- Kì tích: Truyền thống yêu nước anh hùng được phát huy với sức mạnh chưa từng thấy, mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn - một cuộc khởi nghĩa gian khổ bậc nhất vàthắng lợi cũng huy h
Trang 1Tác giả Nguyễn Trãi
Biên tập bởi:
Lã Nhâm Thìn
Trang 2Tác giả Nguyễn Trãi
Trang 3MỤC LỤC
1 Thời đại và gia đình Nguyễn Trãi
2 Cuộc đời Nguyễn Trãi
3 Văn học của Nguyễn Trãi
4 Văn học của Nguyễn Trãi
5 Nguyễn Trãi - nhà văn chính luận kiệt xuất
6 Nguyễn Trãi – nhà thơ trữ tình sâu sắc
7 Tổng kết về tác giả Nguyễn Trãi
Tham gia đóng góp
Trang 4Thời đại và gia đình Nguyễn Trãi
Đôi nét về quê hương Nguyễn Trãi.
Thời đại và gia đình là hai môi trường thuận lợi cho sự hình thành, phát triển nhân cách
và tài năng của Nguyễn Trãi
Thời đại
Nét chủ yếu của thời đại Nguyễn Trãi là tiếp tục khẳng định dân tộc và khẳng định chế
độ phong kiến Việt Nam Dân tộc được khẳng định qua những bi thương, thử thách vàcàng được khẳng định trong những kì tích chống ngoại xâm
- Bi thương: Nhân dân Đại Việt sau bốn thế kỉ độc lập tự chủ, năm 1407 lại rơi vào thảm
hoạ mất nước, mà lần này là rơi vào tay giặc Minh - kẻ xâm lược tàn bạo nhất trong lịch
sử trung đại Việt Nam
- Kì tích: Truyền thống yêu nước anh hùng được phát huy với sức mạnh chưa từng thấy,
mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn - một cuộc khởi nghĩa gian khổ bậc nhất vàthắng lợi cũng huy hoàng bậc nhất trong lịch sử Việt Nam thời Trung đại
Thời đại là môi trường thuận lợi để những người có nhiệt tâm và chí lớn như NguyễnTrãi bộc lộ cao độ tài năng và nhân cách
Gia đình
Nguyễn Trãi sinh ra trong một gia đình, bên nội cũng như bên ngoại đều mang hai truyền
thống lớn: truyền thống yêu nước và truyền thống văn hoá, văn học.
- Truyền thống yêu nước:
+ Dòng họ nội, từ cụ tổ Nguyễn Bặc thời Đinh đến thân phụ là Nguyễn Phi Khanh đã cónhiểu người xả thân vì đại nghiã
+ Dòng họ ngoại từ cụ tổ Trần Quang Khải đến ông ngoại là Trần Nguyên Đán đã từng
có những đóng góp lớn đối với nền độc lập và thống nhất đất nước
- Truyền thống văn hoá, văn học:
+ Về bên nội, Nguyễn Thuyên (tức Hàn Thuyên) là một trong những người đầu tiên có
Trang 5thành thơ Hàn luật (luật thơ do Hàn Thuyên đặt ra) Nguyễn Phi Khanh là một nhà thơlớn thời cuối Trần.
+ Về bên ngoại, Trần Quang Khải không những là vị chiến tướng đảm lựơc, một anhhùng dân tộc mà còn là thi sĩ tài hoa Trần Nguyên Đán không những là vị quan Tư đồuyên thâm, liêm chính mà còn là nhà thơ nổi tiếng đương thời
Truyền thống gia đình cũng là một cái nôi nuôi dưỡng nhân cách và thiên tài ức Trai
Trang 6Cuộc đời Nguyễn Trãi
Gắn liền với một giai đoạn lịch sử sôi động với những biến cố có tầm vóc lớn lao màtrung tâm là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, cuộc đời Nguyễn Trãi có thể chia làm ba giaiđoạn
- Nguyễn Trãi trước khởi nghĩa Lam Sơn (từ 1380 đến khoảng 1418).
