1.1 KHÁI QUÁT SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH Phạm trù tài chính ra đời và tồn tại trong điều kiện nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Khi phân công lao động xã hội phát triển, chế độ tư hữu xuất hiện dẫn đến sự ra đời của nề sản xuất dựa trên trao đổi hàng hóa và tiền tệ trở thành một phương tiện không thể thiếu. Sự xuất hiện tiền tệ đã nhanh chóng thúc đẩy các hoạt động giao lưu kinh tế, đồng thời làm nên cuộc cách mạng trong công nghệ phân phối: từ phân phối hiện vật sang phân phối bằng giá trị. Trong nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, sản phẩm sản xuất ra là để bán. Sản phẩm được xem là hàng hóa vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị trao đổi. Khi hàng hóa thực hiện giá trị phải gắn liền với sự vận động của tiền tệ đồng thời phát sinh thu nhập cho người cung cấp hàng hóa. Các khoản thu nhập này trải qua quá trình phân phối, tạo ra nguồn tài chính hay quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế. Đây là cơ sở nảy sinh phạm trù tài chính. Tài chính biểu hiện ra là các phương thức chu chuyển tiền tệ giữa các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ với nhau. Từ đó có các khái niệm về tài chính như tài chính cá nhân, tài chính công ty, tài chính công.
Trang 1Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH
MỤC TIÊU CHƯƠNG:
Mục tiêu của chương này là nhằm giới thiệu những lý luận chung về tài chính, quá trình hình thành và phát triển, chức năng và vai trò của tài chính trong nền kinh tế và nêu khái quát hệ thống tài chính Sau khi học xong chương này sinh viên sẽ nắm được những kiến thức nền tảng làm cơ sở cho những môn học kế tiếp
1.1 KHÁI QUÁT SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH
- Phạm trù tài chính ra đời và tồn tại trong điều kiện nền kinh tế sản xuất hàng hóa Khi phân công lao động xã hội phát triển, chế độ tư hữu xuất hiện dẫn đến sự ra đời của nề sản xuất dựa trên trao đổi hàng hóa và tiền tệ trở thành một phương tiện không thể thiếu Sự xuất hiện tiền tệ
đã nhanh chóng thúc đẩy các hoạt động giao lưu kinh tế, đồng thời làm nên cuộc cách mạng trong công nghệ phân phối: từ phân phối hiện vật sang phân phối bằng giá trị
- Trong nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, sản phẩm sản xuất ra là để bán Sản phẩm được xem là hàng hóa vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị trao đổi Khi hàng hóa thực hiện giá trị phải gắn liền với sự vận động của tiền tệ đồng thời phát sinh thu nhập cho người cung cấp hàng hóa Các khoản thu nhập này trải qua quá trình phân phối, tạo ra nguồn tài chính hay quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế Đây là cơ sở nảy sinh phạm trù tài chính
- Tài chính biểu hiện ra là các phương thức chu chuyển tiền tệ giữa các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ với nhau Từ đó có các khái niệm về tài chính như tài chính cá nhân, tài chính công ty, tài chính công
1.2 BẢN CHẤT CỦA TÀI CHÍNH
1.2.1 Nguồn tài chính:
Khái niệm: Nguồn tài chính là khái niệm cơ bản trong lĩnh vực tài chính Sự chu chuyển tiền tệ giữa các chủ thể với nhau dựa trên quan hệ cung cầu Khối lượng tiền tệ để thực hiệ một giao dịch tài chính được gọi là nguồn tài chính
- Theo nghĩa hẹp: nguồn tài chính là khối lượng tiền tệ có tính lỏng cao được biểu hiện thông qua
các quỹ tiền tệ như:
o Quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước
o Các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp
o Các quỹ tiền tệ của các định chế tài chính
o Các quỹ tiền tệ của các hộ gia đình và các tổ chức xã hội
- Theo nghĩa rộng: ngoài khối tiền có tính lỏng cao, nguồi tài chính còn bao gồm khối tiền có
tính lỏng thấp như:
o Các loại tài sản tài chính hay các loại chứng khoán
Trang 2o Ngoài ra, nguồn tài chính còn bao gồm dạng tài sản như bất động sản, sở hữu trí tuệ và các loại tài sản vô hình khác có khả năng tiền tệ hóa
1.2.2 Bản chất tài chính:
Bản chất tài chính phản ánh các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể với nhau trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính Xét về hiện tượng, tài chính biểu hiện ra là những phương thức hoạt động phát sinh liên quan đến sự chuyển giao tiền tệ giữa các chủ thể kinh tế:
o Các doanh nghiệp nộp thuế cho chính phủ
o Chính phủ phát hành trái phiếu huy động vốn
o Các cá nhân gửi tiền vào các định chế tài chính
o Các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh …
Bản chất của tài chính phản ánh ràng buộc về quan hệ kinh tế giữa các chủ thể với nhau trong quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tài chính Trong phạm trù tài chính tiền xuất hiện với
tư cách là phương tiện để thực hiện phân phối vốn hoặc thu nhập của các chủ thể kinh tế dưới hình thức giá trị
1.3 CHỨC NĂNG CỦA TÀI CHÍNH:
1.3.1 Huy động nguồn tài chính:
Chức năng huy động tài chính, hay còn gọi là chức năng huy động vốn, thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn tài chính nhằm tạo lập nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển của nền
kinh tế Chức năng huy động vốn thực hiện trên cơ sở tương tác giữa các yếu tố:
o Chủ thể cần vốn
o Các nhà đầu tư
o Hệ thống tài chính gồm thị trường tài chính và các định chế tài chính
o Môi trường tài chính và kinh tế
Thực hiện chức năng này yêu cầu các chủ thể phải thiết lập chính sách huy động vốn có hiệu quả dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố như tính toán nhu cầu, quy mô huy động, lựa chọn các công
cụ tài chính và đòn bẩy tài chính kinh tế trong huy động vốn Các yêu cầu đặt ra cho chính sách huy động vốn là:
o Về thời gian
o Về kinh tế
o Về mặt pháp lý
1.3.2 Phân bổ nguồn tài chính:
Chức năng phân bổ hay còn gọi là chức năng phân phối nguồn tài chính biểu hiện thông qua thiết lập sử dụng nguồn lực sẵn có để đạt được các mục tiêu phát triển trong ngắn hạn và dài hạn của các chủ thể kinh tế - xã hội Qua chức năng phân bổ nguồn lực, các quỹ tiền tệ chuyên
Trang 3dung được hình thành với những quy mô nhất định tương ứng với nhu cầu chi tiêu của các chủ thể
Trong phân bổ nguồn lực, bài toán đặt ra là các chủ thể cần giải quyết là nguồn lực bị giới hạn trong khi nhu cầu đặt ra cho phát triển là vô hạn Do vậy khi thực hiện phân bổ nguồn lực các chủ thể xây dựng chiến lược phân bổ hiệu quả:
Sơ đồ 1-1: Quy trình chiến lƣợc phân bổ nguồn lực tài chính
Vị trí ở hiện tại: tức là phải tiến hành xem xét và đánh giá môi trường kinh tế - xã hội, doanh nghiệp có những nguồn lực gì, môi trường thế nào, những cơ hội và thách thức, cũng như những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp trong nền kinh tế
Mục tiêu phát triển: với tình trạng hiện có của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần phải đề ra những mục tiêu phát triển có quy mô chiến lược đáp ứng được các mặt như quản lý, nguồn nhân lực, tăng trưởng bền vững
Cách thức để đạt mục tiêu phát triển chiến lược: tức là phải biến từ chiến lược thành hành động bằng cách lên các kế hoạch và thực hiện lập ngân sách, từ đó tổ chức thực hiện chiến lược một cách có quy mô để có thể đạt được những mục tiêu đề ra
1.3.3 Kiểm tra tài chính
Kiểm tra tài chính phản ánh hoạt động thu thập và đánh giá những bằng chứng về thông tin liên quan đến quá trình huy động và phân bổ các nguồn tài chính với mục đích đảm bảo tính đúng đắn, tính hiệu quả và hiệu lực của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ hay nói một cách khác
là việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập các quỹ tiền tệ hay sử dụng chúng theo các mục đích đã định
Vị trí ở hiện tại
Tổ chức thực
hiện
Mục tiêu phát triển
Các bước đạt được mục tiêu
CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ THEO MỤC
Trang 4Kiểm tra tài chính thể hiện dưới các loại hình sau:
o Thanh tra tài chính
o Kiểm toán nội bộ
o Kiểm toán nhà nước
Kiểm tra tài chính được thực hiện dựa trên sự kết hợp các yếu tố sau:
o Chủ thể kiểm tra
o Đối tượng kiểm tra
o Cơ sở kiểm tra
o Phương pháp kiểm tra
Đặc điểm kiểm tra tài chính:
o Kiểm tra tài chính được thực hiện thông qua các chỉ tiêu tài chính
o Kiểm tra tài chính được thực hiện thường xuyên
1.4 HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
1.4.1 Cơ cấu tài chính:
Hệ thống tài chính là một hệ thống gồm có thị trường và các chủ thể tài chính thực hiện chức năng gắn kết cung – cầu về vốn lại với nhau Cơ cấu hệ thống tài chính gồm:
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
vốn
n
vốn vốn
Trang 5Chức năng cơ bản của hệ thống tài chính là tạo ra kênh chuyển tải vốn từ người thừa vốn đến người cần vốn Các chủ thể thừa vốn có cơ hội để chia sẻ nguồn tài chính của mình để kiếm thêm lợi nhuận trong khi đó những người thiếu vốn sẽ có cơ hội để tiếp cận nguồn vốn để phục vụ cho nhu cầu của mình
1.4.2 Đặc điểm các bộ phận của hệ thống tài chính
a Thị trường tài chính:
Thị trường tài chính là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn, diễn ra dưới hình thức vay mượn, mua bán về vốn, tiền tệ và các chứng từ có giá nhằm chuyển dịch từ nơi thừa đến nơi
có nhu cầu về vốn cho các hoạt động kinh tế, bao gồm:
