Tấn công rootkit trong Oracle Rootkit trong OS không còn xa lạ với chúng ta. Chúng đã được các kẻ xâm nhập sử dụng để che giấu các dấu vết từ rất lâu. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết rằng rootkit còn có thể được sử dụng và đang được các hacker sử dụng trong cơ sở dữ liệu, thường chứa các dữ liệu quan trọng của các công ty, tổ chức. Theo ước tính, khoảng 100 triệu người có thông tin cá nhân nằm trong tầm kiểm soát của tội phạm Internet. Lấy cắp thông tin đã trở thành một nguy cơ chính, thông tin đã trở thành mỏ vàng cho tội phạm. Thông tin cá nhân được chia thành nhiều loại với mức giá khác nhau. Ví dụ, thông tin về địa chỉ, số điện thoại, ngày sinh, số dịch vụ xã hội, số đăng ký băng lái… đều được đặt giá. Rất nhiều cơ sở dữ liệu của các công ty lớn bị xâm phạm. Nhất là các ngân hàng, nhà băng, dịch vụ thẻ thanh toán như CardSystems, Citigroup, Bank of America, DSW Shoe Warehouse… đều đã bị tội phạm nhòm ngó và gây ra thiệt hại nhất định. Oracle là hãng dẫn đầu trong thị trường cơ sở dữ liệu và thường được sử dụng ở các cơ quan, tổ chức lớn. Với khối lượng dữ liệu lớn và quan trọng. Không nghi ngờ gì, Oracle đã trở thành đích ngắm hấp dẫn trong các cuộc tấn công. Oracle database rootkit là hướng tấn công khá mới. Rootkit được cài đặt sau khi đã đột nhập thành công vào một Oracle database, để che giấu mọi dấu vết của cuộc đột nhập, và trở thành tấm bình phong che chắn sự hiện diện của attacker trong database. Người quản trị sẽ khó lòng biết được database của mình có đang bị nhìn ngó hay bị tấn công hay không, dù có sử dụng các công cụ tìm kiếm rootkit. Và vì thế không có biện pháp cải thiện hay áp dụng phương pháp tự bảo vệ, qua một thời gian dài thiệt hại sẽ rất đáng kể. Khi mà cơ sở dữ liệu là một tài nguyên vô cùng quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp, tổ chức.
Trang 1HỌC VIỆN KỸ THUẬT MẬT MÃ
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BÀI TẬP LỚN MÔN: AN TOÀN CƠ SỞ DỮ LIỆU
TẤN CÔNG ROOTKIT TRONG
ORACLE
Giảng viên hướng dẫn:
Trần Thị Lượng
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Việt Tiến
Trang 2HỌC VIỆN KỸ THUẬT MẬT MÃ
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Bài tập lớn môn: An toàn cơ sở dữ liệu
TẤN CÔNG ROOTKIT TRONG ORACLE
Nhận xét của giảng viên:
Điểm chuyên cần:
Điểm báo cáo:
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Rootkit trong OS không còn xa lạ với chúng ta Chúng đã được các kẻ xâm nhập sử dụng để che giấu các dấu vết từ rất lâu Tuy nhiên, không phải ai cũng biết rằng rootkit còn có thể được sử dụng và đang được các hacker sử dụng trong cơ sở dữ liệu, thường chứa các dữ liệu quan trọng của các công ty, tổ chức.
Theo ước tính, khoảng 100 triệu người có thông tin cá nhân nằm trong tầm kiểm soát của tội phạm Internet Lấy cắp thông tin đã trở thành một nguy
cơ chính, thông tin đã trở thành mỏ vàng cho tội phạm Thông tin cá nhân được chia thành nhiều loại với mức giá khác nhau Ví dụ, thông tin về địa chỉ, số điện thoại, ngày sinh, số dịch vụ xã hội, số đăng ký băng lái…đều được đặt giá Rất nhiều cơ sở dữ liệu của các công ty lớn bị xâm phạm Nhất là các ngân hàng, nhà băng, dịch vụ thẻ thanh toán như CardSystems, Citigroup, Bank of America, DSW Shoe Warehouse … đều đã bị tội phạm nhòm ngó và gây ra thiệt hại nhất định.
Oracle là hãng dẫn đầu trong thị trường cơ sở dữ liệu và thường được sử dụng ở các cơ quan, tổ chức lớn Với khối lượng dữ liệu lớn và quan trọng Không nghi ngờ gì, Oracle đã trở thành đích ngắm hấp dẫn trong các cuộc tấn công.
