề là
các đối tượng phải có hệ thống xử lý
nước thải chung
điều 129 quy định, ubnd từ cấp
tỉnh đến cấp xã có trách nhiệm thu
thập, quản lý thông tin môi trường
trong phạm vi quản lý của mình
điều 131 quy định, các nội dung
thông tin môi trường phải được công
khai (trừ thông tin thuộc danh mục
bí mật nhà nước) trong đó có thông
tin về nguồn thải, chất thải, xử lý
chất thải; khu vực môi trường bị ô
nhiễm, suy thoái nghiêm trọng và
kết quả thanh tra, kiểm tra về bVmt
ngoài trách nhiệm của ubnd
nêu ra trong hiến pháp năm 2013 và
luật bVmt năm 2014 có thể thấy,
mỗi công dân, cộng đồng dân cư đã
có đầy đủ cơ sở pháp lý để chủ động
thực hiện nghĩa vụ cũng như phát
huy quyền của mình trong công tác
bVmt nói chung, bVmt nước nói
riêng điểm sáng của luật bVmt
2014 là đã cụ thể hóa hơn vai trò của
mttq, các tổ chức chính tri - xã hội,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đặc
biệt là vai trò của cộng đồng dân cư
trong bVmt những quy định trong
luật thể hiện được tinh thần của
hiến pháp năm 2013 và chủ trương,
chính sách xã hội hóa hoạt động
bVmt của đảng và nhà nước hy
vọng, thời gian tới, cộng đồng dân cư
cũng như mỗi công dân sẽ tích cực,
cùng chung tay với chính quyền các
cấp để bVmt, nhất là bVmt nước,
góp phần phát triển đất nước bền
vững trong thời kỳ mớin
Nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợp chất thải rắn
trên lưu vực sông Đồng Nai
nguyễn ái Dương
Bộ Xây dựng
để nâng cao hiệu quả
quản lý tổng hợp chất thải rắn (ctr), cải thiện chất lượng môi trường, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 07/qđ-ttg phê duyệt quy hoạch quản lý ctr lưu vực sông đồng nai đến năm
2030 phạm vi của quy hoạch bao gồm ranh giới hành chính của 11 tỉnh, thành phố: ninh Thuận, bình Thuận, đắc nông, lâm đồng, bình phước, bình dương, tây ninh, đồng nai,
bà rịa - Vũng tàu, tp hồ chí minh và long an với diện tích khoảng 47.000km2
mục tiêu của quy hoạch nhằm cụ thể hóa đề án bVmt lưu vực hệ thống sông đồng nai đến năm 2020 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt; dự báo tổng lượng ctr phát sinh, xác định phương thức phân loại, thu gom, vận chuyển ctr;
xác định các cơ sở xử lý ctr và phạm vi phục vụ đáp ứng nhu cầu xử lý ctr cho lưu vực hệ thống sông đồng nai…
quy hoạch được lập trên
cơ sở từng bước đóng cửa các bãi chôn lấp ctr không hợp
vệ sinh và quá tải bảo đảm giải quyết ô nhiễm môi trường, phát triển bền vững xây dựng đồng
bộ các cơ sở xử lý ctr cấp vùng liên tỉnh, vùng tỉnh và hệ thống thu gom, vận chuyển phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương bên cạnh đó, ctr được phân loại tại nguồn, việc thu gom, tái sử dụng, tái chế được ưu tiên xử lý bằng công nghệ tiên tiến, phù hợp, hạn chế tối đa việc chôn lấp ctr nhằm tiết kiệm tài nguyên đất
và bVmt đối với ctr nguy hại được thu gom, vận chuyển và xử
lý theo quy định bảo đảm không phát tán ra môi trường đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng và quản lý các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý ctr
nội Dung Quy hoạCh
Các chỉ tiêu quy hoạch
các chỉ tiêu tính toán quy hoạch căn cứ theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành các chỉ tiêu ctr đối với lưu vực sông đồng nai được thể hiện ở bảng 1
bảng 1: Các chỉ tiêu Ctr đối với lưu vực sông đồng nai
TT Các loại CTR Chỉ tiêu phát sinh CTR
1 CTR sinh hoạt đô thị 0,8 - 1,3 kg/người.ngày (theo loại đô thị)
2 CTR sinh hoạt nông thôn 0,3-0,5 kg/người.ngày
3 CTR xây dựng 12-15% khối lượng CTR sinh hoạt đô thị
4 CTR công nghiệp 0,2 - 0,25 tấn/ha.ngày
5 CTR làng nghề Đến năm 2030 tăng trung bình 7,5%
6 CTR nguy hại 15-35% tổng lượng CTR công nghiệp phát
sinh (theo loại hình sản xuất)
Trang 21bảng 2: tỷ lệ thu gom và xử lý Ctr theo
các giai đoạn đến năm 2030
TT Các loại CTR
Tỷ lệ thu gom và xử lý (%) đến năm
2020
đến năm 2030
I CTR thông thường
1 CTR sinh hoạt đô thị 95 100
2 CTR sinh hoạt nông thôn 70 90
dự báo tổng lượng ctr phát sinh trong
toàn lưu vực hệ thống sông đồng nai đến
năm 2020: lượng ctr thông thường phát sinh
là 48.100 tấn/ngày, ctr nguy hại phát sinh
là 3.400 tấn/ngày; đến năm 2030 lượng ctr
thông thường phát sinh là 68.200 tấn/ngày,
ctr nguy hại phát sinh là 6.000 tấn/ngày
phân loại, thu gom và vận chuyển Ctr
ctr phát sinh toàn lưu vực được thu gom,
vận chuyển theo phân vùng phạm vi phục vụ
đến các cơ sở xử lý ctr theo quy hoạch phương
thức phân loại, thu gom, vận chuyển ctr được
lựa chọn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội,
giao thông, địa hình đặc thù của khu vực và
năng lực thu gom, vận chuyển của địa phương,
đảm bảo các điều kiện vệ sinh môi trường
Phân loại, thu gom, vận chuyển CTR thông
thường: ctr thông thường từ các nguồn thải
được phân loại tại nguồn thành 2 loại là chất
thải hữu cơ (rau quả, thức ăn thừa ) và chất
thải vô cơ có thể tái sử dụng, tái chế (giấy, nhựa,
kim loại ) phù hợp với công nghệ xử lý ctr;
tăng cường tái sử dụng ctr phát sinh nhằm
hạn chế ctr cần phải xử lý sau đó ctr thông
thường được thu gom về các điểm tập kết theo
đúng quy định
Phân loại, thu gom, vận chuyển CTR nguy
hại: ctr nguy hại từ các nguồn thải được phân
loại, bảo quản, lưu giữ, thu gom, vận chuyển đến
các cơ sở xử lý ctr vùng liên tỉnh, vùng tỉnh
theo quy hoạch và tuân thủ các quy chuẩn, tiêu
chuẩn an toàn vệ sinh môi trường; thực hiện
theo quy định về quản lý ctr nguy hại chủ
nguồn thải phát sinh ctr nguy hại có trách
nhiệm ký hợp đồng với các đơn vị có chức năng
thu gom, vận chuyển và xử lý ctr nguy hại theo
đúng quy định hiện hành
Quy hoạch các cơ sở xử lý Ctr
cơ sở xử lý ctr bố trí ở ngoài phạm vi đô thị, ưu tiên các vị trí cuối hướng gió chính, cuối dòng chảy của sông suối và được trồng cây xanh cách ly, đảm bảo khoảng cách an toàn về môi trường theo đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành nhằm bảo vệ nguồn nước trong lưu vực hệ thống sông đồng nai
và ứng phó với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng thông qua giải pháp về mặt công nghệ, lộ trình đóng cửa các cơ sở
xử lý ctr quá tải, gây ô nhiễm môi trường, xây dựng mới các cơ
sở xử lý ctr
các địa phương cần rà soát, xây dựng giải pháp cụ thể hạn chế ảnh hưởng tới môi trường của các cơ sở xử lý ctr hiện hữu đang gây ô nhiễm lưu vực
hệ thống sông đồng nai như:
xây dựng hệ thống thu gom
xử lý nước rỉ rác, chuyển đổi công nghệ, hạn chế chôn lấp hoặc đóng cửa các bãi chôn lấp ctr không hợp vệ sinh, thực hiện quan trắc và giải pháp xử
lý giảm thiểu ảnh hưởng tới môi trường sau khi đóng bãi chôn lấp ctr; nâng cấp, cải tạo, xử
lý và kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ sở xử lý ctr khác nhằm bảo vệ nguồn nước trong toàn lưu vực
quy hoạch các cơ sở xử lý ctr thuộc lưu vực hệ thống sông đồng nai đến năm 2030 bao gồm 34 cơ sở xử lý, cụ thể:
2 cơ sở xử lý ctr cấp vùng liên tỉnh và 32 cơ sở xử lý ctr vùng tỉnh trong đó xác định 18
cơ sở xử lý ctr vùng tỉnh nằm trong phạm vi ảnh hưởng đến các đoạn sông đang là nguồn cấp nước và 14 cơ sở xử lý ctr vùng tỉnh nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng đến các đoạn sông đang là nguồn cấp nước
Công nghệ xử lý Ctr
công nghệ xử lý ctr được lựa chọn phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; khả năng phân loại, tính chất, thành phần ctr của từng địa phương; ưu tiên các công nghệ trong nước, tiết kiệm năng lượng và bVmt, các công nghệ tái chế có sản phẩm phù hợp với thị trường tiêu thụ của mỗi địa phương
Công nghệ áp dụng đối với CTR thông thường: các cơ sở
xử lý ctr nằm trong phạm vi ảnh hưởng đến các đoạn sông
là nguồn cấp nước từ thượng lưu sông đồng nai đến huyện long Thành (tỉnh đồng nai);
từ thượng lưu sông sài Gòn đến huyện củ chi (Thành phố
hồ chí minh); toàn bộ lưu vực sông bé, sông la ngà; từ thượng lưu sông Vàm cỏ đông đến
dự kiến tỷ lệ thu gom và xử lý ctr theo
các giai đoạn đến năm 2030 của các tỉnh thuộc
lưu vực hệ thống sông đồng nai thể hiện ở
bảng 2
VPhân loại rác tại nguồn- khâu quan trọng trong công nghệ
xử lý chất thải rắn
Trang 22huyện trảng bàng (tỉnh tây ninh); từ thượng
lưu sông dinh đến Thành phố bà rịa (tỉnh bà
rịa - Vũng tàu) phải áp dụng công nghệ xử lý
tái chế, thu hồi ctr, chế biến phân hữu cơ, đốt
thu hồi năng lượng , không chôn lấp ctr hữu
cơ và ctr nguy hại các cơ sở xử lý ctr còn
lại nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng đến các đoạn
sông đang là nguồn cấp nước áp dụng công nghệ
chế biến phân vi sinh, công nghệ đốt thu hồi
năng lượng, công nghệ tái chế , khuyến khích
áp dụng công nghệ hạn chế chôn lấp
Công nghệ áp dụng đối với CTR nguy hại:
