Các quan điểm về kiểm toán Quản điểm thứ nhất (Quan điểm cổ điển): Đồng nhất giữa kiểm toán với kiểm tra kế toán. Kiểm tra kế toán: luôn đóng vai trò là chức năng của kế toán và không phải là một hoạt động độc lập mà nằm ngay trong tất cả các quá trình hoạt động của kế toán. Kiểm toán là một hoạt động độc lập và là một hoạt động kiểm tra bên ngoài đối với kế toán. Từ hai khái niệm trên ta thấy kiểm tra kế toán không thể đồng nhất với kiểm toán, mà quan điểm này chỉ phát sinh và tồn tại trong các điều kiện: Trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung: Nhà nước đóng vai trò làm chủ sở hữu, là người quản lý, là người trực tiếp kiểm tra và kiểm soát. Kết luận: Không thể đồng nhất giữa kiểm toán với kiểm tra kế toán vì tồn tại hay không tồn tại của kiểm toán tách biệt với kiểm tra kế toán
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN1.1 Khái niệm về kiểm toán
1.1.1 Các quan điểm về kiểm toán
Quản điểm thứ nhất (Quan điểm cổ điển): Đồng nhất giữa kiểm toán với kiểm
- Trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển
- Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung: Nhà nước đóng vai trò làm chủ sở hữu,
là người quản lý, là người trực tiếp kiểm tra và kiểm soát
Kết luận: Không thể đồng nhất giữa kiểm toán với kiểm tra kế toán vì tồn tại
hay không tồn tại của kiểm toán tách biệt với kiểm tra kế toán
Quan điểm thứ hai: Kiểm toán được hiểu theo đúng thời điểm phát sinh trong
cơ chế thị trường
- Khái niệm theo chuẩn mực của Vương Quốc Anh: Kiểm toán là hoạt động xácminh và bày tỏ ý kiến về các bảng khai tài chính của các xí nghiệp do các kiểm toánviên độc lập thực hiện dựa theo luật định
- Khái niệm của các chuyên giá Mỹ
- Khái niệm Kiểm toán ở Cộng hoà Pháp
Từ những khái niệm trên ta có những luận điểm chung:
- Chức năng của kiểm toán: Gồm hai chức năng cơ bản là chức năng xác minh
và chức năng bày tỏ ý kiến
- Đối tượng của kiểm toán: là các bảng khai tài chính
+ Báo cáo tài chính: là báo cáo về sự vận động TS, NV và kết quả cáchoạt động tài chính, bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, Báocáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính
+ Bảng khai tài chính khác: Như báo cáo quyết toán ngân sách, báo cáoquyết toán dự án đầu tư…
Trang 2- Khách thể kiểm toán: Là các đơn vị, tổ chức và các cá nhân tiến hành sản xuấtkinh doanh.
- Chủ thể kiểm toán: Là các kiểm toán viên độc lập
- Cơ sở tiến hành kiểm toán: là các luật kế toán, luật kiểm toán, chuẩn mực kếtoán, chuẩn mực kiểm toán
Quan điểm thứ 3: Quan điểm hiện đại về kiểm toán
Theo quan điểm này kiểm toán bao gồm 4 lĩnh vực
- Kiểm toán thông tin: Là hướng tới việc đánh giá tính trung thực, hợp pháp củacác tài liệu, các con số, làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ về kinh
tế và tạo niềm tin cho những người quan tâm
- Kiểm toán quy tắc: Hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện luật pháp củađơn vị được kiểm tra trong quá trình hoạt động
- Kiểm toán hiệu quả: là xác minh mối liên hệ giữa chi phí và kết quả giúp hoànthiện các chính sách, các giải pháp về hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểmtoán
- Kiểm toán hiệu năng: hướng tới mục tiêu của chương trình, dự án nhằm nângcao năng lực quản lý của các đơn vị được kiểm toán
- Nội dung trực tiếp và chủ yếu của kiểm toán là: thực trạng hoạt động tài chính
đã được phản ánh trên các bảng khai tài chính một phần và một phần chưa được phảnánh trong tài liệu kế toán
- Kiểm toán hình thành một hệ thống phương pháp kỹ thuật riêng bao gồmphương pháp kiểm toán chứng từ và phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ thích hợpvới từng đối tượng kiểm toán
- Kiểm toán được thực hiện bởi những người có trình độ chuyên môn sâu về kếtoán và kiểm toán
Kết luận chung về kiểm toán:
Trang 3Kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các hoạt động cần kiểmtoán mà trước hết và chủ yếu là hoạt động tài chính bằng hệ thống các phương pháp kỹthuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên cótrình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực.
1.1.2 Khái niệm Kiểm toán
Kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các hoạt động cần kiểmtoán mà trước hết và chủ yếu là hoạt động tài chính bằng hệ thống các phương pháp kỹthuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên cótrình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực
1.2 Chức năng của kiểm toán
- Tính trung thực của các số liệu
- Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính
Trong chức năng này, một vấn đề đặt ra là phát hiện gian lận và vi phạm trong tàichính Trong kiểm toán ở các nước, vấn đề này được đặt ra như những khác biệt về kỳvọng giữa kiểm toán và quản lý Do đó các nhà kiểm toán quốc tế thường hướng tớiviệc hoàn thiện các chuẩn mực kiểm toán
1.2.2 Chức năng bày tỏ ý kiến
Chức năng này có thể được hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lượng thông tin và cả pháp lý, tư vấn qua xác minh
Nếu kết luận về chất lượng thông tin có quá trình phát triển lâu dài từ chỗ chỉ có
từ xác nhận đến hình thành báo cáo kiểm toán theo chuẩn mực chung thì kết luận vềpháp lý hoặc tư vấn cũng có quá trình phát triển lâu dài
Ở khu vực công cộng bao gồm xí nghiệp công, các đơn vị sự nghiệp và cá nhânhưởng thụ ngân sách nhà nước đều đặt dưới sự kiểm soát của kiểm toán nhà nước
Ở khu vực kinh doanh hoặc các dự án ngoài ngân sách nhà nước, chức năng bày
tỏ ý kiến được thực hiện qua phương thức tư vấn
Trang 41.3 Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán
1.3.1 Kiểm toán góp phần tạo niềm tin cho những người quan tâm
Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm đến đối tượng kiểm toán nhưcác cơ quan nhà nước, ngân hàng, các nhà đầu tư, các nhà quản lý, người lao động,khách hàng, nhà cung cấp và những người quan tâm khác
1.3.2 Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ
Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài chính
kế toán nói riêng và hoạt động của kiểm toán nói chung
Hoạt động tài chính bao gồm nhiều mối quan hệ về đầu tư, về kinh doanh, về phânphối, về thanh toán Tính phức tạp của hoạt động này càng tăng lên bởi quan hệ chặtchẽ giữa các quan hệ tài chính với lơị ích con người Trong khi đó thông tin kế toán là
sự phản ánh của hoạt động tài chính, là sản phẩm của quá trình xử lý thông tin bằngphương pháp kỹ thuật rất đặc thù
1.3.3 Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu năng quản lý
Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý Kiểm toán khôngchỉ xác minh rõ độ tin cậy của thông tin mà còn tư vấn về quản lý
Trong điều kiện mới chuyển đổi cơ chế kinh tế, hệ thống pháp lý chưa hoànchỉnh việc duy trì kỷ cương và đảm bảo phát triển đúng hướng chỉ có được trên cơ sởxây dựng đồng bộ và tổ chức thực hiện tốt kiểm toán trên mọi lĩnh vực
ý nghĩa lớn nhất của kiểm toán là quan toà công minh của quá khứ, người dẫn dắt hiện tại và người cố vấn sáng suốt cho tương lai.
1.4 Mục đích và phạm vi của kiểm toán
1.4.1 Mục đích của kiểm toán
- Kiểm toán tài chính nhằm kiểm tra đánh giá về tính trung thực hợp lý của các
công ty trên các bảng khai tài chính nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng thông tin củanhiều người
- Nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động tài chính và năng lực quản lý củađơn vị được kiểm toán thông qua việc đưa ra các lời khuyên cụ thể và rõ ràng cho banquản lý đơn vị để điều chỉnh và xử lý kịp thời các sai phạm
b Phạm vi của kiểm toán
Trang 5Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và bản thân kiểm toán, theo quan điểm hiện đại, phạm
vi của kiểm toán rất rộng, bao gồm các lĩnh vực khác nhau như:
- Kiểm toán về thông tin
- Kiểm toán hiệu quả
- Kiểm toán tính quy tắc
- Kiểm toán hiệu năng
Chẳng hạn, khi kiểm toán về thông tin, nhân viên kiểm toán sẽ hướng vào việc đánh giá tính
trung thực và hợp pháp của các tài liệu để tạo cơ sở pháp lý và niềm tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán.
Còn kiểm toán hiệu quả là kiểm tra, đánh giá các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp
vụ kinh doanh như mua bán, sản xuất hay dịch vụ để giúp các công ty hoạch định lại chính sách cho việc hoàn thiện hoạt động kinh doanh của công ty mình.
