Truyền thuyết kể rằng: Khu vực đầu làng Phùng Khoang và làng Mê Trì xưa có một khu vực đồi cây cối rậm rạp, tục truyền là quán Ảnh, dưới chân đồi có một cái vực sâu, thường ngày cứ đến
Trang 1Truyền thuyết kể rằng: Khu vực đầu làng Phùng Khoang và
làng Mê Trì xưa có một khu vực đồi cây cối rậm rạp, tục truyền
là quán Ảnh, dưới chân đồi có một cái vực sâu, thường ngày cứ
đến chiều lại thấy thấp thoáng một thanh niên thơ thẩn ở đấy
rồi biến đi đâu mất, mọi người dân gần đấy khả nghi, bàn nhau
rình xem người thanh niên ấy đi đâu? Cuối cùng, một buổi trời
gần tối thấy người thanh niên ấy đi xuống cái vực rồi rẽ nước
biến mất Người thanh niên ấy chính là con vua Thủy Tề đi chơi
bị lạc không có đường về Khi biết con mình lạc ở khu vực này,
vua Thủy Tề đã đi tìm con, do thân phận là một vị thần không
thể xuất hiện với hình dáng thật của mình được nên vua đã biến
thân thành một người khổng lồ, nửa đêm đào đất quanh khu
vực tìm con Ngài đã gánh bốn gánh đất, được ba gánh trót lọt
đổ vào khu Đồng Mọc, đến gánh thứ tư thì bị đứt quãng, cõng
được một bên còn một bên phải bỏ lại vì có tiếng động nên chó
sủa, gà gáy vang, tưởng trời sắp sáng sợ lộ chân tướng nên vua
đành trở về khi chưa tìm được con, cái vực đó biến thành một
cái đầm Thời gian thấm thoắt trôi đi.
Thời đó đất Anh Sơn chỉ là một làng nhỏ, trong làng có một
đôi vợ chồng già nhà nghèo, không có con Một hôm, ông mang
lưới ra đầm đánh cá, cả ngày hôm ấy chẳng đánh được con cá
nào cả, chỉ được một quả trứng to bằng quả trứng vịt Ông già
mang về nhà cất vào trong chum thóc hằng ngày phải đi kiếm ăn
sinh nhai, sáng đi tối về lại mở chum ra xem, ước chừng khoảng
hơn hai mươi ngày thấy quả trứng ấy nở ra một con rắn trắng,
hình dáng giống rồng, vẻ đẹp khác thường, ông già vừa sợ vừa
mừng nhưng vẫn giấu không cho ai biết, đem rắn giấu vào trong
chum, hàng ngày ông lấy hoa cỏ cho rắn ăn, ông thương rắn như
con đẻ của mình Chăm nuôi được độ một tháng ông suy nghĩ và
than thở rằng: Nhà ta đã nghèo, thân ta đã già mà lại mất một
số buổi ở nhà thời lấy gì mà ăn, liền đem rắn gửi vợ ông nuôi
thay mình, ông già tiếp tục đi kéo cá để sinh nhai, sáng đi chiều
về, như thường lệ lại ngó xem rắn, khoảng được trăm ngày thấy
rắn lớn dài rất nhanh Một đêm nọ bỗng có một trận mưa to gió
lớn ở ngoài đầm, rắn rời khỏi nhà chạy thẳng ra đầm biến mất,
ông già đuổi theo để bắt rắn lại, nhưng chẳng tìm thấy rắn đâu,
ông đi khắp đầm tìm gọi rồi lại trở về nhà, ngày đêm luyến tiếc Hôm sau, ông già lại ra đầm đánh cá, khi ra tới đầm ông lại nghĩ đến rắn con, ông khấn vái rằng: Rắn ơi! Rắn con ta ơi! Rắn chẳng ở cùng ta rắn lại ra ở đầm này, gia cảnh ta nghèo lắm, hôm nay ta kéo cá ở đầm này, con phù hộ cho ta được nhiều cá, công ta nuôi rắn, rắn trả ơn ta vậy Quả nhiên, hôm ấy ông già kéo được nhiều cá thật Rồi từ đó, ngày nào ra đến đầm ông lại khấn như thế lại được nhiều cá Mọi người đánh cá đều thắc mắc và đến hỏi ông già về nguyên do làm thế nào mà ông kéo được nhiều cá thế? Ông già đáp rằng: Có một hôm cách đây mấy tháng trước, lão kéo cá ở đầm này cũng không được con cá nào cả, chỉ được một quả trứng, lão đem về nhà ít lâu thì quả trứng ấy nở ra con rắn trắng, lão coi rắn như con vậy, sau rắn lớn nó phụ ta, không ở cùng ta mà chạy thẳng ra đầm này, lão đuổi theo gọi nó cũng chẳng lại Hiện nay rắn ở đầm này, cho nên khi ra đầm kéo cá, lão khấn rắn phù hộ cho lão, phương nào lão kéo cũng nhiều cá Mọi người lại xúm quanh hỏi ông già khấn thế nào? Ông già cũng nói như vậy Sau đó có người làm theo như ông già nói, quả nhiên kéo được nhiều cá thật Đến ngày khác, rất nhiều người đi bắt cá cũng làm theo như hôm trước khấn vái, rồi mới đem lưới xuống đầm kéo cá, cứ liền ngày nào cũng làm như vậy Xuất phát từ đó, mọi người sinh sống bằng nghề chài lưới kiếm cá tập hợp nhau lại, tới nơi đầm đó, đào đất đắp thành một cái bệ đất rồi đánh cây mang trồng xung quanh cái bệ ấy, ngày ngày đi đánh cá vào bệ đó thắp hương khẩn cầu.