Oracle database rootkit là hướng tấn công khá mới Rootkit được cài đặt sau khi đã đột nhập thành công vào một Oracle database, để che giấu mọi dấu vết của cuộc đột nhập, và trở thành tấm bình phong che chắn sự hiện diện của attacker trong database Người quản trị sẽ khó lòng biết được database của mình có đang bị nhìn ngó hay bị tấn công hay không, dù có sử dụng các công cụ tìm kiếm rootkit Và vì thế không có biện pháp cải thiện hay áp dụng phương pháp tự bảo vệ, qua một thời gian dài thiệt hại sẽ rất đáng kể Khi mà cơ sở dữ liệu là một tài nguyên vô cùng quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp, tổ chức
Trang 5CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ROOTKIT
1.1 Hiểu biết chung về mã độc hại (Malware)
Thuật ngữ malware là từ viết tắt của malicious software Malware được tạo với mục đích truy cập, chỉnh sửa và phá hoại các software khác trên máy tính Malware có nhiều loại: virus, worms, Trojans, backdoor, spyware…và các biến thể khác xuất hiện từng ngày.
Mục tiêu của malware có thể là thông tin cá nhân, dữ liệu, tài nguyên, máy tính… bằng cách ghi dấu các thói quen lướt Web của bạn, chúng biết những vẫn
đề bạn quan tâm và những quảng cáo mà sẽ phù hợp với ý định của bạn Những malware này cho phép các công ty quảng cáo thiết kế các pop up nắm bắt mục đích của từng cá nhân Xa hơn nữa, malware có thể điều khiển nội dung những
gì được hiển thị trên trình duyệt của bạn Đó là hijacking Các nội dung tìm kiếm
và hiển thị của bạn có thể bị hijacking sang trang mà malware chỉ định Điều này
có thể đưa đến nhiều phiền toái với các pop up liên tục nhảy ra, và tệ hơn nữa nó
cở thể chứa các virus, worm mà khi vô tình kích phải chúng sẽ ngay lập tức xâm nhập và máy tính của bạn.
Mục tiêu thứ ba, là thông tin cá nhân Những thông tin dùng để đăng nhập
và tìa khoản ngân hàng, chuyển tiền, rút tiền Nếu bạn dùng password, hacker có thể dùng chương trình giải mã mật khẩu Hoặc nó có thể giả một chương trình
an ninh, dụ bạn cài vào mà không biết trong đó có thể có chương trình keylogger, spyware…sẵn sang lấy cắp thông tin của bạn Cuối cùng, hacker sẽ lợi dụng tài nguyên hệ thống vào những mục đích như tấn công hệ thống khác, ẩn nấp sau hệ thống của bạn nhằm che giấu hành tung của mình Để thực hiện được các mục đích này, malware sẽ thực hiện dễ dang hơn nếu có sự trợ giúp của rootkit Vì thế các malware đầu tiên sẽ cài đặt rootkit vào máy, tới lượt mình rootkit sẽ che giấu hành vi của malware Thực tế, rootkit là xấu hay tốt do mục đích mà nó được sử dụng.
1.2 Khái niệm Rootkit
1.2.1 Lịch sử Rootkit
Kỹ thuật Rootkit thực ra không phải là mới Nó đã tồn tại gần mười mấy năm Đầu tiên được phát triển trên hệ điều hành Unix-like (Solaris và Linux) và
Trang 6sau đó là trên Windows Rootkit đầu tiên được công khai trên Windows là vào năm 1999 bởi Greg Hoglund - một chuyên gia về bảo mật và người lập trình website rootkit.com Thuật ngữ rootkit bắt nguồn từ root - mức truy nhập cao nhất vào hệ thống, có quyền admin và từ kit - một tập các công cụ để che giấu và chiếm quyền.
Việc phát hiện Sony Rootkit (rootkit quản lý bản quyền số) vởi Mark Rusonovich của Sysinternal đã khiến rootkit được quan tâm một cách đặc biệt và nhiều người đã bắt đầu tìm hiểu hoạt động của nó Cho tới sự kiện đó, rootkit chỉ
là một cái gì đó khêu gợi sự tò mò hơn là một hiểm hòa cận kề Sự kiện Sony Rootkit xảy ra ngày 31/10/2005 đã đưa ra rootkit thành trung tâm chú ý Nó cũng chứng tỏ, hãng đã nghiên cứu và phát triển kỹ thuật rootkit qui củ Sau sự kiện này, Sony đã phải tiến hành gỡ bỏ rootkit trên các đĩa CD và tốn khoản bồi thường không ít.
Sự kiện này được cho là trước sau gì cũng xảy ra, khi mà các nhà cung cấp bảo mật đưa ra nhiều biện pháp để chống lại các kiểu nguy cơ có thể, thì những những người tạo ra malware cũng sẽ tương ứng đáp lại bằng các kỹ thuật ăn cắp và tinh ranh hơn Bằng cách sử dụng rootkit và khả năng lén lút của nó, những hacker máy tính đã tìm ra cách mới và hiệu quả để tấn công Các chương trình che giấu và rootkit cho thấy một nguy cơ cận kề về an ninh mạng Thực tế, ngày 6/12/2005 tạp chí eweek đã công bố răng có tới 20% malware bị phát hiện trên Windows XP SP2 là các rootkit trong tổng số malware là 14%, trong khi tại thời điển của sự kiện Sony Rootkit con số đó là 8%.
