Quy trình sản xuất đường của các nhà máy đường có thể khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, địa hình, chất lượng mía của mỗi vùng.. - Chính phủ có quyết định 194/QĐ khoan nợ, giãn
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nhiều ngành công nghiệp cũng thi nhau cùng phát triển Trong đó, ngành công nghệ thực phẩm được mọi người quan tâm khá nhiều vì hiện nay nhu cầu ăn uống ngày càng cao, giá trị dinh dưỡng là yếu tố cần quan tâm trong thực phẩm
Đường là một hợp chất không thể thiếu trong cơ thể mỗi người, nó cung cấp rất nhiều dinh dưỡng năng lượng trong cơ thể Ngoài ra đường là nguyên liệu quan trọng trong các ngành công nghiệp khác như: bánh kẹo, nước giải khát, đồ hộp.…
Việc phát triển đường cũng đóng góp một phần kinh tế cho đất nước, mang lại lợi nhuận cao đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước, giải quyết được việc làm cho người lao động Ngoài ra việc thu mua mía với số lượng cao cũng giúp ích rất nhiều cho những người nông dân có thêm thu nhập
Đường được làm từ mía và củ cải đường nhưng ở nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho sự phát triển của cây mía Nên ở nước ta chỉ có thể sản xuất đường từ cây mía
Quy trình sản xuất đường của các nhà máy đường có thể khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, địa hình, chất lượng mía của mỗi vùng Nhưng yêu cầu chung là phải sản xuất được sản phẩm đường có chất lượng đạt tiêu chuẩn mới có thể đưa ra thị trường Vì vậy, quy trình sản xuất đóng vai trò rất quan trọng đòi hỏi người kỹ sư cần phải nắm rõ các yếu tố liên quan đến quá trình sản xuất
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CP MÍA ĐƯỜNG 333
1 Lịch sử thành lập và phát triển của công ty
Công ty mía đường 333 tiền thân là đơn vị quân đội là sư đoàn 333 trực thuộc quân khu 5, Bộ Quốc Phòng được thành lập tháng 10 năm1976 với nhiệm vụ chính là làm kinh tế và bảo vệ vùng giải phóng tỉnh ĐắkLắk
Đến tháng 10 năm 1982 theo quyết định của chính phủ, sư đoàn 333 được đổi tên thành Xí Nghiệp Liên ợp Nông Công Lâm Nghiêp (NCLN) 333 thuộc liên hiệp các
xí nghiệp cà phê Việt Nam quản lý trực tiếp Từ đấy đến năm 1992 hoạt động chủ yếu
là hợp tác với Liên Xô cũ để sản xuất chế biến cà phê
Tháng 11 năm 1991 theo nghị định 388/CP-NĐ của chính phủ về việc thành lập lại các Doanh nghiệp Nhà Nước, xí nghiệp liên hợp NCLN 333 được thành lập lại theo quyết định 217 ngày 9/4/1993 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Xí nghiệp trực thuộc tổng công ty cà phê Việt Nam
Xí nghiệp liên hợp NCLN 333 từ một cơ quan quản lý chuyển sang sản xuất kinh doanh trực tiếp để tồn tại nên gặp rất nhiều khó khăn Trước tình hình đó, lãnh đạo xí nghiệp được sự chỉ đạo của các nghành liên quan đã lập dự án trình và được phê duyệt cho đầu tư xây dựng nhà máy đường, sản xuất, chế biến đường kính trắng RS
Ngày 19/4/1997 theo quyết định 130 của Tổng công ty cà phê Việt Nam, Xí nghiệp liên hợp 333 được đổi tên thành Công ty Mía đường 333 để phù hợp với chức năng và nhiệm vụ mới
