1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TỔNG QUAN DU LỊCH 2015

12 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 5,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2003, nhã nhạc cung đình Huế, còn gọi là Âm nhạc cung đình Việt Nam, được UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.. Ngày 6/12/2012, UNESCO công n

Trang 1

Trường Cao Đẳng Nghề Du Lịch Sài Gòn.

~Khoa Lữ Hành~

TỔNG QUAN DU LỊCH- KHÁCH SẠN.

Giảng Viên: Hoàng Quốc Việt.

Sinh viên: Trịnh Thị Thuỳ Dung.

Lớp: CĐLH07N02.

Tháng 10/2014.

Trang 2

DI SẢN THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM

Hiện nay Việt Nam có 21 di sản Thế giới được UNESCO công nhận Bao gồm:

DI SẢN THIÊN NHIÊN.

1 Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh)

Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) được UNESCO liên tiếp công nhận vào năm 1994 với tiêu chuẩn giá trị ngoại hạng về mặt thẩm mĩ, và năm 2000 theo tiêu chuẩn về giá trị địa chất, địa mạo

2 Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng (Quảng Bình)

Năm 2003, vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

(Quảng Bình) được UNESCO công nhận là di sản thiên

nhiên thế giới theo tiêu chuẩn về giá trị địa chất, địa mạo

DI SẢN VĂN HOÁ

3 Quần thể di tích Cố Đô Huế (Thừa Thiên Huế)

UNESCO đã vinh danh quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hóa thế giới, một điển hình nổi bật của kinh đô phong kiến phương Đông vào năm 1993

4 Đô thị cổ Hội An (Quảng Nam)

Được UNESCO công nhận năm 1999,

phố Cổ Hội An là sự kết hợp các nền văn hóa

qua các thời kỳ tại một thương cảng quốc tế và

Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị

châu Á truyền thống được bảo tồn một cách

hoàn hảo

Trang 3

5 Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam).

Là bằng chứng duy nhất của một nền văn mình châu Á đã biến mất, thánh địa

Mỹ Sơn được UNESCO chính thức vinh danh năm 1999

6 Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội)

Khu quần thể kiến trúc đỉnh cao, mang

nhiều giá trị nhân văn này được chính thức nằm

trong danh sách Di sản văn hóa thế giới năm

2010

7 Thành nhà Hồ (Thanh Hoá)

Ngày 27/6/2011, UNESCO đã đưa di tích Thành nhà Hồ (Thanh Hóa) vào danh mục di sản văn hóa Thế giới “Kỹ thuật xây dựng các bức tường thành bằng đá lớn, kỳ vĩ, đặc sắc chỉ có ở thành nhà Hồ Đây được xem như một hiện tượng đột biến vô tiền khoáng hậu trong lịch sử xây dựng kiến trúc thành quách tại Việt Nam và trong khu vực”

DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ.

8 Nhã nhạc cung đình Huế (Thừa Thiên-Huế)

Năm 2003, nhã nhạc cung đình Huế,

còn gọi là Âm nhạc cung đình Việt Nam, được

UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản truyền

khẩu và phi vật thể của nhân loại Đây là một

loại hình âm nhạc mang tính bác học của các

triều đại quân chủ trong xã hội Việt Nam suốt

hơn 10 thế kỷ, nhằm tạo sự trang trọng cho các

cuộc tế, lễ của cung đình như Tế Giao, Tế miếu,

Lễ Đại triều, Thường triều

Trang 4

9 Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên

Di sản này được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại vào ngày 15/11/2005

10 Dân ca quan họ (Bắc Ninh)

Quan họ Kinh Bắc được Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá cao về giá trị văn hóa, đặc biệt về tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn,

kỹ thuật hát, phong cách ứng xử văn hóa, bài bản, ngôn từ, trang phục, và được chính thức công nhận năm 2009

11 Ca trù (miền Bắc Việt Nam)

Ngày 1/10/2009, ca trù được công nhận là

di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp Đây là di sản văn hóa thế giới có vùng ảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam, có phạm vi tới 15 tỉnh, thành ở phía Bắc

12 Hội Gióng

Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, năm 2010 được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện cho nhân loại

Trang 5

13 Hát xoan (Phú Thọ).

Ngày 24/11/2011, hát xoan (Phú Thọ) của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại

14 Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

Ngày 6/12/2012, UNESCO công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ

là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại với những yếu tố thuộc đời sống tâm linh của người Việt Nam đã tồn tại từ hàng nghìn năm nay, thể hiện nền tảng tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng

15 Đờn ca tài tử Nam Bộ Nam Bộ

Với các tiêu chí: Được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; liên tục được tái tạo thông qua trao đổi văn hóa, thể hiện sự hòa hợp văn hóa và tôn trọng văn hóa riêng của các cộng đồng, dân tộc, UNESCO chính thức vinh danh đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2013

DI SẢN TƯ LIỆU.