1.2.2 Định nghĩa Rootkit
Rootkit /ru:tkit/ là bộ công cụ phần mềm che giấu sự tồn tại tập tin nhưng thực ra nó vẫn hoạt động Rootkit thường được bên thứ ba (thường là kẻ xâm nhập) dùng sau khi chiếm được quyền truy cập vào hệ thống máy tính Các công
cụ này thường nhằm để che dấu dữ liệu hệ thống, tập tin hoặc tiến trình đang chạy, từ đó giúp cho kẻ xâm nhập duy trì quyền truy cập vào hệ thống mà người dùng không biết Rootkit có ở nhiều loại hệ điều hành như Linux, Solaris và các phiên bản Microsoft Windows Một máy tính bị cài rootkit được gọi là bị "chiếm quyền root" ("rooted" trong tiếng Anh).
Thuật ngữ "rootkit" (còn được viết là "root kit") lúc đầu được dùng để chỉ một bộ công cụ Unix được biên dịch lại như "ps", "netstat", "w" and "passwd" có
Trang 7thể che dấu kĩ lưỡng vết tích của kẻ xâm nhập mà bình thường sẽ bị hiển thị bởi các lệnh trên, vì vậy nó cho phép kẻ xâm nhập duy trì quyền "root" ("siêu người dùng") trên hệ thống mà ngay cả người quản trị hệ thống cũng không thể thấy họ.
Ngày nay thuật ngữ này không chỉ giới hạn ở các hệ điều hành dựa trên Unix mà còn được dùng để chỉ các công cụ thực hiện tác vụ tương tự trên hệ điều hành không Unix như Microsoft Windows (ngay cả khi hệ điều hành đó không có tài khoản "root").
1.3 Cách thức hoạt động của Rootkit
Sự xuất hiện của Rootkit trên máy tính hay mạng cho thấy khả năng bị vi phạm của các hệ thống mà bạn phải làm việc và tin tưởng và đó cũng là lỗ hổng
an ninh lớn nhất Không nghi ngờ gì nữa, rootkit có khả năng quanh quẩn ở đâu
đó để thực hiện những nhiệm vụ mà nhờ đó nó được tạo ra Vậy làm thế nào rootkit có thể lợi hại như vậy? Đó là nhờ lợi dụng tính mềm dẻo và linh hoạt của kiến trúc Windows Phần này chúng ta sẽ tìm hiểu cách thức ẩn nấp và hoạt động của Rootkit.
1.3.1 Chiếm quyền điều khiển
Bất kỳ khi nào user hay một chương trình nào cần truy vấn hệ thống, kết quả trả về sẽ được mặc định tin tưởng không gợn chút nghi vẫn Rootkit lợi dụng sự tin tưởng cơ bản này Đầu tiên nó phải chiếm được quyền quản trị hệ thống để có thể điều khiện hệ thống làm gì cho nó Vì thế chiếm quyền admin là một bước vô cùng quan trọng và quyết định.
1.3.2 Kỹ thuật Hooking
Là kỹ thuật mà Rootkit sử dụng để thay đổi đường dẫn thực thi của hệ điều hành - nó chặn các lời gọi hệ thống và điều chỉnh kết quả sao cho không có dấu vết gì về sự tồn tại của nó Hook sẽ chuyển hướng các chương trình bình thường, sang các hàm của rootkit thay vì các hàm của hệ thống Cả kernel mode
và user mode rootkit đều sử dụng kỹ thuật hooking để lọc các kết quả trả về bởi
OS và giấu đi sự tồn tại của nó Các chương trình phân tích và quét sẽ không phát hiện ra thông tin về sự tồn tại của nó trong Registry, cũng như các port mà rootkit sử dụng Đó là vì các chương trình này dựa trên thông tin lấy từ OS Chúng ta sẽ không phát hiện được rootkit thông qua các công cụ như Task Manager, windows explorer hay regedit Windows sử dụng các table để lưu trữ
Trang 8và ghi dấu các thông tin quan trọng Các table này có thể bị hook, thay đổi và bẻ gẫy bởi rootkit.
User mode và kernel mode rootkit đều sử dụng kỹ thuật hook và mỗi loại
bị hạn chế bởi những gì mà chúng có thể hook do phạm vi hoạt động của chúng User mode rootkit chỉ có thể hook các table trong phạm vi không gian địa chỉ dành cho user(các bảng IAT, EAT) hoặc có thể chèn các jump vào API mức user để thay các system call sang function của rootkit.