Ngày 30/12/2005 theo quyết định số 3762 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chuyển từ Doanh nghiệp nhà nước Công ty Mía đường 333 thành Công ty
Cổ phần Mía đường 333
Từ đó đến nay, hoạt động của Công ty ngày càng mở rộng và đạt được nhiều thành tích nổi bật Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều khởi sắc, đồng thời còn duy trì và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động tại địa phương nơi công ty hoạt động
Trang 3Bảng 1.1 Thống kê tài chính của công ty
Thời gian Vốn điều lệ Hình thức tăng vốn
Tháng 6/2006 10 Tỷ đồng Vốn điều lệ mới khi thành lập công ty Tháng 9/2009 11.5 Tỷ đồng Phát hành 150.000 cổ phiếu để chi trả cổ
tức Tháng 3/2010 23 Tỷ đồng Phát hành 1.150.000 cổ phiếu cho cổ
đông hiện hữu theo tỷ lệ 1:1
2 Địa điểm xây dựng công ty
Công ty cổ phần Mía đường 333 được đóng trên địa bàn phía đông tỉnh ĐăkLăk cách thành phố Buôn Mê Thuột 64 km dọc theo quốc lộ 26 đường đi Nha Trang thuộc Thị trấn: Eaknốp – uyện: Eakar – Tỉnh: Đăklăk Địa chỉ cụ thể như sau:
- Tên công ty: Công ty Cổ phần Mía đường 333
- Tên giao dịch: Công ty Cổ phần Mía đường 333
- Tên giao dịch quốc tế: The 333 Suger Joint stock Company
- Tên viết tắt: The 333 SUCO
- Trụ sở chính: Thị trấn Eaknốp – uyện Eakar – Tỉnh DắkLắk
- Điện thoại: 0500.829111 – 0500.829112 – Fax: 0500.829089
- Email: Sugarjscom@yahoo.com.vn – ctcpmd333@yahoo.com.vn
3 Những thuận lợi và khó khăn của công ty
Thuận lợi:
- Công ty nằm trên địa bàn có quỹ đất rộng lớn, điều kiện tự nhiên ưu đãi, mưa thuận, gió hòa, cộng thêm có sự tác động của con người thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp ngắn ngày, đây là nguồn nguyên liệu dồi dào của công ty trong việc sản xuất chế biến sản phẩm
- Vị trí của Công ty nằm trên quốc lộ 26 (Nha Trang – Buôn Ma Thuột), vùng nguyên liệu có bán kính vận chuyển gần, đây là yếu tố giảm chi phí đầu vào cho sản phẩm
- Công ty nằm trong khu quy hoạch công nghiệp phía đông tỉnh ĐắkLắk, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho công ty về vị trí địa lý
Trang 4- Chính phủ có quyết định 194/QĐ khoan nợ, giãn nợ và miễn thuế cho các doanh nghiệp ngành Đường trong những năm khó khăn, các chính sách hỗ trợ khi Cổ phần hóa, …
- Các tổ chức tín dụng tạo điều kiện cho công ty vay vốn đầu tư vùng nguyên liệu, đầu tư cải tạo máy móc thiết bị …
Khó khăn:
- Do ảnh hưởng của khí hậu và đặc điểm sản xuất ngành đường nên công ty chỉ sản xuất được 1/2 thời gian trong năm (mía cây có thời vụ), thời gian còn lại lao động không có việc làm ổn định
- Các nhà máy đường trong cả nước đồng loạt tăng công suất, đầu tư thiết bị, hạ giá thành nên cạnh tranh ngày càng gay gắt
- Lộ trình hội nhập tổ chức APTA tự do thương mại sản phẩm đường năm 2005
là một thách thức lớn đối với công ty nói riêng và ngành đường nói chung
- Trong khu vực có nhiều nhà máy chế biến sản phẩm từ nguyên liệu sản phẩm nông nghiệp như: Nhà máy chế biến tinh bột sắn – nguyên liệu từ cây sắn, nhà máy chế biến thức ăn gia súc Việt Thành – nguyên liệu từ bắp, đậu, 3 nhà máy chế biến hạt điều nhân xuất khẩu – nguyên liệu từ hạt điều Do vậy, quỹ đất giành cho đầu tư trồng mía bị thu hẹp và bị chuyển sang trồng cây khác