Thị trường tiền tệ: là nơi các công cụ nợ ngắn hạn được mua bán với số lượng lớn Các công cụ nợ ngắn hạn lưu hành trên thị trường tiền tệ do nhà nước, các ngân hàng, các công ty lớn phát hành, có đặc điểm là tính thanh khoản cao và rủi ro không thanh toán thấp Các công cụ nợ của thị trường tiền tệ bao gồm: giấy tờ có giá ngắn hạn như thương phiếu, kỳ phiếu thương mại, tín phiếu kho bạc, các cam kết mua lại, các loại chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng… Thị trường vốn: là nơi các công cụ vốn, công cụ nợ trung và dài hạn (do các chính quyền trung ương, chính quyền địa phương, các công ty cổ phần, doanh nghiệp phát hành) được trao đổi mua bán, chuyển nhượng theo quy định của pháp luật Cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn
b Các chủ thể tài chính
Các chủ thể tài chính bao gồm các thể nhân và pháp nhân tài chính ở khu vực công và khu vực tư hoạt động theo những nguyên tắc hay cơ chế nhất định Trong nền kinh tế thị trường, cấu thành các chủ thể tài chính tương ứng với từng khu vực hình thành nên các khâu tài chính như: tài chính công, tài chính doanh nghiệp, định chế tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình
- Tài chính công:
Tài chính công được đặc trưng bằng các quỹ tiền tệ của các định chế thuộc khu vực công gắn liền với việc thực hiện các chức năng của nhà nước Các tổ chức tài chính công bao gồm các đơn
vị thuộc hệ thống cơ quan công quyền, các đơn vị cung cấp dịch vụ công
- Tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp được đặc trưng bằng các loại vốn hay các quỹ tiền tệ phục vụ cho hoạt động đầu tư của các công ty, các đơn vị kinh tế trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ
- Các định chế tài chính
Các định chế tài chính là những định chế thực hiện chức năng cơ bản chu chuyển nguồn vốn từ các chủ thể tiết kiệm (thừa vốn) đến các chủ thể cần vốn Khi nhấn mạnh chức năng trung gian chu chuyển vốn, các nhà kinh tế thường gọi các định chế tài chính là các trung gian tài chính
Trang 6(Financial Intermediaries) Các định chế tài chính gồm: các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, công ty tài chính
- Tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình
Theo nghĩa rộng, tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình là một định chế tài chính vốn quan trọng trong hệ thống tài chính Đặc trưng cho bộ phận hoạt động tài chính này là sự tồn tại của các quỹ tiền tệ được sở hữu bởi cá nhân hoặc hộ gia đình Nguồn hình thành quỹ tiền tệ của cá nhân hoặc
hộ gia đình bao gồm thu nhập từ lao động, thu nhập từ góp vốn đầu tư cho kinh doanh và từ đầu
tư tài chính, thu nhập từ tài sản thừa kế và quà tặng
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1:
1 Trình bày sự ra đời và phát triển của tài chính
2 Nêu bản chất và chức năng tài chính
3 Trình bày hệ thống tài chính
Trang 7Chương 2: ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TỆ
MỤC TIÊU CHƯƠNG
Mục tiêu của chương này nhằm giới thiệu những vấn đề cơ bản về tiền tệ, bao gồm vai trò và chức năng của tiền tệ, các hình thái tiền tệ Sau khi học xong chương này, sinh viên sẽ hiểu được vai trò và chức năng của tiền tệ, và hiểu được tầm quan trọng của tiền trong nền kinh tế
1.1 LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ:
1.1.1 Khái quát sự ra đời và phát triển của tiền tệ:
Theo K.Marx, sự ra đời của tiền tệ chính là sự phát triển của các hình thái biểu hiện giá trị trong trao đổi hàng hóa
- Hình thái giản đơn (ngẫu nhiên)
Đây là hình thái giản đơn, ngẫu nhiên của giá trị Giá trị của hàng hóa chỉ có thể biểu hiện thông qua duy nhất một hàng hóa khác mà thôi, trực tiếp hàng đổi hàng, tỷ lệ trao đổi được hình thành ngẫu nhiên
x hhA = y hhB
Ví dụ: 1 con gà = 1 mét vải Mét vải ở đây đóng vai trò vật ngang giá
- Hình thái giá trị đầy đủ (mở rộng)
Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, sau phân công lao động xã hội lần thứ nhất, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một hàng hoá này có thể quan hệ với nhiều hàng hoá khác Tương ứng với giai đoạn này là hình thái đầy đủ hay mở rộng
Gía trị của một hàng hóa được biểu hiện ở nhiều hàng hóa khác nhau
Trang 8Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, quan hệ trao đổi trở thành quá trình đều đặn, phức tạp hơn,người có vải muốn đổi thóc, nhưng người có thóc lại không cần vải mà lại cần thứ khác Vì thế việc trao đổi trực tiếp đã không còn phù hợp với nhu cầu.Trước tình hình đó, người ta phải đi đường vòng, mang hàng hóa của mình để đổi lấy thứ hàng hóa mà nó được nhiều người ưa chuộng, rồi đem đổi lấy thứ hàng hóa mà mình cần Trao đổi trực tiếp hàng – hàng không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phải thay thế bằng hình thức trao đổi hoàn thiện hơn: trao đổi gián tiếp thông qua hàng hóa trung gian Khi vật trung gian trao đổi được cố định lại ở thứ hàng hóa được nhiều người ưa chuộng thì hình thái chung của giá trị xuất hiện
Ở đây, tất cả các hàng hoá đều biểu hiện giá trị của mình ở cùng một thứ hàng hoá đóng vai trò
là vật ngang giá chung Tuy nhiên, vật ngang giá chung chưa ổn định ở một thứ hàng hoá nào Các địa phương khác nhau thì hàng hoá dùng làm vật ngang giá chung cũng khác nhau
- Hình thái tiền tệ:
Sự phát triển của sản xuất và phân công lao động xã hội đã dẫn đến quan hệ trao đổi mở rộng hơn.Tình trạng có nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn, do đó đòi hỏi khách quan phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật độc tôn và phổ biến thì xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị
Trang 91.1.2 Các thời kỳ phát triển của tiền tệ:
a Hóa tệ:
- Tiền được biểu hiện bằng hàng hóa, đây chính là hình thái đầu tiên của tiền tệ và được dùng
trong một thời gian dài Hàng hóa có giá trị sử dụng chung cho nhiều người, mang tính phổ biến, đặc trưng cho địa phương
Ví dụ: Ở Bắc nước Anh, lừa được xem như hàng hóa để trao đổi, ở Ấn độ là bò, ở Trung Quốc là lụa
Hóa tệ lần lượt xuất hiện dưới hai dạng: hóa tệ kim loại và hóa tệ phi kim loại
Hóa tệ là kim loại:
Là việc lấy kim loại làm tiền tệ Các kim loại được dùng để đúc thành tiền là vàng bạc, đồng Kim loại có nhiều ưu điểm hơn hàng hóa không phải kim loại khi sử dụng làm đơn vị tiền tệ như phẩm chất, có thể xác định chính xác, tồn tại lâu & không dễ hư hại, dễ vận chuyển & chia nhỏ, với một lượng và thể tích nhỏ nhưng chứa đựng một lượng giá trị lớn,có giá trị thực nhiều Trong giai đoạn đầu, tiền vàng thường tồn tại dưới dạng nén, thỏi Nhưng về sau để tiện cho việc trao đổi, tiền vàng thường được đúc thành những đồng xu với khối lượng và độ tinh khiết nhất
định Loại tiền này vì thế mà còn được gọi là tiền đúc Tuy nhiên tiền bằng kim loại cũng có một
số nhược điểm như không dễ & tốn kém vận chuyển cho những giao dịch lớn, chi phí in tiền càng cao,lãng phí nguồn tài nguyên vốn đã có hạn
Hóa tệ phi kim loại
Đây là hình thái cổ xưa của tiền tệ, tùy theo từng địa phương, người ta dủng những hàng hóa khác nhau để làm tiền tệ Việc từng dùng hàng hóa làm tiền tệ do thói quen địa phương Tuy nhiên hóa tệ phi kim loại có nhiều bất lợi khi đóng vai trò tiền tệ như tính không đồng nhất, không dễ dàng vận chuyển, không dễ chia nhỏ, không tồn tại được lâu, và chỉ được công nhận trong từng khu vực địa phương
b Tiền giấy
Xuất hiện đầu tiên dưới dạng các giấy chứng nhận có khả năng đổi ra bạc hoặc vàng do các
NHTM phát hành Đây là các cam kết cho phép người nắm giữ giấy này có thể đến ngân hàng
rút ra số lượng vàng hay bạc ghi trên giấy Do có thể đổi ngược ra vàng và bạc nên các giấy chứng nhận này cũng được sử dụng trong thanh toán như vàng và bạc Sự ra đời những giấy chứng nhận như vậy đã giúp cho việc giao dịch với những khoản tiền lớn cũng như việc vận chuyển chúng trở nên thuận lợi hơn rất nhiều
Tiền giấy ra đời sớm nhất ở Trung Hoa Thời đó các nhà buôn tổ chức thành hội gọi là“ hội phi tiền” nhằm sử dụng tiền giấy để di chuyển từ nơi này sang nơi khác mà không phải dùng tiền vàng để tránh cướp bóc xảy ra dọc đường Đầu tiên những thành viên của hội ký gửi một số vàng vào hội Hội nhận số vàng này và cấp lại cho người gửi một thứ giấy gọi là “phi tiền” Người cầm giấy này có thể xuất trình phi tiền ở một chi nhánh khác của hội để đổi lấy vàng khi cần thiết Chính phi tiền là tiền thân của tiền giấy sau này
Trang 10Từ khi ra đời đến nay, tiền giấy nói chung có hai loại: Tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán
Tiền giấy khả hoán:
Là loại tiền có thể đổi ra vàng bất cứ lúc nào và được phát hành trên cơ sở lượng vàng dự trữ, sử dụng trước thế chiến 1 & được thực hiện ở một số quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh
Tiền giấy bất khả hoán:
Là loại tiền do NHTW thống nhất phát hành, được xem là đồng tiền hợp pháp bắt buộc lưu hành
và NN không thực hiện đổi tiền giấy ra vàng và được sử dụng sau thế chiến 1 đến nay Đây là loại tiền mà ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới đang sử dụng Loại tiền giấy bất khả hoán