1.5 Các loại kiểm toán
1.5.1 Phân loại kiểm toán theo đối tượng cụ thể
- Kiểm toán báo cáo tài chính: là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các bản khai tài chính của các thực thể kinh tế do những người có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện và dựa trên hệ thống pháp lý đang có hiệu lực
Theo thông lệ kế toán quốc tế các DN phải công bố Bảng cân đối KT, bảng kết quả
KD và báo cáo lưu chuyển tiền tệ cùng các bảng giải trình Đây là đối tượng quan tâmtrực tiếp của các tổ chức, cá nhân Do đó báo cáo tài chính là đối tượng trực tiếp vàthường xuyên của kiểm toán
Thông thường một đơn vị có 100% vốn đầu tư của nhà nước, nhà nước vừa là chủ sởhữu, vừa là người giữ vai trò điều tiết nên các bảng khai này do cơ quan kiểm toán củanhà nước thực hiện công việc kiểm toán
Trong các trường hợp còn lại, những người quan tâm thường có nhiều phía khác nhau
Do vậy việc kiểm toán lại do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện
- Kiểm toán nghiệp vụ: Là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các nghiệp vụ
cụ thể của các bộ phận hoặc đơn vị do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện dựa trên hệ thống pháp lý đang có hiệu lực.
Đối tượng: là các nghiệp vụ tài chính hoặc phi tài chính hiệu năng và hiệu quả
của quản lý
Khách thể:
+ Các bộ phận các đơn vị được kiểm toán
Trang 6+ Chủ thể, chủ yếu là kiểm toán viên nội bộ
+ Cơ sở pháp lý chưa có các chuẩn mực hướng dẫn nên kiểm toán nghiệp vụ thườngđưa ra tư vấn gợi ý nhiều hơn là xác minh
- Kiểm toán tuân thủ: Là việc xác minh và bày tỏ ý kiến về tính tuân thủ pháp
luật chế độ thể lệ của nhà nước và nội quy của đơn vị
Đối tượng: Kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của nhà nước và quy định của đơn
vị
Khách thể: Các thực thể kinh tế, chủ thể, kiểm toán và kiểm toán nội bộ Cơ sở
hệ thống pháp lý đang có hiệu lực và nội quy của đơn vị
- Kiểm toán theo chủ thể: Kiểm toán nội bộ là một bộ máy thực hiện chức năng
kiểm toán nhằm phục vụ cho nhu cầu quản trị nội bộ của đơn vị
Kiểm toán chủ thể: kiểm toán viên nội bộ là những người không chuyên nghiệp khôngnhất thiết phải có chứng chỉ hành nghề nhưng phải có trình độ chuyên môn đạo đứcnghề nghiệp và tính độc lập
Nguyên lý cơ bản xây dựng kiểm toán nội bộ:
+ Bộ phận kiểm toán nội bộ phải độc lập với các bộ phận còn lại trong đơn vị và bộphận này chỉ phụ thuộc vào người lãnh đạo cao nhất trong đơn vị
+ Lĩnh vực kiểm toán chủ yếu là kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ
+ Tính chất pháp lý: kiểm toán nội bộ tiến hành các cuộc kiểm toán quy chế và yêucầu của ban giám đốc hoặc hội đồng quản trị đối với các đơn vị trực thuộc
- Kiểm toán độc lập là tổ chức kiểm toán viên chuyên nghiệp tổ chức kinh
doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách hàng
Chủ thể: là kiểm toán viên độc lập chuyên nghiệp có chứng chỉ hành nghề.
Mô hình tổ chức: là công ty kiểm toán và văn phòng kiểm toán tư.
Khách thể:
+ Bắt buộc là những đơn vị phải thực hành kiểm toán theo luật định bao gồm DN cóvốn đầu tư nước ngoài, tổ chức có hoạt động KD, tổ chức tài chính và DN kinh doanhbảo hiểm, DN nhà nước báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB của các dự án và một sốđối tượng khác
+ Tự nguyện bao gồm tất cả các đơn vị cá nhân có nhu cầu kiểm toán
Lĩnh vực kiểm toán chủ yếu: kiểm toán báo cáo tài chính
Trang 7Tính chất pháp lý: các cuộc kiểm toán được tiến hành trên cơ sở hoạt động giữa công
ty kiểm toán và khách hàng, khách hàng có quyền lựa chọn và có thu phí theo hợpđồng
1.5.2 Phân loại kiểm toán theo hệ thống bộ máy nhà nước
- Kiểm toán nhà nước: là hệ thống bộ máy chuyên môn của nhà nước thực hiện
các chức năng kiểm toán tài sản công
Chủ thể là các kiểm toán viên nhà nước Đây là các công chức nhà nước không cầnchứng chỉ hành nghề nhưng cần có chứng chỉ của trung tâm khoa học đào tạo bồidưỡng cán bộ nhà nước
Khách thể bao gồm tất cả các đơn vị cá nhân có ngân sách nhà nước như:
+ Các dự án, công trình do ngân sách nhà nước đầu tư
+ Các dự án nhà nước
+ Các xí nghiệp công cộng thuộc sở hữu nhà nước
+ Các cơ quan kinh tế của nhà nước, đoàn thể xã hội
+ Các cá nhân
Lĩnh vực kiểm toán chủ yếu là kiểm toán tuân thủ và kiểm toán tổ chức
Tính chất pháp lý kiểm toán nhà nước là cơ quan công quyền thực hiện các cuộc kiểmtoán mang tính chất bắt buộc và cưỡng chế đối với các dự án và cá nhân sử dụngnguồn vốn và kinh phí từ ngân sách nhà nước
- Kiểm toán độc lập: Là hoạt động đặc trưng của kinh tế thị trường Đây là các
tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách hàng ở VNhiện nay có công ty kiểm toán VN, công ty dịch vụ kế toán kiểm toán và tư vấn tàichính Công ty Tư vấn và kiểm toán Sài Gòn
- Kiểm toán nội bộ: là bộ máy thực hiện chức năng kiểm toán trong phạm vi đơn
vị, phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ đơn vị
1.6 Kiểm toán viên
1.6.1 Khái niệm – Phân loại kiểm toán viên
a Khái niệm
Tiêu chuẩn để trở thành kiểm toán viên độc lập:
- Phải có chuyên môn nghiệp vụ( kế toán, kiểm toán), có chứng chỉ kiểm toánviên độc lập
- Phải đăng ký hành nghề tại cơ quan có thẩm quyền
- Tính độc lập:
Trang 8+ Độc lập về kinh tế với đơn vị được kiểm toán
+ Độc lập về quan hệ xã hội, không có mối quan hệ họ hàng thân thích làmviệc trong lĩnh vực tài chính ở đơn vị đó
+ Có thái độ độc lập khách quan, không có định kiến trong quá trình thựchiện
- Tiêu chuẩn về đạo đức
b Phân loại kiểm toán viên
- Kiểm toán viên cao cấp
- Kiểm toán viên chính
- Kiểm toán viên ( giúp việc cho kiểm toán viên chính)
- Kiểm toán viên dự bị
1.6.2 Trách nhiệm quyền hạn của kiểm toán viên độc lập
a Trách nhiệm của Kiểm toán viên
- Chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc kiểm toán đã quy định
- Khi thực hiện nghĩa vụ không gây trowr ngại hoặc can thiệp vào công việcđiều hành của đơn vị được kiểm toán
- Nếu vi phạm quy chế, vi phạm pháp luật thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà cóthể bị thu hồi chứng chỉ Kiểm toán viên và bị xử lý theo pháp luật hiện hành
b Quyền hạn của Kiểm toán viên
- Độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ trong phạm vi của mình
- Có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu có liênquan đến công việc kiểm toán
- Đối chiếu xác minh các thông tin kinh tế tài chính
- Có quyền thông báo và kiến nghị ý kiến của mình khi phát hiện có hiện tượng
vi phạm pháp luật
- Có quyền khước từ khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện và khả năng đểthực hiện kiểm toán
1.7 Thực hành
- Tổng ôn lại kiến thức
- Thực hành lại chức năng xác minh và chức năng bày tỏ ý kiến
- Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán
CHƯƠNG 2
Trang 9ĐỐI TƯỢNG VÀ CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG KIỂM TOÁN 2.1 Đối tượng kiểm toán
2.1.1 Khái quát chung về đối tượng và khách thể kiểm toán
Đối tượng của kiểm toán là thực trạng tài chính, cùng hiệu quả, hiệu năng của các nghiệp vụ hay dự án cụ thể
Khách thể của kiểm toán có thể là đơn vị kế toán như các xí nghiệp, các đơn vị sự nghiệp hoặc quản lý hay cá nhân…Song khách thể kiểm toán cững có thể là công trình hay dự án…với sự tham gia của nhiều đơn vị kế toán hoặc một bộ phận của một đơn vị nào đó.