công nghệ xử lý lý hóa, công nghệ đốt, hạn chế
chôn lấp…
đánh giá môi trường chiến lược
Tác động tích cực đến môi trường: Thu gom
và xử lý ctr thông thường và nguy hại đảm bảo
các yêu cầu vệ sinh môi trường, giảm thiểu ô
nhiễm do ctr gây ra; hạn chế, xóa bỏ các điểm
tập kết ctr và các bãi chôn lấp ctr không hợp
vệ sinh, nhằm giảm thiểu ô nhiễm, cải tạo môi
trường và bảo vệ sức khỏe cho người dân trong
lưu vực sông đồng nai; xác định địa điểm, quy
mô, công suất các cơ sở xử lý ctr trên địa bàn
các tỉnh, đảm bảo phục vụ nhu cầu xử lý ctr
đô thị - nông thôn, khu công nghiệp, làng nghề
trong lưu vực sông đồng nai; các công nghệ xử
lý các loại ctr được đề xuất theo hướng hạn chế
chôn lấp góp phần tiết kiệm đất và xử lý triệt để
đảm bảo yêu cầu vệ sinh môi trường; Góp phần
bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng và sự phát triển
bền vững của các địa phương trong lưu vực sông
đồng nai
Dự báo tác động môi trường khi thực hiện quy
hoạch: hoạt động của các xe vận chuyển ctr có
nguy cơ gây ô nhiễm; quá trình xây dựng các
cơ sở xử lý sẽ gây ra các tác động tới môi trường
và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng (các tác
động này chỉ diễn ra cục bộ và trong thời gian
ngắn); quá trình vận hành các cơ sở xử lý sẽ làm
tăng tiếng ồn, gây bụi tại khu vực đặt khu xử
lý ctr; hoạt động của các điểm tập kết, trạm
trung chuyển và cơ sở xử lý có thể gây ô nhiễm
môi trường nếu quy trình vận hành không đảm
bảo tiêu chuẩn môi trường; nguy cơ xảy ra sự
cố môi trường (phân tán khí độc, chất độc hại
ra môi trường ) và tai nạn lao động trong quá
trình vận chuyển ctr nguy hại từ nguồn phát
sinh đến trạm trung chuyển
Các giải pháp giảm thiểu tác động đến môi
trường: các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường
không khí, tiếng ồn đối với các phương tiện vận
chuyển, thi công cơ giới trên công trường và dọc
tuyến đường vận chuyển; các biện pháp thu
gom, xử lý nước thải sinh hoạt và ctr trên công trường xây dựng
cơ sở xử lý ctr và các biện pháp
an toàn và phòng chống tai nạn,
sự cố trong quá trình xây dựng;
các dự án khi triển khai phải thực hiện đánh giá tác động môi trường; các biện pháp thu gom
và xử lý khí thải, khói bụi và nước thải từ các cơ sở xử lý ctr
và các biện pháp giảm thiểu tuân thủ theo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt; chương trình quan trắc chất lượng môi trường không khí, nước mặt, nước ngầm và đất; cảnh báo các sự cố môi trường và đề xuất các giải pháp phòng chống giảm thiểu các ảnh hưởng xấu tới môi trường
Về tổ ChứC thựC hiện
Bộ Xây dựng tổ chức công bố
quy hoạch quản lý ctr lưu vực sông đồng nai đến năm 2030 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt theo hình thức phù hợp
và bàn giao hồ sơ quy hoạch cho các địa phương theo quy định hiện hành; hướng dẫn và kiểm tra các địa phương rà soát, điều chỉnh các quy hoạch xây dựng, quy hoạch chuyên ngành quản
lý ctr của các địa phương phù hợp với quy hoạch này
Các Bộ, ngành có liên quan
(kế hoạch - đầu tư, tài chính, công thương, tn&mt, y tế, nn&ptnt): Theo chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với bộ xây dựng, ubnd các tỉnh trong vùng lưu vực hệ thống sông đồng nai tổ chức thực hiện quy hoạch theo quy định
Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
chỉ đạo, điều phối liên ngành, liên vùng thực hiện thống nhất,
có hiệu quả quy hoạch này sau khi được phê duyệt
UBND các tỉnh, thành phố trong lưu vực hệ thống sông Đồng Nai tổ chức rà soát, điều
chỉnh các quy hoạch xây dựng, quy hoạch chuyên ngành quản
lý ctr trên địa bàn tỉnh phù hợp với quy hoạch quản lý ctr lưu vực hệ thống sông đồng nai đến năm 2030 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt trước năm 2020, tổ chức rà soát, xây dựng và thực hiện các giải pháp hạn chế ảnh hưởng tới môi trường đối với các cơ sở xử lý ctr hiện hữu
và đóng cửa các bãi chôn lấp ctr không hợp vệ sinh theo quy định, có giải pháp xử lý giảm thiểu ảnh hưởng tới môi trường sau khi đóng bãi; cải tạo, xử lý và kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ sở xử lý ctr khác nhằm bảo vệ nguồn nước trong toàn lưu vực xây dựng kế hoạch tài chính phù hợp với kế hoạch đầu tư cho thu gom, vận chuyển và xử lý ctr đáp ứng theo từng giai đoạn; xây dựng
cơ chế, chính sách huy động các nguồn vốn triển khai quy hoạch này; rà soát và lập kế hoạch sử dụng đất cho các trạm trung chuyển, cơ sở xử lý ctr theo quy hoạch; chỉ đạo lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các
dự án đầu tư xây dựng thu gom, vận chuyển và xử lý ctr trên địa bàn theo quy hoạch đã được duyệt; xây dựng các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng về vệ sinh môi trường, phân loại ctr tại nguồn đối với các đô thị và nhân rộng với khu vực nông thôn
quy hoạch quản lý ctr lưu vực sông đồng nai là một trong các công cụ hữu hiệu để nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợp chất thải rắn, cải thiện chất lượng môi trường, bảo đảm sức khỏe cộng đồng, phát triển bền vững trong lưu vực đồng thời làm cơ sở cho việc triển khai các dự án đầu tư xây dựng cơ sở
xử lý ctr trên địa bàn các tỉnh thuộc lưu vực hệ thống sông đồng nain
Trang 23NGHị địNH Quy địNH VỀ Quy HOạCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG,
đÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHIẾN lƯợC, đÁNH GIÁ TÁC độNG MÔI TRƯỜNG
ngày 14/2/2015, chính phủ ban
hành nghị định số 18/2015/
nđ-cp quy định về quy hoạch
bVmt, đánh giá môi trường chiến
lược (đmc), đánh giá tác động môi
trường (đtm) và kế hoạch bVmt
nghị định quy định: quy hoạch
bVmt phải được lập phù hợp với
quy hoạch phát triển kinh tế - xã
hội giai đoạn 2021- 2030, tầm nhìn
2040 theo hai cấp độ là quy hoạch
bVmt cấp quốc gia và quy hoạch
bVmt cấp tỉnh Việc thẩm định
quy hoạch bVmt cấp quốc gia và
cấp tỉnh dưới hình thức báo cáo
riêng được thực hiện thông qua
hội đồng thẩm định và phải lập hồ
sơ đề nghị thẩm định…
Về điều kiện tổ chức thực hiện
đmc: cơ quan được giao nhiệm
vụ xây dựng chiến lươc, quy hoạch,
kế hoạch, tổ chức dịch vụ tư vấn
đmc phải có phòng thí nghiệm, các thiết bị kiểm chuẩn, đo đạc, lấy mẫu, xử lý, phân tích mẫu về môi trường; Việc thẩm định báo cáo đmc được tiến hành thông qua hội đồng thẩm định do Thủ trưởng hoặc người đứng dầu cơ quan có trách nhiệm tổ chức thẩm định;
cơ quan thẩm định có trách nhiệm khảo sát vùng thực hiện dự án;
kiểm chứng, đánh giá thông tin, lấy
ý kiến của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp…
các đối tượng phải thực hiện đtm gồm: các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu
tư của quốc hội, chính phủ, Thủ tướng chính phủ; dự án có sử dụng đất của Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển; các dự
án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu
công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu thương mại, làng nghề…
chủ các dự án trên có trách nhiệm tự thực hiện hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện đtm theo quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện đtm.trong quá trình thực hiện đtm, chủ dự án phải tiến hành tham vấn ubnd xã, phường, thị trấn nơi thực hiện dự án, các tổ chức và cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án; nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến khách quan, kiến nghị hợp lý của các đối tượng liên quan được tham vấn để hạn chế thấp nhất tác động bất lợi của dự án đến môi trường tự nhiên,
đa dạng sinh học và sức khỏe cộng đồng…
NGHị địNH Quy địNH CHI TIẾT THI HàNH MộT số đIỀu
CủA luậT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
ngày 14/2/2015, chính phủ ban
hành nghị định số 19/2015/
nđ-cp quy định chi tiết thi hành
một số điều của luật bVmt nghị
định quy định chi tiết các điều của
luật bVmt, bao gồm: cải tạo, phục
hồi môi trường và ký quỹ cải tạo,
phục hồi môi trường đối với hoạt
động khai thác khoáng sản; kiểm
soát ô nhiễm môi trường (ônmt)
đất; bVmt làng nghề; hoạt động
nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua
sử dụng; xác nhận hệ thống quản lý
môi trường; bảo hiểm trách nhiệm
bồi thường thiệt hại về môi trường;
xử lý cơ sở gây ônmt nghiêm
trọng; ưu đãi, hỗ trợ hoạt động
bVmt; cộng đồng dân cư tham gia
bVmt
Theo quy định của nghị định:
phương án cải tạo, phục hồi môi
trường đối với hoạt động khai thác
khoáng sản phải phù hợp với quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
quy hoạch khai thác khoáng sản, quy hoạch sử dụng đất và bVmt của địa phương số tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản bằng tổng kinh phí thực hiện các hạng mục công trình cải tạo, phục hồi môi trường…