- Lao động cũng có sự chuyển dịch giữa các công ty, nhà máy Vì trong khu vực này, các nhà máy có quy trình chế biến tương đối giống nhau
4 Các sản phẩm của công ty
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, cạnh tranh ngày càng diễn ra khốc liệt hơn Nếu doanh nghiệp chỉ tập chung các nguồn lực của mình vào một mặt hàng, thì rủi ro sẽ rất cao Do vậy doanh nghiệp cần phân bổ nguồn lực của mình vào nhiều mặt hàng Đây chính là cách tốt nhất để chia nhỏ rủi ro Vì nếu một mặt hàng bị thất bại trên thị trường, thì việc kinh doanh của doanh nghiệp vẫn được đảm bảo bởi các mặt hàng còn lại Trên cở sở đó, công ty cổ phần mía đường 333 cũng đã lựa chọn cho mình một chiến lược đa dạng hóa Ngoài sản xuất sản phẩm chính là đường RS, Công
ty còn phát triển thêm một số hoạt động sản xuất kinh doanh phụ Cụ thể là:
- Sản xuất chế biến hạt điều xuất khẩu (Năm 2003)
- Sản xuất phân vi sinh KOM X (Năm 2000)
Trang 5- Kinh doanh phân vô cơ
- Kinh doanh xăng dầu (Năm 1997)
- Sản xuất kinh doanh nước lọc tinh khiết (Năm 2002)
- oạt động sản xuất kinh doanh của công ty tập trung vào 2 sản phẩm đó là đường RS và hạt điều xuất khẩu
5 Sơ đồ nhà máy
Sơ đồ nhà máy đường 333
Trang 6Sơ đồ 1.1 Sơ đồ nhà máy đường 333
Ép lấy nước
P kiểm nghiệm
P phân tích chữ dường
Khu cung gấp nhiệt
Trợ tinh
Ly tâm
Kho chứa
và bảo
quản
Bãi tiếp nhận nguyên liệu Cân
P cân
xe mía vào
P kinh doanh
P kỹ thuật
Kho bảo quản
Phòng bảo
vệ
Cổng vào
Trang 76 Cơ cấu tổ chức nhân sự tại nhà máy
Sơ đồ tổ chức nhân sự tại nhà máy
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ tổ chức nhân sự tại nhà máy
P Ó TỔN ÁM
Đ C
Phòng
tổ chức hành chính
Phòng
kế toán – tài chính
Xưởng đường
Cửa hàng xăng dầu
Xưởng nước lọc
Xưởng điều
Trang 8 Chức năng và nhiệm vụ của từng ban:
Công ty có 7 đơn vị phòng ban Mỗi phòng ban phụ trách nhiệm vụ riêng nhằm điều hành tốt công việc của công ty
- Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ tuyển dụng, tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức cán bộ, tổ chức lao động, đào tạo nâng cao bậc lương cho cán bộ công nhân viên
- Phòng kế toán – tài chính: tính toán giá thành chi tiêu
- Phòng kế hoạch kinh doanh: kinh doanh bùn, mật gỉ, đường thành phẩm, tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ…
- Phòng kỹ thuật: nghiên cứu, xây dựng, quản lý các quy trình công nghệ, quy trình vận hành
- Phòng nông vụ: tổ chức thực hiện công tác khai thác đầu tư, thu mua, vận chuyển, thanh quyết toán, thu hồi nợ đầu tư mía nguyên liệu
- Phòng kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm (KCS): kiểm tra chất lượng sản phẩm
- Phân xưởng sx đường: trực tiếp sản xuất sản phẩm chủ yếu của công ty
- Phân xưởng chế biến hạt điều: trực tiếp sản xuất sản phẩm hạt điều xuất khẩu
Riêng phân xưởng đường được chia thành 3 tổ:
- Tổ cán ép
- Tổ chế hóa