Có hai kiểu hook là priviledge hook và unpriviledge hook User mode rootkit là các unpriviledge, trong khi kernel mode rootkit là priviledge hook Ở mỗi kiểu hook khác nhau về quyền hệ thống đều sử dụng kỹ thuật hook giống nhau Kỹ thuật hooking API và thay đổi địa chỉ API: user mode rootkit sẽ chặn các lời gọi hàm API và thay đổi địa chỉ API trong IAT thuộc tiến trình của user, sau đó trỏ tời rootkit function thay vì Windows API functions Cả user mode và kernel mode rootkit sử dụng API hooking để đảm bảo OS chỉ trả về kết quả đã được sàng lọc, vốn sẽ bỏ rơi bất kỳ sự tiết lộ nào về rootkit hay tung tích của nó User mode rootkit chỉ cho thể chỉnh sửa table nào thuộc về chương trình user Mỗi chương trình user có IAT riêng chứa thông tin về các function mà kernel sẽ thực hiện cho nó Để hiệu quả, user mode rootkit phải tìm cách để thay đổi table của mọi user program và điều khiển bất kỳ chương trình nào sắp sửa chạy để nó
cỏ thể hook API tương ứng của chương trình đó Rootkit không nhất thiết phải hook mọi API, chỉ những API nào có thể liên quan tới nó Ví dụ nó có thể hook API của Task Manager dùng để liệt kê các process hoặc API mà dùng bởi Windows Explorer để liệt kê danh sách các file, folder Và bởi vì nó phải hook cùng một API của mọi tiến trình đang được kích hoạt nên user mode rootkit ít hiệu quả bằng kernel mode rootkit Kernel mode rootkit chỉ cần hook một cấu trúc mà tất cả user program sử dụng.
1.4 Phân loại Rootkit
Rootkit được phân chia thành hai loại: user mode, kernel mode rootkit phụ thuộc vào phạm vi ảnh hưởng và liệu chúng chỉ tồn tại trong bộ nhớ hay sau khi khởi động lại (được ghi lên ổ đĩa) persiten và non-persitent rootkit.
Trang 91.4.1 User-mode rootkit và kernel-mode rootkit
Đây là rootkit có cơ chế điều khiển và phạm vi ảnh hưởng lên hệ điều hành khác nhau Cơ chế điều khiển thông qua đặc quyền mà nó giành được đặc biệt quyền càng lớn, phạm vi ảnh hưởng càng tăng.
Bất kể là chế độ nào đi nữa, thì mọi rootkit đều dựa trên cơ sở: các chương trình giao tiếp với nhau nhờ các lời gọi hàm Tùy vào mức đặc quyền của chương trình, nó có thể tạo lời gọi trực tiếp tới kernel hay gián tiếp qua một bên
xử lý thứ ba đứng giữa nó và kernel Hay người ta gọi là User mode và kernel mode.
Rootkit mức user, là mức đặc quyền thấp nhất, nó phải sử dụng giao diện ứng dụng chương trình API để gửi tới yêu cầu tới hệ thống Các lời gọi này sẽ thông qua thư viện liên kết động mức user(DLL) để được chuyển thành thông điệp mà kernel có thể hiểu Thực tế thì chương trình mức user không tự chứa tất
cả các khả năng xử lý, nó sẽ phải tạo các system call tới kernel Ví dụ, user click chuột OK, Windows chuyển thông tin đó thành một system call để hệ thống xử lý Ngôn ngữ mà Window cung cấp để thực hiện giao tiếp giữa kernel và chương trình mức user gọi là API Để vận hành tốt hơn, mỗi chương trình user tạo một bảng riêng chứa địa chỉ của tất cả API hoặc system function mà nó sẽ cần gọi tới Bảng đó được gọi là IAT(import address table) Gián tiếp liên lạc với kernel làm hạn chế mức ảnh hưởng của user mode rootkit Lợi điểm của nó là dễ tạo, không làm hệ thống bị treo hay gặp sự cố Nhưng để có kết quả nhất định, user mode rootkit còn khá nhiều việc phải làm.
Kernel mode rootkit: Kernel là phần mềm tương ứng với đơn vị xử lý trung tâm - bộ não của hệ điều hành, là thành phần căn bản Kernel duy trì và điểu khiển nhiều tài nguyên quan trọng, và các hàm như thông tin bộ nhớ, an ninh, lập lịch xử lý, giao tiếp giữa phần cứng và tất cả các ứng dụng tất cả các chương trình đều phải tương tác với kernel theo một cách nào đó Và nếu rootkit thao túng được kernel, nó sẽ ở vị trí điều khiển tất cả.
Không giống user mode rootkit hoạt động ở Ring 3, kernel mode rootkit hoạt động ở Ring 0, tương tác trực tiếp với kernel Kernel mode rootkit sẽ cài đặt một driver sẽ chuyển hướng các system function call sang mã lập trình của nó để thi hành.
1.4.2 Persistent và non-persistent rootkit
Persistent rootkit: để có thể tồn tại sau khi hệ thống khởi động rootkit phải
Trang 10Registry, nhờ đó nó được load vào bộ nhớ và tự động thực thi mỗi lần máy tính khởi động Dù các thay đổi vật lý làm tăng khả năng bị phát hiện nhưng vẫn rất nhiều tiện ích hệ thống cũng như chương trình quét malware lại bỏ qua rootkit.