16 Mộc bản triều Nguyễn.( Hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV- Đà Lạt , Lâm Đồng )

Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu thế giới đầu tiên tại Việt Nam được UNESCO công nhận ngày 31/7/2009 Mộc bản triều Nguyễn gồm 34.618 tấm, là những văn bản chữ Hán-Nôm được khắc ngược trên gỗ để in ra các sách tại Việt Nam vào thế kỷ 19, 20

Trang 6

17 Bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) Với giá trị văn hóa và lịch sử đặc biệt, đầu tháng 3/2010, 82 tấm bia tiến sĩ của các khoa thi dưới triều Lê - Mạc (1442-1779) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới

18 Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang)

Chùa Vĩnh Nghiêm được mệnh danh là

“Đại danh lam cổ tự”, một trung tâm Phật giáo lớn nhất của thời Trần, nơi có những văn bản Hán

tự được UNESCO công nhận năm 2012

19 Châu bản triều Nguyễn

Đầu năm 2014, Việt Nam đã trình hồ

sơ lên UNESCO đề cử Châu bản triều Nguyễn trở thành di sản tư liệu thế giới Ngày

14/5/2014, Châu bản triều Nguyễn của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu Chương trình Ký ức thế giới Khu vực Châu

Á - Thái Bình Dương

DI SẢN HỖN HỢP.

20 Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình)

Ngày 23 tháng 6 năm 2014, tại Doha, với sự đồng thuận tuyệt đối của Ủy ban Di sản thế giới, Quần thể danh thắng Tràng An chính thức trở thành di sản hỗn hợp đầu tiên của UNESCO ở Việt Nam khi đáp ứng cả hai yếu tố nổi bật về văn hóa và thiên nhiên

Trang 7

Ban tài tử Nguyễn Tống Triều dự hội chợ các nước thuộc địa

ở Marseille, Pháp, năm 1906

CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU.

21 Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang)

Ngày 3 tháng 10 năm 2010, hồ sơ

"Công viên Địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn"

đã được Hội đồng tư vấn Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu (GGN) của UNESCO chính thức công nhận là Công viên địa chất toàn cầu Đây hiện là danh hiệu duy nhất ở Việt Nam

và thứ hai ở Đông Nam Á

*

* *

GIỚI THIỆU VỀ ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ.

Đờn ca tài tử Nam bộ là một dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO công

nhận là di sản văn hóa phi vật thể và là một danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng lớn, với phạm vi 21 tỉnh thành phía nam Đờn ca tài tử hình thành và phát triển từ cuối thế kỉ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian

Lịch sử hình thành và phát triển.

Đờn ca tài tử hình thanh vào cuối

thế kỉ 19 đầu thế kỷ 20 ở Nam Bộ Các

nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo

phong trào Cần Vương vào Nam đã mang

theo truyền thống ca Huế vào vùng Nam

Bộ Trên đường đi, các nhạc sĩ dừng chân

ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ

đó tiếng đờn cùng với giọng ca xứ Huế

mang thêm chút hương vị xứ Quảng Khi

vào đến miền Nam thì tiếng đờn miền

Trung tiếp tục thay đổi, một số bài tuy

cùng tên nhưng đã khác xa so với ban

đầu

Bản chất phóng khoáng của con người và nếp sống tại miền Nam khiến cho các bài bản không còn y khuôn bản gốc Người đàn, người ca cũng không muốn giữ nguyên mà luôn có đôi nét thêm thắt, thay đổi, tô điểm, khiến bài đờn đậm đà thấm thía hơn Mặt khác do lòng luôn luôn nhớ thương cội nguồn nên các điệu đờn ca tài tử đều phảng phất nỗi buồn và được người mộ điệu

ưa thích

Vào khoảng cuối thế kỷ 19, đờn ca khi đó vẫn còn giữ nguyên gốc chủ yếu được phục vụ tại các lễ hội địa phương ở Nam Bộ các ban nhạc lễ lúc đó thường gồm các nhạc cụ gõ và dây kéo vĩ Do nhu cầu phục vụ càng về khuya, nhạc lễ cần phải chơi với âm lượng nhỏ theo yêu cần

Từ đó các ban nhạc lễ thường được tổ chức một cách gọn lẹ hơn và bắt đầu dùng song lang thay cho trống để giữ tiết tấu, cũng như bỏ bớt các nhạc cụ dây kéo chỉ còn đàn cò Những ban nhạc nhỏ gọn như vậy được gọi là nhóm đờn cây Kể từ năm 1885 các nhóm đờn cây này được gọi là

Trang 8

Một ban nhạc Đờn ca Tài tử Sài Gòn (1911).