- Tổ nấu đường – ly tâm – thành phẩm
Đứng đầu mỗi ca là kíp trưởng, nhà máy hoạt động liên tục 24h/ngày:
- Ca 1: 10h – 18h
- Ca 2: 18h – 2h
- Ca 3: 2h – 10h
Trang 9CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐƯỜNG CÁT TRẮNG
1 Sự phát triển của ngành đường trên thế giới và Việt Nam
1.1 Thế giới
Trên thế giới có 105 nước sản xuất đường trong đó có khoảng 64 nước sản xuất đường từ mía, 32 nước sản xuất đường từ củ cải và 9 nước sản xuất đường từ mía và củ cải
Ở Châu Âu đường được sản xuất chủ yếu từ củ cải đường Trên thế giới đã có những nhà máy được thiết kế với công suất 3000 tấn/ngày
Lượng tiêu thụ đường bình quân trên thế giới: 20 – 22 kg/người/năm
1.2 Tại Việt Nam
Nước ta có truyền thống sản xuất đường mía từ lâu đời Từ lâu nhân dân ta đã biết sử dụng những máy ép đơn giản bằng đá hay bằng gỗ dùng sức trâu bò kéo Nước mía ép đã được nấu thành nhiều dạng sản phẩm khác nhau: trầm đường phèn, đường thô, đường cát nâu, đường cát vàng Ở nhiều nơi nhân dân ta đã biết sử dụng lòng trắng trứng, vôi, đất bùn để làm sạch nước mía, sản xuất ra các loại đường cát trắng như: đường phổi, đường miếng, các loại đường khác…
Sau ngày thống nhất đất nước chúng ta tiếp nhận và quản lí một số nhà máy đường hiện đại: nhà máy đường Quảng Ngãi (200 tấn/ngày), iệp òa (1500 tấn/ngày )… hai nhà máy luyện đường lớn là Biên òa (200 tấn/ngày), Khánh Hòa (150 tấn/ngày), La Ngà (2000 tấn/ngày), Tây Ninh, Bourbon (công suất thiết kế
16000 tấn mía/ngày)… Số nhà máy đường trong giai đoạn này là 9 nhà máy
Trong những năm vừa qua công nghiệp sản xuất đường mía đã có sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng đường được sản xuất từ mía Ngành mía đường Việt Nam đã thật sự bùng nổ phát triển trong kế hoạch 5 năm 1995 – 2000 với số lượng tổng cộng là 44 nhà máy đường mía và 2 nhà máy đường luyện
iện nay Việt Nam đã có hơn 50 nhà máy đường lớn nhỏ phân bố đều trên khắp đất nước:
+ Miền Bắc: nhà máy đường Lam Sơn, Vạn Điềm, Sông Lam
+ Miền Trung: nhà máy đường Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Bình Định, ia Lai… + Miền Nam: nhà máy đường Biên òa, Tây Ninh, Bourbon…
Trang 10 Trong đó nhà máy đường Bourbon có công suất lớn nhất Việt Nam là 16000 tấn/ngày
2 Vai trò của đường trong sản xuất và đời sống
1.1 Đối với đời sống
- Đường saccharose C12H22O11 có một vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người
- Đường là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể Được cơ thể chuyển hóa đầu tiên khi cơ thể cần năng lượng cho các hoạt động của mình
- Là nguồn dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể
- Tạo vị, tăng giá trị cảm quan cho nhiều loại thực phẩm
1.2 Đối với sản xuất
- Đường là nguồn nguyên liệu quan trọng trong nghành công nghiệp thực phẩm
- Trong công nghiệp sản xuất bánh kẹo
- Trong công nghiệp chế biến các sản phẩm từ sữa
- Nước giải khát
- Thức ăn gia súc
- Trong công nghiệp được
3 Giá trị của đường mía
