Trong cuốn sổ tay này, chúng tôi muốn giới thiệu những thông tin ngắn gọn, cô đọng nhất kỹ thuật trồng cây Mắcca tại Lai Châu và những nơi có điều kiện sinh thái tương tự để tham khảo và ứng dụng. Nội dung của cuốn sổ tay bắt đầu từ khâ chọn giống, nhân giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, tỉa cành tạo tán, phòng trừ sâu bệnh hại và thu hoạch. Cuốn sổ tay này viết dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu chính của đề tài “Khảo nghiệm cây Macadamia trên địa bàn tỉnh Lai Châu” do thạc sỹ Bùi Thanh Hằng làm chủ nhiệm, đồng thời kế thừa một số kết quả nghiên cứu về cây Mắcca của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện từ năm 2002 cho đến nay.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI TỰA
Macadamia gọi tắt là Mắc-ca là cây ăn hạt thân gỗ, thuộc nhóm quả hạch,
có nhiều giá trị kinh tế Hạt Mắc-ca có hàm lượng dinh dưỡng cao, có hương vị thơm ngon, được ưa chuộng sử dụng trong chế biến thực phẩm Thành phần dinh dưỡng của hạt gồm: 78,2% chất béo, 10% hợp chất đường, 9,2% hợp chất đạm (protein), 0,7% muối khoáng, 16mg/kg vitamin B6; 1,2 mg/kg vitamin B1 ; nhân hạt có mùi thơm nhẹ, có thể dùng làm nhân bánh ngọt, nhân chocolate, kem, bánh hộp, hoặc ăn trực tiếp ở dạng đồ hộp rất được ưa chuộng ở
Mỹ, châu Âu
Trong những năm gần đây, cây Mắc-ca được trồng phát triển rất mạnh ở Việt Nam Tỉnh Lai Châu có đặc điểm khí hậu, đất đai khá phù hợp cho cây Mắc-ca phát triển Tuy nhiên, các hướng dẫn kỹ thuật trồng cây Mắc-ca tại Lai Châu cho người dân hiện nay chưa có Do đó, việc xây dựng tài liệu hướng dẫn
kỹ thuật nhằm giúp người dân nắm được kỹ thuật trồng từ khâu: chọn đất, làm đất, trồng, chăm sóc, tỉa cành tạo tán,… là việc làm hết sức cần thiết
Trong cuốn sổ tay này, chúng tôi muốn giới thiệu những thông tin ngắn gọn, cô đọng nhất kỹ thuật trồng cây Mắc-ca tại Lai Châu và những nơi có điều kiện sinh thái tương tự để tham khảo và ứng dụng Nội dung của cuốn sổ tay bắt đầu từ khâ chọn giống, nhân giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, tỉa cành tạo tán, phòng trừ sâu bệnh hại và thu hoạch Cuốn sổ tay này viết dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu chính của đề tài “Khảo nghiệm cây Macadamia trên địa bàn tỉnh Lai Châu” do thạc sỹ Bùi Thanh Hằng làm chủ nhiệm, đồng thời kế thừa một số kết quả nghiên cứu về cây Mắc-ca của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện từ năm 2002 cho đến nay.
Cuốn sổ tay này được thực hiện bởi nhóm tác giả Viện Nghiên cứu Lâm sinh, Viện Nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Nhóm tác giả chân thành cảm ơn sự đóng góp
ý kiến của các chuyên gia: GS Nguyễn Xuân Quát, TS Hà Huy Thịnh, TS Nguyễn Đức Kiên, PGS.TS Nguyễn Huy Sơn, TS Mai Trung Kiên, TS Đặng Văn Thuyết Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện không tránh khỏi những thiếu xót, kính mong nhận được ý kiến góp ý cho cuốn sổ tay này.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện không tránh khỏi những thiếu xót, kính mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để cuốn sổ tay ngày được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3PHẦN I: GIỚI THIỆU VỀ CÂY MẮC-CA
1 Phân loại
Cây Macadamia (Mắc-ca) là tên gọi chung của các loài của chi Macadamia, thuộc họ Chẹo thui (Proteaceae) Đây là loài cây nguyên sản ở vùng ven biển Đông - Nam Queensland và Đông Bắc New South Wales nước
Australia Chi Macadamia gồm nhiều loài, trong đó có hai loài là: Macadamia tetraphylla và Macadamia integrifolia là có giá trị, hạt chứa dầu cho thương
phẩm gần giống hạt Điều Các giống Mắc-ca ở Việt Nam hiện nay đa số thuộc
loài Macadamia interrifolia.
2 Hình thái
Cây Mắc-ca có thân thẳng, tán cao lớn, cành lá nhiều, lá đơn, hình lưỡi mác, lá cứng, mép lá lượn sóng hoặc có răng cưa cứng nhọn như gai Loài vỏ trơn có 3 lá mọc vòng, viền có gai nhỏ, có khi không có gai, lá dài từ 9-35cm, lá non màu xanh nhạt; Loài có vỏ nhăn có 4 lá mọc vòng, viền lá có nhiều gai, dạng răng cưa, lá dài 15-60 cm, lá non màu hồng tím.
Hoa tự bông đuôi sóc, mọc chùm dài, mọc từ nách lá, hoa lưỡng tính, hoa đực, cái cùng trong một hoa, bao hoa hình ống
Quả Mắc-ca là quả hình trái đào hoặc tròn như bi, khi chưa chín có vỏ màu xanh lục, khi chín vỏ quả chuyển từ xanh sang nâu, vỏ khô tự nứt Quả có phôi đơn, bên trong có một hạt, rất hiếm khi có 2-3 hạt Hạt có hình cầu Vỏ hạt cứng, có màu nâu Vỏ quả cứng và láng bóng như hạt sở, đường kính hạt khoảng 2-3 cm, trọng lượng tươi khoảng 8-9 gram, tỷ lệ nhân 30-50%, tỷ lệ dầu trong nhân 71-80%.
Mắc-ca có hệ rễ cọc kém phát triển, thân thẳng, chia cành nhiều, trên thân
có nhiều bì khổng Thời kỳ sai quả của cây có thể kéo dài tới tuổi 60 và tuổi thọ cây có thể đến 100 năm
Trên thế giới có 8 quốc gia có diện tích trồng Mắc-ca nhiều nhất là: Australia, Nam Phi, Hawaii, Malawi, Goatamala, Brazil, Kenya, Costa Rica Diện tích trồng Mắc-ca của 8 quốc gia này chiếm khoảng 90% diện tích trồng Mắc-ca trên toàn thế giới và sản lượng chiếm 92%
Nước láng giềng Trung Quốc bắt đầu nhập Mắc-ca vào trồng ở Đài Loan vào năm 1910 Đến nay, đã phát triển với diện tích lớn ở một số tỉnh: Quảng Tây, Vân Nam, Tứ Xuyên,
4 Sinh thái
Trang 4Cây Mắc-ca là loại cây ưa khí hậu mát, mưa ẩm và khô hạn xen kẽ Sinh trưởng thích hợp trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, có khả năng chịu hạn cao đồng thời chịu được mưa ẩm Mắc-ca có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau: từ đất sét mùn pha cát, đất đỏ bazan hoặc các loại đất có nguồn gốc núi lửa, đất sét nặng Độ pH tối ưu trong đất khoảng 5-5,5 Cây Mắc-ca không chịu được điều kiện ngập úng Lượng mưa trung bình từ 700 mm đến 3.000 mm, lượng mưa tối ưu từ 1.500 mm đến 2.500 mm
Mắc-ca phát triển được ở độ cao so với mực nước biển từ 300 m đến 1.200 m Nhiệt độ thích hợp cho cây Mắc-ca ra hoa là từ 120C đến 320C, nhiệt
độ tối ưu để cây hình thành mầm hoa 15-180C Nếu nhiệt độ ban đêm thấp hơn
120C và cao hơn 250C cây Mắc-ca đều không thể hình thành chồi hoa Nhiệt độ
để phát lộc khoảng 20-300C Hoa nở từ cuối tháng 2 kéo dài tới đầu tháng 4 Nụ hoa có thể chịu đựng sương giá ngắn hạn 0-20C trong 5-7 ngày Mắc-ca có khả năng chịu rét tốt, nhiệt độ tối thấp -5 0 C kéo dài 6 – 7 ngày chưa gây tổn thất rõ ràng với nụ hoa nhưng lạnh sâu hơn và dài hơn sẽ làm nụ hoa thui chột
Cây Mắc-ca trong thời gian ra hoa, gặp nắng hạn sẽ gây rụng nghiêm trọng Cây Mắc-ca ra rất nhiều hoa, mỗi bông đuôi sóc có từ 100-300 hoa, nhưng tỷ lệ đậu quả lại chỉ đạt 0,1 - 0,3% Khí hậu không thuận lợi có thể hoàn toàn không đậu quả Sau đậu quả 8 tuần gặp nhiệt độ (15-250C) thúc đẩy quả lớn
và tăng trọng Khi kết thúc thời kỳ lớn nhanh của quả và bắt đầu tích luỹ dầu thì nhiệt độ (25-300C), nhân phát triển nhanh, tỷ lệ nhân cao
5 Giá trị sử dụng
Mắc-ca là cây ăn hạt, tỷ lệ hạt 30- 50%, tỷ lệ dầu trong hạt từ 71 - 80% Mắc-ca được coi là hoàng hậu của các loài quả khô Vì đây là loại quả khô ngon,
bổ nên nhu cầu thị trường thế giới rất lớn.
Hạt Mắc-ca được dùng làm nhân bánh ngọt, nhân socola, kem, hoặc ăn trực tiếp ở dạng khô hay đồ hộp Nhân Mắc-ca của Australia trước đây chủ yếu được xuất vào thị trường Mỹ và Canada, nay Châu Âu và Châu Á đang trở thành thị trường tiêu thụ lớn hơn, giá cả quốc tế vài năm gần đây dao động trong khoảng 12 – 15 USD/kg nhân Các dự báo thị trường đều cho rằng giá nhân Mắc-ca sẽ còn tăng mạnh trong tương lai
Mắc-ca là cây đa tác dụng, vừa có giá trị kinh tế cao, vừa có tác dụng phòng hộ môi trường sinh thái Cây Mắc-ca sau khi trồng 3-4 năm đã cho ra quả, 5-6 năm có năng suất đáng kể, đến năm thứ 10-15 năng suất hạt đạt khoảng
3 tấn/ha, năng suất nhân đạt 1 tấn/ha Giá thu mua hạt Mắc-ca nếu chỉ ở mức 50.000đồng/kg hạt, thì trên một ha có thể thu nhập 100 triệu đồng/ha/năm.
Trang 5PHẦN II: ĐIỀU KIỆN GÂY TRỒNG
Điều kiện ít thích hợp
- Nhiệt độ trung bình năm (0C) 20-23 20-25 15-20
Điều kiện ít thích hợp
- Lượng mưa trung bình năm
(mm)
2.000-2.500 1.500-2.000
2.500-3.000
1.200-1.500 3.000-3.500
5 Độ cao và độ dốc
Tại Lai Châu, ở độ cao 950 m so với mực nước biển cây Mắc-ca vẫn sinh trưởng, phát triển tốt và cho ra hoa đậu quả.
Bảng 03: Yêu cầu về độ cao và độ dốc
thích hợp
Điều kiện thích hợp
Điều kiện ít hích hợp
- Độ cao so với mặt nước biển 300-800 800-900 900-1.000
Trang 6Tầng đất tối thiểu 50 cm, đất có khả năng thoát nước tốt và giàu chất hữu
cơ, không bí chặt, không có đá tảng; tỷ lệ kết von hoặc sỏi sạn, đá cục nhỏ hơn 70% tính theo thể tích.
Các loại đất thích hợp để phát triển cây Mắc-ca tại Lai Châu:
- Đất mùn vàng đỏ trên đá biến chất, macma axít.
- Đất đỏ vàng/nâu tím trên đá biến chất, macma axít, phiến sét.
- Đất đỏ trên đá macma bazơ, trung tính, đá vôi.
Trang 7PHẦN III: NGUỒN GIỐNG VÀ NHÂN GIỐNG
1 Nguồn giống
1.1 Nguồn gốc các giống Mắc-ca ở Việt Nam:
Giống Mắcca được Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ Sinh học Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nghiên cứu và trồng bao gồm:
-+ Các dòng cây ghép được nhập từ Australia: Daddow, 246, 344, 842,
816, 849, 856, 741, NG8 và Trung quốc: OC, A800.
+ Cây hạt của Australia (ĐC1) và cây hom Ba Vì (ĐC2 : Hom Ba Vì); cây ghép từ các cây sai quả trồng năm 1994 tại Ba Vì là: MC1, MC2, MC8, MC10, MC11.
+ Cây con từ hạt của các giống sai quả của Australia: 268, 791, 814, 849,
741, 344, 816, 781, 333, H2, 508, A4, 800, Daddow, 666, A38, 842, 203, 246 và A16 (Nguyễn Đình Hải, 2010).
- Giống Mắc-ca của Trung tâm Dịch vụ và Chuyển giao Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Ba Vì – Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Nông lâm sản Chế biến gồm: 842, 741, 800, 900, 695, OC, 246, 816, 849.
- Giống Mắc-ca được Viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên có nguồn gốc nhập từ Thái Lai nghiên cứu và trồng gồm: H2, 508, OC,
814, 246, 344, 741, 660, A4, A16, A38, A268, A203, 246, 344, DAD, Quế nhiệt
1.2 Các giống Mắc-ca được công nhận giống mới ở Việt Nam
Bảng 4: Giống Macadamia được công nhận giống mới ở Việt Nam
TT Ký hiệu
tên dòng
Mã số mới được công nhận
Trang 81.3 Các giống Mắc-ca đã trồng khảo nghiệm tại Lai Châu
Các dòng khảo nghiệm tại Lai Châu có 5 dòng (246, 816, OC, 842, 849)
và cây hạt H2, trong đó:
- Công nhận giống quốc gia có 3 dòng: OC, 246, 816.
- Công nhận giống tiến bộ kỹ thuật có 2 dòng: 842, 849.
Trong các dòng Mắc-ca khảo nghiệm tại Lai Châu thì bước đầu dòng OC
và 816 là dòng triển vọng nhất hiện nay, cần được khuyến cáo trồng và phát triển tại Lai Châu.
Bảng 5: Danh sách giống được công nhận trồng tại Lai Châu
1 GIỐNG QUỐC GIA DÒNG OC
Ký hiệu: MC.KRN.12.15
Quyết định: 65/QĐ-BNN-TCLN, ngày
11/01/2013.
Tác giả: Nguyễn Đình Hải, Lê Đình Khả,
Mai Trung Kiên, Hồ Quang Vinh, Hà Huy
Thịnh, Đỗ Hữu Sơn, Tân Văn Phong
Địa chỉ liên hệ: Viện Nghiên cứu giống và
Công nghệ sinh học Lâm nghiệp - Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam P Đức Thắng
-Bắc Từ Liêm - Hà Nội.
Đặc điểm ưu việt:
Chống chịu bệnh tốt.
Dạng tán rộng.
Vùng áp dụng: Krông Năng – Đăk Lắc, Ba
Vì – Hà Nội, Mai Sơn – Sơn La và những
nơi có điều kiện sinh thái tương tự.
Khả năng cung cấp giống: Cây ghép Hình 1: Dòng OC tại Mai Sơn – Sơn La
2 GIỐNG QUỐC GIA DÒNG 246
Ký hiệu: MC.KRN.12.16
Quyết định: 65/QĐ-BNN-TCLN, ngày
Trang 9Tác giả: Nguyễn Đình Hải, Lê Đình Khả,
Mai Trung Kiên, Hồ Quang Vinh, Hà Huy
Thịnh, Đỗ Hữu Sơn, Tân Văn Phong
Địa chỉ liên hệ: Viện Nghiên cứu giống và
Công nghệ sinh học Lâm nghiệp - Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam P Đức Thắng
-Bắc Từ Liêm - Hà Nội.
Đặc điểm ưu việt:
Chống chịu bệnh tốt.
Vùng áp dụng: Krông Năng – Đăk Lắc, Ba
Vì – Hà Nội, Mai Sơn – Sơn La và những
nơi có điều kiện sinh thái tương tự.
Khả năng cung cấp giống: Cây ghép
3 GIỐNG QUỐC GIA DÒNG 816
Ký hiệu: MC.KRN.12.16
Quyết định: 65/QĐ-BNN-TCLN, ngày
11/01/2013.
Tác giả: Nguyễn Đình Hải, Lê Đình Khả,
Mai Trung Kiên, Hồ Quang Vinh, Hà Huy
Thịnh, Đỗ Hữu Sơn, Tân Văn Phong
Địa chỉ liên hệ: Viện Nghiên cứu giống và
Công nghệ sinh học Lâm nghiệp - Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam P Đức Thắng
-Bắc Từ Liêm - Hà Nội.
Đặc điểm ưu việt:
Chống chịu bệnh tốt.
Vùng áp dụng: Krông Năng – Đăk Lắc, Ba
Vì – Hà Nội, Mai Sơn – Sơn La và những
nơi có điều kiện sinh thái tương tự.
Khả năng cung cấp giống: Cây ghép
Hình 3: Dòng 816 tại Mai Sơn – Sơn La
4 GIỐNG TIẾN BỘ KỸ THUẬT DÒNG 842
Trang 10Ký hiệu: MC.KRN.12.29
Quyết định: 65/QĐ-BNN-TCLN, ngày
11/01/2013.
Tác giả: Nguyễn Đình Hải, Lê Đình Khả,
Mai Trung Kiên, Hồ Quang Vinh, Hà Huy
Thịnh, Đỗ Hữu Sơn
Địa chỉ liên hệ: Viện Nghiên cứu giống và
Công nghệ sinh học Lâm nghiệp - Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam P Đức Thắng
nơi có điều kiện sinh thái tương tự.
Khả năng cung cấp giống: Cây ghép Hình 4: Dòng 842 tại Ba Vì – Hà Nội
5 GIỐNG TIẾN BỘ KỸ THUẬT DÒNG 849
Ký hiệu: MC.KRN.11.04
Quyết định: 2040/QĐ-BNN-TCLN, ngày
01/9/2011.
Tác giả: Nguyễn Đình Hải, Lê Đình Khả,
Mai Trung Kiên, Hồ Quang Vinh, Hà Huy
Thịnh, Quách Mạnh Tùng, Đỗ Hữu Sơn
Địa chỉ liên hệ: Viện Nghiên cứu giống và
Công nghệ sinh học Lâm nghiệp - Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam P Đức Thắng
-Bắc Từ Liêm - Hà Nội.
Đặc điểm ưu việt:
Chống chịu bệnh tốt.
Vùng áp dụng: Krông Năng – Đăk Lắc và
những nơi có điều kiện sinh thái tương tự.
Khả năng cung cấp giống: Cây ghép Hình 5: Dòng 849
2 Nhân giống
2.1 Nhân giống hom
2.1.1 Trồng và chăm sóc vườn vật liệu.
- Chọn lập địa trồng vườn vật liệu:
+ Chọn nơi gần với khu nhân giống.
+ Đất tương đối tốt, có tầng đất sâu từ 50cm trở lên.
+ Làm đất toàn diện (cày bừa kỹ, đất phải được đập nhỏ và làm sạch cỏ dại).
- Trồng vườn vật liệu:
Trang 11từ vị trí cành ghép tiếp giáp với gốc ghép lên đỉnh chồi ghép.
- Chăm sóc vườn vật liệu:
+ Định kỳ làm cỏ cho vườn vật liệu giống.
+ Tùy theo điều kiện của thời tiết, khoảng 2 - 3 ngày tưới cho vườn vật liệu 1 lần, lượng nước tưới 5 - 6 lít nước/cây mẹ vườn vật liệu.
+ Trước mùa giâm hom 2 tháng bón thúc cho vườn vật liệu, liều lượng 200g NPK/cây.
+ Hàng năm trước mùa giâm hom phải đốn tạo chồi và làm trẻ hóa cho vườn vật liệu lấy hom (trước mùa giâm hom 3 tháng).
2.1.2 Vật tư, dụng cụ và thiết bị cần thiết cho giâm hom.
- Vật liệu giâm hom: là hom chồi vượt được cắt từ vườn vật liệu giống,
hom bánh tẻ (nửa hóa gỗ), có sinh trưởng tốt và không bị sâu bệnh.
- Các dụng giâm hom: Kéo cắt cành, dao ghép, xô, chậu và bình phun
+ Giá thể giâm hom là (1/3 cát vàng + 1/3 trấu + 1/3 rơm ủ hoai)
+ Nhà lều giâm có khung vòm hình bán nguyệt, cao khoảng 80 - 90 cm có chiều dài, chiều rộng bằng luống giâm hom và được phủ bằng nilon trắng để giữ
ẩm và có hệ thống phun mù tự động trong các lều giâm hom.
- Khu huấn luyện cây hom:
+ Vườn ươm có dàn che nắng với độ tàn che khoảng 50 - 60 % ánh sáng trực xạ.
- Mặt bằng vườn ươm, hệ thống tưới phun.
- Nhà kho ủ hỗn hợp ruột bầu.
Trang 122.1.3 Các bước tiến hành và thao tác kỹ thuật cơ bản khi giâm hom.
- Lấy cành hom từ vườn vật liệu:
+ Hom dùng để làm vật liệu giâm hom là cành bánh tẻ, nửa hóa gỗ, không
bị sâu bệnh thông thường thì khoảng 45 - 60 ngày cắt hom một lần, tùy theo điều kiện thời tiết trong năm, điều kiện đất đai và chăm sóc ở từng nơi.
+ Dùng kéo cắt cành hoặc dao sắc cắt các cành đủ tiêu chuẩn (chú ý: khi cắt phải để lại 1-2 lá của cành lấy hom, để tạo chồi cho lần cắt sau), cắt bớt 1/3 phiến lá của các lá non của cành hom để giảm bớt thoát hơi nước.
+ Việc cắt hom từ vườn vật liệu phải cắt vào buổi sáng và chiều mát Cành đã cắt phải bảo quản nơi giâm mát và được giâm hom ngay trong ngày.
- Cắt hom giâm và giâm hom:
+ Dùng kéo cắt cành hoặc dao ghép sắc cắt hom để hom không bị dập nát Hom dài khoảng 20 - 25 cm (hom ngọn) gồm 4 - 6 nách lá, cắt bớt 1/2 diện tích phiến lá cho hom giâm.
+ Hom đã cắt phải được ngâm ngay vào dung dịch chống nấm Benlatte C nồng độ 0,3% (3g cho một lít nước) trong thời gian 15 - 20 phút, sau đó vớt hom
ra khay cho ráo nước Khi giâm hom phải chấm gốc hom vào chất điều hòa sinh trưởng IBA 1500 ppm từ 1 - 1,5 cm phần gốc hom và cấy ngay vào luống giâm hom Hom cắt lần nào phải cấy ngay trong ngày và không được để qua đêm.
+ Trước khi cấy hom vào luống giâm, giá thể giâm hom phải được sử lý thuốc chống nấm là Benlate C 0,3% (3g hoà trong một lít nước) phun đều trên toàn bộ mặt luống để giảm thiểu nguy cơ của nấm bệnh, phơi khô luống giâm dưới nắng 3-4 ngày, trước khi cấy hom cần tưới đủ ẩm luống giâm.
+ Độ sâu cấy cây hom là 3- 4 cm, khoảng cách cây giữa hai hàng thông thường 8 - 10 cm và cây trong hàng từ 7 - 8 cm.
- Chăm sóc hom giâm:
+ Sau khi cấy xong, phải phun tưới hom giâm đủ ẩm và phủ kín lều giâm hom bằng nilon trắng để giữ ẩm Những ngày nắng gắt thì phải tăng độ tàn che của lều giâm để giảm bớt nhiệt độ trong lều giâm hom.
+ Việc tưới phun cho hom giâm phải được tiến hành hàng ngày, đặc biệt
là 30 - 40 ngày đầu sau khi giâm hom Việc tưới phun vào ban đêm là không cần thiết.
+ Lều tưới phun có hệ thống tưới phun tự động hoặc bán tự động thì một lần phun là khoảng 15 - 20 giây, thời gian giãn cách giữa 2 lần phun: Ngày nắng gắt thì khoảng cách giữa 2 lần phun là 30 - 45 phút phun một lần; Những ngày trời râm mát thì 60 - 90 phút phun một lần.
Trang 13+ Lều giâm hom tưới bằng bình phun tay thì thời gian giãn cách giữa 2 lần phun có thể dài hơn, song phải đảm bảo mặt lá luôn luôn ẩm và hom không
bị héo do thiếu nước.
- Vào bầu cây hom:
+ Sau khi giâm hom khoảng 60 - 75 ngày cây hom bắt đầu ra rễ Khoảng
90 -100 ngày cây hom đã ra rễ ổn định ta tiến hành vào bầu cây
+ Hỗn hợp ruốt bầu là 69% đất vườn ươm + 1% super lân + 30% hỗn hợp chất hữu cớ ủ hoai (Thành phần hỗn hợp chất hữu cơ gồm: 20% phân chuồng + 40% trấu + 40% mùn cưa)
+ Hỗn hợp ruột bầu phải được chế biến sẵn, trộn đều.
- Đưa hỗn hợp vào bầu nên kết hợp cùng lúc với việc cấy cây (vào bầu cây) để tránh cho rễ cây hom không bị tổn thương Những cây hom có rễ quá dài phải dùng kéo sắc cắt bớt.
+ Sau khi vào bầu, cây hom phải được tưới đủ ẩm và chuyển ra khu huấn luyện.
- Chăm sóc cây hom:
+ Sau khi vào bầu, cây hom được đưa sang vườn huấn luyện, cây hom cần được tưới đủ ẩm thường xuyên ngày 2 lần vào sáng sớm 7- 8 giờ sáng và chiều mát 4-5 giờ chiều, lượng nước tưới 4 -5 lít/1m2 bầu.
+ Cây hom cần được che bớt ánh sáng trực xạ từ 50 - 60%.
+ Định kỳ làm cỏ phá váng cho cây hom.
+ Sau 60-70 ngày giảm dần độ che bóng cho cây hom xuống 20 - 30% ánh sáng trực xạ.
+ Định kỳ bón thúc cho cây hom 15 ngày 1 lần, lượng phân bón thúc là dung dịch NPK 1% phun 2 -3 lít dung dịch/ 1m2 bầu.
+ Sau 18 - 20 tháng tuổi cây hom có đường kính gốc 0,5 - 0,8 cm, chiều cao từ 50 - 60 cm trở lên, cây xanh tốt, không sâu bệnh là đủ tiêu chuẩn trồng.
+ Trước khi trồng 1 tháng cây hom cần được đảo bầu, mục đích là loại những cây không đạt tiêu chuẩn để chăm sóc tiếp và huấn luyện cây hom thích hợp dần với điều kiện nơi trồng.
Trang 14Hình 7: Các bước kỹ thuật giâm hom
2.2 Kỹ thuật ghép
2.2.1 Tạo gốc ghép.
- Cây con làm gốc ghép phải được gieo ươm từ hạt của những cây mẹ khoẻ mạnh, ươm trong bầu Polyetylen 20 x 25 cm Hỗn hợp ruột bầu gồm 60% đất vườn ươm + 40% phân Campốt (Thành phần Campốt gồm: 19% phân chuồng + 40% trấu + 40% mùn cưa + 1% super lân) cây con được nuôi dưỡng trong vườn ươm từ 18 - 24 tháng tuổi Sau đó chọn những cây có đường kính gốc từ 1,0-1,5 cm, chiều cao từ 0,6 - 0,8m Cây khoẻ mạnh, sức sinh trưởng tốt, không sâu bệnh.
2.2.2 Bố trí vườn ươm
- Vườn ươm phải được bố trí ở nơi cao ráo, thoát nước.
- Cây con phải được xếp thành luống, hàng ngang trên luống xếp từ 4- 6 bầu sát nhau Cứ hai hàng ngang xếp sát nhau lại chừa một thân bầu giữa các hàng ngang và xung quanh luống lấp đất cao khoảng 2/3 bầu.
2.2.3 Chọn và xử lý cành ghép.
- Cành ghép là cành được lấy từ cây mẹ trồng ở vườn vật liệu giống, chọn những cành bánh tẻ có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng đường kính gốc ghép, có mắt và lá trên cành thưa, có sinh trưởng tốt không sâu bệnh.
Trang 15- Dùng dao hoặc kéo thật sắc cắt cành ghép có chiều dài khoảng 10-12 cm cắt tất cả các lá trên cành ghép, bảo quản ẩm, sau đó chuyển về vườn ươm và phải ghép ngay không nên để cành ghép qua đêm.
2.2.4 Thời vụ và thời tiết ghép.
- Thời vụ ghép từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau tốt nhất là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 năm sau (cuối đông và đầu xuân).
- Nên tiến hành ghép vào những ngày giâm mát, tuyệt đối không ghép vào những ngày có mưa.
Trang 16- Vị trí cây gốc ghép: ở độ cao 25-30 cm của cây gốc ghép, cắt ngọn ở chỗ tiếp giáp mắt của đốt Dùng dao sắc rạch miệng ghép ở phía dưới cuống lá của mắt đốt cây gốc ghép, mặt vát dài 1,2-1,5 cm Cắt miệng ghép dài 2,5-3 cm theo chiều thẳng đứng.
- Cắt cành ghép: Dùng đoạn cành ghép có 2 mắt, dài 5-6 cm, dùng dao cắt vát sát mặt đốt ở phía cây ghép dài 2,5-3 cm, mặt còn lại dài 0,5 cm (Hình 9)
- Cành ghép được gép với gốc gép, đảm bảo vỏ cây 2 bên ăn khớp Dùng nilon quấn như trên.
Trang 17- Thường xuyên nhổ cỏ và dùng que nhọn phá váng mặt bầu.
- Tưới nước ngày hai lần một lần vào buổi sáng từ 7- 8 giờ sáng và một lần vào 4-5 giờ chiều, lượng nước tưới khoảng 4-5 lít /m2 bầu Khi tưới không được tưới vào chỗ tiếp xúc giữa cành ghép và gốc ghép Chú ý sau mỗi trận mưa nếu có nước trong túi nilon chụp cành ghép thì phải tháo túi chụp, sau đó lại chụp lại (Hình 11).
- Khi cành ghép bật chồi được 2- 4 lá thì tháo bỏ túi chụp để chồi ghép phát triển bình thường (Hình 12)
- Chú ý thường xuyên cắt tỉa các chồi mọc ở gốc ghép và mỗi cành ghép chỉ để lại nhiều nhất là 3 chồi mọc theo 3 hướng khác nhau.
- Bón thúc: khi chồi ghép đã ra được 6- 8 lá có thể tưới phân cho cây ghép
15 ngày một lần, lượng phân tưới là dung dịch NPK 1%, tưới trung bình khoảng 2-3 lít / 1m2 bầu và tưới vào buổi chiều mát Chú ý không tưới vào lá non và chỗ ghép.
- Dàn che cao từ 1,8 - 2,0 m, dùng lưới nilon đen che bớt ánh sáng trực xạ khoảng 50 - 60% khi cây ghép đã bật chồi ổn định (sau 2 tháng ghép) giảm dần
độ che bóng xuống 20-30%
- Trước khi cây ghép đem trồng từ 1-2 tháng phải bỏ giàn che bóng hoàn toàn để huấn luyện cây ghép thích hợp dần với điều kiện nơi trồng.
Hình 11: Túi nilong phủ cây ghép Hình 12: Cây ghép tháo bỏ túi phủ
2.3 Tiêu chuẩn cây con
Trang 18- Cây con là cây ghép hoặc cây giâm hom được lấy hom giống từ những cây sai quả ở vườn vật liệu giống đã được công nhận giống
- Cây sinh trưởng và phát triển khoẻ mạnh có màu xanh sẫm, có bộ lá tốt.
- Cây không bị sâu bệnh, không bị cỏ dại xâm lấn, đã qua huấn luyện để
có ngọn chính.
- Hệ thống rễ phát triển tốt, rễ cọc không bị xoắn lại, rễ không bị lệch và không để trong bầu quá lâu.
- Thân cây không bị hại hoặc không bị loét, vết ghép đã liền sinh, ít nhất
là có hai ngọn trên cành ghép (đối với cây ghép).
- Cây giâm hom thì cây con có thời gian nuôi dưỡng trong vườn ươm lớn hơn 18 tháng tuổi, cây con khi đem trồng phải đạt về đường kính gốc ≥ 0,6cm, chiều cao ≥ 0,6m.
- Cây ghép thì chồi ghép ít nhất phải được nuôi trong vườn ghép từ 6 - 12 tháng tuổi khi đem trồng cây giống có đường kính chồi ghép sát với vị trí ghép ≥ 0,5 cm, chiều cao cây ghép ≥ 0,6 m Trước khi trồng 1 tháng cần đảo bầu cho cây ghép, có chiều cao của chồi ghép ≥ 0,5 m là đạt tiêu chuẩn trồng và chăm sóc tiếp những cây ghép chưa đủ tiêu chuẩn còn lại.
2.4 Chú ý:
Cây Mắc-ca là cây lấy quả, nên khâu chọn giống để trồng sẽ quyết định rất lớn đến năng suất, sản lượng hạt của vườn quả sau này Do đó, trong quá trình trồng cần lựa chọn những giống tốt, giống đã qua khảo nghiệm, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Đối với các hộ nông dân hoặc các tổ chức, cá nhân có nhu cầu trồng
Mắc-ca, nhưng không có điều kiện và khả năng nhân giống, tạo giống cây con bằng phương pháp giâm hom hoặc ghép thì nên liên hệ mua giống tại các cơ sở sản xuất giống Mắc-ca có uy tín
Hiện nay, ở Việt Nam có 2 đơn vị được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống cho cây Mắc-ca:
(1) Viện Nghiên cứu giống và công nghệ sinh học lâm nghiệp, phường Đức Thắng – Bắc Từ Liêm – Hà Nội.
(2) Công ty cổ phần xuất nhập khẩu nông lâm sản, hẻm 25, phường Tân Mai – Hoàng Mai – Hà Nội.
Trang 19PHẦN IV KỸ THUẬT TRỒNG MẮC-CA
1 Xử lý thực bì
- Phát trắng toàn bộ diện tích trước khi tiến hành làm đất toàn diện Nếu nơi không có điều kiện thì làm đất cục bộ.
- Trong quá trình làm đất, hạn chế tối đa việc cày xới lớp đất mặt
- Dọn thực bì toàn diện và thu gom những cành nhánh thành các hàng cắt ngang dốc, chừa lại chỗ cho nước chảy và đốt khi an toàn.
Chuẩn bị đất trồng phải hoàn tất trước thời vụ trồng mới
Trang 202.3 Thiết kế bậc thang
Bậc thang theo đường đồng mức được xây dựng bằng cơ giới hoặc thủ công tùy theo điều kiện cụ thể ở bảng sau:
Bảng 6: Kích thước đào đắp của đường đồng mức bậc thang theo độ dốc
Độ dốc bình quân (0) Chiều rộng bậc thang đồng mức (m) Chiều cao taluy dương (m)
Hình 15: Mặt cắt ngang bậc thang theo đường đồng mức trên đất dốc
2.4 Thiết kế bờ mương chống xói mòn
Trên đất dốc bình quân > 100 phải xây dựng hệ thống mương bờ chống xói mòn theo khoảng cách giữa các mương bờ như sau:
Bảng 7: Khoảng cách giữa hai bờ mương theo độ dốc
Độ dốc bình quân (độ) Khoảng cách giữa hai bờ mương
Trang 21Hình 16: Mặt cắt ngang của bờ mương chống xói mòn độ dốc 100
Yêu cầu: Các mương được thiết kế liên tục, không ngắt quãng để dẫn
nước ra các hợp thủy tự nhiên, tuyệt đối không để nước trong mương chảy ra các đường ranh hoặc mặt vườn.
3 Mật độ trồng
Mật độ trồng tuỳ thuộc vào kích thước tán của từng giống, loại đất, đặc điểm khí hậu, phương thức canh tác và mức đầu tư:
- Mật độ trồng từ 204 - 333 cây/ha áp dụng đối với trồng tập trung.
- Mật độ 67-100 cây/ha áp dụng trồng xen với cây nông nghiệp dài ngày.
800, 849,
816, 842
7 x 7 204
Thích hợp cho giống có tán rộng, đất tốt, độ dốc lớn hoặc trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày (ngô, sắn, đậu, lạc, ).
OC, Daddow, A4, 246
10 x 10 100 Trồng xen cây nông nghiệp dài ngày, độ dốc nhỏ (chè, chuối,….)
10 x 15 67 Trồng xen cây nông nghiệp dài ngày thâm canh cao, độ dốc lớn (chè, cà phê,….)