Các loại nhạc cụ dùng trong biểu diễn đờn ca tài tử như:

(từ trái qua) đàn guitale, đàn đáy, đàn tỳ bà, đàn sến 3 dây, đàn gáo, đàn cò, đàn nguyệt, đàn tranh.

ban đờn ca tài tử để có thể phân biệt với các ban nhạc lễ và nhạc hát bội đang thịnh hành song

song

Còn một sự khác biệt nữa giữa đờn

ca tài tử và nhạc lễ là có sự góp mặt của người hát Do vậy ngoài hoà đàn với nhau, ban nhạc tài tử còn tham gia vào việc đệm đàn cho ca hát

Đến đầu thế kỷ 20, đờn ca tài tử trở thành phong trao ca nhạc phổ thông tại miền Nam, nhất là tại các nhóm địa phương như Bạc Liêu, Vĩnh Long, Long An, Mỹ Tho, Sài Gòn… Các nhóm tài tử khối miền Đông (vùng Sài Gòn-Chợ Lớn) cũng với các nhóm tài tử khối miền Tây (Vĩnh Long, Sa Đéc) cũng được hình thành Đứng đầu nhóm miền Đông là ông Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi)- một nhạc

sư từ Triều đình Huế cùng các nghệ sĩ khác như Cao Huỳnh Cư và Cao Huỳnh Điểu Nhóm tài tử khối miền Tây có ông Trần Quang Quờn- người Huế vào sống ở Vĩnh Long đứng đầu nhóm cũng với các nghệ nhân Trần Quan Nhiệm, Nguyễn Liên Phong và Nguyễn Tư Ba Các nghệ nhân này chính là những nhà tiên phong trong công việc cố gắng biên soạn, sáng tác và giảng dạy nhạc tài

tử theo phong cách riêng, nền tảng cho đờn ca tài tử hiện nay

Nghệ thuật biểu diễn trong đờn ca tài tử.

Cách thức biểu diễn của đờn ca tài tử khá đặc biệt, khác với ca trù và Nhã nhạc Huế người hát chính thường là phụ nữ Trong đờn ca tài tử nghệ sĩ nam và nữ đều có vai trò bình đẳng, người đàn và người hát có vị trí tương đương nhau Dàn nhạc của đờn ca tài tử thường có nhiều nhạc cụ hơn của ca Trù và ca Huế Trước đây, dàn nhạc đờn ca tài tử sử dụng các loại nhạc cụ gồm đàn kim, đàn cò, đàn tranh song lang, ống tiêu Khoảng từ năm 1920, lục huyền cầm (đàn ghi-ta), hạ uy cầm (guitar Hawaii) và violon cũng đưuọc thêm vào dàn nhạc

Ngày nay, đờn ca tài tử đã được mang lên sân khấu để biểu diễn tuy nhiên trước đây khi mới du nhập vào Nam Bộ, đờn ca tài tử thường được ca hát bởi một nhóm người phần lớn là bạn

bè, làng xóm cũng tụ tập lại để chia sẻ niềm vui cho nhau nên trang cũng thường đơn giản, không mấy ai để ý tới

Khi biểu diễn nhạc tài tử, các nghệ sĩ thường chú trọng đến sự kết hợp của nhạc cụ có âm sắc khác nhau, ít thấy có sự kết hợp giữa các nhạc cụ có cùng âm sắc Thường thấy nhất là song tấu đàn kim và đàn tranh, là sự kết hợp giữa tiếng tơ và tiếng sắt, mà theo các chuyên gia thì được gọi là

Trang 9

sắt cầm hảo hiệp Cũng có khi là tam tấu đàn kim- tranh-cò, kim- tranh- độc huyền, tranh- cò- độc huyền Nếu một ban nhạc tài tử có 3 nhạc công và 1 ca sĩ thì được gọi là ban tứ tuyệt, nếu có 4 nhạc công và 1 ca sĩ thì được gọi là ban ngũ nguyệt