- Sản phẩm chính của cây mía là đường được lấy ra từ thân cây Bản chất của đường mía là một loại disaccharide ( saccaroza ) có vị ngọt, nồng độ ổn định, có khả năng tồn trữ lâu, không độc như các loại đường hóa học
- Về giá trị dinh dưỡng, đường mía là nguồn năng lượng quan trọng, 1 kg đường cung cấp trên 10% nhu cầu năng lượng của cộng đồng
- Ngoài đường là sản phẩm chính của công nghiệp đường ra, còn có các sản phẩm phụ quan trọng như: bã mía, mật rỉ, bùn lọc có thể sử dụng, chế biến các sản phẩm có giá trị cao hơn 2 – 3 lần so với sản phẩm chính
Trang 11CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT ĐƯỜNG
Quy trình sản xuất đường cát trắng có 3 công đoạn chính:
Ép mía: tạo điều kiện ép dễ dàng hơn, nâng cao năng suất hiệu suất ép Ngoài việc nâng cao hiệu suất ép và năng suất bằng áp lực và vận tốc điều chỉnh, nhà máy đường Bến Tre còn cho nước nóng vào để thẩm thấu bã, nước mía thẩm thấu có nhiệt độ yêu cầu là 60 – 70oC, lượng nước sử dụng là 20 – 25% so với mía
1.2 Cơ sở lý thuyết của khâu cán ép
Trước khi qua cán ép mía phải được cân và xử lý sơ bộ Mía được đưa vào dao chặt mía để tạo thành những sợi nhỏ nhằm lấy triệt để nước mía
Ép mía là dùng lực làm cho mía bị nén cao độ, phá vỡ tế bào mía ngậm đường làm nước mía chảy ra Nguyên lý chung là dùng lực cơ học xé và ép dập cây mía là biến đổi thể tích lớp mía phá vỡ tổ chức tế bào của mía đẻ lấy nước mía iện nay trong công nghiệp sản xuất đường có 2 phương pháp chính được sử dụng để sử dụng để lấy nước mía: phương pháp ép mía và phương pháp khuyếch tán Trong đó phương pháp ép mía được sử dụng khá phổ biến từ trước
Trang 12đến nay Phương pháp khuyếch tán là một phương pháp hiện đại được sử dụng chủ yếu ở nhà máy đường mới xây dựng như: La Ngà, Nha Trang…
2 QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ KHÂU CÁN ÉP
Trang 13phân tích chữ đường mía, sau khi cân xong xe chạy đến cẩu trục, tại dây cẩu trục sẽ bốc dỡ mía từ ôtô xuống tập kết tại bãi rộng chứa mía chờ ép hoặc đưa xuống bục xả mía đưa xuống bàn lùa để ép ngay Sau đó xe chạy ra cân trọng lượng xe để xác định trọng lượng mía Qua phòng KCS có thể biết được hàm lượng đường từ đó phân loại mía và tính giá thành cho người trồng mía
Phòng nông vụ có nhiệm vụ theo dõi vùng mía xác định độ chín của mía từng vùng để có kế hoạch thu mua mía về cho nhà máy Mía đưa về nhà máy phải tranh thủ
ép càng sớm càng tốt vì để lâu đường trong mía sẽ bị chuyển hóa gây tổn thất đường Sacc và gây khó khăn cho làm sạch
Nhà máy sử dụng 2 cẩu trục có trọng tải 10 tấn và 15 tấn để bóc dỡ mía và đưa mía vào bàn lùa để chuẩn bị cho quá trình xử lý mía
Mía sẽ theo băng chuyền của bục xả mía đi xuống bàn lùa, trên bàn lùa có trục khỏa bằng để dàn đều, san bằng cho lớp mía rớt xuống băng tải 1 được đều và có chiều dày ổn định trước khi vào dao chặt, tránh quá dày làm quá tải động cơ vì mía có vỏ cứng ngoài, vỏ có phần trơn làm khó ép Băng tải số 1 làm bằng thép, phần bằng tiếp nhận mía, phần nghiêng đưa mía lên cao,trên băng tải số 1 có lắp 2 dao chặt: dao chặt