Thông thường khách thể kiểm toán được phân chia trong quan hệ với chủ thể kiểm toán như sau:
- Khách thể của kiểm toán nhà nước
- Khách thể của kiểm toán độc lập
- Khách thể của kiểm toán nội bộ
2.1.1 Thực trạng hoạt động tài chính - đối tượng chung của kiểm toán
Hoạt động tài chính là dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ kinh tế trong đầu tư, trong kinh doanh, trong phân phối và thanh toán nhằm đạt tới lợi ích kinh tế xác định.
Để giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế, hoạt động tài chính phải tuân thủ theonhững nguyên tắc cơ bản:
- Hoạt động tài chính phải có kế hoạch
- Hoạt động tài chính phải đảm bảo tiết kiệm và có lợi
- Hoạt động tài chính phải bảo đảm tuân thủ pháp luật và thể lệ tài chính
Giải quyết mối quan hệ kinh tế có liên quan đến nhiều kháchh thể khác nhau là nộidung của hoạt động tài chính Để giải quyết các mối quan hệ kinh tế nhất thiết phảituân thủ các chuẩn mực đã được xác định trong hệ thống pháp lý trong từng thời gian
cụ thể
2.1.2 Tài liệu kế toán - Đối tượng cụ thể của kiểm toán
Tài liệu kế toán, trước hết là các báo cáo tài chính là đối tượng trực tiếp vàthường xuyên của mọi cuộc kiểm toán Để đáp ứng nhu cầu trên, đối tượng cụ thể củakiểm toán thuộc phạm vi tài liệu kế toán bao gồm:
- Tính hiện thực của các thông tin kế toán
Trang 10- Tính hợp pháp của các mẫu biểu, của trình tự lập và luân chuyển các tài liệunày.
- Tính hợp lý của các đối tượng kế toán phù hợp với nội dung của các nghiệp vụkinh tế phát sinh
- Tính pháp lý trong việc thực hiện các luật pháp, chuẩn mực và chế độ kinh tếtài chính
2.1.3 Thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính - Đối tượng cụ thể của kiểm toán.
Trong một đơn vị kinh doanh hay đơn vị sự nghiệp, tài sản đều biểu hiện dướinhiều hình thái vật chất khác nhau với yêu cầu quy cách, phẩm chất, bảo quản, bảodưỡng khác nhau lại được lưu giữ trên nhiều kho bãi khác nhau với người quản lýkhác nhau
Mặt khác, khi sản xuất phát triển, quy mô tài sản cũng tăng lên, quy mô kinhdoanh mở rộng, các mối liên kết kinh tế càng đa dạng, phức tạp Những yếu tố nàydẫn đến khả năng cách biệt giữa tài sản với sự phản ánh của nó trong thông tin kếtoán Tài sản trong kinh doanh cũng luôn vận động Quá trình vận động này được cấuthành bởi các nghiệp vụ cụ thể Trên cơ sở đó cần chia đối tượng kiểm toán ra cácphần hành kiểm toán cơ bản, với kiểm toán nghiệp vụ các phần hành cơ bản bao gồm:
- Các nghiệp vụ về tiền mặt (thu, chi và tồn quỹ)
- Các nghiệp vụ về thanh toán (không phân biệt vay, nợ, phải thu, phải trả)
- Các nghiệp vụ về tài sản cố định (đầu tư, xây dựng, mua sắm)
- Các nghiệp vụ về hàng hoá (bảo quản, sử dụng)
- Các nghiệp vụ về kinh doanh
- Các nghiệp vụ về tài chính
2.1.4 Hiệu quả và hiệu năng - đối tượng cụ thể của kiểm toán
Tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính là đối tượng cụ thể gắnliền với sự phát sinh và phát triển của kiểm toán Đó là theo quan điểm truyền thống,còn theo quan điểm hiện đại đối tượng của kiểm toán còn bao gồm hiệu năng và hiệuquả Việc mở rộng đối tượng kiểm toán là xuất phát từ những đòi hỏi thực tế của quản
lý trong điều kiện quy mô KD và hoạt động sự nghiệp ngày càng đòi hỏi mở rộng,trong khi nguồn lực ngày càng bị giới hạn
2.2 Cơ sở dẫn liệu, bằng chứng kiểm toán và hồ sơ kiểm toán
2.2.1 Cơ sở dẫn liệu
Trang 11a Khái niệm: Cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính là khoản mục do giám đốc
hoặc những ngươoì đứng đầu đơn vị hoặc người chịu trách nhiệm lập cơ sở trên cơ sởcác chuẩn mực ở các mục chế độ kế toán quy định Hay nói cách khác cơ sở dẫn liệu là
sự khẳng định một cách công khai hoặc ngầm định của ban giám đốc về sự trình bàycủa các bộ phận về BCTC
b Cơ sở dẫn liệu phải có các tiêu chuần sau:
a Khái niệm: Là toàn bộ các tài liệu thôngtin mà kiểm toán viên thu được trong
quá trình kiểm toán, làm cơ sở cho ý kiến kết luận kiểm toán của mình
b Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán
- Tính hiệu lực
- Tính đầy đủ
2.2.3 Hồ sơ kiểm toán
Là các tài liệu do ki ểm toán viên lập, thu thập, phân loại, sử dụ ng và lưu trữ Tài liệu trong hồ sơ kiểm toán được thể hiện trên giấy, trên phim, ảnh, trênphương tiện tin học hay bất kỳ phương tiện lưu trữ nào khác theo quy định của pháp luật
Hồ sơ kiểm toán dùng để:
-Lưu trữ những bằng chứng thu được trong quá trình thực hiện kiểmtoán và làm cơ sở cho việc đưa ra ý kiến của kiểm toán viện
- Trợ giúp cho việc lập kế hoạch và thực hiện công việc kiểm toán
- Trợ giúp cho việc kiểm tra, soát xét và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán
- Trợ giúp cho việc xử lý các phát sinh sau cuộc kiểm toán
Yêu cầu đối với hồ sơ kiểm toán:
-Phải có đề mục rõ ràng, ghi tên đơn vị được kiểm toán, đối tượngkiểm toán, kỳ kiểm toán
- Phải có đầy đủ chữ ký của KTV
- Phải được chú thích rõ nguồn gốc dữ liệu
Trang 12- Phải đầy đủ, chính xác, thích hợp
- Trình bày, sắp xếp rõ ràng dễ hiểu, khoa học
2.3 Gian lận và sai sót
Gian lận và sai sót đều là sai phạm Tuy nhiên về bản chất thì gian lận và sai sót
có nhiều điểm khác nhau
Gian lận là hành vi cố ý lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi Trong lĩnh vực tài chính kế toán, gian lận có thể là sự trình bày sai lệch có chủ
định các thôngtin trên báo cáo tài chính do một hay nhiều người có chủ định các thôngtin trên báo cáo tài chính do một hoặc nhiều người trong Ban giám đốc công ty, cácnhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện
Ví dụ: làm giả tài liệu, tham ô tài sản, giấu diếm hoặc cố tình bỏ sót kết quả các nghiệp
vụ, ghi chép nghiệp vụ không có thật, chủ định áp dụng sai chế độ kế toán
Sai sót là lỗi không cố ý, thường được hiểu là sự nhầm lẫn, bỏ sót hoặc do yếu kém về năng lực nên gây ra sai phạm
Ví dụ: Trong kế toán tài chính sai sót có thể là lỗi số học bỏ sót hoặc hiểu sai sự việc
một cách vô tình, áp dụng sai nguyên tắc, chế độ kế toán tài chính do thiếu năng lực
Dù vậy giữa gian lận và sai sót lại khác nhau về nhiều mặt:
+ Về mặt ý thức, sai sót là hành vi không có chủ ý, chỉ là vô tình bỏ sót, hoặc donăng lực hạn chế, hoặc do sao nhãng, thiếu thận trọng trong công việc gây ra sai phạm.Trong khi đó, gian lận là hành vi có tính toán, có chủ ý gây ra sự lệch lạc thông tinnhằm mục đích vụ lợi
+ Từ sự khác nhau về ý thức dẫn đến khác nhau về mức độ tinh vi của hai loạisai phạm này Gian lận là hành vi trải qua ba giai đoạn: đầu tiên là hình thành ý đồgian lận, sau đó thực hiện hành vi gian lận và cuối cùng là che dấu hành vi gian lận.Trong khi đó sai sót là hành vi không có chủ ý nên chúng rất dễ phát hiện ra
+ Một sự khác nhau nữa là tính trọng yếu của sai phạm Nếu là hành vi gian lậnthì luôn được xem như nghiêm trọng Còn đối với sai sót thì phải tuỳ thuộc vào qui mô