Non-persistent rootkit: chỉ tồn tại trên bộ nhớ và mất đi khi hệ thống khởi động lại Các chương trình mà bỏ qua việc quét các nơi lưu trữ vật lý sẽ không phát hiện ra rootkit này Non-persister rootkit có vẻ như ít đe dọa tới những ai
mà việc khởi động lại máy tính là thường xuyên Nhưng đối với một mạng server với hàng trăm máy tính client, việc reboot thường rất hiếm Các rootkit nằm trên
bộ nhớ thường lợi dụng điểm này, hơn nữa, rootkit kiểu này không để lại manh mối vật lý nào để có thể bị phát hiện.
Trang 11CHƯƠNG II: TẤN CÔNG ROOTKIT TRONG ORACLE
Oracle database và OS khá tương đồng với nhau về mặt cấu trúc Cả Oracle database và OS đều có user, process, job, executable và symbolic link Vì vậy, hacker có thể lợi dụng sự tương đồng này để triển khai các rootkit cũng như các mã độc khác như virus từ phạm vi của OS sang lãnh địa của Oracle database Một số tương đồng về command và object giữa Oracle và OS*Nix
ALTER SYSTEM KILL SESSION ’12,55’
Executable View, package, function and procedure
Execute SELECT * FROM MY_VIEW EXEC PROCEDURE
Cd ALTER SESSION SET CURRENT_SCHEMA=USER01
Rm Delete bal…(put in correct sytax)
fdisk Drop tablespaces
Bảng 1: Tương đồng giữa database và OS Thông thường có một thủ thuật của rootkit OS thế hệ đầu tiên khi ẩn một tài khoản Lệnh ở trong OS*Nix như ps, who và top đã bị thay thế bằng phiên bản của Trojan, liệt kê tất cả trừ tài khoản của kẻ xâm nhập Hướng tiếp cận này cũng có thể được áp dụng đối với DB Rootkit database cũng cần che giấu các hành tung của nó, cụ thể là các process, job, login Bằng cách tác động vào nơi sẽ lưu trữ và cung cấp các thông tin này cũng như tác động vào các base table và các data dictionary view là sys.user$, v$pwfile_users…Vì vậy attacker cần can thiệp vào source code của các view này.
Đầu tiên, chúng ta thử tìm hiểu một số data dictionary view mà cung cấp thông tin về user cũng như thông tin về các tiến trình có liên quan tới hoạt động của user trong DB Và tìm hiểu một số PL/SQL package sẵn có của Oracle được
sử dụng cho việc tấn công của attacker.
Trang 122.1 Tìm hiểu 1 số data dictionary view
Priv_user User có quyền mặc định được áp dụng cho job này
Schema_user Schema mặc định được gán cho job khi thực thi
Last_date Thời điểm gần nhất mà job được thực hiện thành cng
Last_sec Tương tự như last_date
This_date Thời điểm mà job được bắt đầu thực hiện(là null nếu ko thực
thi) This_sec Tương tự this_date Thời điểm lần thực thi cuối cùng được
bắt đầu Next_date Thời điểm kế tiếp mà job sẽ được thực hiện
Next_sec Tương tự next_date Thời điểm được thực hiện kế tiếp
Total_time Tổng thời gian sử dụng hệ thống của job, tính theo giây
Brocken Nếu là Y, nghĩa là không có một cố gắng chạy job này
Nếu là N có một cố gắng để chạy job Interval Lập lịch chạy job lần tiếp thep
Failures Số lần khởi động job và không thành công kể từ lần thành
công gần nhất What Body của block anonymous PL/SQL mà job này thực hiện
Nls_env Tham số phiên mô tả biến môi trường nls của job
Misc_env Tham số phiên khác áp dụng cho job
instance ID của instance chạy hoặc có thể chạy job Mặc định là 0
Bảng 2: View dba_jobs
Trang 13Job ID của job đang chạy
Last_date Ngày gần nhất mà job chạy thành công
Last_sec Tương tự như last_date,đó là lần thực hiện thành công gần
nhất SID ID của tiến trình đang thực hiện job
This_date Ngày mà job bắt đầu thực hiện(thường là null nếu không
đang thực hiện) This_sec Giống như this_date Đó là lần thực hiện thành công cuối
addr Địa chỉ của process
Pid Định danh của process
Spid Định danh trên OS của process
Username Process được chạy bằng tài khoản OS nào
Trace ID Định danh file trace
Background Nhận diện process có phải tiến trình background không Latchwait Địa chỉ của Latch mà process đang đợi
Latchspin Địa chỉ của latch mà process đang spinning trên
Pga_used_mem Vùng nhớ PGA mà process sử dụng
Pga_alloc_mem Vùng nhớ PGA hiện thời được cấp phát cho process
Bảng 4: V$Process
Trang 14V$sesion liệt kê các thông tin về mỗi session hiện tại rootkit cần tìm cách che giấu thông tin về các process ở trong các view này Một số thông tin trong view v$sesion:
Saddr Địa chỉ session
Sarial#
Số serial của session Dùng để xác định duy nhất một object của session đảm bảo rằng các câu lệnh được thực thi đúng đối tượng khi session kết thúc và một session khác dùng ID lại định danh của session
Paddr Địa chỉ của process sở hữu session,
Event Tài nguyên hoặc sự kiện mà session đang đợi
Status Trạng thái của session(active, inactive, killed, catched…) Logon_time Thời gian logon
Username Tên user
Để tạo package spec, dùng lệnh: Create package Lệnh Create package body định nghĩa phần body Phần spec sẽ được public với tất cả các procedure và code khác bên ngoài pack Phần body chứa các thực thi và các khai báo riêng, không được hiển thị đối với bên ngoài.