đối với hoạt động kiểm soát ônmt đất phải xác định, thống kê, đánh giá và kiểm soát các chất gây ô nhiễm phát sinh đồng thời, áp dụng các biện pháp phòng ngừa, hạn chế các tác động tới môi trường; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát sinh yếu tố ônmt đất cần phải kiểm soát nghiêm ngặt…
phương án bVmt làng nghề bao gồm: hiện trạng hoạt động sản xuất, sinh hoạt của làng nghề; các loại và lượng chất thải phát sinh; các biện pháp giảm thiểu, thu gom, xử lý chất thải phát sinh từ làng nghề; bố trí nguồn lực thực hiện các hoạt động bVmt các biện pháp bVmt làng
nghề phải được nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bVmt, đề ánbVmt chi tiết,
đề án bVmt đơn giản hoặc báo cáo
về các biện pháp bVmt…
xử lý cơ sở gây ônmt nghiêm trọng phải được tiến hành khách quan, công bằng, đúng pháp luật; căn cứ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và mức độ vi phạm của các hành vi gây ônmt cơ sở gây ônmt nghiêm trọng sau khi bị xử phạt vi phạm hành chính phải được đưa vào danh mục kèm theo biện pháp xử lý ônmt và thời hạn thực hiện, trừ các trường hợp bị tạm đình chỉ hoạt động hoặc cấm hoạt động…
bộ tn&mt chủ trì, hướng dẫn việc thực hiện và kiểm tra tình hình thực hiện nghị định này; đồng thời, đào tạo, tập huấn, truyền thông, phổ biến pháp luật về bVmt nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2015
Trang 24CÔNG BỐ SỐ LIỆU QUAN TRẮC KHÔNG KHÍ
TỰ ĐỘNG, LIÊN TỤC THÁNG 2/2015
Trung tâm Quan trắc Môi trường công bố số liệu trung bình giờ và trung bình ngày dưới dạng biểu đồ của 6 trạm khí tự động Dưới đây là số liệu trung bình trong tháng 2/2015 để bạn đọc tham khảo Bạn đọc có nhu cầu tham khảo số liệu quan trắc chi tiết xin liên hệ với Trung tâm Quan trắc Môi trường để được cung cấp.
TRạM TạI 556 NGuyễN VăN Cừ, lONG BIêN, Hà NộI
(Trạm có tổng số 6 module)
TRạM TạI 41 lê DuẩN, đà NẵNG
(Trạm có tổng số 6 module)
TRạM TạI PHƯỜNG Âu Cơ, TP VIỆT TRÌ, PHú THọ
Trang 25TRạM TạI 83 HùNG VƯơNG, TP HuẾ, THừA THIêN - HuẾ
Trang 26LTS: Tại Kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XIII, cử tri và nhân dân tiếp tục kiến nghị Chính phủ, Bộ TN&MT
rà soát các chính sách liên quan, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các đơn vị vi phạm; kiên quyết tạm đình chỉ hoặc cấm hoạt động đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng; công khai danh sách các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về BVMT Đây cũng chính là những nội dung, vấn đề mà bạn đọc Tạp chí luôn quan tâm Chuyên mục Tạp chí với bạn đọc sẽ đăng toàn văn những nội dung giải đáp của Bộ TN&MT về các ý kiến, kiến nghị của cử tri, bạn đọc.
9Tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra ngày càng phức tạp, gây nguy hại đến sức khỏe và đời sống của người dân Trong thời gian qua, Bộ TN&MT đã có những giải pháp cụ thể nào để tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra, xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm?
Bạn đọc và Cử tri các tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Đà Nẵng, Hải Dương,
Sóc Trăng, Long An, Hà Nam, An Giang, Đồng Nai
năm 2014, bộ đã triển khai
12 đoàn thanh tra, kiểm tra công tác bVmt trên địa bàn
sở, bộ phận gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ngoài
ra, bộ đã triển khai 2 đoàn kiểm tra về bVmt và bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn 26 tỉnh, thành phố;
12 đoàn kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về bVmt đối với các cơ
sở sản xuất, dịch vụ tại các làng nghề và các cụm công nghiệp làng nghề, việc thực hiện quan trắc môi trường quốc gia và địa phương
bên cạnh việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bVmt cho các cơ sở trong quá trình thanh tra, kiểm tra, bộ cũng
đã kiên quyết xử lý các vi phạm về bVmt, đặc biệt là các vi phạm về xả chất thải gây ô nhiễm môi trường, đồng thời đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để tạo sức ép trước công luận, điển hình là vụ việc vi phạm về điều kiện
hành nghề quản lý chất thải nguy hại của hợp tác
xã Thương mại và dịch
vụ phúc lợi; vụ việc gây ô nhiễm môi trường của các công ty sản xuất hóa chất trong kcn tằng loỏng thuộc tỉnh lào cai, công
ty tnhh Thép đồng tiến, công ty cổ phần dầu thực vật quang minh, công ty phát triển số 1 - tnhh mtV - nhà máy tuyển quặng sắt làng mị, công ty
cổ phần bitexco nam long
và nhiều vụ việc vi phạm pháp luật khác
để pháp luật bVmt thật sự đi vào cuộc sống, trong thời gian tới, ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và
xử lý vi phạm pháp luật về bVmt, công khai thông tin về vi phạm pháp luật về bVmt của các cơ sở theo quy định của pháp luật, bộ tn&mt sẽ phối hợp với các địa phương đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bVmt, qua đó từng bước nâng cao nhận thức cộng đồng về lĩnh vực môi trường, tạo cơ sở vững chắc
để nước ta phát triển theo hướng bền vữngn nh
trong những năm qua, bên cạnh
những kết quả đạt được trong tăng
trưởng kinh tế, giải quyết an sinh xã
hội thì bVmt luôn là một trong những vấn
đề trọng tâm của đảng và chính phủ trong
7 nhóm giải pháp cơ bản thực hiện nghị
quyết số 41-nq/tw ngày 15/11/2004 của
bộ chính trị về bVmt trong thời kỳ đẩy
mạnh cnh-hđh đất nước, có nhấn mạnh
đến nhóm giải pháp thứ nhất là: "đẩy mạnh
công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao
nhận thức và trách nhiệm bVmt" đây là
một nội dung quan trọng nhằm tăng cường
và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền,
phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật,
các thông tin về môi trường và phát triển
bền vững đến mọi người dân hàng năm, bộ
tn&mt đều có văn bản hướng dẫn các bộ,
ngành và địa phương tổ chức các sự kiện,
chiến dịch truyền thông môi trường; phối
hợp với các bộ, ngành liên quan đẩy mạnh
công tác giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận
thức môi trường cho cộng đồng
bên cạnh đó, bộ tn&mt cũng đã tổ
chức nhiều hoạt động giáo dục, tuyên truyền
phổ biến pháp luật về môi trường như đào
tạo, tập huấn kiến thức, nghiệp vụ quản lý
môi trường cho cán bộ làm công tác quản
lý môi trường cấp bộ, ngành, địa phương,
các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp,
làng nghề và khu công nghiệp trên cả nước;
phối hợp với các cơ quan truyền thông đại
chúng triển khai có hiệu quả nhiều hoạt
động truyền thông về bVmt thông qua các
phóng sự, videoclip về môi trường
bộ tn&mt luôn coi công tác thanh
tra, kiểm tra về bVmt là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của bộ, cụ thể: trong
Bộ TN&MT TRả LờI:
Trang 27QUA VỤ VIỆC CHẶT HẠ CÂY XANH Ở HÀ NỘI
NGHĨ VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH CỘNG ĐỒNG
TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY
Vũ ngọC Lân
một sự kiện thu hút dư luận xã hội ở
Thủ đô hà nội, của cả nước và của
cả báo chí quốc tế thời gian qua là
việc sở xây dựng tp hà nội triển khai thực
hiện dự án chặt hạ, thay thế 6700 cây xanh
trên một số tuyến phố của Thủ đô tuy nhiên,
dự án này mới thực hiện được một thời gian
thì vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của giới
truyền thông, của nhiều nhà khoa học, của
đông đảo người dân thủ đô và của cả nước
qua vụ việc này, có rất nhiều chuyện để bàn,
trong đó nổi lên một câu hỏi lớn là: tại sao
một dự án không phải là lớn lắm, kinh phí
thực hiện cũng không nhiều lại vấp phải sự
phản ứng gay gắt của cộng đồng? chắc mỗi
người sẽ có câu trả lời khác nhau dưới đây là
một số lý giải bước đầu của người viết bài này
về vụ việc nêu trên
Trước hết, phải khẳng định rằng, vấn đề
bVmt, nhất là tình trạng suy giảm, hủy hoại
môi trường một cách nghiêm trọng, trong đó
có nạn chặt phá rừng, ở nhiều địa phương
nước ta hiện nay là một trong những vấn đề
sự chuyển biến tích cực, tác động đến ý thức, tinh thần trách nhiệm, hành vi của
cả cộng đồng, từng cá nhân trong xã hội về sự cần thiết, cấp bách, lâu dài của công tác bVmt trong quá trình phát triển đất nước chính vì vậy, khi ở ngay Thủ đô hà nội lại diễn ra cảnh chặt hạ hàng loạt cây xanh, được coi là tài sản của người dân, lại thiếu
sự tuyên truyền, giải thích của các tổ chức, cơ quan, đơn
vị chức năng thì sự phản ứng mạnh mẽ của giới truyền thông và của đông đảo người dân là một điều hiển nhiên
Thứ hai, không biết vì
những lý do cấp bách, quan trọng gì, nhưng việc lãnh đạo Thành phố phê duyệt, cho triển khai tiến hành dự
án liên quan đến vấn đề môi trường sống của người dân Thủ đô, với số lượng cây bị chặt hạ, thay thế là rất lớn lại được thực hiện giữa “thanh thiên bạch nhật” trên một dãy phố có nhiều cây đang xanh tốt xum xuê, không bị sâu mọt, mục ruỗng; vụ việc diễn ra trong một thời gian dài lại được triển khai vội