có ưu điểm như dễ dàng cất trữ & vận chuyển và có đủ mệnh giá từ lớn tới nhỏ phù hợp với các quy mô giao dịch ngoài ra chi phí in tiền nhỏ hơn so với tiền kim loại Tuy nhiên, tiền giấy bất khả hoán cũng có những nhược điểm như chi phí in tiền cao, có thể bị làm giả, và không bền (dễ rách)
c Bút tệ
Là thứ tiền vô hình sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sách kế toán ngân hàng Mọi nghiệp vụ thanh toán tiền bạc giữa người này với người khác được thực hiện bằng cách ghi giảm trong tài khoản của người phải trả một số tiền để chuyển sang tài khoản của người nhận tiền tại ngân hàng Phương tiện được dùng để thanh toán: Tiền Tín dụng, séc,…
Ngày nay, tiền điện tử được dùng để giao dịch mua bán qua mạng, khiến các giao dịch trở nên dễ dàng và nhanh chóng, do lợi thế khi dùng tiền điện tử nên chúng ta nghĩ rằng nền kinh tế sẽ mau chóng loại bỏ tiền giấy trong nền kinh tế tuy nhiên điều này không thể thực hiện nhanh chóng do cần phải thiết lập hệ thống các máy tính, máy đọc thẻ, mạng truyền thông cần thiết cho tiền điện
tử rất tốn kém, và giao dịch bằng tiền điện tử không cung cấp được chứng từ xác nhận việc thanh toán và đe dọa tính an toàn do ăn trộm tiền qua mạng máy tính
1.2 BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ:
1.2.1 Bản chất của tiền tệ:
Bản chất của tiền tệ được thể hiện dưới dạng giá trị sử dụng của tiền tệ và giá trị của tiền
Trang 11Giá trị sử dụng của tiền tệ: khả năng làm thỏa mãn nhu cầu trao đổi của XH, nhu cầu sử dụng làm vật trung gian trong trao đổi
1.2.2 Chức năng của tiền tệ:
Có 4 chức năng cơ bản:
a Thước đo giá trị:
Ở chức năng này, tiền tệ thực hiện chức năng đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác Giá trị của hàng hóa được biểu hiện bằng tiền tệ gọi là giá cả
Để thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ bản thân nó phải có giá trị Giá trị của tiền
tệ được đặc trưng bởi khái niệm sức mua tiền tệ, tức là khả năng trao đổi của đồng tiền Để tiện cho việc đo lường giá trị của hàng hoá, cần có một đơn vị tiền tệ chuẩn Đơn vị tiền tệ lúc đầu do dân chúng lựa chọn một cách tự phát, sau đó do chính quyền lựa chọn và qui định trong luật pháp từng nước
Việc đưa tiền tệ vào để đo giá trị của hàng hoá làm cho việc tính toán giá hàng hoá trong trao đổi trở nên đơn giản hơn nhiều so với khi chưa có tiền Thêm nữa, nhờ có chức năng này, mọi hình thức giá trị dù tồn tại dưới dạng nào đi nữa cũng có thể dùng tiền tệ để định lượng một cách cụ thể
b Phương tiện lưu thông
Làm môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa, phục vụ cho sự chuyển dịch quyền sở hữu từ chủ thể này sang chủ thể khác Biểu hiện qua công thức: „H-T-H‟
Chỉ sau khi giá cả hàng hóa được biểu hiện thành tiền mặt của người mua trao cho người bán thì hàng hóa mới từ tay người bán chuyển sang người mua, lúc đó tiền tệ mới hoàn thành chức năng phương tiện lưu thông và mới thực hiện đầy đủ vai trò vật ngang giá chung Việc trao đổi hàng hóa chỉ xảy ra và được thực hiện sau khi tiền tệ đã hoàn thành cùng một thời điểm hai chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông
Sự tham gia của tiền tệ vào quá trình trao đổi hàng hóa đã tiến bộ hơn hẳn so với trao đổi hàng hóa trực tiếp(H-H) Việc sử dụng tiền làm phương tiện trung gian trong trao đổi hàng hóa làm nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn , hiệu quả hơn, tiết kiệm được các khoản chi phí giao dịch , tiết kiệm được thời gian do không phải tìm những người trùng hợp về nhu cầu trao đổi Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền tệ chỉ đóng vai trò môi giới giúp cho việc trao đổi thực hiện được dễ dàng do vậy tiền chỉ xuất hiện thoáng qua trong trao đổi mà thôi (người ta bán hàng hoá của mình lấy tiền rồi dùng nó để mua những hàng hoá mình cần) Tiền tệ được xem là phương tiện chứ không phải là mục đích của trao đổi
c Phương tiện cất giữ
Biểu hiện khi tiền tệ tạm thời trở về trạng thái nằm im để dự trữ, thực hiện chức năng trao đổi trong tương lai Khi tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng tiền tệ làm phương tiện trao đổi và thanh toán, nó được cất trữ lại để dành cho những nhu cầu giao dịch trong tương lai Khi đó, tiền có tác dụng như một nơi chứa giá trị, nơi chứa sức mua hàng qua thời gian
Khi cất trữ, điều đặc biệt quan trọng là tiền tệ phải giữ nguyên giá trị hay sức mua hàng
Trang 12Tiền không phải là nơi cất trữ giá trị duy nhất mà là các tài sản khác cũng là nơi chứa giá trị như
cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, kim loại quý….nhưng tiền là tài sản có tính lỏng cao nhất, bởi
nó là phương tiện trao đổi trung gian, nó không phải chuyển đổi thành bất kỳ cái gì khác
b Phương tiện thanh toán
Biểu hiện khi tiền tệ được sử dụng để giảm trừ các khoản nợ trong quan hệ mua bán các hàng hóa, dịch vụ đã trao đổi trước đây, Khi chức năng phương tiện thanh toán được thực hiện xong thì quan hệ trao đổi cũng kết thúc
Thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền không chỉ được sử dụng để thanh toán các khoản nợ về mua chịu các hàng hóa mà chúng còn được sử dụng để thanh toán các khoản vượt ra bên ngoài phạm vi trao đổi hàng hóa như: nộp thuế, trả lương, các khoản đóng góp và chi phí dịch vụ…
c Phương tiện trao đổi quốc tế và tiền tệ thế giới
Biểu hiện khi tiền tệ đóng vai trò là vật ngang giá chung, thực hiện các chức năng của nó trên phạm vi thế giới Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế, chính trị và ngoại giao giữa các quốc gia, quan hệ tiền tệ quốc tệ cũng ngày càng được mở rộng và tăng cường
Nhưng do mỗi quốc gia đều sử dụng đồng tiền riêng cho nên những khoản giao dịch bằng tiền giữa hai nước đều phải tiến hành so sánh giá trị giữa hai đồng tiên Đó chính là quan hệ tỉ giá, khi đã có tỉ giá giữa các đồng tiền thì mọi giao dịch quốc tế đều có diễn ra một cách bình thường và thuận lợi
Như vậy, ở đây tiền đã được thực hiện với chức năng phương tiện trao đổi quốc tế Tùy theo tính chất mạnh hay yếu mà các đồng tiền tham gia vào quá trình trao đổi quốc tế với mức độ khác nhau
1.3 CÁC CHẾ ĐỘ TIỀN TỆ:
1.3.1 Khái niệm và các yếu tố cấu thành chế độ tiền tệ
Khái niệm:
Là hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ của một quốc gia đã được quy định thành luật pháp
Các yếu tố cấu thành chế độ tiền tệ;
- Bản vị tiền tệ: là cơ sở đánh giá đồng tiền quốc gia, là tiêu chuẩn chung mà mỗi nước chọn
làm cơ sở cho chế độ tiền tệ của mình
- Đơn vị tiền tệ: Mỗi quốc gia đều có đơn vị tiền tệ riêng của mình và được quy định bằng pháp
luật Đơn vị tiền tệ của Việt nam là “đồng”, ký hiệu quốc tế là “VND”; đơn vị tiền tệ của Mỹ là
“đô la”, ký hiệu quốc tế là “USD”, đơn vị tiền tệ của Nhật là “yên”, ký hiệu quốc tế là “JPY”,…
- Công cụ trao đổi: tức là những công cụ được sử dụng để thực hiện mua bán hàng hóa, dịch vụ,
thanh toán các khoản nợ như tiền giấy, tiến cắc, tiền điện tử,…
Trang 13Nói chung, trong chế độ tiền tệ, yếu tố thường thay đổi là bản vị tiền tệ
Trên thực tế, chế độ song bản vị lại được chia làm hai loại:
Tiền vàng được đúc tự do theo tiêu chuẩn giá cả mà nhà nước quy định
Các loại tiền dấu hiệu giá trị lưu hành song song với vàng được phép tự do chuyển đổi ra tiền vàng theo giá trị danh nghĩa Điều này làm cho dấu hiệu giá trị không bị mất giá trong quan hệ với vàng đồng thời hạn chế khả năng lạm phát tiền dấu hiệu
Vàng được tự do lưu thông giữa các nước nghĩa là nhà nước không thực hiện chế độ quản chế vàng
Chế độ bản vị vàng là chế độ lưu thông ổn định nhất trong lịch sử sản xuất và trao đổi hàng hóa
vì lưu thông tiền vàng không xảy ra lạm phát Nhưng lưu thông vàng cũng bộc lộ nhược điểm đó là:
- Lưu thông vàng dẫn đến lãng phí của cải xã hội, vì vàng hao mòn nhiều trong lưu thông
- Thị trường sẽ thiếu phương tiện lưu thông do không đủ vàng để đúc tiền, khi lưu thông hàng hóa và dịch vụ ngày cảng mở rộng
b Chế độ lưu thông tiền giấy
- Nguyên nhân ra đời và bản chất tiền giấy:
Khi tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi, nó chỉ là trung gian thanh toán không phải
là mục đích của người bán hàng Do đó, người ta không quan tâm đến hình thức tồn tại là tiền đủ
Trang 14giá hay tiền đã hao mòn Vì vậy, ngay trong chức năng phương tiện trao đổi đã tạo khả năng cho
sự ra đời tiền giấy có thể thay đổi tiền đủ giá
- Bản chất tiền giấy:
Là dạng tiền dấu hiệu, thay thế cho tiền đủ giá khi thực hiện chức năng trao đổi
Chỉ mang giá trị danh nghĩa, giá trị nội tại của nó thường không đáng kể so với mệnh giá
Tiền giấy không phải do có giá trị mới lưu thông mà chính nhờ lưu thông mà nó có giá trị
- Giá trị tiền giấy và quy luật lưu thông tiền giấy:
Giá trị đại diện danh nghĩa của một đơn vị tiền giấy là con số được ghi trên tờ giấy bạc hay mệnh giá của đồng tiền
- Quy luật lưu thông tiền giấy “ Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số lượng vàng ( hay bạc) do tiền đó tượng trưng mà lẽ ra phải lưu thông thật sự”
CÂU HỎI CHƯƠNG 2:
1 Tiền tệ có những chức năng gì? Chức năng nào là cơ bản và quan trọng nhất? Vì sao?
2 Các chức năng của tiền được vận dụng như thế nào trong hoạt động thực tiễn? Hãy cho biết suy nghĩ của bạn về tiền như thế nào?