và tính chất của sai phạm
2.4 Trọng yếu và rủi ro.
2.4.1 Trọng yếu
Khái niệm: Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thực hiện tầm quan trọng của một
thông tin hay một số liệu kinh tế trong Báo cáo tài chính
Trang 13Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó, hoặc thôngtin đó không chính xác không có bối cảnh cụ thể, nếu dựa vào các thông tin này để xétđoán thì không thể chính xác hoặc sẽ rút ra những kết luận sai lầm, sai phạm trọng yếudùng để chỉ tầm cỡ và tính hệ trọng của các sai phạm
Đánh giá tính trọng yếu là đánh giá lượng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ởmức đó các Báo cáo tài chính có thể bị sai lệch nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến cácquyết định của người sử dụng thông tin đó
Thông thường kiểm toán viên khi xem xét vấn đề về qui mô của đối tượng kiểmtoán thì họ quan tâm tới qui mô tương đối Qui mô tương đối là mối quan hệ tươngquan giữa đối tượng cần đánh giá với một số gốc Số gốc thường khác nhau trong mỗitình huống
Ví dụ với báo cáo kết quả kinh doanh, số gốc có thể là thu nhập ròng hoặc bình quân
thu nhập của mấy năm gần đây, với bảng cân đối kế toán số gốc có thể là tài sản lưuđộng hoặc tổng tài sản, còn với bảng lưu chuyển tiền tệ, số gốc có thể là DThu thuần
Để xác minh đúng nội dung kiểm toán trên phương diện này cần quán triệt cácnguyên tắc cơ bản sau:
- Thứ nhất: quy mô trọng yếu phải được xác định Tùy đối tượng cụ thể và khách thể
kiểm toán và cần có sự am hiểu về tài chính kế toán của khách thể kiểm toán
- Thứ hai: qui mô của các khoản mục, nghiệp vụ không chỉ xét về qui mô bằng con số
tuyệt đối mà phải trong tương quan với toàn bộ đối tượng kiểm toán Về định lượng đó
là những tỉ lệ của các khoản mục, nghiệp vụ so với một cơ sở để tính toán như tổng sốtài sản, tổng doanh thu, lợi tức chưa tính thuế
- Thứ ba: qui mô trọng yếu còn tuỳ thuộc vào từng cuộc kiểm toán có đối tượng và
mục tiêu khác nhau, chẳng hạn kiểm toán tài chính hay kiểm toán hiệu quả với chứcnăng xác minh hay tư vấn
Về tính chất: Khái niệm trọng yếu còn gắn với tính hệ trọng của vấn đề xem
xét Một yếu tố định tính quan trọng cần xem xét đó là bản chất của khoản mục hoặcvấn đề đang được đánh giá
Các khoản mục nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận như:
- Các nghiệp vụ đấu thầu và giao thầu, giao dịch không hợp pháp
- Các nghiệp vụ thanh lý tài sản
- Các nghiệp vụ về tiền mặt
- Các nghiệp vụ mua bán và thanh toán
Trang 14- Các khoản mục, chứng từ có sửa chữa.
Các nghiệp vụ, khoản mục có sai sót hệ trọng
- Các nghiệp vụ, khoản mục phát hiện có sai sót ở qui mô lớn hoặc có chênh lệch lớnvới các kỳ trước hoặc giữa các nguồn thông tin có liên quan
- Các nghiệp vụ vi phạm qui tắc kế toán và pháp lý nói chung
- Các nghiệp vụ khoản mục có sai sót lặp lại nhiều lần
- Các nghiệp vụ, khoản mục có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỳ sau
- Các nghiệp vụ, khoản mục là đầu mối hoặc gây hậu quả liên quan đến nhiều khoảnmục nghiệp vụ khác
Khái niệm trọng yếu đặt ra yêu cầu xác định nội dung kiểm toán với tính nguyên tắc là không được bỏ sót khoản mục hay nghiệp vụ có qui mô lớn và có tính hệ trọng Vi phạm nguyên tắc này cũng có nghĩa là tạo ra rủi ro kiểm toán.
2.4.2 Rủi ro
Rủi ro kiểm toán là khả năng mà kiểm toán viên đưa ra ý kiến không xác đáng
về đối tượng được kiểm toán
Chẳng hạn, kiểm toán viên đưa ra ý kiến rằng báo cáo tài chính của đơn vị đượckiểm toán đã trình bày trung thực và hợp lý xét trên các khía cạnh trọng yếu, tuy nhiêntrên thực tế các báo cáo đã được kiểm toán này vẫn tồn tại các sai phạm trọng yếu màkiểm toán viên không phát hiện ra trong quá trình kiểm toán Loại rủi ro này luôn cóthể tồn tại, ngay cả khi cuộc kiểm toán được lập kế hoạch chu đáo và thực hiện mộtcách thận trọng Rủi ro này sẽ tăng lên nếu việc lập kế hoạch kiểm toán kém và thựchiện thiếu thận trọng
Trong kiểm toán quốc tế, rủi ro được xét trong quan hệ với kế hoạch kiểm toán,rủi ro kiểm toán được hiểu là khả năng sai sót và việc đánh giá rủi ro tiến hành quaước tính theo tỷ lệ từ 0% đến 100% Trên thực tế, không có một chuẩn mực chính thứcnào về mức rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận, loại trừ rằng rủi ro kiểm toán phải ởmức thấp cho phép Tuy nhiên ngay cả 1% rủi ro cũng vẫn được xem là mức tồi
Trang 15Ví dụ Với một công ty kiểm toán lớn với 2.000 cuộc kiểm toán trong 1 năm, thì 1%
rủi ro là 20 cuộc kiểm toán tồi xảy ra trong năm đó Góc độ lý thuyết thì rủi ro kiểmtoán nên nhỏ hơn 1%
Trong thực tiễn, rủi ro kiểm toán thường xảy ra do giới hạn về quản lý, về kiểmtoán mà trực tiếp là chi phí kiểm toán và ngay cả khi chúng có khả năng đủ Trongmối quan hệ này, rủi ro kiểm toán và chi phí kiểm toán có quan hệ nghịch với nhau vàđược thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ: Quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với chi phí kiểm toán
(Bằng chứng kiểm toán)
Rủi ro kiểm toán
Chi phí kiểm toán
Do đối tượng kiểm toán là những thông tin được kiểm toán qua nhiều giai đoạn bằng các bộ máy kiểm toán khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũng được xác định tương ứng với đối tượng kiểm toán từng loại: rủi ro tiềm tăng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
Rủi ro tiềm tàng - IR
Đó chính là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản thân các đối tượng kiểm toán (chưa tính đến sự tác động của bất cứ hoạt động kiểm toán nào kể cả kiểm soát nội bộ)
Mức độ rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình KD của khách thể kiểm toán, loại hình kinh doanh và cả năng lực nhân viên của khách thể kiểm toán
Kiểm toán viên không tạo ra và cũng không kiểm soát rủi ro tiềm tàng Họ chỉ
có thể đánh giá chúng
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng KTV có thể dựa vào nhiều nguồn thông tin khác nhau Chẳng hạn, KTV có thể dựa vào kết quả của cuộc kiểm toán năm trước, ví dụ nếu năm trước kết quả kiểm toán chỉ ra rằng không phát hiện sai phạm trọng yếu nào thì KTV nên đánh giá khả năng tiềm ẩn rủi ro tiềm tàng sẽ lớn và phải chú ý nhiều
Trang 16Rủi ro kiểm soát – CR
Đó là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị kiểm toán không phát hiện,ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu KTV không tạo ra rủi ro kiểmsoát và cũng không kiểm soát chúng Họ chỉ có thể đánh giá hệ thống kiểm soát củađơn vị được kiểm toán và từ đó đưa ra mức rủi ro kiểm soát dự kiến
Rủi ro phát hiện – DR
Đó là khả năng mà các thủ tục kiểm toán không phát hiện được các sai phạmtrọng yếu Ngược lại với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV phải có trách nhiệmthực hiện cá thủ tục thu thập các bằng chứng kiểm toán nhằm quản lý và kiểm soát đốivới rủi ro phát hiện
Mô hình rủi ro kiểm toán
AR = IR x CR x DR (1)
Với mô hình này, KTV có thể sử dụng nó để điều chỉnh rủi ro phát hiện dựa trêncác loại rủi ro khác đã được đánh giá nhằm đạt được rủi ro kiểm toán ở mức thấp nhưmong muốn
Chẳng hạn, KTV muốn thực hiện một cuộc kiểm toán cụ thể và muốn rủi rokiểm toán đạt ở mức tương đối thấp
Tất cả các rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều được đánh giá dựa trên kinhnghiệm và nhận định nghề nghiệp và có chứng minh cụ thể Giả sử, KTV cho rằng rủi
ro tiềm tàng đối với đối tượng kiểm toán là rất lớn và hệ thống kiểm soát nội bộ củađơn vị được kiểm toán không được hiệu lực lắm
Nếu KTV muốn đạt được mức rủi ro kiểm toán ở mức thấp như mong muốn(AR = 0,05), thì các thủ tục kiểm toán cần phải được thiết kế để sao cho rủi ro pháthiện (DR) không vượt quá mức 0,08
Theo mô hình rủi ro, với những dữ kiện vừa nêu ra ta có kết quả như sau:
Trang 17đảm duy tri rủi ro phát hiện ở mức thấp cho phép Tuy nhiên, khi sử dụng mô hình rủi
ro này, KTV cần chú ý một số điểm sau:
- KTV không thể giả sử rằng rủi ro tiềm tàng là bằng 0 để không cần đến các bước thuthập bằng chứng kiểm toán:
AR = IR (= 0,80) x CR (= 0,80) x DR (= 0,50) = 0,32
Rủi ro kiểm toán và rủi ro phát hiện luôn luôn đi đôi với tính trọng yếu Sẽ không hữuhiệu nếu khi nghĩ về rủi ro kiểm toán và rủi ro phát hiện mà không nghĩ về tính trọngyếu
Ví dụ:
1 Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà các thủ tục kiểm toán không phát hiện được các saiphạm trọng yếu Đúng
2 KTV có trách nhiệm phát hiện tất cả các gian lận và sai sót Sai
3 KTV chỉ là phát hiện những sai phạm trọng yếu
4 Nhất định mọi nghiệp vụ trong công ty kiểm toán độc lập cần phải độc lập vớikhách hàng kiểm toán của mình Sai vì nhân viên Kiểm toán không nhất định phải độclập với khách hàng
5 Trọng yếu là khái niệm đúng để chỉ tầm trang trọng các thông tin, các khoản mụctrên BCTC Đúng
6 Hành vi bỏ sót một số nghiệp vụ kiểm toán luôn là sai phạm trọng yếu Sai
2.5 Khái niệm hoạt động liên tục
2.6.1 Khái niệm
Một DN được coi là hoạt động liên tục khi mà có thể tiếp tục hoạt động trongmột tương lai gần có thể tự đoán được (ít nhất là một năm kể từ ngày kết thúc niên độ
Trang 18kế toán) có nghĩa DN đó không có ý định hoặc yêu cầu phải giải thể, ngừng hoạt động,hoặc thu hẹp đáng kể qui mô hoạt động của mình.