vã, thiếu thận trọng, ngay trong tháng “tết trồng cây”
và trước ngưỡng cửa của mùa hè nóng nực, không tham khảo ý kiến của các tổ chức, cơ quan, đơn vị có liên quan, thiếu sự tuyên truyền, giải thích cặn kẽ, chu đáo trong khi hà nội đang phấn đấu cho môi trường “xanh,
VDự án thay thế 6.700 cây xanh các loại trên một số tuyến phố của Thủ đô vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của đông đảo người dân
Trang 28thông tin thiếu minh
bạch của đơn vị triển
khai là nguyên nhân
dẫn đến sự không đồng
tình của nhân dân; việc
này đã thông qua hội
đồng nhân dân tp ) lại
cả cây già cỗi, sâu mục,
cong nghiêng không
đảm bảo an toàn giao
thông” thì trên thực tế
diễn ra không hoàn toàn
như vậy một loạt câu
hỏi đặt ra sau khi có sự
giải thích trên đây
ngày 23/3/2015,
tại hà nội, trung tâm con người và Thiên nhiên phối hợp với trung tâm truyền thông Giáo dục cộng đồng (liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt nam - Vusta) tổ chức tọa đàm “từ đề án 6.700 nhìn lại quy hoạch cây xanh hà nội” thu hút
sự tham gia của nhiều nhà khoa học
tại buổi tọa đàm,
đa số các ý kiến đều tán thành chủ trương cần phải cải tạo hệ thống cây xanh hà nội tuy nhiên, các chuyên gia đều phản đối cách triển khai thiếu khoa học của giới chức Thủ đô trong đề án sở xây dựng hà nội trước
đó khẳng định, mới chỉ chặt 500 cây, nhưng nhiều ý kiến khẳng định, con số thực tế lớn hơn rất nhiều lần tạp chí môi trường xin trích đăng ý kiến của các nhà khoa học về vấn đề này
gS.tS nguyễn Lân Dũng - chủ tịch hội
các ngành sinh vật Việt nam: “hà nội là thủ đô rộng thứ 3 trên thế giới, sau bắc kinh (trung quốc) và tokyo (nhật bản), hà nội rất đẹp nhờ có nhiều hồ và cây
nhưng trong đề án thay thế 6.700 cây xanh vừa qua, giới chức hà nội
đã không quan tâm đến
ý kiến của các nhà khoa học, phản ứng của người dân và điều đau xót nhất
là hà nội không biết rút kinh nghiệm từ những bài học của việc lấp một
số sông, hồ trước đây cả Thủ đô hiện có 50.000 cây mà đề án chặt tới 1/7
là điều không thể tưởng tượng nổi”
Luật sư phạm đức bảo, đh luật hà nội:
“hành động chặt cây của giới chức hà nội mang tính triệt hạ, vi phạm điều 10, điều 14 luật Thủ đô quy định về quản
lý và bVmt phải thực hiện theo nguyên tắc phát triển bền vững gắn với duy trì các yếu tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử
ở Thủ đô và bảo đảm tỷ
lệ không gian xanh theo quy hoạch”
gS.tS Kh phạm ngọc đăng - phó chủ
tịch hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt nam: “nghị định
số 64/2010/nđ-cp của chính phủ quy định chỉ
có 3 loại cây được phép chặt mà không cần xin phép, bao gồm cây bị
đổ và có nguy cơ đổ gây
nguy hại, cây chết và cây nằm trong các dự án phát triển kinh tế đối với các trường hợp khác, muốn chặt cây phải có đơn xin phép và chỉ rõ chặt cây nào (có chụp ảnh gửi kèm), ở đâu, lý
tS.KtS phó đức tùng, nguyên chủ
nhiệm bộ môn lâm nghiệp đô thị, đh lâm nghiệp đặt ra câu hỏi:
“tại sao những cây đó yếu và bị sâu bệnh? Vì
từ trước đến nay, hà nội chưa bao giờ trồng cây đúng quy cách cây đô thị phải được trồng bằng giá thể, vi lượng, khác với trồng cây lâm nghiệp hay nông nghiệp Với hiện trạng trồng cây như hiện nay, dù cây thay thế
có là giống cây gì đi nữa nhưng kỹ thuật vẫn như
cũ thì cây khó mà sống được.”n
Ý kiến của các nhà khoa học về Đề án thay thế 6.700 cây xanh tại Hà Nội
VHội thảo thu hút sự tham dự của nhiều nhà khoa học, chuyên gia
Trang 29rằng, vậy thì tại sao từ trước
đến nay việc chặt hạ, thay thế cây
xanh không bị người dân phản
ứng? tại sao từ trước đến nay,
công ty công viên cây xanh vẫn
thực hiện duy tu bảo trì mà không
cần chiến dịch chặt cây? tại sao
nhiều cây cao, thẳng, khỏe mạnh
cũng bị chặt? có ở đâu, nơi nào,
khi nào người ta duy tu bảo trì cây
xanh bằng cách chặt cây hàng loạt
hay không? động cơ của các doanh
nghiệp “tài trợ” cho dự án này là gì
trên thực tế có cả một dự án chặt
hạ, thay thế cây xanh, thay toàn bộ
cây xanh trên một số tuyến phố,
chứ không phải chỉ thay những cây
mục ruỗng nếu ý kiến của một số
cán bộ lãnh đạo trên đây là đúng
thì lại lộ ra sự bất cập trong quản
lý, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát,
khi dư luận phản ứng mạnh mẽ, rà
soát lại mới thấy thiếu sót, rút kinh
nghiệm thì việc đã rồi có cán bộ
lãnh đạo của hà nội còn dám quả
quyết rằng, việc chặt cây để thay
thế cây khác ở hà nội do cơ quan
quản lý quyết định, không cần thiết
phải hỏi ý kiến người dân! đó là
những phát ngôn thiếu cân nhắc
Thứ tư, việc chặt hạ hàng loạt
cây xanh, có thể được coi là tài sản
của dân, ảnh hưởng đến môi trường
sống, lợi ích của người dân nhẽ ra
phải được cân nhắc, hỏi ý kiến các
tổ chức, cơ quan, đơn vị, nhà khoa
học đầu ngành, các chuyên gia về
thực vật học, về môi trường sinh
thái và được sự đồng thuận của cả
hệ thống chính trị và đồng thuận
của đông đảo người dân Thế nhưng
việc phê duyệt, thực thi dự án quan
trọng này chỉ có mấy cơ quan thuộc
thẩm quyền của chính quyền Thành
phố hà nội cho nên khi bị người
dân chất vấn thì những người có
trách nhiệm trong dự án này tỏ ra
lúng túng các tổ chức, đoàn thể
chính trị-xã hội của hà nội cũng
hoàn toàn không được tham gia
thẩm định, góp ý trước khi thực
hiện dự án này
có thể khẳng định rằng, nếu như dự án mà tp hà nội đã và đang thực hiện không thuộc dự án đụng chạm đến vấn đề môi trường thì chắc chắn cộng đồng dân cư không phản ứng một cách mạnh
mẽ như thế như vậy, nói một cách hình ảnh thì cây xanh đã cố kết, làm nên sức mạnh cộng đồng thời gian qua Vì vậy, lãnh đạo hà nội đã bước đầu nhận ra thiếu sót
và cho dừng dự án để rà soát toàn diện, xử lý những tập thể, cá nhân liên quan
qua vụ việc chặt hạ, thay thế cây xanh trên một số tuyến phố của Thủ đô hà nội có thể là bài học kinh nghiệm cho nhiều nơi khác:
- các ngành, lĩnh vực, địa phương, tổ chức, đơn vị, cá nhân cần rất thận trọng khi phê duyệt, triển khai thực hiện những dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
nhưng lại liên quan, đụng chạm đến vấn đề bVmt, bảo đảm phát triển bền vững
- trong thời gian từ nay đến hết năm 2015, các tổ chức cơ sở đảng từ
cơ sở đến tỉnh, thành phố tiến hành đại hội, tiến tới đại hội lần thứ xii của đảng, trong đó sẽ thông qua các kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như các nhiệm vụ, giải pháp bVmt để các kế hoạch này khi được thông qua không gặp sự phản ứng của cộng đồng dân cư thì ngay
từ bây giờ các dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội nhất thiết phải có
sự thống nhất trong cấp ủy đảng, chính quyền, của hệ thống chính trị,
có sự tham vấn, hỏi ý kiến các cấp, các ngành liên quan, các nhà khoa học và sự đồng thuận của đông đảo nhân dân trong thực hiện cần nêu cao tinh thần trách nhiệm của tập thể, cá nhân người lãnh đạo, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng, người lãnh đạo khi các kế hoạch, chương trình, dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có yếu tố môi trường
- Vấn đề bVmt hiện nay được ví như yếu tố tăng cường liên kết, sức mạnh cộng đồng do vậy, các cấp, các ngành, các địa phương, trong
đó có lĩnh vực bVmt, cần phát huy sức mạnh, nhân rộng mối liên kết,
để chung tay, góp sức bVmt thông qua quy chế giám sát và phản biện
xã hội đã được bộ chính trị bch trung ương đảng ban hành vào tháng 12/2013 Theo đó, các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia), phải được các đoàn thể chính trị-xã hội
có chức năng chủ trì phản biện trước khi được biểu quyết thông qua, thực hiện
cách đây đã lâu, trong chỉ thị của Thủ tướng chính phủ ngày 21/9/2000 “Về tăng cường công tác dân vận” có đoạn viết: “khi soạn thảo các văn bản pháp luật, các chính sách, triển khai các chương trình, dự án phải tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân, tiếp thu
ý kiến đóng góp của nhân dân, làm cho các văn bản pháp luật, các chính sách, chương trình, dự án phù hợp với thực tiễn, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, được nhân dân đồng tình, ủng hộ” trong tác phẩm “sửa đổi lối làm việc” năm 1947, bác hồ
đã viết: “chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng Vì vậy, mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng”
nếu như thời gian qua hà nội làm được như lời bác hồ dạy và như chỉ thị trên đây thì dứt khoát nhân dân sẽ đồng tình ủng hộ, không có những phản ứng gay gắt như đã xảy ran
Trang 30VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC XÃ HỘI
TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
