Buôn làng truyền thống phải có đủ các yếu tố: Khu đất rộng và phẳng, bến nước, khu đất làm rẫy, khu đất nhà mồ nghĩa địa, khu rừng giữ nguồn nước và cung cấp sản vật nuôi sống cộng đồng.
Trang 1NGƯỜI Ê - ĐÊ
Tên tự gọi: Anăk Ê Đê
Tên gọi khác: Anăk Ê Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), Ê Đê Êgar, Ðê
Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah,
Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan
Số dân: 331.194 (Tổng cục Thống kê năm 2009)
Người Ê Đê cư trú tại 59 tỉnh, thành phố, đông nhất tại các tỉnh: Đắc Lắc (298.534 người, chiếm 17,2% dân số),Phú Yên (20.905 người), Đắc Nông (5.271
người), Khánh Hòa (3.396 người)
Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ
Nam Ðảo) Ngôn ngữ Ê Đê được ký âm bằng chữ Latinh
Voi - phương tiện vận chuyển của người Ê Đê xưa Ảnh: KT
Trang 2Nguồn gốc lịch sử:
Theo các nhà dân tộc học, từ thế kỷ I-X trước công nguyên, các tộc người ở miền Nam Ấn Độ đi về phía Nam theo sông Mekong rồi đi ra biển Đông và dừng lại cư trú tại các quần đảo Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore… Một số tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo và Môn Khơ-me vào định cư tại đất liền Trong nhóm định cư tại cao nguyên Việt Nam có người Ê Đê
Theo tài liệu “Khảo cổ học tiền sử Đắk Lắk” (PGS.TS Nguyễn Khắc Sử, Viện Khảo cổ học Việt Nam, nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 2005), con người đã có mặt trên cao nguyên Đắc Lắc cách đây 3000-4000 năm
Bến nước Kể cả khi có nước máy, thì nước đổ rượu cần và nước uống vẫn thường được lấy từ bến nước Ảnh: KT
Trang 3Đặc trưng tộc người:
Người Ê Đê sống thành từng buôn Buôn làng truyền thống phải có đủ các yếu tố: Khu đất rộng và phẳng, bến nước, khu đất làm rẫy, khu đất nhà mồ (nghĩa địa), khu rừng (giữ nguồn nước và cung cấp sản vật nuôi sống cộng đồng)
Buôn thường mang tên người có công với dòng họ (thường là tên phụ nữ), hoặc tên sông suối, núi đồi Đứng đầu buôn là chủ bến nước Người Ê Đê theo chế độ mẫu
hệ, con cái mang họ mẹ, tài sản thuộc về phụ nữ Phụ nữ đi cưới chồng về ở rể Khi một trong hai người qua đời thì gia đình và dòng họ của người quá cố phải có người đứng ra thay thế theo tục "nối dòng" (chuê nuê) để cho người sống không bao giờ đơn lẻ
Bến nước là nét đặc trưng văn hóa của các buôn làng Ê Đê Chủ bến nước (thường
là phụ nữ), là người tìm ra bến nước, tìm ra vùng đất làm nơi định cư của buôn làng Chủ bến nước có quyền cấp đất ở, đất làm rẫy, đất chôn cất người chết và tổ chức các lễ hội truyền thống Nước ở bến nước được người Ê Đê coi là nguồn nước sạch nhất Đồng bào thường lấy nước bằng quả bầu, uống trực tiếp Bến nước là
“phần hồn” của các buôn làng Ê Đê
Nhà dài Ảnh: KT
Trang 4Nhà truyền thống của người Ê Đê là những ngôi nhà sàn dài đến nỗi “con voi đi mỏi chân mới hết” (sử thi Đam San), dài từ 100m trở lên, mô phỏng hình con thuyền Các thành viên đại gia đình sống trong ngôi nhà sàn này (thường là 5-7 cặp
vợ chồng) Cầu thang nhà dài thường có 7 bậc Đầu cầu thang tạc hình mặt trăng lưỡi liềm và hai bầu vú, tượng trưng cho sức sống, uy quyền và vai trò quan trọng của người phụ nữ