2.6 Hệ thống kiểm soát nội bộ
2.6.1 Khái niệm: Hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống các chính sách và thủ tục
nhằm 4 mục tiêu sau:
- Bảo vệ tài sản của đơn vị
- Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin
- Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý
- Bảo đảm hiệu quả của hoạt động
2.6.2 Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
- Môi trường kiểm soát: gồm môi trường bên trong và môi trường bên ngoài
- Các thủ tục kiểm soát
- Hệ thống kế toán
- Kiểm toán nội bộ
2.7 Chuần mực kiểm toán
2.7.1 Khái niệm
2.7.2 Khái quát chung về chuẩn mực kiểm toán
a Nguyên tắc cơ bản xuyên suốt cuộc kiểm toán
Trang 19- Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ
- Kết luận và báo cáo kiểm toán
b Những chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến
- Nhóm chuẩn mực chung: gồm 3 chuẩn mực và được áp dụng trong tất cả các giaiđoạn của một cuộc kiểm toán Cụ thể:
+ Việc kiểm toán phải do một người hay một nhóm được đào tạo nghiệp vụ tươngxứng và thành thạo chuyên môn
+ Trong tất cả các vấn đề liên quan tới cuộc kiểm toán, KTV phải giữ một thái độ độclập
+ KTV phải duy trì sự thận trọng nghề nghiệp đúng mực trong suốt cuộc kiểm toán
- Các chuẩn mực báo cáo:
+ Báo cáo kiểm toán phải xác nhận toàn bộ báo cáo tài chính có được trình bày phùhợp với những nguyên tắc kế toán được chấp nhận
+ Báo cáo kiểm toán phải chỉ ra các trường hợp không nhất quán về nguyên tắc giữa
kỳ này với kỳ trước
+ Phải xem xét các khai báo trên BCTC có hợp lý không
+ BCKT phải đưa ra ý kiến về toàn bộ BCTC hoặc khẳng định không thể đưa ra ý kiếnđược kèm theo việc nêu rõ lý do
c Đặc điểm của hệ thống chuẩn mực kiểm toán cụ thể trong bộ máy kiểm toán
Loại 1: Những chuẩn mực chung cho KTV và cơ quan kiểm toán nhà nước(SAI):
+ KTV và cơ quan Kiểm toán nhà nước phải có năng lực đáp ứng yêu cầu kiểm toán.+ KTV và cơ quan Kiểm toán nhà nước phải độc lập
+ KTV và cơ quan Kiểm toán nhà nước phải thận trọng trong lập kế hoạch, trong thuthập và đánh giá các bằng chứng, trong kết luận và lập báo cáo kiểm toán
Loại 2: Các chuẩn mực chung chỉ áp dụng cho cơ quan Kiểm toán nhà nước:+ Tuyển mộ nhân viên có trình độ phù hợp
+ Phát triển đào tạo cán bộ của cơ quan Kiểm toán nhà nước
+ Chuẩn bị các cẩm nang, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ liên quan đến các cuộc kiểmtoán
+ Nuôi dưỡng các kỹ năng và kinh nghiệm sẵn có trong nội bộ kịp thời nhận biết và
bổ khuyết những kỹ năng còn thiếu
d Xây dựng chuẩn mực kiểm toán
Trang 20- Chuẩn mực kiểm toán đạo đức nghề nghiệp.
- Chuẩn mực chuyên môn về kiểm toán
8 Thực hành
- Phân loại bằng chứng kiểm toán theo nguồn hình thành
- Rủi ro kiểm toán
Cơ sở phương pháp luận của kiểm toán là phép biện chứng duy vật Quan điểmbiện chứng không những chỉ ra tính logic của quá trình nhận thức mà còn vạch ra cácmối quan hệ và quy luật vận động của mọi sự vật và hiện tượng
Trong quan hệ với đối tượng kiểm toán cần đặc biệt quan tâm tới 2 phần riêngbiệt: Một là thực trạng hoạt động tài chính đã được phản ánh trong tài liệu kế toán vàphần khác chưa được phản ánh kể cả phản ánh chưa trung thực trong tài liệu này.Như vậy, hệ thống phương pháp kiểm toán bao gồm 2 phân hệ rõ rệt: Các phươngpháp kiểm toán chứng từ và các phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ
Phương pháp kiểm toán là một trường hợp vận dụng đặc biệt của ph ương phápkhoa họ c Phương pháp kiểm toán là các biện pháp, cách thức, thủ tục, thủ phápđược sử dụng trong công tác kiểm toán nhằm thực hiện mục tiêu kiểm toán đãđặt ra
1.1 Phương pháp kiểm toán cơ bản
2 Đặc trưng cơ bản của ph ương pháp này là việc dựa vào các số liệu, cácthông tin trong BCTC và hệ thống kế toán của đơn vị để đưa ra các nhận xét,đánh giá.Phương pháp này gồm có những bước sau:
3
a) Phương pháp phân tích đánh giá tổng quát.
Phương pháp này dựa trên cơ sở sử dụng các tỷ lệ , các mối quan hệ tài chính
để xác định những tính chất hay những sai lệch bất thường trong bảng cânđối kế toán và BCTC Kỹ thuật của ph ương pháp này gồm: Phân tích so sánh
về l ương trên cùng chỉ tiêu; Phân tích tỷ suất Tác dụng của phương pháp này
là giúp cho KTV nhìn nhận doanh nghi ệp một cách toàn diện và xác định tính
Trang 21chất bất thường một cách nhanh chóng để định hướng và xác định phạm vikiểm tra, rút ngắn thời gian kiểm toán Trong giai đoạn hoàn thành cuộ c kiểmtoán, phương pháp này có thể đánh giá khả năng tiếp tục hoạt động của doanhnghiệp.
4
b) Phương pháp kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và các số dư tài khoản
Là việc kiểm tra và ghi chép từng loại nghiệp vụ phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh Phương pháp này thích hợp để kiểm tra các doanh nghiệp có quy mô nh ỏ, các loại ngghiệp vụ có tính chất không phức t ạp, hoặc những b ộ phận, những khoản mục nhạy cảm như: Tiền mặt, chứng khoán, vật tư, hàng hóa quý hiếm….) Tuy nhiên,
ph ương pháp này trở nên không thực tế khi quy mô hoạt động vaàkhố i lượng giao dịch ngày càng tằng lên Do vậy, KTV hiện đại th ường không kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và các số dư tài khoản mà sử dụng phương pháp chọn mẫu
1.2 Phương pháp kiểm toán tuân thủ
Là các thủ tục và kỹ thuật kiểm toán được thiết lập để thu thập bằng chứng
về tính thích hợp và hiệu quả củ a hệ thống kiểm soát nộ i bộ, để từ đó, trả lời câuhỏi: Liệu công việc kiểm toán có thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ của doanhnghiệp hay không?