3 Chứng minh tiền tệ ra đời gắn liền với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa
4 Một số người cho rằng trong tương lai củng với sự phát triển của tiền điện tử sẽ tiến tới một
xã hội không còn tiền mặt Hãy cho biết ý kiến về vấn đề này
Trang 15Chương 3: TÍN DỤNG VÀ LÃI SUẤT
MỤC TIÊU CHƯƠNG:
Cung cấp cho sinh viên những vấn đề căn bản về tín dụng bao gồm sự ra đời và phát triển của tín dụng, bản chất, chức năng, và các hình thức tín dụng Về khía cạnh lãi suất, sinh viên sẽ nắm được thế nào là lãi đơn, lãi kép, các loại lãi suất trong nền kinh tế cũng như cách tính toán của các loại này
1.1 CƠ SỞ RA ĐỜI CỦA TÍN DỤNG:
Phân công lao động xã hội và sự xuất hiện của quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là cơ
sở ra đời quan hệ tín dụng
Vào hậu thời công xã nguyên thủy, xã hội có những chuyển biến sâu sắc, những thay đổi trong các quan hệ kinh tế xã hội do kết quả của sự phát triển loài người qua lao động đã dẫn đến sự ra đời của chế độ tư hữu
Xét về mặt xã hội, sự xuất hiện chế độ sở hữu về TLSX là cơ sở hình thành sự phân hóa xã hội: của cải, tiền tệ có xu hướng tập trung vào một nhóm người, những người này trở nên giàu có và chiếm giữ những đặc quyền đặc lợi của xã hội trong khi đó một nhóm người khác có thu nhập thấp hoặc thu nhập không đáp ứng nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, đặc biệt khi gặp những biến
cố rủi ro bất thường xảy ra Trong điều kiện như vậy đòi hỏi phải có sự ra đời của quan hệ tín dụng để giải quyết nhu cầu mâu thuẫn nội tại của xã hội, thực hiện việc điều hòa nhu cầu vốn tạm thời của cuộc sống Như vậy có thể kết luận, cơ sở lý luận ra đời của tín dụng là sự ra đời và tồn tại của các quan hệ kinh tế tư hữu, gắn với diễn biến của quá trình phân công lao động xã hội, tín dụng góp phần thực hiện phân bổ điều tiết sử dụng nguồn lực của cải xã hội hiệu quả hơn
1.1.1Khái niệm và bản chất tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời gian nhất định và với một khoản chi phí nhất định.Nói một cách khác, những người có nguồn vốn nhàn rỗi (người cho vay) trên sở tín nhiệm (người đi vay) sẽ chuyển giao quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một khoản thời gian nhất định, không chuyển giao quyền sở hữu vốn Người đi vay khi hết thời hạn vay phải có trách nhiệm hoàn trả lượng giá trị vốn gốc ban đầu và phần giá trị tăng thêm dưới dạng lợi tức tín dùng ( đã được thỏa thuận giữa bên cho vay và bên đi vay)
Quan hệ tín dụng được biểu hiện qua các phương thức rất đa đạng và phong phú nhưng nó vẫn mang đặc trưng cơ bản sau:
- Chỉ làm thay đổi quyền sử dụng, không làm thay đổi quyền sử dụng vốn
- Qúa trình chuyển giao vốn phải có thời hạn và thời hạn này được xác định dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên tham gia quan hệ tín dụng
- Chủ sở hữu vốn được nhận lại một phần thu nhập dưới dạng lợi tức tín dụng
Trang 16Trong quan hệ tín dụng phải thể hiện đầy đủ ba đặc trưng trên, nếu thiếu một trong những đặc trưng này thì sẽ không cấu thành quan hệ tín dụng Điều này có thể là một trong những trường hợp sau: nếu thiếu đặc trưng thứ ba thì trở thành quan hệ mượn, vì không có yếu tố chi phí người
đi vay phải trả cho người cho vay và là khoản thu nhập lợi tức người cho vay được nhận; nếu thiếu đặc trưng thứ hai và thứ ba thì đây là quan hệ biếu tặng, cho luôn, còn nếu thiếu cả ba đặc trưng thì không có quan hệ kinh tế xảy ra vì không có sự chuyển giao vốn
1.1.2 Chức năng của tín dụng:
a Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả
Chức năng này phản ánh sự vận động của vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn, nói một cách khác tín dụng trở thành cầu nối giữa cung – cầu vốn trong nền kinh tế.Người thiếu vốn có thể nhận được vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh và người thừa vốn có cơ hội kiếm thêm lợi nhuận
Tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay nhờ đó điều hòa vốn tín dụng từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Sự điều hòa mang tính chất tạm thời và phải trả lãi
Việc phân phối lại vốn tiền tệ dưới hình thức tín dụng được thực hiện bằng hai cách: Phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp
Phân phối trực tiếp là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng sang chủ thể
trực tiếp sử dụng vốn đó cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và việc phát hành trái phiếu của các công ty
Phân phối gián tiếp là việc phân phối vốn được thực hiện thông qua các tổ chức tài chính trung
gian như, ngân hàng, công ty tài chính
b Chức năng tiết kiệm tiền mặt
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và phát triển đa dạng, từ đó
đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế Điều này sẽ làm giảm được khối lượng giấy bạc trong lưu thông, làm giảm được chi phí lưu thông giấy bạc ngân hàng, đồng thời cho phép nhà nước điều tiết một cách linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển
c Chức năng giám đốc các hoạt động của nền kinh tế
Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ yêu cầu tái sản xuất, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế, do đó, tín dụng còn được coi là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước
để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế Chức năng giám đốc kiểm soát thể hiện rõ ở việc kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay của chủ thể đi vay và chủ thể cho vay nhằm đảm bảo an toàn vốn và đạt được hiệu quả cao nhất khi thực hiện quan hệ tín dụng
Trang 17Mặt khác, trong khi thực hiện chức năng tiết kiệm tiền mặt, gắn liền với việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, tín dụng có thể phản ánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế
1.1.3 Vai trò của tín dụng:
Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường
Thứ nhất Tín dụng là điều kiện đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục
Trong một thời điểm trong nền kinh tế luôn tồn tại hai nhóm doanh nghiệp: Một nhóm “ tạm thời thừa vốn” và muốn sử dụng số vốn nhàn rỗi này để kiếm lời trong một thời gian nhất định Một nhóm “tạm thời thiếu vốn” và muốn tìm kiếm nguồn vốn nhàn rỗi khác để đáp ứng nhu cầu hiện tại Nhờ hoạt động tín dụng mà cả hai nhóm doanh nghiệp đều được thoả mãn về vốn và dẫn đến quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thương xuyên, liên tục, nguồn vốn được sử dụng một cách tối đa
Thứ hai Tín dụng huy động, tập trung vốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế cũng cần phải có một nguồn vốn đầu tư lớn
để đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, chiến thắng trong cạnh tranh Nhưng để có lượng vốn đầu lớn như vậy thì chỉ có quan hệ tín dụng với đáp ứng được điều đó bởi quan hệ tín dụng sẽ tập trung huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và đáp ứng nhu cầu đó.Tín dụng giúp các doanh nghiệp rút ngắn thời gian tích lũy vốn, nhanh chóng mở rộng đầu tư sản xuất vừa góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích lũy vốn cho nền kinh tế
Tín dụng còn là công cụ tài trợ cho các ngành kém phát triển, các ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Sự phát triển đồng đều của các ngành kinh tế trong đó
có các ngành kinh tế trong điểm, mũi nhọn phát triển mạnh tạo động lực lôi cuốn các ngành kinh
Thứ tư Là công cụ kết nối nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế cộng đồng thế giới, góp phần phát triển mối quan hệ đối ngoại
Trang 18Sự phát triển của tín dụng không những trong phạm vi một nước mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế, nhờ đó thúc đẩy, mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm giúp đỡ và giải quyết các nhu cầu lẫn nhau trong quá trình phát triển đi lên của mỗi nước, làm cho các nước
có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng phát triển
1.1.4 Các hình thức tín dụng trong nền kinh tế thị trường
a.Tín dụng thương mại:
Khái niệm tín dụng thương mại:
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất - kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán, bán chịu hàng hóa Hành vi mua bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định, và khi đến thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu Như vậy, tín dụng thương mại góp phần giải quyết nhanh hàng hóa cho người bán, giảm được những khoản chi phí không cần thiết; đồng thời nó góp phần giúp cho các doanh nghiệp khai thác được vốn phục vụ cho mục đích duy trì và
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
Đặc điểm của tín dụng thương mại
- Tín dụng thương mại vốn cho vay dưới dạng hàng hóa hay một bộ phận của vốn sản xuất chuẩn bị chuyển hóa thành tiền, chưa phải là tiền nhàn rỗi
- Người cho vay (chủ nợ) và người đi vay (con nợ) đều là những doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Khối lượng tín dụng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tổng giá trị của khối lượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu
Công cụ lưu thông của tín dụng thương mại
- Thương phiếu
Cơ sở pháp lý xác định quan hệ nợ nần của tín dụng thương mại là giấy nhận nợ, được gọi là kỳ phiếu thương mại hay gọi tắt là thương phiếu Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định
Đặc điểm của thương phiếu
- Thương phiếu mang tính trừu tượng: Biểu hiện qua đặc điểm là trên thương phiếu không ghi
rõ nguyên nhân, nội dung kinh tế nào dẫn đến phát sinh quan hệ tín dụng và sự ra đời của thương phiếu, mà chỉ thể hiện các yếu tố sau: số tiền nợ, tên người nhận nợ, thời gian và địa điểm thanh toán
- Thương phiếu mang tính bắt buộc: Trên thương phiếu có ghi dòng chữ: “Lệnh trả tiền vô điều kiện “Khi tới hạn thanh toán người nhận nợ trên kỳ phiếu phải thanh toán số nợ mà không hiện bất cứ lý do nào để trì hoãn nợ; điều này được pháp luật bảo hộ
- Thương phiếu mang tính lưu thông Trong thời gian thương phiếu còn hiệu lực, nó có thể được sử dụng như một phương tiện thanh toán thông qua việc chuyển giao quyền sở hữu thương
Trang 19phiếu từ người này sang người khác bằng thủ tục ký hậu chuyển nhượng vào tờ kỳ phiếu Mỗi lần chuyển nhượng là một khoản nợ được thanh toán