tS nguyễn VĂn phương
Trường Đại học Luật Hà Nội
hội nằm ngoài nhà nước, nằm ngoài
các hoạt động của doanh nghiệp (thị
trường), nằm ngoài gia đình, để liên
kết người dân với nhau trong những
hoạt động vì một mục đích chung”
như vậy, có thể hiểu thành phần quan
trọng của “xã hội dân sự” là các hội,
hiệp hội trong dân chúng, trong làng
xóm, mang tính chất liên kết cộng
đồng và bao hàm cả cộng đồng dân cư
ở Việt nam, cho đến nay, mặc dù các văn kiện đảng và nhà nước chưa
trực tiếp nêu khái niệm “xã hội dân
sự”, song trên thực tế, ở mức độ nhất
định, đảng và nhà nước đã bước đầu
chú ý đến việc xây dựng các thể chế và
cơ sở pháp lý cho sự tham gia và xác
định vai trò của “xã hội dân sự” trong
tổ quốc Việt nam, tổng liên đoàn
lao động Việt nam, đoàn Thanh niên
cộng sản hồ chí minh, hội nông dân
Việt nam, hội cựu chiến binh Việt
nam, hội liên hiệp phụ nữ Việt nam
và các tổ chức giáo hội tổ chức xã hội
với hình thức là tổ chức phi chính trị
và phi nhà nước theo nghĩa hẹp được
xác định theo khoản 1, điều 2 nghị
định số 45/2010/nđ-cp quy định tổ
chức, hoạt động và quản lý hội, “hội
là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng;
hỗ trợ hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước”
căn cứ vào các hình thức
tổ chức pháp nhân của bộ luật dân sự 2005, điều 100 - các loại pháp nhân, tổ chức “xã hội dân sự” bao gồm: tổ chức chính trị - xã hội; xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tự nguyện, quỹ xã hội, quỹ từ thiện
Theo quan niệm đó, tổ chức “xã hội dân sự” ở Việt nam gồm mặt trận tổ quốc, là
tổ chức xã hội dân sự lớn nhất bao gồm các đoàn thể (công đoàn, phụ nữ, thanh niên, nông dân ), hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư
một trong những biểu hiện mang tính khái quát cho thấy vai trò và sự tham gia của
“xã hội dân sự” là chủ trương
“dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” Việc đánh giá vai trò của “xã hội dân sự”
trong bVmt dựa trên quan niệm này
2 VAi trò CủA xã hội Dân Sự trong bVMt
Các quy định của pháp luật về thông tin môi trường (Dân biết)
luật bVmt 2014 đã có những quy định mới về vấn
đề thông tin môi trường so với
luật bVmt 2005 điều 145 luật bVmt 2014 quy định về quyền của tổ chức chính trị -
xã hội, xã hội - nghề nghiệp:
“được cung cấp và yêu cầu cung cấp thông tin về bVmt theo quy định của pháp luật”
và điều 146 quy định về quyền đại diện cộng đồng dân
cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quyền yêu cầu chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cung cấp thông tin về bVmt thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản; tổ chức tìm hiểu thực
tế về công tác bVmt của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thu thập, cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền
và chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp và có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước
có liên quan cung cấp kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với cơ sở
Các quy định của pháp luật về sự tham gia của “xã hội dân sự” trong hoạt động xây dựng chủ trương, chính sách, kế hoạch và các quy định về BVMT (Dân bàn)
mặt trận tổ quốc Việt nam thực hiện tư vấn, phản biện, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bVmt theo quy định của pháp luật cơ quan quản lý nhà nước các cấp
có trách nhiệm tạo điều kiện
để mặt trận tổ quốc Việt nam tham gia bVmt
Trang 31mình, tư vấn, phản biện về bVmt với cơ quan
quản lý nhà nước và chủ cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ có liên quan theo quy định của
pháp luật;
đại diện cộng đồng dân cư có quyền tham
gia đánh giá kết quả bVmt của cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ; thực hiện các biện pháp
để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng dân
cư theo quy định của pháp luật
Các quy định của pháp luật về sự tham
gia của “xã hội dân sự” vào hoạt động BVMT
(Dân làm)
điều 43 hiến pháp 2013 quy định: mọi
người có quyền được sống trong môi trường
trong lành và có nghĩa vụ bVmt điều 4 luật
bVmt 2014 quy định: bVmt là trách nhiệm
và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia
đình và cá nhân như vậy, mọi chủ thể trong
xã hội phải có nghĩa vụ bVmt, trong đó có “xã
chức tự quản về bVmt có trách nhiệm xây
dựng và thực hiện hương ước về bVmt; tuyên
truyền, vận động nhân dân xóa bỏ hủ tục, thói
quen mất vệ sinh, có hại cho sức khỏe và môi
trường
một trong những nội dung hoàn toàn
mới là tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề
nghiệp có quyền kiến nghị cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp
luật về bVmt và đại diện cộng đồng dân cư có
quyền tham gia đánh giá kết quả bVmt của cơ
sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thực hiện các
biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng
đồng dân cư theo quy định của pháp luật
như vậy, luật bVmt 2014 đã quy định
tương đối đầy đủ về sự tham gia của các tổ chức
chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng
đồng dân cư trong bVmt
Các quy định của pháp luật về sự tham gia
của tổ chức chính trị - xã hội; xã hội - nghề
nghiệp, cộng đồng trong hoạt động giám sát,
phát hiện hành vi vi phạm pháp luật BVMT
(Dân kiểm tra)
tổ chức tự quản về bVmt có quyền tham
gia giám sát việc thực hiện pháp luật về bVmt
của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên
địa bàn
tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề
nghiệp có quyền tham gia hoạt động kiểm tra
về bVmt tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có liên quan đến chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bVmt
3 Kết Luận
Và Kiến nghị
có thể thấy, luật bVmt
2014 đã có những quy định tiến bộ hơn luật bVmt 2005
về sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong việc tư vấn, phản biện, giám sát, kiểm tra việc thực thi pháp luật của
tổ chức, cá nhân khác tuy nhiên, những quy định này còn mạng tính chung chung
và cần có quy định hướng dẫn về cơ chế thực hiện các quy định này có phát huy trên thực tế hay không còn phụ thuộc vào những quy định hướng dẫn thi hành và cơ chế để bảo đảm thực hiện các quyền này của tổ chức xã hội
và cộng đồng dân cư
Việc hình thành khung pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức chính trị -
xã hội, xã hội - nghề nghiệp
và cộng đồng dân cư tham gia bVmt sẽ tạo cơ sở pháp
lý vững chắc cho việc bảo đảm sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong hoạt động bVmt
Vì vậy, hoàn thiện hệ thống luật pháp bằng cách đưa
ra các quy định rõ ràng để bảo đảm có sự tham gia rộng rãi của tổ chức chính trị - xã hội,
xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư vào giải quyết các vấn đề môi trường là vấn đề cấp thiết
các quy định của pháp luật sẽ phải xác định những lĩnh vực có sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân
cư, ranh giới của sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội,
xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư, quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể pháp luật
có liên quan tới sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội,
xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong hoạt động bVmt
để bảo đảm vai trò của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội
- nghề nghiệp và cộng đồng dân cư, các quy định này cần tuân thủ những những nguyên tắc như: bảo đảm quyền của cộng đồng, công bằng và hợp lý trong bVmt
và phát triển bền vữngn
VĐoàn Thanh niên tham gia dọn dẹp vệ sinh, BVMT
Trang 32Tăng cường công tác quản lý an toàn hóa chất bảo vệ môi trường
Hiện nay tại Việt Nam, ngành hóa chất gồm 12 phân ngành chủ chốt
như sản xuất phân bón, cao su, chất tẩy rửa, công nghiệp hóa dầu,
hóa dược là ngành công nghiệp quan trọng phục vụ sự phát triển
của nhiều ngành công nghiệp khác Đồng thời, các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, sử dụng hóa chất cũng có những đóng góp lớn cho
ngành kinh tế Để quản lý công tác an toàn hóa chất, Luật Hóa chất
ra đời và có hiệu lực thi hành từ năm 2007 cùng với hệ thống văn
bản pháp lý bao gồm các Nghị định, Thông tư hướng dẫn cũng được
ban hành, góp phần đưa hoạt động hóa chất vào khuôn khổ Tuy
nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp vì lợi ích trước mắt, chưa thực
hiện biện pháp an toàn hóa chất, tiềm ẩn những yếu tố nguy hại với
môi trường, hệ sinh thái cũng như sức khỏe của con người Tạp chí
Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Xuân Sinh -Giám đốc
Trung tâm Dữ liệu và Hỗ trợ ứng phó sự cố hóa chất - Cục Hóa chất -
Bộ Công Thương về vấn đề này.