3.2 Phương pháp kiểm toán chứng từ
3.2.1 Kiểm toán cân đối
a Kh ái niệm
Kiểm toán các cân đối kế toán là phương pháp dựa trên các cân đối kế toán vàcác cân đối khác để kiểm toán các quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành quan hệ cânđối đó
b Nội dung
Trong kiểm toán trước hết phải xét đến cân đối tổng quát theo các mô hình cân
đối khái quát Ví dụ: với bảng cân đối kế toán
Tài sản = Vốn chủ sở hữu + Công nợ
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốnTrong thực tế, có thể có những trường hợp các mối quan hệ cân bằng này thườngxuyên không được duy trì Khi đó phải xem xét lại bản chất riêng của mối liên hệ.Trong một số trường hợp, do bản thân các quy định chế độ về kinh tế nói chung và về
kế toán nói riêng làm cho quan hệ này không cân bằng về lượng
Trong trường hợp khác, có thể cân bằng không tồn tại trong khoảng thời gian dài lại
do lỗi về xử lý tài chính
Trong một số trường hợp khác, tình trạng mất cân bằng này hoàn toàn chỉ do lỗi của
kế toán Do kế toán làm tắt, do những quan hệ kinh tế mới phát sinh nên chưa xử lýđúng hoặc do yếu tố tâm lý không thật tốt trong khi ghi sổ, khoá sổ, lập quyết toán
Trang 22Dù quan hệ cân đối tổng quát có tồn tại hay không, kiểm toán các cân đối cụ thể vẫnphải đặt ra
Trong cân đối cụ thể, phải dựa vào cân đối giữa số ghi Nợ với số ghi Có hoặc
giữa số đầu kỳ và số tăng trong kỳ với số cuối kỳ và số giảm trong kỳ của kế toán kép.Những mối quan hệ này thường rất nhiều Để kiểm toán thường phải dùng chọn mẫungẫu nhiên hoặc chọn điển hình
Ví dụ 1: Có nghhiệp vụ kinh tế phát sinh sau:
DN A mua nguyên vật liệu theo tổng giá thanh toán 264.000 (đã bao gồm 10% VAT)chưa thanh toán tiền hàng cho người bán Kế toán đơn vị A đã định khoản như sau:
Nợ TK 152: 264.000
Có TK 331: 264.000
Yêu cầu: Nêu ảnh hưởng của sai sót trên đến bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quảkinh doanh của DN A BIết rằng DN A tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ,hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
Ví dụ 2: Cũng tại DN A, trong năm 2007 đã thanh lý một TSCĐ dùng cho bộ
phận quản lý DN Số phế liệu thu hồi nhập kho là 5000, nguyên giá của TSCĐ là90.000, đã khấu hao hết
Kế toán tại DN A đã định khoản như sau:
3.2.2 Đối chiếu logic
Là việc xem xét mức biến động tương ứng về trị số của các chỉ tiêu có quan hệkinh tế trực tiếp song có thể có mức biến động khác nhau và có thể có hướng khácnhau
Trang 23Vốn bằng tiền giảm có thể dẫn tới hàng hoá vật tư tăng hoặc các khoản phải trả giảm
3.2.3 Đối chiếu trực tiếp
Là so sánh về mặt lượng trị số của cùng một chỉ tiêu trên các chứng từ kiểmtoán
Đối chiếu này thường có trong các trường hợp sau:
Đối chiếu giữa số cuối kỳ và số đầu năm hoặc giữa các kỳ trên Bảng Cân đối kếtoán
Đối chiếu giữa số dự đoán, định mức hoặc kế hoạch với số thực tế để đánh giámức phấn đấu thực hiện mục tiêu
Đối chiếu trị số của cùng một chỉ tiêu trong cùng một thời kỳ trên các chứng từkhác nhau
Đối chiếu các con số của cùng một chứng từ nhưng được bảo quản, lưu trữ ở cácđịa điểm khác nhau
Đối chiếu trị số của các chỉ tiêu với trị số của các yếu tố cấu thành chỉ tiêu đó.Như vậy phương pháp này được sử dụng rất rộng rãi Tuy nhiên, đối chiếu trực tiếpchỉ sử dụng trong trường hợp các chỉ tiêu được hạch toán trong cùng một chuẩn mực
và trong cùng một khoảng thời gian và điều kiện tương tự nhau
3.3 Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ
Trang 24thường xuyên), về loại hình (kiểm kê toàn diện hay kiểm kê điển hình hoặc chọnmẫu)
Chuẩn bị kiểm kê phải căn cứ vào mục tiêu, quy mô, thời hạn kiểm kê để bố trílực lượng và cơ cấu nhân viên, các thiết bị đo lường phù hợp và chính xác Đây là yếu
tố quyết định chất lượng của kiểm kê nói riêng và của kiểm toán nói chung
Thực hành kiểm kê phải theo đúng yêu cầu và ghi chép đầy đủ theo từng mã cânhoặc lô hàng Phiếu mã cân hay Phiếu kiểm kê trở thành chứng từ kiểm toán
Kết thúc kiểm kê cần có biên bản trong đó phải nêu rõ chênh lệch, các nguyênnhân và xử lý cụ thể
3.3.3 Điều tra.
Là phương pháp xác định lại một tài liệu hoặc một thực trạng để đi đến những quyết định hay kết luận kiểm toán
Điều tra được sử dụng rất rộng rãi trong kiểm toán Chẳng hạn:
- Tìm hiểu khách thể kiểm toán (nói chung) hay làm quen với khách hàng (của kiểmtoán độc lập) Có thể tìm hiểu trực tiếp hoặc qua các kiểm toán viên tiền nhiệm hoặcgửi phiếu điều tra phỏng vấn Đây là bước điều tra sơ bộ nhằm đưa ra quyết định chấpnhận hoặc không chấp nhận thư hẹn kiểm toán của khách hàng (đối với kiểm toán độclập) hoặc lập kế hoạch kiểm toán (đối với kiểm toán nhà nước) Ngay trong kiểm toánnội kiểm, với một kiểm toán viên chưa có hiểu biết đầy đủ về khách thể kiểm toáncũng cần có bước tìm hiểu hay làm quen
- Tiếp cận với các bên có liên quan, dò hỏi, phỏng vấn, thu lượm và tích luỹ dữ liệu,loại dần và thu gọn đối tượng xác minh cho những vấn đề kiểm toán
- Xác minh bằng văn bản qua thư xác nhận của các bên có liên quan
- Chọn mẫu hoặc chọn điển hình các đối tượng kiểm toán, xác minh làm rõ vấn đề cầnkiểm toán
Trang 25Để đảm bảo hiệu quả kiểm toán, điều tra cần được kết hợp với hàng loạt kỹ thuật dựbáo, dự đoán cụ thể như chi tiết phân loại tổng hợp đối tượng kiểm toán, chọn mẫungẫu nhiên hoặc chọn mẫu điển hình
3.4 Kĩ thuật lấy mẫu kiểm toán
Lấy mẫu kiểm toán là việc áp d ụng phương pháp kiểm toán cơ bản và tuân thủ đểkiểm tra được 100% các khoản mục trong phạm vi số dư của một tài khoản loại nghiệp
vụ nhằm giúp KTV thu thập, đ ánh giá từng bằng chứng củ a các số dư, nghiệp vụ cóđặc đ iểm tương tự nhau để hình thành các ý kiến v ề các loại số dư và nghiệp vụ đó.Phương pháp lấy mẫu gồm có phương pháp chọn xác suất; phi xác suất
5.Thực hành
- Phát hiện sai sót có thể có trong việc lập bảng cân đối kế toán
- Phát hiện sai sót trong tài sản của doanh nghiệp
- Phát hiện sai sót có thể có trên tài khoản và hoàn tất số liệu trên bảng cân đối kế toán
- Phát hiện sai sót trong nguồn vốn của doanh nghiệp
- Kiểm toán số liệu trên bảng cân đối kế toán đã được hoàn tất và hình thành tờ trình
để chuẩn bị lập báo cáo kiểm toán
6 Kiểm tra
CHƯƠNG 4 (Chương tham khảo) CHỌN MẪU ĐỐI TƯỢNG KIỂM TOÁN CỤ THỂ4.1 Các khái niệm cơ bản về chọn mẫu kiểm toán
Chọn mẫu kiểm toán là quá trình chọn một nhóm các khoản mục hoặc đơn vị (gọi là mẫu) từ một tập hợp các khoản mục hoặc đơn vị lớn (gọi là tổng thể) và sử dụng các đặc trưng của mẫu để suy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể.