Ngày nay, nhà sàn thường chỉ dài 15-20m, riêng biệt cho từng gia đình nhỏ Nhiều người Ê Đê nay sống trong nhà trệt, nhưng vẫn dựng thêm nhà sàn bên cạnh Xưa, canh tác lúa rẫy chiếm vị trí quan trọng Người Ê Đê chủ yếu trồng theo kiểu luân canh, sau 5-7 năm canh tác thì bỏ hóa đất, đi đốt mảnh rẫy khác, trong khi chờ đất hồi phục để quay lại sản xuất tiếp Mỗi gia đình có vài mảnh rẫy như vậy Nhóm Ê Đê Bih sống ở vùng đầm lầy thì trồng lúa nước
Người Ê Đê cũng chú trọng chăn nuôi gà, vịt, ngan, ngỗng, lợn, trâu, bò Trâu, bò chủ yếu làm vật hiến sinh trong các lễ hội lớn Người Ê Đê còn đánh bắt cá trên sông, suối và khai thác lâm sản Ngày nay, cây trồng chủ yếu trong vùng đồng bào
Ê Đê là cây công nghiệp: cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, ca cao…
Chi tiết điêu khắc trên xà nhà Ảnh: KT
Trang 5
Nghề thủ công truyền thống phổ biến nhất của người Ê Đê là trồng bông dệt vải, dệt váy áo, chăn bằng khung dệt giống người Inđônêdiêng Người Ê Đê có câu:
“Đẻ con gái phải dạy nghề dệt vải, đẻ con trai phải dạy bắn nỏ, đi rừng” Họ còn có nghề trồng cói, dệt chiếu, đan lát, làm gốm, nghề rèn, tạc tượng (chủ yếu là tượng nhà mồ) Những nghề thủ công truyền thống này đang mai một
Nghệt thuật điêu khắc của người Ê Đê rất phong phú và đa dạng, được thể hiện đậm nét qua kiến trúc nhà ở, nhà mồ Điển hình là tượng nhà mồ Tượng được làm bằng gỗ, chạm khắc các hình khối, đường nét tinh tế, khỏe khoắn Được tạc nhiều nhất là tượng nam nữ giao hoan, nam – nữ phô bày sinh thực khí, phụ nữ mang thai… Tất cả được dựng quanh ngôi mộ
Người phụ nữ chủ gia đình được mời cầm cần rượu đầu tiên Ảnh: KT
Ẩm thực: Bữa ăn hàng ngày của người Ê Đê thường có cơm tẻ, một đĩa cá, một đĩa rau, một tô cà đắng nấu với cá khô hoặc tép, một bát nước mắm hoặc một đĩa muối chấm (giã với lá rừng và ớt) Trong các nghi lễ - lễ hội, cơm lam, thịt nướng, cà đắng, rượu cần là những món chính được dâng cúng thần linh Mọi người trong buôn đến dự lễ được thết đãi những món ăn này Khách ăn uống no say tới khi rượu nhạt mới chia tay chủ nhân ra về Tiễn khách, chủ nhà thường biếu mỗi người một nắm xôi, một ít thịt mang về cho con cháu
Trang 6Người Ê Đê có tục ăn trầu Ngày nay, không còn nhiều người giữ tục này
Người Ê Đê có gần 30 nhóm địa phương khác nhau, nhưng đều chung một hình thức trang phục Nữ mặc váy dài và áo ngắn chui đầu Nam giới đóng khố và mặc
áo cánh dài quá mông Người Ê Đê thích đeo nhiều đồ trang sức như vòng bạc, vòng đồng Xưa, nam nữ đều có tục cà răng-căng tai và nhuộm đen răng
Phụ nữ Ê Đê thường búi tóc sau gáy, cài trâm bằng đồng hoặc ngà voi Họ thường
có hai kiểu chít khăn: khăn chít ra đằng sau gáy hoặc trước trán vận chéo hình chữ nhân (như lối đội khăn của phụ nữ Chăm) Chiếc váy cổ truyền của phụ nữ gọi là Myêng Đó là loại váy mở, màu chàm, quấn quanh thân Chạy dọc dưới thân váy là những hoa văn hình hạt thóc, hạt bắp, con tắc kè, chim, cá, hình người với màu đỏ pha lẫn trắng, vàng khá sặc sỡ
Căn cứ vào chất lượng và hoa văn, người Ê Đê có nhiều loại váy: Myêng Đêch, Myêng Drai, Myêng Kdruêch piêk, Myêng Mút Váy Đêch quý hơn cả, trước đây trị giá 2-3 con trâu
Trang 7Trang phục truyền thống của người Ê Đê Ảnh: KT