Từ ấy trở về sau, nơi đó trở nên linh thiêng Mọi người cầu việc gì cũng được ứng nghiệm, có người cầu của cũng được của, người hiếm con cầu cũng được con Hương hoa khẩn cầu, gần xa
nô nức đâu đâu cũng đến lễ bái cầu xin Tin đồn khắp nơi, gần
xa về lễ đông đảo, rồi đến một ngày tiếng tăm về đến Đế đình, trong lúc trời làm hạn hán thiên tai, lúa mạ không có nước bị héo khô, người không có nước uống, khắp các giếng cạn khô Đế đình sức cho hơn một trăm nơi đền miếu linh thiêng nhất lễ đảo
vũ cầu mưa, nhưng cũng không thấy mưa Lúc bấy giờ Đế đình nghe được tin bệ đầm linh thiêng cầu sao được vậy Nhà Vua
Trang 2liền phái quần thần sửa lễ, các quan đem lễ về bệ đầm làm lễ cầu
đảo, khi tiến lễ lên bệ đất đầm, các quan triều thần vào lễ, đang
hành lễ thời cơn bão táp đổ xuống ầm ầm không chứa đâu cho
hết nước Các quan triều đình không có nơi trú ẩn, đều bị ướt
cả Sau đó triều thần về tâu lên Đế đình, nhà vua cho tiền bạc về
xây dựng một ngôi đình tại đất Anh Sơn, địa phận xứ Đồng Mồ
để ức vạn niên phụng sự hương hỏa Nhà vua ban sắc chỉ, Xuân
thu nhị kỳ, triều thần về tế lễ cấp quốc gia Đình vừa là nơi tế lễ,
vừa là nơi trú nắng mưa Khi việc xây dựng ngôi đình hoàn
thành, thời gian trong khoảng nửa đêm, tự nhiên bỗng thấy một
trận mưa to gió lớn, sấm sét nổi lên chưa từng có bao giờ, rồi
ngôi đình tự nhiên biến mất, thậm chí một viên ngói cũng chẳng
còn Đến sáng hôm sau, dân làng kéo nhau ra xem chẳng thấy
đình đâu cả, chỉ còn tường vách, đi tìm đâu cũng không thấy,
dân thấy điềm đó rất lạ.
Thời gian đó, dân chúng lại gặp nắng hạn, dân xã phải tập
trung trai tráng ra nạo vét các giếng để lấy nước ăn, bốc vét bùn
lầy để thông thủy mạch Khi nạo vét cái giếng ở gần Miếu Đầm,
mọi người đào sâu bốc vét hết được bùn mang lên, lạ thay thấy
một cái Đình ở sâu dưới giếng Người con trai họ Ngô thấy có
một chiếc chiêng đồng liền cầm lên đánh kêu ba tiếng, lập tức
lăn ra chết ngay tại chỗ Dân làng rất sợ hãi kinh hoàng, đem
chiêng ấy đặt ngay xuống giếng, chỉ chớp nhoáng trong giếng
nước mạch nổi lên đầy, mưa gió tầm tã, dân xã người nào người
ấy run sợ kinh hoàng Từ đó về sau mỗi lần tát giếng mọi người
vẫn thấy có một cái đình ở dưới giếng.
Mọi người truyền tụng nhau rằng: Nhà ở giếng là nhà của
Đức Thánh Đầm, rắn thần là dòng dõi con Vua Thủy Tề, liền
xây dựng trên bờ giếng một bệ thờ Khi gặp trận hạn hán, các
cấp phủ, huyện lệnh sức xuống cho quan xã cùng dân chúng sửa
lễ đem ra bệ đầm cầu đảo, nếu cầu rồi mà không mưa thì lệnh
cho tát giếng trời tất sẽ mưa to.
( Biên dịch dựa theo thần tích và các truyền thuyết Phùng Uyên Long Thần
Phả, phù thủy lấy cắp đình, ghi trong Việt Điện U Linh – Lý Tế Xuyên).
BÌA GHI SỰ TÍCH
§øc th¸nh ®Çm