Tổng thể là một tập hợp bao gồm tất cả các phần tử hoặc đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu
Mỗi một phần tử trong tổng thể được gọi là đơn vị tổng thể, và khi chọn mẫu
kiểm toán, mỗi đơn vị được lựa chọn ra được gọi là đơn vị mẫu Tập hợp các đơn vịmẫu được gọi là một mẫu
Mẫu đại diện là mẫu mang những đặc trưng của tổng thể mà mẫu được chọn
ra Chẳng hạn, qua kiểm soát nội bộ xác định 3% phiếu chi không có chứng từ gốc
đính kèm Nếu trong hàng ngàn phiếu chi, chọn ra một trăm phiếu thấy đúng có ba lầnthiếu chứng từ gốc thì mẫu được chọn là tiêu biểu
Trang 26Bất cứ khi nào chọn mẫu thì rủi ro chọn mẫu cũng phát sinh Rủi ro chọn mẫu làkhả năng mà kết luận của kiểm toán viên dựa trên mẫu sai lệch so với kết luận màkiểm toán viên cũng dùng thử nghiệm tương tự áp dụng đối với toàn bộ tổng thể Nóicách khác, rủi ro chọn mẫu là sự sai khác giữa kết quả chọn mẫu với kết quả thực tế
Ví dụ: KTV chọn mẫu hoá đơn bán hàng, sau khi kiểm tra mẫu, KTV đưa ra dự
kiến tối đa 5% tổng hoá đơn bán hàng “chưa được phê chuẩn bán theo phương thứctrả chậm” Trong khi đó nếu KTV kiểm tra tất cả doanh thu bán chịu của thời kỳ đó,KTV sẽ thấy tỉ lệ hoá đơn “chưa được phê chuẩn bán theo phương thức trả chậm”chiếm 8% Như vậy sai lệch giữa tỷ lệ thực tế 8% với tỷ lệ theo kết quả mẫu chọn 5%
là sai số chọn mẫu 3%
Khi tăng kích cỡ của mẫu chọn sẽ làm giảm rủi ro chọn mẫu Nếu tăng kích cỡmẫu chọn cho tới khi toàn bộ tổng thể được kiểm tra thì khi đó rủi ro chọn mẫu bằngkhông
Khi kích cỡ mẫu tăng lên điều đó đồng nghĩa với phí kiểm toán cũng tăng lên.Vậy yếu tố chủ chốt trong việc chọn mẫu kiểm toán một cách hiệu quả là cần phải cânđối giữa rủi ro chọn mẫu với chi phí do chọn mẫu có kích cỡ lớn
Rủi ro không do chọn mẫu là việc mà KTV đưa ra những kết luận sai lầm khôngphải do lỗi chọn mẫu mà do các yếu tố không liên quan trực tiếp đến việc chọn mẫu
Ví dụ: KTV có thể sử dụng thủ tục kiểm toán không phù hợp với mục tiêu kiểm toánhoặc sử dụng đúng thủ tục nhưng không phát hiện ra sai phạm trong mẫu đã chọn dothiếu thận trọng Các trường hợp rủi ro không do chọn mẫu thường bao gồm:
- Đánh giá rủi ro tiềm tàng không đúng
- Đánh giá không đúng về rủi ro kiểm soát
- Lựa chọn các thủ tục kiểm toán không thích hợp và thực hiện công vịêc kiểm toánkhông hợp lý
4.2 Phương pháp chọn mẫu
4.2.1 Chọn mẫu ngẫu nhiên
Là một phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu mà nguyên tắc của chọn mẫu ngẫu nhiên là mỗi phần tử trong tổng thể đều có cơ hội như nhau để được chọn vào mẫu.
Các kỹ thuật thường dùng để sử dụng chọn mẫu bao gồm: Bảng số ngẫu nhiên,chọn mẫu theo chương trình máy tính, và chọn mẫu hệ thống
Chọn mẫu dựa trên Bảng số ngẫu nhiên
Trang 27- Bước 1: Định lượng đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất Thông
thường đối tượng kiểm toán (các chứng từ, tài sản ) đã được mã hoá (đánh số) trướcbằng con số duy nhất Chẳng hạn, có 5.000 các khoản phải thu từ khách hàng và đượcđánh số từ 0001 đến 5.000 Khi đó bản thân các con số thứ tự trên là các đối tượngchọn mẫu Tuy nhiên, trong một số trường hợp, KTV có thể cần thiết phải đánh số lạicho tổng thể để có được hệ thống các con số duy nhất tương thích với Bảng số ngẫunhiên Chẳng hạn, nếu các nghiệp vụ đã được đánh số từ A-001, B-001 thì KTV cóthể dùng các con số để thay thế các ký tự chữ cái và khi đó có thể dãy số mới là 1-001,2-001, Nói chung, trong trường hợp đánh số lại cho đối tượng kiểm toán thì nên tậndụng các con số đã có một cách tối đa để đơn giản hoá việc đánh số Ví dụ trong mộtquyển sổ chứa các khoản mục tài sản kiểm toán gồm 90 trang, mỗi trang 30 dòng Để
có số duy nhất có thể kết hợp số thứ tự của trang với số thứ tự của dòng trên mỗi trang
+ Các con số định lượng của đối tượng kiểm toán cũng gồm 5 chữ số như cáccon số ngẫu nhiên trong Bảng Khi đó tương quan là 1-1 giữa định lượng đối tượngkiểm toán với các số ngẫu nhiên trong Bảng tự nó đã được xác lập
+ Các con số định lượng của đối tượng kiểm toán gồm số lượng chữ số ít hơn 5chữ số Chẳng hạn, trong ví dụ nêu bước 1, kiểm toán viên cần chọn ra 110 khoản phảithu trong số 5.000 khoản phải thu từ các khách hàng có đánh số từ 0001 đến 5.000.Các số này là số gồm 4 chữ số Do vậy, KTV có thể xây dựng mối quan hệ với Bảng
số ngẫu nhiên trong Bảng Nếu trường hợp số định lượng còn có ít chữ số hơn nữa thì
có thể lấy chữ số giữa trong số ngẫu nhiên
+ Các số định lượng của đối tượng kiểm toán có số các chữ số lớn hơn 5 Khi đóđòi hỏi KTV phải xác định lấy cột nào trong Bảng làm cột chủ và chọn thêm nhữnghàng số ở cột phụ của Bảng Chẳng hạn, với số có 7 chữ số ta có thể ghép một cộtchính với 2 chữ số của một cột phụ nào đó để được số có 7 chữ số
- Bước 3: Lập hành trình sử dụng Bảng Đây là việc xác định hướng đi của việc chọn
các số ngẫu nhiên Hướng đó có thể dọc (theo cột) hoặc ngang (theo hàng), có thể xuôi
Trang 28(từ trên xuống) hoặc ngược (từ dưới lên) Việc xác định này thuộc quyền phán quyếtcủa KTV xong cần được đặt ra từ trước và thống nhất trong toàn bộ quá trình chọnmẫu Một vấn đề cần đặc biệt quan tâm là lộ trình chọn mẫu phải được ghi chép lạitrong hồ sơ kiểm toán để khi một KTV khác có kiểm tra lại việc chọn mẫu thì họ cũngchọn được mẫu tương tự.
- Bước 4: Chọn điểm xuất phát: Bảng số ngẫu nhiên gồm rất nhiều trang Để chọn
điểm xuất phát, Bảng số ngẫu nhiên nên được mở ra một cách ngẫu nhiên và ngẫunhiên chọn ra một số trong Bảng để làm điểm xuất phát
Ví dụ: Với 5.000 khoản phải thu khách hàng đánh số thứ tự từ 0001 đến 5.000
chọn ra 110 khoản để kiểm toán ở đây, bước 1 có thể bỏ qua vì đối tượng kiểm toán
đã được mã hoá trước
Chú ý rằng, đối tượng kiểm toán bao gồm các số có 4 chữ số do vậy bước thứhai ta phải xác định lấy bốn chữ số nào trong 5 chữ số của các số ngẫu nhiên Giả sửlấy 4 chữ số đầu của các số ngẫu nhiên để có được mối quan hệ giữa đối tượng kiểmtoán với các số ngẫu nhiên trong Bảng
Bước tiếp theo là xác lộ trình chọn mẫu
Ví dụ này giả định lộ trình chọn là xuôi theo cột Điểm xuất phát trong bước 4được chọn ngẫu nhiên là dòng 3 cột 1 Theo cách đó KTV sẽ chọn được khoản mụcđầu tiên là 2413 (Xem bảng bốn số đầu của số ngẫu nhiên dòng 3- cột 1), sau đó cáckhoản mục tiếp tục được lựa chọn bao gồm 4216, 3757 Đến số ngẫu nhiên thứ 4, 5, )cho đến số ngẫu nhiên thứ 8, các số này đều lớn hơn 5.000 (vượt quá phạm vi của đốitượng kiểm toán – các số chọn được phải nằm trong khoảng từ 0001 đến 5.000) do đó
bị loại bỏ và tiếp tục chọn ta được các số tiếp theo 2891, 0942,
Khi sử dụng Bảng số ngẫu nhiên để chọn mẫu, có thể có những phần tử xuấthiện nhiều hơn một lần Nếu KTV không chấp nhận lần xuất hiện thứ hai trở đi thìcách chọn đó được gọi là chọn mẫu không lặp lại (chọn mẫu không thay thế) Ngượclại, chọn mẫu lặp lại (chọn mẫu thay thế) là cách chọn mà một phần tử trong tổng thể
có thể được chọn vào mẫu nhiều hơn một lần
Chọn mẫu ngẫu nhiên theo chương trình máy tính