sơ bộ gồm 32 dao có lưỡi dao và sống dao, dao chặt 1 gồm 28 dao có cấu tạo lưỡi dao hình chữ nhật Mía sau khi rơi xuống băng tải 1 sẽ đi qua dao sơ bộ rồi đến dao băm 1 Mục đích của việc băm mía là nhằm nâng cao năng suất ép do mía được san thành lớp dày đồng đều mía được dễ kéo vào máy ép không bị trượt, không bị nghẽn đồng thời nâng cao hiệu suất ép do lớp vỏ cứng bị phá vỡ các tế bào lộ ra đồng đều Vì vậy lực
ép được phân bố đều làm cho nước mía được dễ dàng lấy ra Tiếp tục mía đi lên phần nghiêng của băng tải số 1 rồi đổ xuống băng tải mía số 2, khi đổ xuống như vậy lớp mía nằm ở dươi băng tải được lật lên trên để xử lý được triệt để hơn Băng tải mía có
hệ thống điều chỉnh tốc độ để đảm bảo ổn định chiều cao của lớp mía trên băng tải vào
xử lý và ép mía Sau đó mía vào dao chặt số 2 tại đây mía bị xé thành từng sợi nhỏ, cấu trúc của cây mía bị phá vỡ hoàn toàn, tế bào mía lộ ra và san lấp mía thành 1 lớp giày ổn định trên băng làm tăng năng suất và hiệu suất ép, qua dao chặt 2 mía được làm tơi 60 – 65 % Sau khi qua máy băm thành lớp, còn nhiều cây mía chưa được băm nhỏ, cần được xé và đánh tơi ra để mía vào máy éo dễ dàng hơn, hiệu suất ép sẽ tăng lên Do đó người ta đã sử dụng máy đánh tơi để giải quyết vấn đề đó Sau đó đi vào băng tải cao su chạy qua hệ thống tách sắt Mục đích của máy tách sắt được gắn bằng
Trang 14hệ thống nam châm để hút sắt ra khỏi mía tránh làm hư hỏng thiết bị và ảnh hưởng đến
chất lượng sản phẩm Sau khi qua băng tải cao su va máy tách sắt mía được đưa vào
dàn ép Tiếp tục mía đi vào hệ thống máy ép
Nhà máy sử dụng hệ thống 5 máy ép Phương pháp ép được sử dụng tại nhà máy
là phương pháp ép thẩm thấu có sự kết hợp nước mía loãng làm nước thẩm thấu nhờ
tác dụng của lực cơ học phá vỡ các tế bào mía và tách đường ra khỏi mía, mía sau khi
ra khỏi máy trước và vào máy sau qua băng tải trung gian, nhà máy sử dụng băng tải
trung gian là băng tải cào để vận chuyển bã mía Để lấy được tối đa lượng đường có
trong mía tốt nhất là thẩm thấu nghĩa là: khi mía đi vào máy ép tế bào mía bị rách va bị
ép dẹp lại nước mía chảy ra Sau khi mía ra khỏi máy ép tế bào mía lại nở ra và có khả
năng hút nước mạnh nên ta dùng nước phun vào bã để nước ngấm vào tế bào mía hòa
tan phần đường còn trong tế bào mía, khi qua lần ép sau thì đường lại tiếp tục được lấy
ra, cứ như vậy tiếp tục cho đến khi đường lấy được ở mức độ cao nhất
Nhà máy sử dụng hệ thống thẩm thấu hỗn hợp, dùng nước nóng tưới vào máy ép
số 4, nước mía ở máy 5 thẩm thấu cho máy 3, nước mía ở máy 4 thẩm thấu cho máy
2, nước mía ở máy 3 thẩm thấu cho máy 1 Nước mía lấy ra ở máy 1 và 2 làm nước
mía hỗn hợp đưa đi sử lý công nghệ, bã mía lấy ra ở sau máy ép số 5
ệ thống ép được bố trí như sau:
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ hệ thống ép mía và chế độ thẩm thấu
Bã sau khi ép có độ ẩm 48%, đổ xuống băng chuyền được vận chuyển qua lò hơi
Nước mía hỗn hợp thu được có Bx = 13 - 15%, pH=5 - 5,5 Sau khi cân được
bơm qua khu làm sạch
Trang 15B KHÂU HÓA CHẾ
1 MỤC ĐÍCH VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA QUÁ TRÌNH LÀM SẠCH NƯỚC MÍA
1.1 Mục đích của quá trình làm sạch
- Loại tối đa chất không đường có trong nước mía hỗn hợp, đặc biệt là các chất
có hoạt tính bề mặt và chất keo để nâng cao hiệu suất thu hồi
- Trung hòa acid trong nước mía hỗn hợp để hạn chế đường saccarose chuyển hóa
- Loại tất cả các chất rắn dạng lơ lửng và các chất màu để nâng cao phẩm chất đường thành phẩm
1.2 Cơ sở lý thuyết của nước mía hỗn hợp
- Nước mía hỗn hợp luôn có mặt các chất không đường, chất huyền phù làm nước mía đục Nước mía chứa một lượng lớn chất không đường làm tăng độ hòa tan của saccarose, tăng mật cuối, tăng tổn thất đường trong quá trình chế biến Ngoài ra nó còn chứa các acid hữu cơ sẽ gây nên sự chuyển hóa đường saccarose và làm giảm p dung dịch
- Trung hòa acid hữu cơ để hạn chế chuyển hóa đường, loại trừ chất màu, bảo vệ màu sắc thành phẩm, loại chất phi đường, đặc biệt là chất keo và chất hoạt động
bề mặt nhằm tăng nồng độ kết tinh và giảm tổn thất
- iện nay ở nước ta các nhà máy đường thường dùng các phương pháp làm sạch như: vôi hóa, sulfit hóa, cacbonat hóa Đối với nhà máy mía đường 333 sử dụng phương pháp sulfit hóa acid để làm sạch nước mía, đây là phương pháp có nhiều ưu điểm được sử dụng rộng rãi trong sản xuất đường cát trắng
Ưu điểm:
Nước mía lắng nhanh hơn (có lợi về công suất lắng của thùng lắng và thời gian lắng)
Lượng hóa chất SO2 , Ca(OH)2 tiêu hao tương đối ít
Đường non ít nhớt hơn và nấu nhanh hơn Khả năng kết tinh của đường tăng
Quá trình công nghệ và thiết bị tương đối đơn giản, vốn đầu tư ít, dùng để sản xuất đường cát trắng
Trang 16 Màu sắc của đường được cải thiện
Nhược điểm:
Chi phí tăng do: sử dụng lò đốt, tháp xông lưu huỳnh, ăn mòn thiết bị…
iệu quả làm sạch không ổn định
àm lượng muối Ca hòa tan trong nước mía nhiều là nguyên nhân đóng cặn chủ yếu trong các thiết bị
Trong bảo quản sản phẩm và thành phẩm dễ bị biến màu
Thành phần nước mía hỗn hợp
Bảng 3.1 Thành phần nước mía hỗn hợp Thành phần Tính theo trọng lượng
12,63 1,44 0,48 0,14 0,15 0,41 0,60 78,15
Trang 172 QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ KHÂU HÓA CHẾ
2.1 Quy trình hóa chế
Hình 3.3 Sơ đồ quy trình hóa chế
Lắng lọc
Nước chè trong
ia nhiệt 3 (To=100 – 115oC)
Siro nguyên Lọc sàng cong
Siro tinh Nấu đường
Nước lọc
trong
Bã bùn
Xông SO2 lần 2 ( P = 5,2 – 5,8) Bốc hơi (Bx = 55 – 60%)
ia vôi sơ bộ (P = 6,2 – 6,8)
Trang 182.2 Giải thích sơ bộ
Nước mía hỗn hợp được lấy từ máy ép và từ khâu cán ép rồi được chuyển vào cân để xác định khối lượng nước mía Sau đó, nước mía hỗn hợp được đem đi gia vôi sơ bộ Ca(O )2 nhằm nâng độ p từ khoảng 5 – 5,5 lên 6.2 – 6.8 H3PO4được cho vào nước mía sau khi gia vôi để tạo kết tủa Ca3(PO4)2 giúp cho việc làm trong nước mía Tiếp theo đó ta đem đi gia nhiệt lần ở nhiệt độ khoảng 65 – 70oC, rồi ta xông SO2 lần để tạo kết tủa CaSO3 Để tránh sự chuyển hóa đường ta nâng
độ p lên khoảng 7 – 7,2 nhằm tránh sự chuyển hóa đường bằng cách cho vôi để trung hòa
Sau khi trung hòa thì hỗn hợp tiếp tục được gia nhiệt lần ở nhiệt độ khoảng