Phân loại thương phiếu
Dựa trên cơ sở người lập:
- Thương phiếu do người mua chịu lập ra gọi là lệnh phiếu;
- Thương phiếu do người bán chịu lập ra gọi là hối phiếu
Dựa trên phương thức ký chuyển nhượng:
- Thương phiếu vô danh: Là thương phiếu không ghi tên người thụ hưởng, loại này khi chuyển
nhượng không cần phải làm thủ tục ký hậu chuyển nhượng Ai cầm thương phiếu một cách hợp pháp là người thụ hưởng
- Thương phiếu đích danh: Là loại thương phiếu có ghi tên người thụ hưởng Đối với loại này
người thụ hưởng không được phép chuyển nhượng vì người mắc nợ chỉ đồng ý thanh toán cho chính người có tên trên kỳ phiếu
- Thương phiếu ký danh: Là thương phiếu có ghi tên người thụ hưởng Là người sở hữu thương
phiếu, người thụ hưởng có thể chuyển nhượng nó cho người khác, nhưng khi chuyển giao kỳ phiếu phải làm thủ tục ký hậu nhằm thiết lập quyền sở hữu hợp pháp cho người cầm tờ thương phiếu
Ưu, nhược điểm của tín dụng thương mại
Ưu điểm của tín dụng thương mại
- Tín dụng thương mại góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, làm cho chu kỳ sản xuất rút ngắn lại;
- Tín dụng thương mại tham gia vào quá trình điều tiết vốn giữa các doanh nghiệp một cách trực tiếp mà không thông qua bất kỳ cơ quan trung gian nào;
- Tín dụng thương mại góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, làm giảm chi phí lưu thông xã hội
Nhược điểm của tín dụng thương mại
- Về quy mô: lượng giá trị cho vay bị hạn chế, chỉ giới hạn trong khả năng vốn hàng hoá mà họ
có
- Về thời gian: ngắn thường là dưới 1 năm;
- Về điều kiện kinh doanh, chu kỳ sản xuất: Thời gian doanh nghiệp muốn bán chịu không phù
hợp với nhu cầu của doanh nghiệp cần mua chịu thì tín dụng thương mại cũng không xảy ra
- Về phạm vi: bị hạn chế chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp với nhau, và phải quen biết và tin tưởng nhau
- Về sự phù hợp: Được cấp dưới hình thức hàng hoá, vì vậy doanh nghiệp bán chịu chỉ có thể
cung cấp cho một số doanh nghiệp nhất định - những doanh nghiệp có nhu cầu đúng thứ hàng hoá đó để phục vụ sản xuất hoặc kinh doanh
b Tín dụng ngân hàng
Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi
Trang 20vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vaycó trách nhiệm hoàn trả
vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng (TCTD) khi đến hạn thanh toán
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức tài chính trung gian , quan
hệ tín dụng ngân hàng được thể hiện qua hai khâu:
Khâu huy động vốn: Ngân hàng là một chủ thể đi vay, huy động khai thác các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng để hình thành nên nguồn vốn cho vay Hoạt động này được thực hiện dưới hình thức ngân hàng huy động tiền gửi từ các cá nhân, doanh nghiệp, vay mượn qua các hợp đồng hoặc dưới hình thức phát hành trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng trên thị trường
Khâu cho vay: Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sẽ thực hiện phân phối cho vay cấp tín dụng lại cho các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế Đối tượng cho vay chủ yếu
là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế với mục đích sử dụng vốn tín dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
- Huy động vốn và cho vay vốn đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ
- Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay;
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa;
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế
Tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ hỗ trợ và bổ sung cho nhau Hoạt động tín dụng thương mại sẽ tạo cơ sở cho việc mở rộng tín dụng ngân hàng thông qua nghiệp vụ chiết khấu, cầm cố hoặc tái chiết khấu Đồng thời hoạt động của tín dụng ngân hàng góp phần khắc phục những hạn chế của tín dụng thương mại, mở rộng cung ứng vốn cho các chủ thể kinh tế, tạo điều kiện cho tín dụng thương mại phát triển
Công cụ lưu thông của tín dụng ngân hàng
- Công cụ lưu thông của tín dụng ngân hàng là kỳ phiếu ngân hàng; là một loại chứng từ có giá của ngân hàng hay là một giấy nhận nợ của ngân hàng phát hành cho các pháp nhân và thể nhân,
nó được lưu hành không thời hạn trên thị trường
- Kỳ phiếu ngân hàng do ngân hàng phát hành dựa trên quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp, cư dân và nhà nước Nó được ra đời trên hai cơ sở bảo đảm bằng vàng và tín dụng Kỳ phiếu ngân hàng còn được gọi là giấy bạc ngân hàng và trở thành tiền tệ
Ưu, nhược điểm của tín dụng ngân hàng
Ưu điểm của tín dụng ngân hàng
- Thời hạn cho vay linh hoạt - ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đáp ứng mọi nhu cầu vay vốn của khách hàng;
- Về khối lượng tín dụng lớn;
- Về phạm vi được mở rộng với mọi ngành, mọi lĩnh vực
Nhược điểm của tín dụng ngân hàng
Trang 21- Tín dụng ngân hàng có độ rủi ro cao - gắn liền với chính ưu điểm do việc ngân hàng có thể cho vay số tiền lớn hơn nhiều so với số vốn tự có, hoặc có sự chuyển đổi thời hạn và phạm vi tín dụng rộng
c Tín dụng nhà nước
Khái niệm tín dụng nhà nước
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội và các cá nhân Tín dụng nhà nước xuất hiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng; nó còn là công cụ để nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và khu vực kinh tế kém phát triển,
và là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý, điều hành vĩ mô Trong tín dụng nhà nước, nhà nước vừa là chủ thể đi vay vừa là chủ thể cho vay nhằm mục đích thực hiện chức năng và nhiệm
vụ kinh tế xã hội của nhà nước Tìn dụng nhà nước do chính phủ giao cho ngành tài chính hoặc kết hợp giữa ngành tài chính và ngành ngân hàng tổ chức thực hiện
Đặc điểm của tín dụng nhà nước
- Chủ thể là nhà nước, các pháp nhân và thể nhân;
- Hình thức đa dạng, phong phú;
- Tín dụng nhà nước chủ yếu là loại hình trực tiếp, không thông qua tổ chức trung gian
Công cụ lưu thông của tín dụng nhà nước
Khi nhà nước vay
- Tín phiếu kho bạc;
- Trái phiếu kho bạc;
- Trái phiếu đầu tư;
Trái phiếu huy động vốn cho từng công trình;
Trái phiếu huy động vốn cho Quỹ hỗ trợ phát triển;
- Công trái;
- Trái phiếu chính phủ quốc tế
Khi nhà nước cho vay
- Cho vay đầu tư;
- Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư;
- Bảo lãnh tín dụng
Ưu, nhược điểm của tín dụng nhà nước
Ưu điểm của tín dụng nhà nước
- Duy trì hoạt động thường ngày của nhà nước; đòn bẩy kinh tế quan trọng để nhà nước điều tiết giữa tích lũy và tiêu dùng
- Góp phần xây dựng cơ sở vật chất hiện đại; điều tiết lưu thông trên thị trường
- Góp phần vào nghĩa vụ quốc tế, vì quan hệ ngày càng phát triển, đôi khi nhà nước không thể
từ chối nghĩa vụ cho vay đối với nước ngoài;
- Kiểm soát quy mô đầu tư, điều tiết cơ cấu đầu tư, bố trí hợp lý cơ cấu ngành nghề, tạo nên một cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các vùng lãnh thổ
Trang 22- Thay đổi một cách thỏa đáng sự phân bổ nguồn lực tài chính trong quá trình điều tiết việc phân phối thu nhập của xã hội
- Tạo điều kiện phát triển tín dụng ngân hàng
Nhược điểm của tín dụng nhà nước
Rủi ro là vỡ nợ của nhà nước, do tính toán kỹ nhu cầu vay và sử dụng vốn vay không hiệu quả;
2 LÃI SUẤT
2.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI LÃI SUẤT:
a Khái niệm lãi suất:
Có thể khái niệm lãi suất là giá cả mà người đi vay phải trả cho việc sử dụng vốn của người cho vay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay
trả cho việc sử dụng tiền mà họ vay từ một người cho vay Cụ thể, lãi suất là phần trăm tiền gốc phải trả cho một số lượng nhất định của thời gian mỗi thời kỳ Ví dụ, một công ty nhỏ vay vốn từ một ngân hàng để mua tài sản mới cho doanh nghiệp của mình, và ngược lại người cho vay nhận được tiền lãi theo lãi suất quy định cho việc trì hoãn sử dụng các khoản tiền và thay vào đó bằng việc cho vay nó cho người vay Lãi suất thường được thể hiện như một tỷ lệ phần trăm của tiền gốc trong một khoảng thời gian một năm
Lãi suất phản ánh giá của việc sử dụng tiền của người khác, nên việc xác định chính xác mức lãi suất phải trả cũng như mức lãi suất được hưởng là một vấn đề quan trọng khi thực hiện việc cấp hay nhận các khoản tín dụng
Ta có công thức:
Lãi suất = (Lợi tức (tiền vay): Số vốn bỏ ra ban đầu) x 100%
b Phân loại lãi suất:
Căn cứ vào giá trị thực của tiền lãi thu đƣợc:
Lãi suất được chia thành 2 loại:
Lãi suất danh nghĩa (nominal interest rate) là lãi suất được tính theo giá trị danh nghĩa, không kể
đến tác động của lạm phát Lãi suất danh nghĩa thường được công bố chính thức trên hợp đồng tín dụng Loại lãi suất này được niêm yết trên báo chí, niêm yết tại các ngân hàng, truyền thông khác
- Lãi suất thực tế (real interest rate) là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi
về lạm phát
Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế có mối liên hệ được thể hiện trong phương trình sau:
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
Vì vậy, lãi suất thực tế còn được định nghĩa là lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát Người ta
có thể tính trước lãi suất thực tế dựa trên lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát dự tính
Nếu gọi i là lãi suất thực, i là lãi suất danh nghĩa và p là lạm phát thì lãi suất thực được tính như sau:
ir = in- p
Để thấy rõ hơn sự khác nhau giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế ta nghiên cứu ví dụ sau: Giả sử, 1 hộ gia đình gởi 1 khoản tiền tiết kiệm $100 vào ngân hàng với kỳ hạn 1 năm và mức
Trang 23tiền lãi là $10 Vào cuối năm số dư của họ là $110 Trong trường hợp này, lãi suất danh nghĩa là 10%./năm Giả sử lạm phát của nền kinh tế là 10%/ năm, như vậy số tiền $110 vào cuối năm chỉ mua được 1 số lượng hàng hóa bằng $100 ở đầu năm Trong trường hợp này, lãi suất thực là bằng 0
Như vậy, có thể nói rằng lãi suất thực tế là chỉ dẫn tốt hơn cho người dân khi quyết định gửi tiền hay vay tiền từ ngân hàng, để đầu tư vào chứng khoán công ty hay mua trái phiếu chính phủ Nếu chỉ nhìn vào lãi suất danh nghĩa có thể có những đánh giá sai về thị trường tín dụng Bởi vì lãi suất danh nghĩa cao không có nghĩa là thị trường tín dụng đang rất căng thẳng do chi phí đi vay quá cao Nếu tỷ lệ lạm phát cao thì chi phí đi vay thực ra rất thấp