Phần hay nhất trong đờn ca tài tử là phần rao của người đàn và lối nói cảu người hát Người đàn dùng rao- người ca dùng lối nói- để lên dây đàn và gợi cảm hứng cho bạn diễn, tạo khôn khí cho dàn tấu Ngoài ra khi trình diễn các nghệ sĩ có thể dùng tiếng đàn của mình để “đối đáp” hoặc “thách thức” với người đồng diễn Chính vì vậy mà nhạc tài tử luôn luôn sinh động và hấp dẫn người nghe

Đờn ca tài tử có một số lượng bài bản rất phong phú và đa dạng Ngoài sử dụng một số bài bản trong nhạc lễ, còn có các bài từ ca Huế, dân ca miền Trung, miền Nam, và một số lượng lớn do các nghệ nhân bậc thầy sáng tác và cải biên Do đặc tính ngôn ngữ và sinh hoạt riêng của người miền nam mà nhạc miền Trung được phát triển đặc biệt trong nhạc tài tử một số bài bài nổi tiếng được nhiều người biết đến như: bài Bình Đán của ca Huế được phát triển thành Bình Đán Văn trong nhạc tài tử, Lưu Thuỷ của Huế được cải biên thành Lưu Thuỷ Đoàn…

Về bài bản của đờn ca tài tử thì có nhiều nhưng đa số các bậc thầy cảu đờn ca và các chuyên gia cho rằng đờn ca có 20 bài tổ được gọi là “Nhị thập huyền tổ bản” thuộc hai điệu Bắc

và điệu Nam Trong 20 bản tổ có 7 bản lễ, 6 bản Bắc, 3 bản Nam và 4 bản Oán Tương truyền các bài bản này do ông bà Ba Đợi đúc kết và được xem như là những bài căn bản bản cho những người bắt đầu bước vào nghệ thuật đờn ca tài tử Từ năm 1945, ông Nguyễn Văn Thịnh thường được gọi là ông Giáo Thịnh- một nhạc sư có uy tín tại Sài Gòn đã đúc kết và phổ biến một hệ thống mới gọi là 72 bài cổ nhạc miền Nam được gọi là “Thất thập nhị huyền công” Theo đó một nghệ nhân sẽ được coi là bậc thầy nếu biết hết 20 bài bản tổ và để đạt được mức cao hơn nghệ nhân đó cần biết hết 72 bài bản cổ miền Nam

Con đường phát triển.

Nhạc tài tử phát triển mạnh ở miền Nam một phần là nhờ có khá nhiều lò dạy được mở ra khắp lục tỉnh và Sài Gòn Những ngày đầu chỉ có các gia đình khá giả mới có tiền mời thầy dạy ở các tỉnh về nhà dạy cho con cái Vào những năm của thập kỷ 40 và 50, các lò dạy tư nhân mới bắt đầu phổ biến do các nghệ sĩ từ các tỉnh lân cận đổ về Sài Gòn mở Thời bấy giờ các lò nổi tiếng của nghệ sĩ Chín Phàng (từ Long An), Hai Đậu (từ Trà Vinh), Năm Long và Năm Được (từ Cần Giuộc) đã đào tạo được nhiều danh ca, danh cầm

Nhiều năm trở lại đây do chịu ảnh hưởng của sự du nhập của nhạc Tây Phương, các phương tiện truyền thông hiện đại và một số nhận thức sai lạc của người dân về đờn ca tài tử nê thể loại nhạc thính phòng đặc sắc của Việt Nam đang mất dần đi tính chính thống Nhiều nơi đã thay đổi không gian thính phòng của đờn ca tài tử để nghệ sĩ biểu diễn trong không gian sân khấu-nơi mà người nghe và người diễn tách biệt nhau Thậm chí một số nghệ sĩ học thuộc lòng lời ca và lời đàn, do đó mất đi tính ứng tác, ngầu hứng đặc trung của nghệ thuật đờn ca

Nhận thức được tầm quan trọng của đườn ca trong nền âm nhạc truyền thống của Việt Nam, ngày nay đã có nhiều nhà nghiên cứu dân tộc, nhạc học ở trong và ngoài nước đang tìm cách sưu tầm và hệ thống hoá các bài bản của nhạc tài tử, thống kê, sưu tầm và nghiên cứu các bài bản của nghệ thuật đườn ca Năm 2010, Bộ văn hoá- Thể thao và Du lịch đã có văn bản đề nghị

19 tỉnh thành phố trong đó có Tp.Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bình Phước, Vình Long, Bạc Liêu, Cà Mau nhanh chóng có kế hoạch điều tra, nghiên cứu, kiểm kê về di sản văn hoá phi vật thể Đờn

ca tài tử ở địa phương để chuẩn bị cho việc lập hồ sơ trình UNESCO

Thế mạnh của đờn ca tài tử chính là sự tồn tại khá vững chắc trong cộng đồng dân cư của

bộ môn nghệ thuật này SUốt từ TP HỒ CHí Minh đến các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ, Bạc Liêu đâu đâu cũng thấy các câu lạc bộ đờn ca tài tử