Hiện nay phần lớn các hãng kiểm toán đã thuê hoặc tự xây dựng các chươngtrình chọn mẫu ngẫu nhiên qua máy tính nhằm tiết kiệm thời gian và giảm sai sót trongmẫu
Trang 29Các chương trình chuyên dụng này rất đa dạng, tuy nhiên nói chung vẫn tôntrọng hai bước đầu tiên của chọn mẫu ngẫu nhiên theo Bảng số ngẫu nhiên là lượnghoá đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất và xác lập mối quan hệ giữađối tượng kiểm toán đã định lượng với các số ngẫu nhiên
Tuy nhiên, số ngẫu nhiên lại do máy tính tạo ra
Chọn mẫu hệ thống:
Là cách chọn để sao cho chọn được các phần tử trong tổng thể có khoảng cáchđều nhau (khoảng cách mẫu) Khoảng cách mẫu này được tính bằng cách lấy tổng sốđơn vị tổng thể chia cho kích cỡ mẫu
Ví dụ: Nếu tổng thể có kích thước N là 1052 đơn vị và cỡ mẫu cần chọn n là 100
thì khoảng cách mẫu k sẽ được tính như sau:
k = N/n = 1052/100 = 10.52 làm tròn thành 10 - thông thường phải làm trònxuống để có thể chọn đủ mẫu theo yêu cầu
Từ đó, chọn một đơn vị mẫu đầu tiên m1 trong khoảng từ phần tử nhỏ nhất x1 đếnphần tử đó cộng với khoảng cách mẫu k (x1 + k)
Đơn vị mẫu đầu tiên được chọn ngẫu nhiên nên mỗi đơn vị tổng thể ban đầu có
cơ hội được chọn ngang nhau Tuy nhiên, sau khi đơn vị mẫu đầu tiên được chọn, mỗiđơn vị về sau lại không có cơ hội như nhau để được chọn vào mẫu
Ưu điểm chủ yếu của chọn mẫu hệ thống là đơn giản, dễ làm và dễ sử dụng Tuynhiên, KTV cần tránh thiên vị trong lựa chọn Để tăng tính đại diện của mẫu, KTV sắpxếp tổng thể theo một thứ tự ngẫu nhiên Dùng nhiều điểm xuất phát cũng là một cáchtốt để hạn chế nhược điểm của cách chọn này
Kinh nghiệm chỉ ra rằng khi ứng dụng phương pháp chọn mẫu hệ thống thì cầnphải sử dụng ít nhất 5 điểm xuất phát Khi sử dụng nhiều điểm xuất phát thì khoảngcách mẫu phải được điều chỉnh bằng cách lấy khoảng cách mẫu hiện tại nhân với sốđiểm xuất phát ngẫu nhiên cần thiết
Trang 30Ví dụ nếu ở ví dụ trên khoảng cách mẫu hiện tại là 10 và với điểm xuất phátngẫu nhiên cần thiết là 5 thì ta có khoảng cách mẫu điều chỉnh là 50 (5 x 10) Nămđiểm xuất phát được lựa chọn ngẫu nhiên trong khoảng từ 1 đến 51 Sau đó tất cả cáckhoảng mục cách nhau một khoảng cách k = 50 sẽ được chọn ra kể từ các điểm xuấtphát ban đầu.
4.2.2 Chọn mẫu phi xác suất
Trong chọn mẫu phi xác suất, các phần tử không có cơ hội như nhau để đượclựa chọn vào mẫu mà kiểm toán viên dựa vào nhận định nhà nghề để phán xét và quyếtđịnh chọn phần tử nào vào mẫu
Chọn mẫu theo khối là việc chọn một tập hợp các đơn vị kế tiếp nhau trong mộttổng thể Trong trường hợp này, phần tử đầu tiên trong khối được chọn thì các phần tửcòn lại cũng được chọn tất yếu Mẫu chọn có thể là một khối liền hoặc nhiều khối rờigộp lại Chẳng hạn, chọn ra mẫu bao gồm tất cả các phiếu chi trong tháng 3 và tháng 8
để kiểm tra nghiệp vụ chi trong năm Hoặc KTV cũng có thể lấy tất cả các NV trongquý 4 để kiểm tra sau đó suy rộng kết quả cho cả năm Việc chọn mẫu theo khối đểkiểm toán các nghiệp vụ, tài sản, hoặc khoản mục chỉ được áp dụng khi đã nắm chắctình hình của đơn vị được kiểm toán và khi có số lượng các khối vừa đủ Do đó trongviệc xác định các mẫu cụ thể cần đặc biệt chú ý đến các tình huống đặc biệt như: thayđổi nhân sự, thay đổi hệ thống kế toán và chính sách kinh tế, tính thời vụ của ngànhkinh doanh
Chọn mẫu theo nhận định nhà nghề
Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi có kích cỡ mẫu nhỏ hoặc có các tìnhhuống không bình thường thì chọn mẫu theo nhận định sẽ tạo cơ hội tốt cho sự xuấthiện của mẫu đại diện Khi chọn mẫu theo nhận định, để tăng tính đại diện của mẫu,KTV cần chú ý:
- Nếu có nhiều loại NV trong phạm vi kiểm tra thì mỗi loại NV đều nên có mặttrong mẫu được chọn
- Nếu có nhiều người phụ trách về NV trong kỳ thì mẫu được chọn nên bao gồm
NV của mỗi người
- Các NV, khoản mục có số tiền lớn cần được chọn nhiều hơn để kiểm tra
4.2.3 Kỹ thuật phân tầng trong chọn mẫu kiểm toán
KTV thường phân tổng thể thành các tầng trước khi xác định quy mô mẫu cũngnhư thực hiện chọn mẫu Phân tầng là kỹ thuật phân chia một tổng thể thành nhiều
Trang 31nhóm nhỏ hơn mà các đơn vị trong cùng một nhóm có những đặc tính khá tương đồngvới nhau Các tổng thể con sẽ được chọn mẫu độc lập và kết quả của các mẫu có thểđược đánh giá một cách độc lập hoặc kết hợp để từ đó suy rông kết quả cho toàn tổngthể Nhiệm vụ của KTV là phải phân định tầng sao cho rạch ròi để mỗi đơn vị mẫu chỉthuộc một tầng.
Việc phân tầng sẽ làm giảm sự khác biệt trong cùng một tầng và giúp KTV tập trungvào những bộ phận chứa đựng nhiều khả năng sai phạm Từ đó sẽ làm tăng hiệu quảchọn mẫu
Ví dụ: Khi chọn ra các khoản phải thu để gửi thư xác nhận KTV có thể phân
tầng đối với tổng thể và hướng kiểm tra như sau:
1 22 Các khoản phải thu có giá trị > 5.000 USD Kiểm tra 100%
lệ sai lệch trên được gọi là tỷ lệ sai lệch cho phép
Chọn mẫu thuộc tính cho thử nghiệm kiểm soát nhìn chung bao gồm các bước sau:
- Xác định mục tiêu của thử nghiệm
- Xác định các thuộc tính và điều kiện sai lệch
Trang 32- Xác định tổng thể.
- Chỉ rõ rủi ro của việc đánh giá rủi ro kiểm soát quá thấp và tỷ lệ sai lệch cho phép
- Ước đoán tỷ lệ sai lệch có thể có của tổng thể
- Xác định quy mô mẫu
- Chọn mẫu
- Kiểm tra mẫu
- Đánh giá kết quả mẫu
- Dẫn chứng bằng tài liệu trình tự lấy mẫu
Xác định mục tiêu của thử nghiệm
Là nhằm thu thập các bằng chứng về sự thiết kế và hoạt động hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
KTV thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để khẳng định mức rủi ro kiểm soát đã được
họ đánh giá trong khâu lập kế hoạch Do vậy, việc chọn mẫu thuộc tính để kiểm tra sẽcung cấp cho KTV những bằng chứng rằng một hoạt động kiểm soát cụ thể đang hoạtđộng hữu hiệu và thích đáng nhằm khẳng định mức rủi ro kiểm soát đã được đánh giá
sơ bộ trong khâu lập kế hoạch
Xác định các thuộc tính và các điều kiện sai lệch
KTV sử dụng những nhận định nhà nghề để xác định những thuộc tính và các điều kiện sai lệch cho một thử nghiệm kiểm soát cụ thể
Thuộc tính là những đặc điểm mà nó cung cấp những minh chứng rằng một hoạt động kiểm soát đã thực tế được thực hiện
Chẳng hạn, sự hiện diện các chữ ký của một cá nhân có trách nhiệm thực hiện hoạtđộng kiểm soát trên một số tài liệu thích hợp
Khi mà một phần tử mẫu không có một hoặc một vài thuộc tính đó thì phần tử đó đượccoi là một sai lệch Ví dụ, giả sử KTV đang thực hiện một thử nghiệm kiểm soát đốivới việc tính giá các NV bán hàng Một trong những hoạt động kiểm soát mà KTVquyết định thử nghiệm là rà soát lại các hoá đơn bán hàng mà đã được kiểm tra bởimột nhân viên kế toán Việc kiểm tra của nhân viên kế toán này bao gồm:
- So sánh số lượng trên mỗi hoá đơn với chứng từ vận chuyển
- So sánh số lượng trên mỗi hoá đơn với bảng giá đã được phê chuẩn
- Kiểm tra tính chính xác số học của HĐơn
- Ký lên mỗi hoá đơn để khẳng định HĐơn đã được kiểm tra