Căn cứ vào tính chất của các khoản vay:
Dựa vào tính chất của các khoản vay, có thể chia lãi suất ra thành:
Lãi suất tiền gửi ngân hàng: là loại lãi suất mà các ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào
ngân hàng Lãi suất tiền gửi ngân hàng có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào các loại tiền gửi: không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiết kiệm Trật tự lãi suất tiền gửi được hình thành theo nguyên tắc: lãi suất tiền gửi có kỳ hạn > lãi suất tiền gửi không kỳ hạn
Lãi suất tín dụng ngân hàng: là loại lãi suất mà người vay vốn phải trả cho ngân hàng khi vay
vốn từ ngân hàng Lãi suất tín dụng ngân hàng có nhiều loại tùy theo các loại hình vay: ngắn, dài hạn; (không) có tài sản đảm bảo… về nguyên tắc: lãi suất tín dụng ngân hàng > lãi suất tiền gửi ngân hàng; lãi suất cho vay dài hạn > lãi suất cho vay ngắn hạn; lãi suất cho vay tiêu dùng > lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh
Lãi suất chiết khấu: là lãi suất được các ngân hàng thương mại áp dụng khi cho khách hàng vay
nợ dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá khi chưa đến kỳ hạn thanh toán Lãi suất chiết khấu được tính theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng cho khách vay Vậy, lãi suất chiết khấu là loại lãi suất trả trước mà người đi vay trả cho ngân hàng trước khi sử dụng tiền vay Việc định ra lãi suất tái chiết khấu được coi là một công cụ quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tài chính Thông thường mỗi khi lãi suất tái chiết khấu tăng lên hay giảm xuống, kéo theo nâng hay giảm lãi suất cơ bản
Ví dụ, doanh nghiệp A đến ngân hàng xin chiết khấu 1 thương phiếu có mệnh giá $10.000, lãi suất chiết khấu 10%/ năm, thời hạn 6 tháng Vậy ngân hàng sẽ cho doanh nghiệp vay số tiền: 10.000 – (10.000 x 6%)/12% = $9,500
Và ngân hàng đã thu lãi trước là:
10.000 – 9.500 = $500
Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất được ngân hàng trung ương áp dụng khi cho các ngân hàng
thương mại vay dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá khi chưa đến kỳ hạn thanh toán Lãi suất tái chiết khấu được tính theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi cho các ngân hàng thương mại vay
Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất cho vay giữa các ngân hàng thương mại trên thị trường liên
ngân hàng Lãi suất liên ngân hàng được hình thành theo quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng Lãi suất này chịu sự chi phối bởi lãi suất tái chiết khấu
Lãi suất liên ngân hàng thường được ấn định hàng ngày vào mỗi buổi sáng (còn gọi là lãi suất hàng ngày)
Trang 24Lãi suất cơ bản: là lãi suất được các ngân hàng thương mại sử dụng để xây dựng lãi suất kinh
doanh Mỗi quốc gia có quy định về lãi suất cơ bản khác nhau, nó có thể do Ngân hàng trung ương ấn định (ví dụ ở Nhật: là mức lãi suất cho vay thấp nhất) hoặc có thể do bản thân các ngân hàng tự xác định căn cứ vào tình hình hoạt động cụ thể của ngân hàng mình
2.2 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH LÃI SUẤT:
Do mỗi công cụ nợ có cách tính trả lãi khác nhau, nên nếu có cùng một mức lãi suất thì số tiền cuối cùng mà nhà đầu tư nhận được từ việc đầu tư vào các công nợ cũng sẽ khác Vì thế, cần thiết phải xây dựng các phép đo lãi suất để xác định chính xác giá cả tín dụng, đồng thời giúp cho các nhà đầu tư biết và lựa chọn nên đầu tư vào công cụ nợ nào sẽ có thu nhập tiền lời cao hơn
Theo phương pháp này, cứ mỗi $1 cho vay, thì nhà đầu tư nhận được (I x i) tiền lãi Nếu cho vay
PV đô la thì nhà đầu tư nhận được PV x i Cho đến khi đáo hạn thì nhà đầu tư thu về tiền gốc và lãi: PV + (PV x i) Từ đó có thể khái quát công thức tính lãi đơn như sau: FV = PV (1+ i) Trong
đó PV là tiền gốc ban đầu, i là lãi suất suốt trong kỳ cho vay, FV là tổng số tiền nhà đầu tư nhận được khi đáo hạn
Nếu như i* lãi suất tính theo tháng, thì công thức tính lãi đơn ở trên được viết thành
FV = PV (1+n x i*) Trong đó n là số tháng trong kỳ cho vay
Phương pháp tính lãi đơn thường được áp dụng cho các khoản tín dụng ngắn hạn truyền thống (vay thương mại, tiền gửi tiết kiệm…), cách tính toán đơn giản Tuy nhiên trong trường hợp các khoản tín dụng dài hạn, quy mô lớn, để đảm bảo công bằng, chính xác chi phí sử dụng vốn, cần phải sử dụng phương pháp tính lãi kép
Ví dụ: Một khoản vay 1.000.000 VNĐ hôm nay , người đi vay phải hoàn trả tiền lãi cho người cho vay cuối năm là 1% thì 1% là lãi suất đơn và khoản vay như vậy gọi là vay đơn
Trang 25Cứ như vậy sau n tháng, tổng số tiền thu về sẽ là:
FVn= FVn-1 (1+i) = PV(1+i)n
Theo cách tính lãi kép, tiền lãi của kỳ trước được cộng vào tiền gốc để tính lãi kỳ sau Căn cứ khoa học của phương pháp này là người đi vay bắt đầu từ tháng hai không chỉ sửa dụng tiền gốc ban đầu mà còn là tiền lãi phát sinh của tháng trước Tiền lãi mà người cho vay nhận được bây giờ gồm 2 phần: phần thứ nhất là tiền lãi tính trên tiền gốc ban đầu (cố định); phần thứ hai là tiền lãi tính trên lãi phát sinh ở kỳ trước đó và tăng dần theo các năm Theo đó, số vốn của người cho
vay tăng lên hàng tháng theo cấp số nhân với công bội là (1 + i)
2.2.2 Hiện giá:
Lãi suất hiện giá là lãi suất tính ra giá thành hiện hành theo phương pháp hiện hành hóa, thể hiện chính xác giá thực tế của khoản vay và hiệu suất thực tế của khoản cho vay, theo phần trăm của vốn, cho một thời kỳ nhất định
Gía trị hiện tại có được bằng cách tính xem hôm nay cần bao nhiêu tiền đầu tư với lãi suất hiện hành để thu về đúng dòng thu nhập tương lai đang xem xét Và ngược lại,với giá hiện tại và dòng thu nhập tương lai có thể xác định được lãi suất hiện giá, phải dựa vào công thức xác định giá trị hiện tại
Để xác định giá trị tương lai của 1 lượng tiền hiện tại có công thức:
FVn = PVx ( 1+i)n
Trong đó, (1+i) n là hệ số giá trị tương lai ( future value factor) Với bất kỳ số tiền hiện tại (PV)
để tính giá trị tương lai của nó (FV) sau một khoảng thời gian xác định với n, với mức lãi suất cho trước I, chúng ta tính được hệ số giá trị tương lai rồi nhân với PV.Ngược lại để tính giá trị hiện tại (PV) của một khoản tiền thu được trong tương lai (FV) sau một khoảng thời gian n, chúng ta áp dụng công thức: PV = FV
Trong đó 1/(1+i)n là hệ số giá trị hiện tại ( present value factor)
Phương pháp hiện giá rất hữu ích trong việc lựa chọn các công cụ tín dụng để đầu tư Kỹ thuật hiện giá còn gọi là kỹ thuật chiết khấu các luồng tiền; và lãi suất được sử dụng để chiết khấu gọi
là lại suất chiết khấu Qua kỹ thuật hiện giá, chúng ta thấy được hiện tại giá trị của các công cụ trên thị trường với mức lãi suất i nào đó
2.2.3 Lãi suất hoàn vốn (Yield to Maturity)
Lãi suất hoàn vốn là loại lãi suất làm cân bằng hiện giá của tất cả khoản thu nhận được từ một công cụ nợ với giá trị hiện tại của nó.Vì khái niệm tiềm ẩn trong việc tính lãi suất hoàn vốn có một ý nghĩa tốt về mặt kinh tế, các nhà kinh tế coi nó là phép đo lãi suất chính xác nhất
Để hiểu được lãi suất hoàn vốn, chúng ta xem xét một số công cụ nợ phổ biến trên thị trường tín dụng Căn cứ vào cách thức trả lãi và tiền gốc, có thể chia các công cụ nợ thành bốn nhóm: nợ đơn, trái phiếu chiết khấu, trái phiếu coupon và nợ thanh toán cố định Các loại công cụ nợ khác nhau căn bản về kỳ hạn thanh toán (Timing of payment)
(1+i) n
Trang 26Với khoản nợ đơn thì khi đi vay người vay nợ đồng ý trả cho người cho vay theo phương thức: tiền gốc cộng với tiền lãi khi đáo hạn
Ví dụ: Ngân hàng ACB cung cấp cho công ty A một khoản nợ đơn 10.000 đô la với kỳ hạn 1 năm Sau một năm công ty A phải trả cho Ngân hàng ACB tổng số tiền là 11.000 đô la ( tiền gốc 10.000 đô la và tiền lãi 1.000 đô la) Dòng thời gian của nợ đơn được biểu thị như sau:
Dựa vào công thức tính lãi đơn,chúng ta có thể diễn tả nghiệp vụ trên bằng công thức sau:
- Trái phiếu chiết khấu:
Đối với loại trái phiếu chiết khấu, người đi vay trả cho người cho vay một khoản thanh toán đơn bằng đúng mệnh giá của trái phiếu Sự tính toán lãi suất hoàn vốn đối với trái phiếu chiết khấu giống như nợ đơn
Ví dụ: công ty A phát hành trái phiếu chiết khấu có thời gian một năm với mệnh giá là 10.000 đô
la Khi đó công ty A nhận được số tiền vay là 9.091 đô la và thanh toán 10.000 đô la sau một năm Có thể biểu thị dòng thời gian đối với trái phiếu chiết khấu của công ty A như sau:
Công ty A trả 11.000 đô la cho Ngân hàng ACB
Công ty A trả 9.091 đô la từ
Trang 27Dựa vào công thức tính lãi đơn, có thể khái quát nghiệp vụ trên theo công thức sau:
9.091 = 10.000
Suy ra :
i*= 10.000- 9.091 = 0.999 =9.99%
Vậy, lãi suất hoàn vốn i* là 9, 99%
Từ ví dụ có thể khái quát công thức tính lãi suất hoàn vốn của trái phiếu chiết khấu có thời gian 1 năm (i*) như sau:
I* = F-P
Trong đó:
F: Mệnh giá trái phiếu
P: Giá hiện hành của trái phiếu chiết khấu
Nếu trái phiếu chiết khấu có thời gian n năm, thì lãi suất hoàn vốn được tính như sau:
Từ công thức tính lãi kép ta suy ra: P = F
Biến đổi công thức trên ta tính được lãi suất hoàn vốn
Trái phiếu coupon
Phát hành trái phiếu coupon, người đi vay thực hiện phương thức thanh toán nhiều lần số tiền lãi theo định kỳ chẳng hạn như nửa năm hoặc một năm một lần và thanh toán tiền gốc khi đáo hạn Một trái phiếu coupon phải ghi rõ ngày đáo hạn, mệnh giá, người phát hành (chính phủ, công ty)
và lãi suất coupon Lãi suất coupon được xác định bằng số tiền thanh toán coupon hàng năm chia cho mệnh giá
Ví dụ nếu công ty A phát hành trái phiếu với mệnh giá 10.000 đô la với kỳ hạn 20 năm và lãi suất coupon 10% Như vậy, công ty A sẽ thanh toán 1.000 đô la tiền lãi coupon hàng năm và thanh toán 10.000 đô la tiền gốc khi đáo hạn 20 năm Dòng thời gian thanh toán trái phiếu coupon của công ty A được minh họa như sau:
Trang 28Dựa vào kỹ thuật hiện giá, có thể thiết lập công thức tính giá cả hiện hành của coupon (C) với lãi suất hoàn vốn ( i*) như sau:
Công thức tổng quát:
Hay
Trong đó:
P : Giá cả trái phiếu coupon
C: Mức thanh toán coupon hàng năm