Trang 15Package DBMS_METADATA
Để thay đổi thông tin mà các view đưa ra, attacker cần phải tác động tới
mã nguồn (mã tạo ra) các view, table Trong các function, procedure được viết
để thực hiện ý đồ của mình, attacker sẽ cần phải lấy mã nguồn của cá view, table cần thay đổi sau đó thêm vào phần mã của mình và thực hiện tạo lại view, table Attacker có thể sử dụng package dbms_metadata của Oracle để lấy mã nguồn (DDL) này.
Thực tế Oracle đưa ra package dbms_metadata nhằm làm đơn giản hóa một số công việc trong database mà cần phải trích (extract) thông tin về các table, index từ Oracle và chueyenr chúng sang hệ thống khác Việc trích DDL của các schema object từ dictionary sẽ rất hữu ích khi phải chuyển sang hệ thống mới và muốn có lại cá object đó trong tablespace miows Oracle cung cấp package dbms_metadata giúp các nhà phát triển dễ dàng lấy các metadata về các object từ data dictionary và đưa ra dưới dạng XMI hoặc DDL Sau đó load XMI hoặc chạy DDL để tạo lại object Dbms_metadata sử dụng một số object và table được định nghĩa trong schema SYS Thường gặp nhất là ku$_parsed item
và ku$_ddl.
Trong dbms_metadata những user thông thường chỉ có thể xem metadata các object mà họ sở hữu, các object họ được gán quyền, các object được public SYS và user có quyền Select_catalog_role xem được metadata của tất cả các object trong database Trong các procedure, function và các package định nghĩa quyền, các role như select_cattalog_role không được kích hoạt Vì thế các chương trình PL/SQL chỉ có thể lấy metadata cho các object ở trong schema của chính nó Package dbms_metadata định nghĩa trong schema SYS các object và table như sau:
Trang 16Sử dụng các chương trình con trong dbms_metadata để lấy DDL của các object hoặc đăng ký dạng XML của các object với database.
Subprogram Nội dung
Add_transform function Xác định 1 transform mà fetch_xxx áp dụng đối
với dạng thể hiện XML của object Fetch_xxx
Trả về metadata cho object thỏa mãn các tiêu chuẩn thiết lập bởi open, set_filter, set_count, add_transform
Get_query Trả về dạng text của query mà fetch_xxx sử
dụng Get_xxx Lấy về metadata cho một object cụ thể
Open Chỉ ra kiểu của object cần lấy, phiên bản
metadata của nó Set_count Thiết lập số object được lấy trong một lời gọi
fetch_xxx Set_parse_item Xác định một thuộc tính object được phân tích Set_filter Đặt các tiêu chuẩn để tìm hiểu object ví dụ tên
hay schema
Bảng 7: Các chương trình con trong dbms_metadata
Ví dụ để lấy metadata dạng XML của Scottemp:
Dbms_output package cho phép gửi message từ pl/sql Thường dùng nhất
là kích hoạt package dbms_output và hiển thị nội dung của message buffer Trong sql*plus điều này có thể thực hiện bằng lệnh: ‘ Set serveroutput on’ hoặc
“Setserverout on” Dbms_output package thường được dùng trong việc debug Procedure put và put_line cho phép đặt thông tin vào buffer để bất kỳ trigger, procedure, package nào cũng có thể đọc được hiển thị thông tin ở vùng buffer bằng cách gọi procedure get_line và get_lines.
Trang 17Package dbms_output được chạy bằng scrip dbmsscrip.sql bởi user Sys.Package này được gán Excute cho tất cả user(public)
Dbms_output.enable Enable các chương trình con Put, put_line,
get_line, get_lines và new_line Dbms_output.new_line Thêm một end-ò-line vào buffer
Dbms_output.get_line(s) Lấy một hoặc nhiều dòng từ buffer
Dbms_output.put Chuyển tham số được gọi vào buffer
Dbms_output.put_line Thêm một end-of-line vào buffer
Bảng 8: dbms_output
Package DBMS_JOB
Dbms_job cung cấp một job cho nhiều instance Mặc định job có thể chạy trên bất kỳ một instance nào, nhưng chỉ có một instance sẽ chạy nó Không yêu cầu phải có system privilege nào để có thể sử dụng dbms_job Và cũng không có system privilege nào quản lý dbms_job Các job không thể bị sửa đổi hay xóa ngoài job sở hữu bởi user đó Một khi job được start và chạy sẽ không dễ ngừng job lại.