100 – 105oC, rồi tất cả được qua thiết bị lắng với chất trợ lắng Talosep, sau 2h lắng
ta thu được 2 thành phần là: nước mía trong và nước bùn
Nước mía trong được đưa qua lọc sàng cong để thu được nước chè trong rồi tiếp tục đem đi gia nhiệt với nhiệt độ 110 – 115oC Để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nấu đường ta sẽ qua hệ thống cô đặc thì thu được siro nguyên Sau khi thu được siro nguyên được bơm đi xông SO2 lần 2, p của siro sau khi xông có giá trị từ 5.4 – 5.9 ta thu được siro tinh rồi đem đi nấu đường
Nước bùn sẽ qua lọc chân không thu được nước lọc không trong, bã bùn và nước lọc trong được đưa qua nước mía hỗn hợp
3 GIẢI THÍCH QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ
Trong nước mía có nhiều thành phần phức tạp như:
Chất không đường làm tăng lượng mật cuối
Chất màu làm tinh thể đường có màu, làm giảm chất lượng sản phẩm
Acid hữu cơ làm cho đường bị chuyển hóa
Các chất rắn lơ lủng làm cho nước mía bị đục, lọc và kết tinh đường khó khăn
Vì vậy, mục đích của công đoạn hóa chế là tách các huyền phù, trung hòa các acid hữu cơ, loại trừ chất màu và chất không đường để tăng chất lượng sản phẩm
và giảm tổn thất đường
Trang 193.1 Gia vôi sơ bộ
Nước mía hỗn hợp sau khi được gia vôi sơ bộ bằng Ca(O )2 nhằm nâng độ
p từ 5 – 5,5 lên 6.2 – 6.8, vì ở độ p 5 – 5,5 là môi trường acid rất thuận lợi cho
vi sinh vật phát triển, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển hóa đường, làm tăng sự tổn thất đường, đồng thời tạo kết tủa nâng cao hiệu suất làm sạch
Mục đích gia vôi sơ bộ:
+ Làm sạch nước mía
+ Trung hòa lượng acid trong nước mía
+ Ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật
+ iảm sự chuyển hóa đường
+ Tạo kết tủa cho 3PO4 tốt cho quá trình lắng
3.2 Cân nước mía hỗn hợp
Nước mía sau khi gia vôi sơ bộ được bơm qua cân đê xác định trọng lượng nước mía nhằm tính hiệu suất ép và năng suất của sản phẩm Ở tại thùng cân ta cho acid H3PO4 vào nước mía với lượng sử dụng khoảng từ 300 – 350 ppm Mục đích của việc cho thêm acid 3PO4 vào là để tăng hiệu quả làm sạch cho nước mía Vì thường trong nước mía hỗn hợp hàm lượng P2O5 nhỏ hơn 300mg/l nhất là khi mía có nhiều keo nhớt ( do mía bị cháy, sâu bệnh, ngập lụt ) thì cần cho P2O5 vào để đạt nồng độ là 300 – 350 mg/l Do đó ta cần bổ sung acid 3PO4 vào để tạo nhiều kết tủa Ca3(PO4)2 Kết tủa này có kích thước phân tử lớn, có khả năng hấp thụ lớn các chất keo, các chất màu và các chất lơ lửng trong nước mía hỗn hợp cùng kết tủa, giúp cho quá trình lắng lọc nhanh và dễ dàng nâng cao chất lượng đường thành phẩm ngoài ra nó còn giảm p
2H 3PO4 + 3Ca(OH) 2 Ca3(PO4)2+ 6H 2O Nước mía hỗn hợp được đi qua gia nhiệt để đạt nhiệt độ 65-700C, rồi được xông SO2 lần 1 và được trung hòa bằng Ca(O )2 Nếu nhiệt độ quá cao sẽ dẫn đến
sự tạo bọt trong dung dịch và sự hấp thụ SO2 vào nước mía hỗn hợp
3.3 Gia nhiệt 1
- ệ thống gia nhiệt gồm 8 nồi: gia nhiệt 1 sử dụng 3 nồi đầu, gia nhiệt 2 sử dụng 4 nồi sau, gia nhiệt 3 sử dụng cho nồi cuối