F: Mệnh giá trái phiếu coupon
n: Số năm tới ngày đáo hạn
Trên cơ sở biết được các tham số P, C,và F giải phương trình trên chúng ta sẽ tìm được lãi suất hoàn vốn i* Tuy nhiên tính i* cũng không dễ, vì thế chúng ta phải dựa vào Excel hoặc máy tính
bỏ túi có lập trình tính toán
- Nợ vay thanh toán cố định
Người đi vay phải thanh toán cho người cho vay theo định kỳ tháng quý, hoặc năm Số tiền thanh toán bao gồm lãi và tiền gốc, vì thế khi đáo hạn sẽ không thanh toán tổng tiền gốc Thông thường các khoản nợ thanh toán cố định là các khoản vay thế chấp nhà, các khoản vay mua tài sản trả góp…
3 2
*)1(
10000
*)1(
1000
*)1(
1000
*)1(
1000
*1
1000
i i
i i
i
F i
C i
C i
C i
C P
*)1(
*)1(
*)1(
*)1(
*
n n
j
j
i
F i
C P
*)1(
*)1(
Trang 29Nếu gọi P là số tiền cho vay hoàn trả cố định, FP là số tiền trả cố định hàng năm ( bao gồm tiền gốc và lãi) n là số năm tới ngày đáo hạn Chúng ta có thể cân bằng hiện giá của các khoản thu trong tương lai với giá trị các khoản nợ P hiện tại như sau:
Hay
2.2.4 Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu:
Giả sử ông A mua trái phiếu coupon có kỳ hạn 20 năm với mệnh giá là 1.000 đô la, lãi suất coupon (hàng năm) là 10% Sau khi nắm giữ một khoảng thời gian, ông A cần tiền và bán trái phiếu này trên thị trường Giả sử lãi suất thị trường trái phiếu tăng lên 10%, trong tình huống sẽ không có nhà đầu tư nào muốn mua trái phiếu của ông A với giá 1.000 đô la để chỉ hưởng 10% lãi suất Như vậy, muốn bán được trái phiếu buộc ông A phải bán với mức giá thấp hơn 1.000 đô
la
Trái phiếu coupon của ông A có khoản thanh toán coupon hàng năm C = 100 đô la Giả sử ông ta bán trên thị trường với giá P = 750 đô la mặc dù lãi suất coupon là 100/1000 đô la hoặc 10%, nhưng lãi suất hiện hành (current yield) lại là:
Lãi suất hiện hành : C = 100 = 13,3%
Khi quyết định đầu tư số tiền tiết kiệm của mình các nhà đầu tư có nên so sánh 13,3% lãi suất hiện hành của trái phiếu này với lãi suất hiện hành của trái phiếu khác hay không? Câu trả lời là không Cần lưu ý này lãi suất được sử dụng để so sánh lợi tức của một công cụ tài chính phải là lãi suất hoàn vốn Lãi suất hiện hành là một bộ phận của lãi suất hoàn vốn, còn một bộ phận thứ hai đo lường dòng tiền tương lai mà nhà đầu tư nhận được nếu như nắm giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn Chẳng hạn nếu như nhà đầu tư mua trái phiếu của ông A với giá là 750 đô la và nắm giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn thì nhà đầu tư sẽ nhận được 1.000 đô la và thu được khoản tiền lời vốn là 250 đô la, khi đáo hạn nhà đầu tư chỉ nhận được 1.000 đô la, trong trường hợp này nhà đầu tư còn bị lỗ vốn Từ phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra ba mối quan hệ giữa lãi suất hoàn vốn, lãi suất hiện hành và lãi suất coupon của trái phiếu như sau:
P = F: Lãi suất hoàn vốn = Lãi suất hiện hành = Lãi suất coupon
P > F: Lãi suất hoàn vốn < Lãi suất hiện hành < Lãi suất Coupon
P < F: Lãi suất hoàn vốn > Lãi suất hiện hành > Lãi suất Coupon
n
i
FP i
FP i
FP i
FP P
*) 1 (
) 1 (
*) 1 (
P
1( 1 *) 1
P
P
750
Trang 302.2.5 Tỷ suất lợi tức của trái phiếu (Rate of return)
Khi nắm giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn, nhà đầu tư có thể bị lỗ hoặc thu được mức lời vốn Như vậy, tỷ suất lợi tức của trái phiếu là tổng số của lãi suất hiện hành cộng với mức lời của vốn hoặc mức lỗ của vốn Chỉ tiêu này khác với lãi suất hoàn vốn
Giả sử ông B mua trái phiếu có mệnh giá là 1.000 đô la, lãi suất coupon là 8% Sau một năm, ông ta bán trái phiếu với giá 1.100 đô la thì tỷ suất lợi tức (R) trái phiếu là:
2.3 CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH LÃI SUẤT THỊ TRƯỜNG:
Chúng ta đã thống nhất rằng lãi suất tín dụng thực chất là giá cả của khoản tiền vay, vì vậy
nó được quyết định bởi quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường
Cầu vốn vay là nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các chủ
thể khác nhau trong nền kinh tế
Cầu vốn vay được cấu thành từ các bộ phận sau:
Nhu cầu vay của các doanh nghiệp, hộ gia đình nhằm hình thành vốn đầu tư và trang trải các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất và tiêu dùng Trong điều kiện các yếu tố khác (lạm phát dự tính, khả năng sinh lợi của các cơ hội đầu tư ) không đổi, nhu cầu vốn của doanh nghiệp và hộ gia đình biến động ngược chiều với sự biến động của lãi suất
Nhu cầu vay vốn của khu vực chính phủ nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước
Nhu cầu vay vốn của chủ thể nước ngoài bao gồm các chủ thể như doanh nghiệp, chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài chính trung gian nước ngoài
Tổng hợp lại, cả ba bộ phận trên tạo thành tạo thành cầu vốn vay của xã hội Cầu vốn vay biến
động ngược chiều với sự biến động của lãi suất Vì lẽ đó, đường cầu biểu diễn mối quan hệ giữa
lãi suất và cầu vốn vay là đường dốc xuống Độ dốc càng thoải phản ánh lượng cầu vốn vay càng nhạy cảm nhiều với lãi suất
Cung vốn vay là khối vốn dùng để cho vay kiếm lời của các chủ thể khác trong xã hội
Cung vốn vay được tạo bởi các nguồn sau:
Tiền gửi tiết kiệm của các hộ gia đình Đây là bộ phận quan trọng nhất của quỹ cho vay
Trong điều kiện bình thường, tiền gửi tiết kiệm phụ thuộc nhiều vào lãi suất Nếu lãi suất tăng sẽ làm tăng nhu cầu tiết kiệm và ngược lại Tuy nhiên mức độ nhạy cảm này còn tùy thuộc vào tình trạng của nền kinh tế như thói quen tiết kiệm và tiêu dùng của công chúng
Trang 31Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp dưới hình thức quỹ khấu hao có bản, lợi nhuận chưa chia, các quỹ khác chưa sử dụng Nguồn vốn này biến động cùng chiều với lãi suất tuy không nhạy cảm như nhiều nguồn vốn trên
Các khoản thu chưa sử dụng đến của ngân sách nhà nước Bộ phận này chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng quỹ cho vay của nền kinh tế và không phụ thuộc vào lãi suất
Nguồn vốn của các chủ thể nước ngoài có thể là chính phủ, có thể là doanh nghiệp, có thể là dân
cư nước ngoài Sự biến động của nguồn vốn này cùng chiều với sự biến động của lãi suất
Như vậy, cung vốn vay được tạo bởi số vốn dư thừa chưa sử dụng đến của các hộ đình, các doanh nghiệp và chính phủ và nước ngoài Trong điều kiện các nhân tố khác (lạm phát dự tính, của cải ) không thay đổi, cung vốn vay tăng khi lãi suất giảm và ngược lại Đường cung vốn vay biểu diễn mối quan hệ giữa lãi suất và lượng cung vốn vay là đường dốc lên Độ dốc càng thoải thể hiện cung vốn vay càng nhạy cảm với lãi suất
Đường cung và cầu vốn vay cắt nhau tại điểm cần bằng, hình thành nên mức lãi suất cân bằng trên thị trường (là mức lãi suất mà thị trường luôn hướng tới) Đó là mức lãi suất làm lượng cung vốn vay bằng với lượng cầu vốn vay
Điểm cân bằng cung cầu vốn vay tại một thời điểm xác định mức lãi thị trường tại thời điểm đó
Vì vậy, các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất thị trường cũng chính là những nhân tố làm thay đổi điểm cần bằng của thị trường Những nhân tố này bao gồm các nhân tố làm dịch chuyển đường cung vốn vay (là các nhân tố làm cung vốn vay thay đổi ở mỗi mức lãi suất cho trước) và các nhân tố làm dịch chuyển đường cầu vốn vay (là các nhân tố làm cầu vốn vay thay đổi ở mỗi mức lãi suất cho trước)
CÂU HỎI CHƯƠNG 3
1 Trình bày bản chất chức năng của tín dụng Sự ra đời của tín dụng có tác động như thế nào đến sự phát triển của kinh tế hàng hóa?
2 Tại sao tín dụng ngân hàng lại giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống tín dụng
3 Phân tích mối quan hệ giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng
4 Phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa các hình thức tín dụng
5 Nêu lãi suất và các loại lãi suất
6 Phân biệt lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực
Trang 327 Nêu các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
BÀI TẬP LÀM THÊM
Tính lãi suất trong mỗi trường hợp sau:
Bài 1:
- Công ty X vay NH Y 700$ và hứa trả lại 749$ vào cuối năm
- Công ty X vay NH Y 85000$ và cam kết trả lại 201.229$ vào cuối năm thứ 10
- Công ty X vay NH Y 9000$ và cam kết trả mỗi năm 2684,8$ trong vòng 5 năm
Bài 2: Phải mất bao nhiêu năm để có được số tiền hoạch định trong các TH sau:
- Đầu tư 500$ với LS 5%, trả lãi kép hàng năm để nhận được 1039,5$ khi đáo hạn
- Đầu tư 35$ với LS 9%, trả lãi kép hàng năm để nhận được 53,87$ khi đáo hạn
Bài 3: Tính lãi suất trong mỗi trường hợp sau:
- Công ty X vay NH Y 700$ và hứa trả lại 749$ vào cuối năm
- Công ty X vay NH Y 85000$ và cam kết trả lại 201.229$ vào cuối năm thứ 10
Bài 4: Một khoản vốn được gửi vào ngân hàng với lãi suất 12%/năm Sau 1 thời gian số tiền cả
lãi và vốn thu được là 160 triệu đ Nếu với cùng số vốn đó gửi vào ngân hàng với lãi suất 10%/năm và thời gian gửi dài hơn thời hạn gửi trên là 1 năm thì số tiền nhận về cũng là 160 triệu Tính số tiền cho vay ban đầu
Bài 5: Một NH cho 1 doanh nghiệp vay 72 triệu đ vào ngày 8/6 với lãi suất là 8%/năm, số tiền
thu được khi đến hạn trả là 72,88 triệu đ Hãy xác định thời hạn cho vay?
Bài 6: Một khoản vốn 100 triệu đ được gửi vào NH theo lãi gộp lãi suất năm là 5% Hãy tính số
tiền thu được trong 8 năm
Bài 7: Một khoản vốn 100 triệu đ được gửi theo lãi gộp lãi suất là 5%/năm cứ 6 tháng lãi gộp
vào gốc 1 lần Tính số tiền thu được sau 8 năm cho vay
Bài 8: Một khoản vốn 20 triệu đ được gửi vào NH trong 11 năm theo lãi gộp, lãi suất của khoản
vốn trên là bao nhiêu biết rằng số tiền thu được là 34,0418 triệu đ
Bài 9: Một người cho vay 4000 USD, cứ 6 tháng lãi nhập vào gốc 1 lần, lãi suất là 6,5%/năm
Sau một thời gian cho vay người đó thu được số tiền là 5334,22 USD Tính thời gian cho vay
Bài 10: Một căn hộ được bán với giá 1 tỷ đồng Mỗi năm ngôi nhà này sẽ mang lại thu nhập từ
cho thuê là 12 triệu đồng Sau 5 năm giá căn hộ này dự tính có thể tăng thêm 50% Biết lãi suất hiện tại là 8%/năm và ổn định trong 5 năm tới
- Tính giá trị hiện tại của các khoản thu nhập từ tiền cho thuê và bán nhà (vào năm thứ 5)
Trang 33- Bạn có quyết định mua nhà để kinh doanh không nếu bạn kỳ vọng tỉ suất sinh lời là 20%/năm trên khoản đầu tư của bạn?