Nam giới Ê Đê mang khố, gọi là kpin Có các loại khố: Ktêh, Drai, Bơng, Bal, Mlang Giá trị nhất là khố Ktêh, trước đây trị giá 2-3 con trâu Áo cánh mặc trong
lễ hội của đàn ông Ê Đê được trang trí một mảng đỏ rực ở ngực áo, hình đại bàng dang cánh, tượng trưng cho khí phách và khát vọng vươn lên của người Ê Đê
Khi ra khỏi nhà, đàn ông Ê Đê xưa thường đeo gùi, ngậm tẩu thuốc Đó cũng là một cách trang sức thêm cho bộ trang phục cổ truyền
Người Ê Đê có nền văn hóa dân gian vô cùng phong phú Kho tàng sử thi (khan) được truyền miệng, ca ngợi những vị anh hùng chiến đấu chống thiên tai, cường quyền, như: Đam San, Đăm Di, Khing Jú, Dăm Tiông, M’Drông Dăm, Dăm Trao – Dăm Rao…
Bên cạnh sử thi, người Ê Đê còn có kho tàng truyện cổ khá phong phú gồm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, câu đố, ngụ ngôn… Hầu hết các câu chuyện đều đi sâu giải thích sự hình thành trời đất, muôn vật, cây cỏ, con người
Trang 8Chinh Kram (chiêng tre) – người tập đánh chiêng thường bắt đầu từ bộ chiêng này Người Ê Đê thường ngồi khi đánh chiêng Trong nhà sàn, ghế dài (kpan) dựng sát vách là chỗ ngồi của đội chiêng Ảnh: Báo Đắc Lắc
Người Ê Đê rất yêu ca hát, tấu nhạc Họ có những điệu múa, điệu dân ca (Ayray, Kưưt, Mmuin) Nhạc cụ cổ truyền của người Ê Đê rất phong phú, được xếp theo bộ
gõ, bộ dây, bộ hơi
Bộ chiêng của người Ê Đê (thuộc bộ gõ) có 10 cái Người Ê Đê đánh chiêng bằng dùi bọc vải, vừa đánh vừa dùng tay trái giữ nhịp chiêng Đi cùng với chiêng có trống cái (H’gor) Theo quan niệm của họ, cồng chiêng có thể giúp con người thông tin trực tiếp với thần linh Cồng chiêng không được sử dụng bừa bãi mà chỉ được sử dụng trong các lễ hội của buôn làng Người Ê Đê ngồi thành hàng khi đánh chiêng
Nhạc cụ của người Ê Đê được chế tạo từ tre nứa, gỗ, đá, sừng, kim loại… Đó là ching kram (chiêng tre), đing năm, đinh pah, đinh buốt, đinh tak tar, đing pâng, đing lơng khơng, đing ring, đinh tuut, đàn brố, đàn goong…
Trang 9Lễ cúng thần lúa ở buôn T'Liêr (Hòa Phong, Krông Bông, Đắc Lắc) Ảnh: KT
Người Ê Đê quan niệm mọi sự vật hiện tượng trong cuộc sống đều có thần linh Thế giới thần linh chia thành hai loại: thần thiện và thần ác Người Ê Đê theo tín ngưỡng đa thần, không thờ vật tổ như các dân tộc khác, nên trong lễ hội dân gian
họ chỉ quan tâm đến phần lễ là chính Các nghi lễ này thường kèm theo vật hiến tế thần linh như trâu, bò, heo, gà, rượu cần Họ diễn tấu cồng chiêng để gọi các thần
Ngày trước, chỉ trồng lúa một vụ, dựa vào nước trời, nên từ tháng 11 đến tháng 3 là khoảng thời gian rảnh rang, người Ê Đê thường tổ chức lễ hội Mùa này thường được gọi là “mùa ăn năm uống tháng”
Người Ê Đê có hai hệ thống nghi lễ - lễ hội, đó là hệ thống nghi lễ - lễ hội vòng đời người và và hệ thống nghi lễ - lễ hội vòng cây lúa
Nghi lễ vòng đời người gồm những lễ cúng từ khi người mẹ mang thai cho tới khi già, những lễ cúng nhà mới, lễ kết nghĩa, lễ tiếp khách… và cuối cùng là lễ bỏ mả
Nghi lễ nông nghiệp (lễ hội vòng cây lúa) gồm những lễ cúng từ khi khai khẩn đất đai, tới làm mùa, thu hoạch, cúng tạ ơn các thần nông nghiệp, cúng mừng lúa, cúng nồi cơm, cúng hồn lúa, cúng bến nước, lễ cầu no đủ…