Subprogram Nội dung
Broken Chặn thực hiện job
Change Chỉnh sửa tham số user định nghĩa liên quan tới job
Instance Gán một job cho một instance chạy
Next_date Lần thực hiện job tiếp theo
Remote Xóa một job khỏi hàng đợi job
Submit Đưa một job vào hàng đợi job
what Thay đổi đặc tả của một job
Bảng 9: dbms_jobs
Package DBMS_SQL
Package dbms_sql cho phép truy nhập tới dynamic SQL và dynamic PL/SQL từ bên trong chương trình PL/SQL Dynamic có nghĩa là các câu lệnh SQL trong package sử dụng những tham số chưa được trong chương trình Chúng là các chuỗi ký tự được xây dựng tại thời điểm chạy và sau đó được đưa
Trang 18vào SQL engine để thực hiện package dbms_sql cho phép thực hiện những hành động là không thể trong chương trình PL/SQL bao gồm:
• Executre câu lệnh ddl: câu lệnh ddl như drop table hay create index là không được phép trong native PL/SQL.
• Tạo một ad-hoc query interface: với dbms không cần phải nhọn nhằn gõ các câu lệnh select cho một truy vẫn hay con trỏ Bạn có thể cho user xác định các thứ tự sắp xếp, các điều kiện và bất kỳ trường hợp nào của các câu lệnh select.
• Execute dynamic các chương trình PL/SQL đã được tạo: trong table, chúng
ta lưu tên của procedure thực hiện cho phép tính toán nào đó Sau đó dùng một front-end cho table đó, để user lực chọn chức năng phù hợp đưa giá trị đầu vào và thực thi thay vì phải thêm vào hàng và tương tác với khá nhiều giao diện
Với sức mạnh sự ảnh hưởng và linh hoạt của dynamic SQL thông thường chỉ nên gán quyền Execute cho những user mà cần thực hiện dynamic SQL Để che giấu dbms_sql thực hiện lệnh bằng tài khoản sys:
Revoke execute on dbms_sql from public;
Để gán quyền execute cho user nào đó, thực hiện:
Grant execute on dbms_sql to User_name;
Khi thực hiện một chương trình dbms_sql từ một anonymous block, chương trình đó được thực hiện với quyền của schema hiện tại Nếu những chương trình dbms SQL sẽ thực hiện sử dụng quyền của người sở hữu chương trình đó Dbms_sql còn được gọi là package ‘run as user’ hơn là ‘run as owner’.
Close(open)_curror Đóng(mở) con trỏ
Column_value Lấy giá trị từ con trỏ vào biến cục bộ
Fetch_rows Nhập giá trị row từ con trỏ
Is_open Trả về giá trị true true nếu con trỏ đang mở
Last_row_count Trả về tổng số row được fetch từ con trỏ
Last_SQL_function_code Trả về function code cho câu lệnh SQL
Define_column Xác định một column được chọn từ một con trỏ cụ
thể
Trang 19tục phân tích sẽ thực thi luôn câu lệnh Variale_value Lấy giá trị một biến trong con trỏ
Bảng 10: dbms_sql Dbms_sql thực sự là một package mạnh nhưng nó cũng là một package khá phức tạp để sử dụng thông thường chúng ta có thể tạo và thực hiện vào các câu lệnh SQL Nhưng việc tạo như vậy khá là thủ công và vất vả, phải xác định tất cả các câu lệnh SQL Nhưng việc tạo như vậy khá thủ công và vất vả, phải xác định tất cả các câu lệnh SQL, với các lời gọi thủ tục, các kiểu, biến…
Quá trình xử lý của Dynamic SQL
• Mở vùng nhớ: trước khi thực hiện bất kỳ sql dynamic nào phải có một con trỏ tới cùng nhớ mà sql dynamic sẽ được quản lý Khi mở vùng nhớ, Rdbms trả về một integer gán với con trỏ Chúng ta sẽ sử dụng giá trị này trong các lời gọi sau đó tới các chương trình dbms_sql để thực hiện câu lệnh dynamic này Có thể sử dụng một con trỏ để thực hiện nhiều câu lệnh SQL Nội dung của vùng lưu dữ liệu sẽ được rết nếu một câu lệnh mới được phân tích vì thế không phải close và open lại con trỏ.