Trang 34Chương 4: TÀI CHÍNH CÔNG
MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG:
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về tài chính công, cách tiếp cận, đồng thời giới thiệu kiến thức về ngân sách nhà nước, các khoản thu chi thuộc về ngân sách nhà nước, trường hợp nào mất cân bằng thu chi , làm thế nào để tăng nguồn thu và giảm chi ngân sách nhà nước
1.1KHU VỰC CÔNG VÀ TÀI CHÍNH CÔNG
1.1.1 Khu vực công:
Có thể nói cho đến nay, khái niệm khu vực công (Public sector) cần được xem là thuật ngữ mới
và do đó khi nói đến khu vực công , thường được hiểu như là khu vực nhà nước (state sector) và trong nhiều tài liệu của các nước , hai thuật ngữ này hoàn toàn trùng nhau.Một vài tài liệu hiểu khái niệm khu vực công theo nghĩa là khu vực công cộng có lẽ hoàn toàn chưa đúng với ý nghĩa của thuật ngữ này.Vì vậy cần làm rõ hay đưa ra một quy định những phạm trù cơ bản nào thuộc khu vực công cần quan tâm
Khu vực công hay khu vực nhà nước là khu vực mà trong đó dùng để phân biệt với khu vực tư nhân (khu vực không phải nhà nước) Khu vực nhà nước là khu vực hoạt động kinh tế xã hội, chính trị mà nhà nước là người quyết định Trong khi đó khu vực tư nhân là khu vực hoạt động do tư nhân quyết định Tuy nhiên, nhà nước có ảnh hưởng đến sự quyết định của khu vực
tư nhân thông qua hệ thống văn bản pháp luật cũng như các quy tắc, quy chế điều tiết của nhà nước trong từng thời kỳ
Một cách quan niệm khác hay một cách định nghĩa khác về khu vực công – khu vực nhà nước là căn cứ vào tính chất sở hữu.Khu vực công là khu vực tập hợp tất cả những gì thuộc sở hữu nhà nước ( hay như nhiều quốc gia nói thuộc sở hữu toàn dân) Đây cũng là cách phân biệt
cụ thể nhất hai khu vực tư nhân và khu vực nhà nước Tùy thuộc vào từng quốc gia về việc phân chia quyền sở hữu mà hoạt động của nó thuộc về khu vực công hay khu vực tư hay hỗn hợp giữa hai khu vực Ví dụ đất đai ở nhiều quốc gia là đối tượng thuộc khu vực công vì nó thuộc sở hữu của nhà nước
Theo “Cẩm nang Thống kê tài chính Chính phủ năm 2001”, khu vực công hợp thành bởi
Khu vực Chính phủ/Chính phủ và các doanh nghiệp công Các công ty công có hai loại hình chính: công ty công phi tài chính (các doanh nghiệp nhà nước) và công ty công tài chính ( ngân hàng trung ương , ngân hàng thương mại nhà nước…)
Khu vực Chính phủ/hay Chính phủ nói chung, bao gồm mọi đơn vị Chính phủ và mọi thể chế phi lợi nhuận, phi thị trường được các đơn vị Chính phủ kiểm soát và tài trợ phần lớn bởi
chính phủ hông thường đơn vị Chính phủ được dùng để nói về các đơn vị thuộc Chính phủ nói chung
Trang 35Những đơn vị chính phủ chủ yếu nhận vốn tiền tệ từ chuyển giao hay kiếm được hoặc những nguồn lực của chính phủ để thực hiện chức năng của chính phủ, cũng như bất kỳ các khoản chi tiêu công cho mục đích tài khóa Thu chi của chính phủ không được phân bổ hàng năm được gọi là “ngoài ngân sách” và liên quan đến hai định chế mà có thể tìm thấy ở cấp chính quyền , đó là quỹ ngoài ngân sách (Extrabudgetary funds) và các định chế phi lợi nhuận ,phi thị trường (Non profit nonmarket institutions: NNPIs Các thể chế phi lợi nhuận, phi thị trường được kiểm soát và tài trợ phần lớn bởi các đơn vị Chính phủ đều là các pháp nhân (trực thuộc Chính phủ hoặc phi Chính phủ), nhưng chúng được công nhận có thực hiện các chính sách của Chính phủ Nhiều Chính phủ lựa chọn sử dụng các thể chế phi lợi nhuận thay các cơ quan Chính phủ để thực hiện một số chính sách nhất định, do thể chế phi lợi nhuận thường được coi là khách quan
và không phụ thuộc vào áp lực chính trị Ví dụ như hoạt động của các lĩnh vực nghiên cứu, bảo
vệ môi trường, y tế, giáo duc,…NNPIs hiện nay tồn tại rất phổ biến ở Việt Nam như là: Quỹ bảo hiểm xã hội , các quỹ hỗ trợ địa phương
1.1.2 Tiếp cận tài chính công:
Tài chính công được hiểu theo nghĩa rộng là tài chính khu vực công Góc tiếp cận này thông thường được nhà quản trị công sử dụng để xây dựng chính sách công và phân tích quy mô nợ công, qua đó đánh giá được quy mô tiềm ẩn rủi ro nợ công đối với quốc gia Theo quan điểm này, nợ công bao gồm: nợ chính phủ, nợ của chủ thể khác nhưng được chính phủ bảo lãnh thanh toán; các khoản nợ công ngầm định và nợ bất thường
Tiếp cận theo nghĩa hẹp, tài chính công chủ yếu được giới hạn trong phạm vi thu, chi của khu vực chính phủ ( thu-chi ngân sách nhà nước) Trong phạm vi của chương này, tài chính công chủ yếu được tiếp cận theo nghĩa hẹp
Như vậy, với cách tiếp cận này, trong khuôn khổ của một quốc gia , tài chính công thuộc hình thức sở hữu nhà nước và quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao của một quốc gia có quyền
áp đặt mọi khoản thu chi của quốc gia, chính phủ- bộ phận hành pháp được quốc hội trao quyền điều hành chính sách tài khóa; thu, chi ngân sách; hoạt động không vì mục đích lợi nhuận ; tài chính công cung cấp hàng hóa công, gắn liền với nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội Mọi người dân có thể tiếp cận và sử dụng những hàng hóa do khâu tài chính này cung cấp mà không phải trả tiền; hoặc có trả nhưng không theo cơ chế giá của thị trường
Nói một cách khác, tài chính công là những hoạt động thu chi tiền tệ của nhà nước nhằm
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công cho xã hội.
1.2 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC:
1.2.1 Khái niệm ngân sách nhà nước:
NSNN là một quỹ tiền tệ tập trung của NN, trong đó dự toán con số chi tiêu công mà nhà nước phải tìm kiếm nguồn để tài trợ NSNN phải được quốc hội thông qua hàng năm và được theo dõi
và kiểm soát chặt chẽ nhằm tránh được sự phí phạm công chi Về bản chất, NSNN phản ánh các
Trang 36quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế - xã hội trong quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tài chính
1.2.2 Thu NSNN:
Thu NSNN là quá trình tổ chức huy động các nguồn tài chính xã hội vào quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của NN Nguồn tài chính xã hội được huy động vào NS để bằng những phương thức và hình thức khác nhau hay nói một cách khác thu NSNN là việc dùng quyền lực của mình
để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia, hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của NN.Nguồn thu lớn nhất của NSNN có thể nói đến là thuế Ngoài ra NN có còn một
số nguồn từ hoạt động kinh tế của NN, các khoản thu huy động nhằm bù đắp các khoản thiếu hụt
NS và một số các khoản thu khác như:
- Thu nhập từ vốn góp của NN vào các cơ sở kinh tế
- Tiền thu hồi vốn của NN tại các cơ sở kinh tế
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp
- Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên tài sản thuộc sở hữu của NN
- Thu từ vay nợ và viện trợ không hoàn lại của các chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân nước ngoài, từ đóng góp tự nguyện các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
a Thu thuế:
Thuế là khoản thu lớn nhất của NN, là một khoản đóng góp bắt buộc cho NN do luật định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của NN, là một khoản thu mang tính ổn định tương đối và mang tính không hoàn trả cho người nộp, hình thức thu bao quát hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập và mọi tiêu dùng trong xã hội, đảm bảo tính tự chủ trong cân đối ngân sách, thuế thể hiện một nền tài chính quốc gia lành mạnh Nộp thuế cho nhà nước được xem là nghĩa vụ và trách nhiệm của các pháp nhân và thể nhân nhằm tạo ra nguồn thu lớn, ổn định cho NSNN Thuế cũng được xem là công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân, điều tiết nền kinh tế
b.Thu lệ phí và phí:
Phí và lệ phí là một nguồn thu vốn có của NSNN vì nó trực tiếp gắn với chức năng cung cấp hàng hóa công Lệ phí và phí là các khoản thu tuy chiếm tỉ trọng không lớn trong tổng nguồn thu của NSNN song vẫn huy động và khai thác nguồn thu đưa vào NSNN nhằm:
- Bù đắp được chi phí do đó tối thiểu hóa gánh nặng phải bù đắp từ thu thuế;
- Tối đa hóa nguồn thu và
- Kiểm soát được nhu cầu sử dụng
Trang 37Lệ phí là khoản thu bắt buộc đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm một mặt vừa bù đắp chi phí hoạt động hành chính mà nhà nước cấp cho các pháp nhân và thể nhân đồng thời vừa mang tính chất là khoản động viên sự đóng góp cho ngân sách nhà nước Ví dụ như lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ, lệ phí công chứng Lệ phí mang tính chất pháp lý, thường do các cơ quan hành chính các cấp ban hành theo sự phân cấp của nhà nước Khoản thu này mang tính chất hoàn trả trực tiếp
Phí là khoản thu mang tính bù đắp một phần chi phí thường xuyên và bất thường về các dịch vụ công cộng hoặc bù đắp chi phí cho các hoạt động duy trì, tu bổ các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ cho người nộp phí Phí có hai loại: các loại phí mang tính phổ biến và các loại phí mang tính địa phương
a Vay nợ của chính phủ:
Vay nợ chính phủ thuộc về phạm trù tín dụng của nhà nước, nhà nước sẽ vay tín dụng các nguồn vốn từ trong và ngoài nước, để đảm bảo các khoản chi tiêu của NSNN Chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng nhà nước bao gồm: chính quyền NNTW, chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính, các tổ chức XH, dân cư và các chủ thể nước ngoài Ở Việt Nam, vay nợ của chính phủ thông qua các nguồn vốn ODA, vay từ ngân hàng thế giới WB để đầu tư
cơ sở hạ tầng, cầu đường, tuyến metro Ngoài ra, chính phủ có thể huy động nguồn vốn vay nước ngoài thông qua hình thức vay trực tiếp như vay tài chính, vay tín dụng xuất khẩu, phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường vốn quốc tế hoặc các hình thức phù hợp khác, trong khuôn khổ hạn mức vay thương mại hàng năm
Huy động vốn bằng vay nợ chính phủ gồm có hai loại:
- Vay ngắn hạn: dùng để bù đắp thiếu hụt ngân quỹ tạm thời của ngân sách NN Thời hạn vay
thường dưới 1 năm
- Vay trung hạn và dài hạn: nhằm bù đắp bội chi ngân sách hoặc tài trợ cho các công trình cơ
sở hạ tầng mà hiệu quả mang lại sau một thời gian khá dài Thời hạn vay thường từ 1 đến 10 năm đối với vay trung hạn và từ 10 đến 20 năm trở lên với vay dài hạn
Chi NSNN phải gắn với bộ máy NN và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị xã hội, gắn với quyền lực của NN, và chi NSNN là những khoản chi không hoàn trả trực tiếp
Trang 38- Phân loại theo chức năng
- Phân loại theo đơn vị sử dụng
- Phân loại theo mục đích chi tiêu
- Phân loại theo mục tiêu kinh tế
Mỗi cách phân loại phục vụ cho nhu cầu quản lý nhất định
Theo đặc điểm kinh tế, chi ngân sách được phân thành hai khoản: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển:
a.Chi đầu tư phát triển: Chi đầu tư phát triển được cấp phát chủ yếu từ ngân sách trung ương
và một bổ phận đáng kể từ ngân sách địa phương Khoản chi này bao gồm các khoản chi cho đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng , cho chương trình, mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước, chi hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn liên doanh, liên kết , chi bổ sung dự trữ nhà nước
Tổng số chi của tài chính nhà nước cho đầu tư phát triển phụ thuộc vào mức tăng thu nhập quốc dân;mục tiêu của chính sách kinh tế; hệ thống quản lý và các nhân tố khác trong đó hệ thống quản lý và sử dụng phương thức cấp phát cho nhu cầu đầu tư phát triển là những nhân tố quan trọng
Chi đầu tư phát triển bao gồm những khoản chi cơ bản sau:
- Chi đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế xã hội
- Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước:
- Chi góp cổ phần, góp vốn liên doanh vào các doanh nghiệp:
- Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước
- Chi dự trữ nhà nước:
b Chi thường xuyên: Các khoản chi thường xuyên mang tính chất là các khỏan chi cho tiêu dùng xã hội và gắn liền với chức năng quản lý xã hội của nhà nước, nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của nhà nước Về cơ bản , nó mang tính chất chi tiêu dùng Xét về nội dung, chi thường xuyên gồm hai thành phần chính: (1) các khoản chi liên quan đến con người (lương, phụ cấp) và (2) các khoản chi liên quan đến nghiệp vụ quản lý hay công việc
Chi sự nghiệp
Các khoản chi cho hoạt động sự nghiệp tạo thành một bộ phận chi quan trọng của tài chính nhà nước và thực chất đây là những khoản chi cho các dịch vụ và hoạt động xã hội phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và nâng cao dân trí của dân cư
Các khoản chi sự nghiệp từ ngân sách nhà nước gồm nhiều nội dung chi và được cấp cho nhiều ngành hoạt động khác nhau: