1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Mác -lê nin (1)

22 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 57,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN Phần 2BÀI LÀM MANG TÍNH CHẤT THAM KHẢO Câu 1 Trình bày điều kiện ra đời ,tồn tại đặc trưng và ưu thế của sản xuất hang hóa : • Điều kiệ

Trang 1

MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN (Phần 2)

BÀI LÀM MANG TÍNH CHẤT THAM KHẢO

Câu 1 Trình bày điều kiện ra đời ,tồn tại đặc trưng và ưu thế của sản xuất hang hóa :

• Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hang hóa :

Sản xuất hang hóa là sản xuất ra sản phẩm để bán ,nói cách khác sản xuất hang hóa

là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dung của chính nguười trực tiếp sản xuất mà là đáp ứng nhu cầu tiêu dung của người khác thong qua việc trao đổi buôn bán

1/ Sản xuất hang hóa ra đời dựa trên hai điều kiện :

- Thứ I : Có sự phân công lao động xã hội ,phân công lao động xã hội là sự

chuyên môn hóa sản xuất ,phân công lao động xã hội vào các ngành các vùng các lỉnh vực sản xuất khác nhau

phân công lao động sản xuất ,làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu bởi vì : Khi có phân công lao động xã hội mỗi cơ sơ chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm khác nhau Do đó họ cần đến sản phẩm của nhau ,trao đổi với nhau Mặt khác nhờ có phân cô ng lao động xã hội ,chuyên môn hóa sản xuất làm cho năng suất lao động tăng lên sản thặng dư ngày càng nhiều và tra đổi sản phẩm ngày càng phổ biến

 Phân công lao động là cơ sở ,là tiền đề của sản xuất hang hóa ,phân công lao động xã hội ngày càng phát triển thì sản xuất và trao đổi hang hóa càng mở rộng đa dạng hơn

- Thứ II Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất tức

là những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải

thông qua trao đổi, mua bán hàng hoá

Trong lịch sử, sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư hữu tư liệu sản xuất quy

định Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ

Trang 2

=>>Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người

sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau Đây là một mâu thuẫn

Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau

Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa

• Đặc trưng và ưu thế của sản xuát hang hóa

Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán không phải để sản xuất

ra nó tiêu dùng Theo chủ nghĩa Marx-Lenin thì trong lịch sử loài tồn tại hai

kiểu tổ chức kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp (tự túc, tự cấp) và sản xuất hàng hóa Sản xuất tự cung, tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất của người dân trong thời kỳ công xã nguyên thủy, sản xuất của những người nông dân gia trưởng dưới chế độ phong kiến Trong khi đó, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán

Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản

phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội

Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa đồng thời lại mang tính chất tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người Tính chất tư nhân đó

có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội Đó chính là mâu thuẫn

cơ bản của sản xuất hàng hóa The chủ nghĩa Marx-Lenin thì mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng

hoảng trong nền kinh tế hàng hóa

Mục đích của sản xuất hang hóa là giá trị ,là lợi nhuận chứ không phải là giá trị sử dụng

2/ ưu thế của sản xuất hang hóa

Ưu thế của sxhh

-Thứ nhất: Sự phát triển hang hóa làm cho sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc ,chuyên môn hóa hợp tác hóa ngày càng tăng ,mối lien hệ giữa các ngành ,các vùng chặt chẻ ,từ đó nó xóa bỏ tính tự cung tự cấp bảo thủ trì trệ của nền kinh tế ,đẩy mạnh quá trình xã hội hóa và lao động

Trang 3

-Thứ hai: Tính tách biệt kinh tế đòi hỏi người sản xuất hang hóa phải năng động trong sản xuất –kinh doanh để sản xuất và tiêu thụ hang hóa ,muốn vậy họ phải ra sức cải tiến kỉ thuật ,hợp lý hóa sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm ,cải triến quy trình mẩu mả hang hóa ,tổ chức tốt quá trình tiêu thụ … Từ đó làm tăng năng suất lđxh ,thúc đẩy llsx phát triển

-Thứ ba: Sản xuất hang hoasquy mô lớn có ưu thế hơn so với sản xuất tự cung

tự cấp về quy mô và trình độ kỹ thuật ,công nghệ và khả năng thỏa mản nhu cầu …

vì vậy sản xuất hang hóa quy mô lớn là hình thức tổ chức kinh tế xã hội phù hợp với xu thế thời đại ngày nay

-Thứ tư: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng

và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước không

chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được

nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt tráicủa nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm

ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường sinh thái, xã hội, v.v

Câu 2 Hàng hóa là gì ,hai thuộc tính của hang hóa ? phân tích môi quan hẹ giữa hai thuộc tính đó ?

a) Hàng hoá: là sản phẩm cảu lao động, nó có thể thoả mãn những nhu cầu nhất đinh nào đó của con người thông qua trao đổi mua bán

b)Hai thuộc tính của hànghoá

Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau, sản xuất hàng hoá có bản chất khác nhau ,nhưng một vật phẩm sản xuất ra khi đã mang hình thái là hàng hoá thí đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị

* Giá trị sử dụng:

- Hàng hoá trước hết “là một vật nhờ có những thuộc tính của nó mà thoả mãn được một loại nhu cầu nào đó của con người”, không kể nhu cầu đó được thoả mãn trực tiếp, nếu vật ấy là một tư liệu sinh hoạt, hay gián tiếp, nếu vật ấy là một tư liệu sản xuất

- Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của KH-KT

- Giá trị sử dụng hay công cụ của hàng hoá là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định Với ý nghĩa nh vậy thì giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn

- Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng, nó là nội dung vật chất của của cải không kể hình thức xã hội của của cai đó như thế nào

Trang 4

Một vật khi đã là hàng hoá thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng.Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng là hàng hoá Chẳng hạn, không khí rất cần cho cuộc sống con người, nhưng không phải là hàng hoá.Nước suối, quả dại cũng có giá trị sử dụng , nhưng cũng không phải là hàng hoá.Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hoá thì giá trị sử dụng của nó phải là vật được sản xuất ra để bán, để trao đổi, cũng có nghĩa là vật đó phải có giá trị trao đổi.Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi.

*Giá trị hang hoá

Muốn hiểu được giá trị hàng hoá thì phải di từ giá trị trao đổi.Mác viết:”Giá trị trao đổi trước hết biểu hiện ra như là một mối quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác”

Ví dụ: 1 mét vải =10kg thóc

Sở dĩ hai hàng hoá khác nhau là vải và thóc có thể trao đổi được với nhau, bởi vì giữa những hàng hoá khác nhau đó có một cái gì đó chung, cái chung đó không phải là vải, là thóc…nhưng lại là cái mà cả vải, thóc đều có thể quy về được Mac viết :”Nét đặc trưng của quan hệ trao đổi hàng hoá chính lại là việc phải tạm gạt giá trị sử dụng của hàng hoá ra một bên”

Nếu không phải là giá trị sử dụng thì nó chỉ còn lại là tính chất chung của các thứ khác lao động khác nhau đó là sự hao phí lao động của con người

=>Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của con người sản xuất kết tinh trong hàng hoá, còn giá trị trao đổi chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị hàng hoá

Đến đây ta nhận thức được, thuộc tính tự nhiên của hàng hoá là giá trị sử dụng, thuộc tính xã hôị của hàng hoá là hao phí lao động kết tinh trong nó và là giá

trị.Bất kỳ một vật nào muốn trở thành hàng hoá đều phải có đủ hai thuộc tính :giá trị sử dụng và giá trị, nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó, sản phẩm không thể là hàng hoá

c) Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá

-Giữa hai thuộc tính của hàng hoá luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau.Trong

đó, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi ,còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị bên ngoài.Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau

-Thực chất của quan hệ trao đổi là người trao đổi lượng lao động hao phí của mình chứa đựng trong các hàng hoá.Vì vậy, giá trị là biểu hiện quan hệ giữa những

người sản xuất hàng hoá.Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hoá.Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hoá

-Hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng đây

là sự thống nhất của hai mặt đối lập

Trang 5

-Sự đố lập mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị thể hiện ở chỗ:Người làm ra hàng hóa đem bán chỉ quan tâm đến giá trị hàng hoá do mình làm ra, nếu học có chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để có được giá trị.Ngược lại, người mua hàng hoá lại chỉ chú ý đến giá trị sử dụng của hàng hoá, nhưng muốn tiêu dùng giá trị sử dụng đó người mua phải trả giá trị của nó cho người bán.Nghĩa là quá trình thực hiện giá trị tách rời quá trình thực hịên giá trị sử dụng: giá trị được thực hiện trước, sau đó giá trị sử dụng mới được thực hi

Câu 3 Phân tích lượng giá trị của hang hóa ?các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị ?

1/lượng giá trị của hang hóa

Giá trị của hàng hoá là do lao động xã hội, lao động trừu tượng của người sản

xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Vậy, lượng giá trị của hàng hoá được

đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó

Trong thực tế có nhiều người cùng sản xuất một loại hàng hoá, nhưng điều

kiện sản xuất, trình độ tay nghề, năng suất lao động khác nhau, do đo thời gianlao động để sản xuất ra hàng hoá là không giống nhau, tức là hao phí lao động

cá biệt khác nhau Vì vậy, lượng giá trị hàng hoá không phải tính bằng thời gianlao động cá biệt, mà tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết

Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động cần để sản xuất ra một hàng hoá nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội

với một trình độ trang thiết bị trung bình, với một trình độ thành thạo trung

bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó

Trình độ thành thạo trung bình tức là trình độ lành nghề, trình độ kỹ thuật, mức độkhéo léo của đại đa số người cùng sản xuất mặt hàng nào đó

Cường độ lao động trung bình tức là cường độ lao động trung bình trong xã

hội, sức lao động phải được tiêu phí với mức căng thẳng trung bình, thông

thường

Điều kiện bình thường của xã hội tức là muốn nói dùng công cụ sản xuất loại gì

là phổ biến, chất lượng nguyên liệu để chế tạo sản phẩm ở mức trung bình

Cần chú ý rằng, trình độ thành thạo trung bình, cường độ trung bình, điều kiệnbình thường của xã hội đối với mỗi nước, mỗi ngành là khác nhau và thay đổi

theo sự phát triển của lực lượng sản xuất

Thông thường, thời gian lao động xã hội cần thiêt gần sát với thời gian lao

động cá biệt (mức hao phí lao động cá biệt) của người sản xuất hàng hoá nào

cung cấp đại bộ phận hàng hoá đó trên thị trường

Thời gian lao động xã hội cần thiết là một đại lượng không cố định, do đó

lượng giá trị hàng hoá cũng không cố định Khi thời gian lao động xã hội cần

thiết thay đổi thì lượng giá trị của hàng hoá cũng thay đổi

Như vậy chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội

cần thiết để sản xuất ra hàng hoá, mới quy định đại lượng giá trị của hàng hoá

Trang 6

2/các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hang hóa

Năng suất lao động

Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động Nó được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động, nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại

Giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

• Trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người công nhân

• Mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ

• Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất

• Trình độ tổ chức quản lý

• Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất

• Các điều kiện tự nhiên

Muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên

Cường độ lao động

Cường độ lao động là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động Cường độ lao động tăng lên tức là mức hao phí sức cơ bắp, thần kinh trong một đơn vị thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động tăng lên

Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hóa sản xuất

ra tăng lên và sức hao phí lao động cũng tăng lên tương ứng, vì vậy giá trị của một đơn vị hàng hóa vẫn không đổi Tăng cường độ lao động thực chất cũng như kéo dài thời gian lao động cho nên hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩm không đổi

Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau là đều dẫn đến lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên Nhưng chúng khác nhau là tăng năng suất lao động làm cho lượng sản phẩm (hàng hóa) sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, nhưng làm cho giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm xuống

Trang 7

Tăng năng suất lao động có thể phụ thuộc nhiều vào máy móc, kỹ thuật, do đó, nó gần như là một yếu tố có "sức sản xuất" vô hạn, còn tăng cường độ lao động, làm cho lượng sản phẩm sản xuất ra tăng lên trong một đơn vị thời gian, nhưng giá trị của một đơn vị hàng hóa không đổi.

Tăng cường độ lao động phụ thuộc nhiều vào thể chất và tinh thần của người lao động, do đó, nó là yếu tố của "sức sản xuất" có giới hạn nhất định chính vì vậy, tăng năng suất lao động có ý nghĩa tích cực hơn đối với sự phát triển kinh tế

Độ phức tạp của lao động

Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng hóa Theo mức độ phức tạp của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp

• Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được

• Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới có thể tiến hành được

Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy về lao động đơn giản trung bình, và điều đó được quy đổi một cách tự phát sau lưng những hoạt động sản xuất hàng hóa, hình thành những hệ số nhất định thể hiện trên thị trường

Câu 5 Tư bản là gì? Tại sao nói công thức chung của tư bản có mâu thuẫn?

vì sao phân tích hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn đó?

Bài làm:

1 Công thức chung của tư bản:

Trong lưu thông hàng hóa giản đơn H-T-H, T không phải là tư bản Ở đây T chỉ là phương tiện để đạt tới một mục đích bên ngoài lưu thông

Chỉ trong lưu thông T-H-T thì T mới là tư bản Ở đây T vừa là điểm khởi vừa

là điểm kết thúc của quá trình lưu thông, H chỉ là khâu trung gian Tiền ở đây không chi ra dứt khoát mà chỉ ứng ra rồi thu về nhiều hơn

Mục đích của lưu thông tư bản T-H-T không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm Chính vì thế công thức chung của tư bản là T-H-T’, trong đó T’=T+∆T ∆T là số tiền trội hơn so với số tiền đã ứng ra (giá trị thặng dư) T-H-T’ đúng cho vận động của tư bản: Với tư bản công nghiệp là những giai đoạn T-H và H-T’, còn tư bản cho vay lấy lãi là từ công thức chung được rút gọn thành T-T’

Như vậy: “Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư (GTTD)”

Trang 8

Sau khi nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư trong CNTB, có thể định nghĩa đầy đủ: “Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê”.

2 Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản:

- Công thức chung của tư bản: T-H-T' (T’ = T + ∆T) Vậy ∆T xuất hiện từ đâu?

+ Trong lưu thông:

Trong lưu thông, dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì cũng không tạo ra ∆T

* Trường hợp trao dổi ngang giá: Chỉ là sự thay đổi của hình thái giá trị từ

T-H và từ T-H-T nhưng tổng giá trị và phần giá trị của mỗi bên tham gia trao đổi trước

và sau đều không thay đổi Tuy nhiên, về giá trị sử dụng thì đôi bên đều có lợi

* Trường hợp trao đổi không ngang giá, có thể có ba trường hợp xảy ra:Thứ 1, Trong trường hợp nhà tư bản bán hàng hóa cao hơn giá trị, nhưng đến lượt anh ta lại là người đi mua (vì không có ai chỉ bán mà không mua) thì phải mua hàng hóa cao hơn giá trị ấy Hành vi bán hàng hóa cao hơn giá trị không mạng lại bất cứ chút thặng dư (∆T) nào

Thứ 2, Trường hợp nhà tư bản cố mua hàng hóa thấp hơn giá trị cũng không mang lại chút thặng dư (∆T) nào Vì đến khi anh ta bán cũng buộc phải bán hàng hóa thấp hơn giá trị

Thứ 3, nếu xã hội có một số kẻ lường gạt chuyên mua rẻ, bán đắt thì cái ∆T hắn có là do chiếm đoạt của người khác mà có Cái hắn được là cái người khác mất

đi, nhưng trong toàn xã hội thì tổng giá trị của hàng hóa là không thay đổi

Như vậy, trong lưu thông dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá đều không tạo ra giá trị thặng dư cho các nhà tư bản

+ Ngoài lưu thông:

Nếu người trao đổi vẫn đứng 1 mình với hàng hóa của anh ta, thì giá trị của hàng hóa ấy không hề tăng lên

Nếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm thặng dư thì phải bằng lao động của chính mình Chẳng hạn da thuộc phải trở thành giày da, ở đó giày da có giá trị lớn hơn da thuộc vì nó đã thu hút nhiều lao động vào trong giày da Còn giá trị của da thuộc vẫn không đổi

Vậy là "Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông, đồng thời không phải trong lưu thông"[1]

Đó chính là mâu thuẩn trong công thức chung của tư bản Để giải quyết mâu thuẩn đó, C.Mác đã chỉ rõ: "Phải lấy những quy luật nội tại của lưu thông hàng hoá làm cơ sở"

3 Hàng hoá sức lao động là chìa khoá để giải quyết mâu thuẩn trong công thức chung của tư bản:

Trang 9

a) Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa: “Sức lao

động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong cơ thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”[2]

Không phải sức lao động nào cũng trở thành hàng hóa Trong xã hội nô lệ thì sức lao động của nô lệ không phải là hàng hóa vì bản thân anh ta đã thuộc sở hữu của chủ nô, anh ta không có quyền bán sức lao động Người thợ thủ công tự do tuy được tùy ý sử dụng sức lao động của mình nhưng sức lao động của anh ta cũng không phải là hàng hóa vì anh ta chỉ sản xuất tự cung tự cấp nuôi sống mình, chứ chưa buộc phải bán sức lao động để kiếm sống

Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi đồng thời thỏa mãn hai điều kiện sau: Người lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức sức lao động của mình như một hàng hóa.; Người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt trở thành

“vô sản”, để tồn tại anh ta buộc phải bán sức lao động của mình để kiếm sống

Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến thành

tư bản Nhưng trước CNTB thì hàng hóa sức lao động chưa xuất hiện Chỉ dưới CNTB thì hàng hóa sức lao động mới xuất hiện và trở thành phố biến

b) Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động: Giá trị hàng hóa sức lao động

cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định Muốn sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt cần thiết về ăn, ở, mặc, học nghề Ngoài ra

họ còn phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình và con cái

Giá trị của hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị của những

tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động Giá trị ấy được hợp thành bởi: Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao dộng, duy trì đời sống của bản thân người công nhân; Phí tổn đào tạo người công nhân; Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết cho con

cái người công nhân Sự biến đổi giá trị hàng hóa sức lao động một mặt tăng lên do

sự tăng lên của nhu cầu trung bình của xã hội về hàng hóa, dịch vụ, học tập, học

nghề mặt khác lại bị giảm xuống do sự tăng năng suất lao động xã hội.

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động Nhưng khác với hàng hóa thông thường, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động

Nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường một loại hàng hoá đặc biệt, đó là hàng hoá sức lao động, mà giá trị sử dụng của nó có tính chất đặc biệt là nguồn gốc sinh

ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt Chính đặc tính này đã làm cho hàng hoá sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển thành tư bản

Trang 10

Do đó việc tìm ra và lý giải phạm trù hàng hoá sức lao động được coi là chìa khoá

để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản Nếu "T" của tư bản không dùng để bóc lột sức lao động của công nhân thì không thể có "T'=T+∆T”

Câu 8 Trình bày nội dung và vai trò của quy luật sản xuất giá trị thặng dư trong xã hội tư bản Tại sao nói sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh

tế ?

Bài làm:

Quy luật kinh tế cơ bản là quy luật phản ánh bản chất và mục đích của 1 fương thức sản xuất Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế cơ bản Bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, công nhân buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản

Lao động ko công của công nhân làm thuê là nguồn gốc của giá trị thặng dư, nguồn gốc làm giàu của nhà tư bản Sản xuất giá trị thặng dư là mục đích duy nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Vì mục đích đó các nhà tư bản sản xuất bất cứ loại hàng hoá nào kể cả vũ khí giết người miễn là thu đc nhiều giá trị thặng dư Phương tiện để đạt đc mục đích là tăng cường bóc lột công nhân làm thuê trên cơ

sở phát triển kỹ thuật tăng cường lao động, kéo dài ngày lao động, tăng năng suất lao động

Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản

Nội dung của Quy luật:

Là tạo ra càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lí để bóc lột ngày càng nhiều lao động làm thuê Quy luật giá trị thặng dư có tác dụng manh mẽ trong nhiều mặt của đời sống xã hội Một mặt nó thúc đẩy kỹ thuật và fân công lao động fát triển, làm cho lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa fát triển với tốc độ nhanh và nâng cao năng suất lao động Mặc khác, nó làm cho các mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản trc hết là mâu thuẫn cơ bản của nó, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất vs sự chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ngày càng gay gắt

Sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa ko chỉ phản ánh mục đích của nền sản xuất

tư bản chủ nghĩa mà còn vạch rõ fương tiện, thủ đoạn mà các nhà tư bản sử dụg để đạt đc mục đích như tăng cường bóc lột công nhân làm thuê bằng cách tăng cường

độ lao động và kéo dài ngày lao động, tăng năng suât lao động và mở rộng sản xuất

Vai trò của quy luật giá trị thặng dư

- Là động lực vận động phát triển của CNTB , đồng thời nó cũng làm cho mọi mâu thuẩn của CNTB ngày càng sâu sắc đưa đên sự thay thế tất yếu CNTB bằng một xã hội cao hơn CNCS

Trang 11

- Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẻ , nền sản xuất có tính xã hội hóa ngày càng cao ,mâu thuaanrcos tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân TBCN ngày càng gay gắt

Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của tư bản

- Quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời tồn tại của CNTB,nó quyết định các mặt chủ yếu ,các quá trình kinh tế chủ yếu Của CNTB

- Mục đích sản xuất của chủ nghĩa tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là sản xuất ra giá trị thặng dư ,là nhân giá trị lên Theo đuổi giá trị thặng dư tối

đa là mục đích động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mổi nhà tư bản cũng như toàn bộ xã hội tư bản

- Sản xuất giá trị thặng dư tối đa không chỉ phản ánh mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa , mà còn vạch rỏ phương tiện , thủ đoạn mà các nhà tư bản sử dụng để đạt được mục đích như tăng cường bốc lột công nhân làm thuê bằng các biện pháp

Câu 13: Cách mạng xã hội chủ nghĩa là gì? Vì sao cách mạng xã hội chủ nghĩa lại ra đời? Cách mạng xã hội chủ nghĩa có mục tiêu động lực và nội dung nào? Bài làm:

• C/m XHCN là cuộc cách mạng nhằm thay thế chế độ TBCN lỗi thời bằng chế độ XHCN Trong cuộc cm đó, GCCN là giai cấp lãnh đạo và cũng với quần chúng nhd lđ xây dựng 1 xh công bằng, dân chủ, văn minh là một cuộc cách mạng chính trị, được kết thúc bằng việc giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động giành được chính quyền, thiết lập được nhà nước chuyên chính vô sản - nhà nước của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động

• C/m XHCN ra đời bởi nguyên nhân sâu xa là do mâu thuẫn giữa LLSX có tính xh hóa cao với tính chất tư nhân TB CN về tư liệu sx dưới CNTB Mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế là tính tổ chức, tính kế hoạch cao trong từng doanh nghiệp ngày càng tăng với tính vô tổ chức của sx toàn xh do tính cạnh tranh của nền SXHH TBCN tạo ra Vì vậy, để phù hợp với tính chất ngày càng xh hóa cao của LLSX chỉ có thể là sự thay thế quan hệ sx TBCN bằng quan hệ sx XHCN thông qua cuộc cm XHCN

CÁNG MẠNG XHCN CÓ MỤC TIÊU, ĐỘNG LỰC & NỘI DUNG NÀO?

• Mục tiêu cao cả nhất của cm XHCN đó là phải hiện thực hóa qua từng chặng đường, từng bước đi, thông qua quá trình lđ đầy nhiệt huyết và sáng tạo của quần chúng nhd lđ bằng công tác tổ chức xh 1 cách khoa học trên tất cả các lĩnh vực của nhà nước XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đ CS

Ngày đăng: 31/07/2016, 17:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w