9Xin ông cho biết thực trạng quản lý, sản xuất
và kinh doanh hóa chất trên địa bàn cả nước
hiện nay?
tS nguyễn xuân Sinh: hoạt động sản
xuất, kinh doanh và sử dụng hóa chất đang
phát triển mạnh trong thời gian gần đây hầu
hết doanh nghiệp sản xuất trong các ngành
công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến
thực phẩm và đồ uống, chế biến thuốc lá, sản
xuất sản phẩm dệt, may mặc, da và giả da đều
sử dụng hóa chất đặc tính hóa chất chủ yếu
mang tính cháy nổ, kích ứng, độc và ăn mòn
qua công tác kiểm tra thực tế tại các doanh
nghiệp đang hoạt động có liên quan đến hóa
chất hiện nay cho thấy, vẫn còn tình trạng một
số doanh nghiệp, cơ sở chưa quan tâm đến công
tác đảm bảo an toàn trong hoạt động hóa chất
nhiều doanh nghiệp chưa cập nhật thông tin
về phiếu an toàn hóa chất chưa đầy đủ, không
có nhãn mác, không sử dụng bảo hộ lao động
trong sản xuất, bố trí kho chưa ngăn nắp…
đặc biệt, là hiện tượng hóa chất rơi vãi tại khu
sản xuất, đây là hành vi gây nguy hiểm đến sức
khỏe con người dễ xảy ra các sự cố phát sinh từ
hóa chất Vẫn còn một số cơ sở, doanh nghiệp
kinh doanh hóa chất độc hại nằm xen lẫn trong
khu dân cư một số doanh nghiệp không xây
dựng phương án ứng cứu sự cố rò rỉ hay tràn
đổ hóa chất theo đúng quy định
bên cạnh đó, các hoạt động kinh doanh
hóa chất trái phép cũng diễn
ra mạnh mẽ ngay tại chợ kim biên (tp hồ chí minh), hóa chất dùng trong công nghiệp
và hóa chất được phép sử dụng trong thực phẩm bày bán lẫn lộn.kết quả kiểm tra của sở y
tế trong 6 tháng đầu năm 2013 cho thấy, trong số hơn 5.000 mẫu thực phẩm được đưa đi kiểm nghiệm có tới gần 20%
chứa hóa chất gây hại cho sức khỏe người sử dụng hậu quả của việc dung nạp nhiều độc
tố vào cơ thể dẫn tới hàng loạt
vụ ngộ độc cấp tính trong thời gian qua, nhưng nguy hiểm hơn là tình trạng ngộ độc mãn tính khiến con người gặp phải các chứng bệnh nan y như suy gan, suy thận, ung thư…
Thực trạng trên cho thấy, công tác quản lý hóa chất còn nhiều bất cập do các nguyên nhân: hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động hóa chất còn chồng chéo, với nhiều cơ quan tham gia như bộ công Thương, bộ tn&mt, bộ nông nghiệp
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, trong cả nước,
địa phương có nguy cơ xảy ra sự cố an toàn hóa chất cao nhất là TP Hồ Chí Minh Kết quả thống
kê từ năm 2010- 2014, trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh đã xảy ra 7 vụ cháy nổ liên quan đến hóa chất, làm chết 8 người và bị thương 7 người, thiệt hại tài sản trên 40 tỷ đồng Riêng trong năm 2014 xảy ra 4 vụ, làm chết 7 người,
bị thương 6 người, thiệt hại trên 30 tỷ đồng Một ví dụ điển hình của việc vi phạm các quy định quản lý hóa chất
là công ty TNHH sản xuất và thương mại Đăng Huỳnh tại TP Hồ Chí Minh đã sử dụng tiền chất thuốc nổ để sản xuất phân bón đã gây ra sự cố nổ nhà máy vào tháng 10/2014 dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm chết
4 người và 3 người bị thương.
VÔng Nguyễn Xuân Sinh,
GĐ Trung tâm Dữ liệu và
Hỗ trợ ứng phó sự cố hóa chất - Cục Hóa chất - Bộ Công Thương
Trang 33phát triển nông thôn, bộ khoa học và công
nghệ, bộ công an, bộ quốc phòng, bộ y tế, bộ
lao động Thương binh và xã hội
trong khi đó, bộ máy nhân sự quản lý hóa
chất tại các địa phương còn mỏng, nhiều địa
phương còn thiếu cán bộ chuyên môn nên
trong quá trình thực thi nhiệm vụ còn lúng
túng
Việc chấp hành pháp luật của các doanh
nghiệp hoạt động hóa chất còn chưa tốt do
nhiều nguyên nhân: sự thiếu hiểu biết pháp luật
của doanh nghiệp, còn tình trạng doanh nghiệp
cố tình vi phạm các quy định pháp luật về quản
lý hóa chất bên cạnh đó, công tác tuyên truyền
văn bản pháp luật về hóa chất chưa được thực
hiện thường xuyên…
9Tình trạng phát thải hóa chất độc hại ra môi
trường đang có chiều hướng gia tăng và để lại
nhiều hậu quả lâu dài về ô nhiễm môi trường,
theo ông cần có giải pháp gì để khắc phục tình
trạng trên?
tS nguyễn xuân Sinh: hóa chất là ngành
có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt
có xu hướng tăng nhanh trong thời gian gần đây
phát thải hóa chất ra môi trường có thể xảy ra
trong trường hợp có sự cố hóa chất (cháy, nổ, rò
rỉ….), hoặc không có sự cố nhưng vẫn thải hóa
chất ra môi trường qua các nguồn thải thường
xuyên (nước thải, khí thải, chất thải rắn) các
hóa chất hết hạn sử dụng… cũng là nguồn phát
thải ra môi trường để khắc phục tình trạng
trên, các giải pháp cần được thực hiện là:
Về phía Nhà nước: cần ban hành các quy
định về đảm bảo an toàn trong hoạt động hóa
chất; Thường xuyên thực hiện công tác thanh
tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định
pháp luật trong hoạt động hóa chất; Thực hiện
nghiêm chế độ xử phạt các doanh nghiệp vi
phạm các quy định về hoạt động hóa chất và
môi trường; xây dựng cơ sở dữ liệu hóa chất
quốc gia; Thống nhất quản lý hoạt động phân
loại, ghi nhãn hóa chất nguy hiểm; đăng ký, khai
báo hóa chất; thông tin an toàn hóa chất; tổng
hợp, thống kê tình hình thực hiện an toàn hóa
chất trong phạm vi cả nước; hướng dẫn xây
dựng, tổ chức việc thẩm định kế hoạch phòng
ngừa, ứng phó sự cố hóa chất; phối hợp với các
cơ quan hữu quan trong việc phòng ngừa, ứng
phó, khắc phục sự cố hóa chất; yêu cầu kiểm
soát chặt chẽ về kỹ thuật an toàn trong sản xuất,
kinh doanh các loại hóa chất thuộc danh mục
hóa chất nguy hiểm; hướng dẫn, quản lý việc
phân loại và ghi nhãn hóa chất theo hệ thống
hài hòa toàn cầu; xác định lộ trình áp dụng các quy định về phân loại đối với chất, hỗn hợp chất; Thực hiện hợp tác quốc
tế trong hoạt động hóa chất
và an toàn hóa chất;Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hóa chất…
Về phía doanh nghiệp:
Việc kinh doanh hóa chất phải thực hiện các quy định
về quản lý và an toàn hóa chất theo quy định, thường xuyên bảo dưỡng, vận hành hệ thống
an toàn hóa chất; có cán bộ chuyên trách về an toàn hóa chất, có trình độ chuyên môn phù hợp với quy mô và loại hình sản xuất, kinh doanh hóa chất, nắm vững công nghệ, phương án và các biện pháp bảo đảm an toàn hóa chất
đồng thời, các doanh nghiệp phải xây dựng biện pháp phòng ngừa, ứng phó
sự cố hóa chất, thường xuyên thực hiện các cải tiến kỹ thuật, tiếp thu và áp dụng các công nghệ sản xuất mới, hiện đại, ít chất thải áp dụng các kỹ thuật sản xuất sạch hơn, thực hiện trách nhiệm xã hội…; nêu cao ý thức chấp hành pháp luật về an toàn trong hoạt động sản xuất, giảm thiểu và
triệt tiêu các nguy cơ gây mất
an toàn trong sản xuất, lưu giữ hóa chất các nguồn thải phải được lắp đặt các hệ thống xử
lý, vận hành đúng chế độ, đảm bảo các quy định về thải nước thải, khí thải, chất thải rắn…
9Được biết hiện nay, tỷ lệ các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp an toàn trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng hóa chất còn thấp Trung tâm
đã và đang triển khai các hoạt động nào để hỗ trợ các doanh nghiệp ứng phó sự cố hóa chất?