• Phân tích câu lệnh: sau khi đã xác định con trỏ tới vùng nhớ, để liên kết nó với câu lệnh sql cần phải phân tích (parse) câu lệnh bằng lời gọi tới thủ tục parse Nó xác định các câu lệnh này có đúng cấu trúc không và liên kết các câu lệnh với con trỏ Lưu ý khi phân tích một câu lệnh DDL, nó cũng ngay tức khắc được thực thi và rdbms cũng thực hiện một lệnh commit ngầm định.
• Ràng buộc tất cả giá trị host: câu lệnh mà chúng ta thực hiện ở dạng chuỗi tại thời điểm chạy Khi sử dụng dynamic sql, tại thời điểm compile chúng ta chưa biết giá trị vì thế phải chuyển qua giá trị vào câu lệnh sql tai thời điểm chạy Có 2 cách để thực hiện: móc nối(concatenation) và ràng buộc(binding) Với móc nối, chuyển tất các thành phần tròn câu lệnh sql thành chuỗi và nối chúng lại Với ràng buộc chúng ta nên chèn nơi lưu trữ (placebolder) vào chuỗi với dấu ‘:’ đặt trước nếu câu lệnh sql chứa tham chiếu tới các biến PL/SQL, chúng ta phải chỉ ra nơi đặt các biến đó trong câu lệnh sql bằng cách đặt dấu ‘:’ trước tên Sau đó gán giá trị thật cho biến
đó trong câu truy vấn
Trang 20Nếu nối giá trị vào một chuỗi thì không cần phải gọi các thủ tục bind_varalable hay bind_array Ví dụ:
DBMS_SQL_PARSE(the_cursor,
SELECT COUNT(*) freq FROM call WHERE call_date =: call_date’
|| ‘AND call_type_cd =: call_type’,DBMS_SQL.V7);
DBMS_SQLBIND_VARIABLE(the_cursor,’call_date’,:call.last_date _called);
DBMS_SQL_BIND_VARIABLE(the_cursor,’call_type’,:call.call_sta tus);
Để tránh phải tạo các lời gọi riêng rẽ tới bind_variable có thể đưa các giá trị này vào câu lệnh tại thời điểm phân tích Ví dụ trên có thể viết thành:
• Định nghĩa các cột trong lệnh select: mỗi cột trong danh sách mà câu lệnh sql liệt kê với các biến PL/SQL nhận giá trị đó Bước này chỉ dành cho câu lệnh select.
• Thực thi câu lệnh: thực thi tại vùng nhớ đã chỉ ra-tức là câu lệnh tại vùng nhớ đó Nếu câu lệnh sql là insert, update hay delete, lệnh execute sẽ trả về
số các hàng được xử lý Còn lại, chúng ta có thể bỏ qua giá trị trả về.
• Lấy các hàng từ truy vấn sql dynamic: nếu thực thi truy vấn, sau đó phải lấy các hàng từ vùng nhớ Tuy nhiên, không lấy trực tiếp vào các biến PL/SQL cục bộ.
Trang 21• Tìm hiều các giá trị việc thực thi sql dynamic: nếu câu lệnh SQL là một truy vấn, tìm kiếm các giá trị trả về của lệnh select bằng column_value.
• Đóng con trỏ: giải phóng vùng nhớ liên quan tới con trỏ.
Utl_tcp
Utl_tcp là package cơ bản nhất có thể truy xuất network UTL_TCP có thể tạo các kết nối TCP tới server khác gửi và nhận dữ liệu Hơn nữa,không có giới hạn trong định dạng của data này, tức là có thể ở dạng binary hoặc text-based
Nó cho phép rdbms giao tiếp với bất kỳ server nào trên network mà nó cần, web server hay RPC server Đây là một package rất hữu ích cho attacker Ví dụ, attacker có thể dựa vào utl_tcp để tạo một chương trình quét cổng TCP.
Các function cơ bản:
Open_connection Mở một socket tới host
Read_raw Đọc dữ liệu binary từ socket
Write_raw Viết dữ liệu binary tới socket
Read_text Đọc dữ liệu ASCII từ socket
Write_text Viết dữ liệu ASCII từ socket
Bảng 11: Utl_tcp
2.3 Nhiệm vụ của Rootkit
2.3.1 Ẩn tài khoản truy nhập
User oracle được lưu trong table SYS.USER$ cùng với database role User
có flag TYPE#=1 và roll có flag TYPE#=0 Để việc truy nhập dễ dàng hơn và đảm bảo tính tương thích với các phiên bản trước Oracle đưa ra 2 view là DBA_USER$ thông qua public synonym Hầu hết các DBA và các công cụ sử dụng các view này để truy nhập table SYS.USER$ Vì vậy để ẩn đi các user muốn che giấu cần sửa các view source:
AND U.NAME != ‘tên cần ẩn’
Trang 22Hình 1: Trước khi ẩn user HACKER Mọi thay đổi trên view thuộc về SYS yêu cầu quyền SYSDBA (cần có một mục về các tài khoản và quyền hạn trên Oracle) Sau đó truy vấn trở lại view trên
sẽ không thấy xuất hiện tài khoản đó