Trang 10

Theo kết quả bước đầu trong công tác kiểm kê nghệ thuật đờn ca tài tử thì hiện nay tại các địa phương có 2019 câu lạc bộ; khoảng 22634 thành viên tham gia, 2850 nhạc cụ trong các câu lạc bộ; 120 đầu tư liệu xuất bản về Nghệ thuật Đờn ca tài tử tại 14 địa phương Hệ thống bài bản của đờn ca rất phong phú, trong đó, quan đó quan trọng nhất gồm 20 bài tổ gồm: 6 bài Bắc (Lưu Thuỷ, Phú Lục, Tây Thi, Cổn Bản, Bình Bán, Xuân Tình), 3 bài Nam (Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo), 4 bài Oán( Tứ Đại Oán, Giang Nam, Phụng Hoàng, Phụng Cầu), 7 bài nhạc lễ (Xàng Xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc); thường là những bài lớn rất dài và phức tạp và đạt trình độ “cổ điển” về nhạc lý Ngoài ra còn có các bài lý, ngâm, 8 bài ngự và nhiều bài mới đưuọc sáng tác

Đờn ca tài tử “Như cơm ăn nước uống”.

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan phân tích 6 đặc trưng nổi bật khiến đờn ca tài tử trở thành báu vật Thứ nhất, đờn ca tài tử là một tập tục không thể thiếu trong sinh hoạt của người dân Nam bộ khoảng 100 năm nay, đối với người dân “như cơm ăn nước uống”

Thứ hai, đây thật sự là loại hình giải trí của người dân Nam bộ, so với tất cả các nghệ thuật

cổ truyền Việt Nam thì đây là nghệ thuật duy nhất không phụ thuộc vào không gian văn hóa, hoặc các không gian trình diễn theo mùa vụ “Cứ hứng lên thì chơi, gặp nhau thì chơi, thương nhau thì cũng chơi, và hội hè, ma chay cưới hỏi cũng đều chơi”

Điểm thứ ba, đó là một lối hòa đàn trác tuyệt, mà ở đấy tính ngẫu hứng được đặt lên trên hết Và ở trong tính ngẫu hứng ấy, thú vị ở chỗ mỗi lần đánh một bản đàn thì hầu như đó là những cuộc đối thoại bằng âm thanh Có lẽ đây là một trong những nghệ thuật ngẫu hứng, có thể nói là duy nhất ở Việt Nam Cho nên, người ta thường gọi là “quăng bắt”, tức là làm sao người hòa đàn cùng với mình hiểu được tâm tư tình cảm của mình, để cùng hòa nhập, tung hứng

Điểm thứ tư rất quan trọng là, đờn ca tài tử đã xác định được cách hoàn thiện “nhạc ngữ” của âm nhạc cổ truyền Việt Nam Trước đó chỉ có ca trù là xác định được, nhưng chưa rành mạch, không rõ ràng, không khúc chiết… Có thể nói, đờn ca tài tử là nghệ thuật đã đúc kết và hoàn thiện được nhạc ngữ cổ truyền của người Việt Nam

Điều thứ năm là đã tạo được các “ngón đờn” để thỏa mãn hàng loạt cung bậc tình cảm Những nghệ sĩ tài tử Nam bộ đã tìm ra được các phương pháp bấm ngón đàn, tạo ra nhiều nhạc ngữ khác nhau, khi vui, khi buồn, khi oán hận… Điều trác tuyệt là ở chỗ này Có nhiều người nói,

“cái hơi” trong đờn ca tài tử đóng vai trò quan trọng Mà hơi được tạo ra từ các “ngón bấm” (các ngón rung, ngón nhấn, ngón vuốt, rồi ngón mổ ) Đấy là ngón đờn tạo ra các hơi trên thang bậc ngũ cung

Cuối cùng, đờn ca tài tử vẫn đang được

người dân Nam bộ yêu mến, vẫn đang được trao

truyền cho nhau, như thuở nào

Bước đường đến với UNESCO.

Trên hành trình đưa nghệ thuật đờn ca tài tử với

UNESCo, chính quyền địa phương ở các tỉnh miền Nam đã tích

GS Trần Văn Khê biểu diễn cùng các nhạc sư

Ngày đăng: 26/07/2016, 18:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w