trung tâm dữ liệu và hỗ trợ ứng phó sự cố hóa chất trực thuộc cục hóa chất, bộ công thương được giao thực hiện nhiệm vụ về quản lý an toàn hóa chất như chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu về an toàn hóa chất, xây dựng kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất, tham gia phổ biến các văn bản pháp lý và thực hiện các hoạt động đào tạo
kỹ thuật an toàn trong sản xuất, sử dụng hóa chất cho các doanh nghiệp…
để thực hiện nhiệm vụ trên, trong thời gian tới, trung tâm sẽ đẩy mạnh công tác dịch
Trang 34PHÒNG NGỪA, ỨNG PHÓ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG
LIÊN QUAN ĐẾN HÓA CHẤT ĐỘC HẠI/PCB
đó là chủ đề của hội thảo do dự án
quản lý pcb tại Việt nam thuộc tổng
cục môi trường, bộ tài nguyên và môi
trường tổ chức ngày 10/3/2015 tại nha trang,
khánh hòa
hoạt động phát triển kinh tế - xã hội hiện
nay đã và đang tạo ra nhiều áp lực tiêu cực
lên môi trường và đặt ra những yêu cầu cấp
thiết trong công tác bảo vệ môi trường, trong
đó, việc phòng ngừa, ứng phó và khắc phục
sự cố môi trường nói chung và sự cố do hóa
chất cần được đặc biệt quan tâm có nhiều
nguyên nhân gây ra sự cố hóa chất, do cháy, nổ
hóa chất, rò rỉ hóa chất độc hại,… nhưng thiệt
hại gây ra đều rất lớn, làm chết người, tổn hại
lớn về kinh tế và hủy hoại nghiêm trọng môi
trường trên thế giới đã xảy ra nhiều thảm họa
do sự cố hóa chất, như vụ nổ tại nhà máy sản
xuất nitrat amôn oppau, đức ngày 21/9/1921
làm chết gần 500 người; tại nhà máy sản xuất
nitrat amôn ở thành phố texas, hoa kỳ ngày
16/4/1947 phá hủy hơn 90% các công trình
của thành phố và làm chết gần 600 người; Vụ
rò rỉ methyl isocyanate tại công ty thuốc trừ
sâu union carbide, bhopal, ấn độ ngày 2 và
3/12/1984 làm chết tại chỗ hơn 2800 người,
gây bệnh hô hấp và mắt cấp tính cho khoảng
20.000 người, thiệt hại kinh tế ước tính từ 350
triệu đến 3 tỷ đô la mỹ… và nhiều sự cố tràn
dầu khác làm thiệt hại vô cùng lớn về kinh tế
và phá hủy nghiêm trọng môi trường và các hệ
sinh thái tại Việt nam cũng đã xẩy ra nhiều sự
cố hóa chất gây ảnh hưởng lớn đến môi trường
và các hoạt động kinh tế, xã hội có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến hậu quả nghiêm trọng
khi các sự cố môi trường nói chung và sự cố
do hóa chất nói riêng xảy ra mà chủ yếu là do
những sơ xuất, bất cập trong công tác phòng
ngừa, năng lực và hiệu quả hạn chế trong các
hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố
tại hội thảo, các nhà nhà khoa học, quản
lý môi trường và đại diện các doanh nghiệp
đã trao đổi, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm
về những khó khăn, bất cập và tồn tại liên
quan đến hoạt động phòng ngừa, ứng phó
sự cố môi trường, sự cố hóa chất ở nước ta
hiện nay có thể thấy, mặc dù đã có nhiều quy
định và hướng dẫn nhưng công tác phòng
ngừa, ứng phó sự cố môi trường nói chung và sự cố môi trường liên quan đến hóa chất nói riêng ở nước ta vẫn chưa đạt hiệu quả cao và còn nhiều điểm bất cập công tác phòng ngừa chưa được các tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đúng mức, dẫn đến nhiều sự
cố xảy ra nguyên nhân dẫn đến công tác ứng phó sự cố môi trường chưa hiệu quả là
do còn hạn chế về nguồn lực, năng lực và cơ chế phối hợp
các đại biểu cũng đã thảo luận, đề xuất những giải pháp
ưu tiên nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường liên quan đến hóa chất độc hại/
pcb, tiếp cận theo nguyên tắc ngăn ngừa không để xảy ra sự
cố và khi sự cố xảy ra thì phải ứng phó hiệu quả ngay tại chỗ(từ cơ sở, doanh nghiệp, địa phương) Theo đó, về chính sách cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và ban hành
các văn bản pháp quy, các quy định cụ thể(về xây dựng kế hoạch, quy trình ngăn ngừa, ứng phó, cơ chế tài chính, thông tin báo cáo ); Về tăng cường năng lực, trước hết cần nâng cao nhận thức cho các đối tượng liên quan; xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật
và phổ biến rộng rãi các quy định, quy trình, hướng dẫn
và huy động sự tham gia của cộng đồng trong phòng ngừa, cảnh báo, ứng phó và khắc phục sự cố Thực hiện các hoạt động đào tạo, tập huấn, diễn tập thường xuyên nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả ứng phó; phân định rõ trách nhiệm các cơ quan, tổ chức và xây dựng cơ chế phối hợp, quy trình ứng phó hiệu quả; đồng thời cần xây dựng
và áp dụng chế tài đối với các hoạt động từ ngăn ngừa, ứng phó xử lý cho đến khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại
đỗ hoàng
VDiễn tập ứng phó sự cố hóa chất tại Lâm Thao, Phú Thọ
Trang 35tại hội thảo, ông patrick
J.Gilabert, trưởng đại diện
của unido tại Việt nam
cho biết “Thủy ngân là một kim loại
có khả năng bốc hơi tương đối dễ ở
nhiệt độ phòng, lan truyền nhanh
trong không khí, lưu truyền trong
chuỗi thức ăn hiện nay, thủy ngân
được sử dụng trong các thiết bị đo
lường nhiệt độ và áp suất, trong
nha khoa (hàn, trám men chiếm
51% hàm lượng thủy ngân), bóng
đèn, nhiệt kế… đặc biệt, trong
ngành công nghiệp như: luyện kim,
sản xuất xi măng hay khai khoáng
vàng… cũng gây ô nhiễm thủy ngân
cho môi trường và tác động đến sức
khỏe của con người”
đối với sức khỏe con người, thủy
ngân sẽ gây tổn thương hệ thần kinh,
thận, gây mất ngủ, trầm cảm, teo
cơ, suy giảm thị lực, nói khó, khiếm thính, rối loạn tâm thần… còn nếu thẩm thấu qua nhau thai thì sẽ gây sảy thai tự nhiên hoặc em bé được sinh ra với các triệu chứng thần kinh năng hoặc ngớ ngẩn
ông trần anh dũng - cục quản lý môi trường, bộ y tế cho biết: “qua khảo sát và thống kê tại các địa phương và cơ sở khám chữa bệnh trên cả nước, trung bình mỗi tháng có 1.629 nhiệt kế thủy ngân bị
vỡ và ước tính trên cả nước mỗi năm tại các cơ sở y tế có khoảng 447.588 nhiệt kế thủy ngân bị vỡ như vậy ước lượng thủy ngân giải phóng từ nhiệt kế và huyết áp kế bị vỡ trung bình mỗi năm là 550 kg”
Theo ông nguyễn anh tuấn - cục kiểm soát ô nhiễm, tổng cục môi trường: “hiện tại một số mỏ
khai khoáng vàng như mỏ khau
âu, thông qua kiểm tra mẫu nước (2009) hàm lượng thủy ngân đạt 0,0345mg/l cao gấp 3 lần so với tiêu chuẩn nước thải công nghiệp (tcVn 5945:2005), hay tại mỏ vàng bồng miêu với sản lượng vàng 600 kg/năm thì mỏ này phát thải ra môi trường 1.800kg thủy ngân/năm Với trữ lượng ước tính khoảng 300 tấn vàng Việt nam quy hoạch khai thác trong tương lai thì sẽ có 900 tấn thủy ngân sẽ được phát thải”
hướng đi CủA Việt nAM
Với chức năng, nhiệm vụ của mình, tại quyết định số 1811/qđ-ttg ngày 4/10/2013, bộ công Thương đã được chính phủ giao nhiệm vụ là cơ quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu trình chính phủ xem xét, phê duyệt công ước vào thời điểm thích hợp ông lưu hoàng ngọc, phó cục trưởng cục hóa chất - Giám đốc dự
án cho biết “dự án được phê duyệt với mức kinh phí 500.000 usd, trong đó 25.000 usd là từ nguồn đối ứng của chính phủ Việt nam, 22.000 usd từ unido dự án sẽ hoàn thành các hoạt động trước khi phê duyệt theo công ước minamata
để xác định các chính sách, các quyết định chiến lược và các lĩnh vực ưu
Việt Nam hướng tới mục tiêu phê duyệt Công ước Minamata về thủy ngân
Năm 2013, tại Kumamoto - Nhật Bản, cùng với 96 quốc gia đầu tiên trên thế giới, Việt Nam đã tham gia ký Công ước Minamata về thủy ngân Để thực hiện Công ước này, ngày 10/3/2015 tại
Hà Nội, Cục Hóa Chất - Bộ Công Thương đã phối hợp với Chương trình Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) thực hiện Hội thảo khởi động Dự án “Đánh giá ban đầu Công ước
Minamata về thủy ngân tại Việt Nam” do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ dưới dạng dự
án hỗ trợ kỹ thuật sử dụng vốn ODA Đây là hoạt động khởi đầu của Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu phê duyệt Công ước Minamata và theo lộ trình của Công ước việc sản xuất và sử dụng các sản phẩm có chứa thủy ngân hết hạn vào năm 2020.
VHội thảo Khởi động Dự án
(Xem tiếp trang 43)
Trang 36Đánh giá tiêu chí môi trường trong
Chương trình xây dựng nông thôn mới
tS phạM thị tố oAnh
Liên minh Hợp tác xã Việt Nam
Vũ thu hạnh
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội
Với khoảng 70% dân số cả nước
tập trung sinh sống, nông thôn Việt nam đang trên con đường đổi mới và đóng vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước chương trình
mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
mới (ntm), đã trở thành một phong
trào rộng lớn, tạo sự chuyển biến tích
cực về nhận thức trong cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội Với sự vào
cuộc quyết liệt của nhiều cấp ủy, chính
quyền các cấp, sự hưởng ứng và tham
gia tích cực của người dân, chương
trình ntm đã đạt được kết quả bước
đầu khả quan tuy nhiên, theo đánh
giá của các chuyên gia, tiêu chí môi
trường trong chương trình vẫn là tiêu
đến năm 2020 là 50% Theo quy định,
để xã được công nhận là xã ntm phải
đạt 19 tiêu chí, trong đó, để đạt tiêu
chí về môi trường phải hoàn thành 5
nội dung, đó là: tỷ lệ hộ được sử dụng
nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn
quốc gia đạt 75%; 100% các cơ sở sản
xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi
trường; không có các hoạt động gây
suy giảm môi trường và có các hoạt
động phát triển môi trường xanh,
sạch, đẹp; nghĩa trang được xây dựng
theo quy hoạch; chất thải, nước thải
được thu gom và xử lý theo quy định
Theo số liệu báo cáo của ban chỉ đạo chương trình ntm, tính đến nay,
các tỉnh đã hoàn thành 100% công
tác lập quy hoạch xây dựng ntm
chương trình đã góp phần phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nhiều vùng nông thôn, nổi bật
là đầu tư phát triển giao thông nông thôn, thủy lợi, điện cả nước đã và đang triển khai xây dựng trên 5.000 công trình với khoảng 70.000 km đường giao thông nông thôn Về nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn đã nâng cấp hơn 1.000 công trình nước sạch tập trung, 500 bãi thu gom rác thải, 1.200 cống rãnh thoát nước thải vệ sinh; có 40% xã lập tổ thu gom rác thải tăng 10% so với trước khi thực hiện chương trình cơ sở vật chất văn hóa được chú trọng xây dựng và nâng cấp…
bên cạnh các tiêu chí đạt được, tiêu chí môi trường là tiêu chí khó thực hiện nhất, hiện cả nước mới có 26% các
xã điểm ntm đạt tiêu chí về môi trường nguyên nhân tiêu chí này đạt thấp là do môi trường nông thôn đang chịu sức ép ô nhiễm ngày càng lớn
từ sự gia tăng dân số, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi, bỏ trống khâu xử
lý chất thải trong chăn nuôi, chất thải nông nghiệp, sinh hoạt, sản xuất nghề…
cụ thể, tỷ lệ hộ dân được
sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia trên địa bàn nông thôn chưa bảo đảm yêu cầu, tỷ lệ đạt thấp ranh giới giữa nước sạch và nước hợp vệ sinh còn chưa rõ ràng, nhiều xã mới chỉ đạt tiêu chuẩn nước hợp
vệ sinh chứ chưa đạt tiêu chuẩn nước sạch
các hộ chăn nuôi gia đình dù đã xử lý môi trường nhưng không triệt để, gây
VXã Khánh Hưng (tỉnh Cà Mau) đã có nhiều khởi sắc khi triển khai xây dựng Chương trình NTM
Trang 37thất thoát xả thải ra môi trường; chưa kể đến
những doanh nghiệp vì lợi nhuận mà “bán rẻ
lương tâm”, bất chấp tính mạng và sức khỏe
của người dân, còn có hành vi che giấu sai
phạm gây hậu quả nghiêm trọng
mặt khác, các cơ sở sản xuất kinh doanh
đa phần nhỏ lẻ, vốn ít, công nghệ lạc hậu, việc
xử lý môi trường là tự phát, chưa có báo cáo
đánh giá tác động môi trường; các làng nghề
chưa được quy hoạch, gây ô nhiễm môi trường;
ý thức của chủ doanh nghiệp chưa cao, còn tư
tưởng chạy theo lợi nhuận là những nguy cơ
gây ảnh hưởng đến môi trường
Thêm vào đó, việc quan tâm quy hoạch
nghĩa trang đạt chuẩn, tăng cường trồng cây
xanh, có hệ thống thu gom, xử lý nước thải,
chất thải tập trung ở mỗi xã đang là vấn đề
khó thực hiện triệt để do quỹ đất cũng như
kinh phí hạn hẹp
ngoài ra, do thiết bị, công nghệ trong sản
xuất công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công
nghiệp còn lạc hậu và thủ công, khu vực sản
xuất, kinh doanh hầu như chưa có các công
trình xử lý nước thải nên hậu quả về ô nhiễm
môi trường ngày càng gia tăng hiệu quả của
công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động của
doanh nghiệp về bVmt chưa cao, chưa xử lý
kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong
công tác quản lý, bVmt…
mặt trái và hệ lụy của quá trình đô thị hóa
tăng nhanh đã tác động rất lớn đến môi trường,
trong đó không thể tránh khỏi việc môi trường
sống của con người đang bị đe dọa, suy thoái
nghiêm trọng bởi ô nhiễm từ các chất thải,
nước thải của các khu công nghiệp, làng nghề,
khu dân cư Vì vậy, việc xây dựng ntm đặt ra
mục tiêu, tiêu chí cho các vùng nông thôn cũng
vừa là thách thức, vừa là động lực, là cơ hội để
bộ mặt nông thôn khởi sắc trên đà phát triển
song, vấn đề cốt lõi là suy nghĩ và hành xử
đúng mực của con người đối với thiên nhiên,
môi trường
bên cạnh đó, chất thải rắn phát sinh từ các
hộ gia đình, nhà kho, chợ, trường học, bệnh
viện, làng nghề cũng ảnh hưởng môi trường
nông thôn trong nhiều năm qua mặc dù, nhiều
địa phương đã có những giải pháp tích cực như
ra nghị quyết chuyên đề, giao cho các đoàn thể
phụ trách, hỗ trợ một phần kinh phí cho người
dân, xây lò đốt rác thải tại gia đình để giảm
thiểu ô nhiễm môi trường, song dường như
mới chỉ là giải pháp tạm thời chứ chưa có tính
bền vững lâu dài
cụ thể, lấy số liệu để phân tích thí điểm tại tỉnh lạng sơn, tính đến hết tháng 3/2015, toàn tỉnh đã hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch chung
và đề án xây dựng ntm cho 207/207 xã, 11 huyện, thành phố tuy nhiên, đến nay chưa
có xã nào trong tỉnh được đánh giá hoàn thành chỉ tiêu
về môi trường mặc dù, toàn tỉnh có trên 70% dân số nông thôn được dùng nước sạch hợp vệ sinh nhưng chỉ có hơn 50% trong số này được dùng nước sạch theo tiêu chuẩn của
bộ y tế ngoài ra, đánh giá chỉ tiêu về thu gom, xử lý rác thải, chất thải bảo đảm theo quy định cũng khó thực hiện
trung bình mỗi ngày, trên mỗi
xã phát sinh hàng trăm tạ rác sinh hoạt, trong đó có khoảng 50% được thu gom nhưng tỷ lệ rác được xử lý bảo đảm công nghệ, kỹ thuật hầu như không
có tại các xã…
qua đánh giá thí điểm các số liệu tỉnh lạng sơn cho thấy, ngay lúc này cần phải
có định hướng chiến lược cụ thể trong thực hiện tiêu chí môi trường gắn với từng địa bàn trước tiên, cần có tổ chức tuyên truyền cho các cấp chính quyền, người dân, nâng cao nhận thức về môi trường,
về các tiêu chí ntm trong triển khai thực hiện, đẩy mạnh sự phối kết hợp giữa các cấp chính quyền và hoạt động của người dân để mục tiêu đạt được trong xây dựng ntm là bền vững, đặc biệt tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
để triển khai hiệu quả chương trình ntm, ban chỉ đạo chương trình đã đề ra một số giải pháp như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, phát huy sự tham gia tích cực chủ động của nhân
dân thực hiện và giám sát chương trình ntm; Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch; tạo điều kiện để người dân thực sự là chủ thể thực hiện chương trình
đồng thời, các địa phương tập trung chỉ đạo các xã đã đạt các tiêu chí xây dựng ntm phải hoàn thiện nâng cao chất lượng xây dựng ntm bền vững đối với các tỉnh chưa
có xã đạt chuẩn ntm phải chỉ đạo các xã điểm để làm cơ
sở rút kinh nghiệm trên diện rộng; huy động, lồng ghép các nguồn lực nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhất là cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế; chú trọng thực hiện nội dung phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn, xóa đói, giảm nghèo gắn với việc thực hiện chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trên địa bàn; ưu tiên nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao,
kỹ thuật tiên tiến để nâng cao chất lượng sản xuất nông nghiệp…
như vậy, việc thực hiện chương trình tổng thể về xây dựng ntm là cần thiết,
đã phát huy được nội lực và ngoại lực của khu vực nông thôn, hướng tới sự phát triển bền vững tuy nhiên, từ chính sách đến triển khai là cả lộ trình để thực hiện sát với thực tế chính vì vậy, trong định hướng triển khai, cần có những nghiên cứu, xem xét, điều chỉnh những quy định cụ thể, rõ ràng và thống nhất giữa chính sách và thực thi chính sách, nhờ vậy mới phát huy thực sự hiệu quả, phục vụ mục tiêu nông thôn đổi mớin