Đây là giai đoạn “nợ nước thù nhà”, đã hun đúc lòng yêu nước và chí lớn của người anhhùng dân tộc
+ Gia đình có nhiều thuận lợi cả về điều kiện vật chất và môi trường giáo dục
+ Mất mát đau thương: tang mẹ khi Nguyễn Trãi mới năm tuổi, sau đó là ông ngoại quađời khi Nguyễn Trãi mới vừa mười tuổi
+ Những biến cố của lịch sử và sự lựa chọn con đường để vượt qua những thử thách:thi đỗ Thái học sinh ra làm quan với nhà Hồ, dự hàng quan to trong triều đình với chứcNgự sử đài chính chưởng; đất nước bị tàn phá, cha bị bắt giải sang Trung Quốc, “nợnước, thù nhà”; không tham gia các cuộc khởi nghĩa thời cuối Trần mà tìm đến cuộckhởi nghĩa Lam Sơn
Trang 7- Nguyễn Trãi trong thời gian khởi nghĩa Lam Sơn (khoảng từ 1418 đến 1428).
Đây là giai đoạn “nhà thơ - chiến sĩ” trong cuộc đời Nguyễn Trãi
Mười năm tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là mười năm gian khổ nhưng cũng làmười năm hạnh phúc nhất, có nghĩa nhất đối với Nguyễn Trãi
+ Dâng “Bình Ngô sách” với phương châm cơ bản “không nói đánh thành mà giỏi bàn
về cách đánh vào lòng người” (Ngô Thế Vinh - Tựa ức Trai thi văn tập) Đường lối
chiến lược của Nguyễn Trãi là “tâm công” (đánh bằng lòng người, tức đánh bằng nhânnghĩa)
+ Giúp Lê Lợi trù hoạch quân mưu ( chức Thừa chỉ học sĩ, ở bên Lê Lợi, dự thảo cácvăn kiện chính trị, ngoại giao)
+ Viết thư luận chiến với giặc, vào thành giặc làm con tin hoặc thuyết phục giặc ra hàng
+ Viết Bình Ngô đại cáo
- Nguyễn Trãi sau khởi nghĩa Lam Sơn ( khoảng từ 1428 đến 1442).
Đây là giai đoạn “tùng bách kiên trinh” và “thơ kêu xé lòng” trong cuộc đời nhà thơ
+ Triều đình sát hại những công thần như Trần Nguyên Hãn (1429), Phạm Văn Xảo(1430)
+ Nguyễn Trãi bị bỏ tù (1430)
+ Trong thời Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi có được khôi phục chức cũ nhưng vẫn là cảnh
"danh suông vạ thực" Cuối năm 1437, Nguyễn Trãi đã xin về trí sĩ ở Côn Sơn
+ Oan án Lệ Chi viên, giết cả ba họ (chu di tam tộc)
Trang 8Văn học của Nguyễn Trãi
Sự nghiệp văn học
Nguyễn Trãi là tác giả xuất sắc trên nhiều loại hình văn học, xuất sắc cả trong sáng tácchữ Hán và sáng tác chữ Nôm
- Việc sưu tầm di sản văn học của Nguyễn Trãi
+ Năm 1464 Lê Thánh Tông rửa oan cho Nguyễn Trãi
+ Năm 1467: bắt đầu sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi
+ Năm 1480 hoàn thành ức Trai di tập do Trần Khắc Kiệm biên tập và đề tựa Sau đó
ức Trai di tập cũng bị thất lạc.
+ Thế kỉ XIX, Nguyễn Năng Tĩnh, Dương Bá Cung, Ngô Thế Vinh lại cùng nhau sưu
tập các tác phẩm của Nguyễn Trãi và cho xuất bản vào năm 1868 dưới cái tên ức Trai
di tập.
Di sản văn học Nguyễn Trãi còn đến ngày nay chắc chắn chưa phản ánh được đầy đủ sựnghiệp văn học vĩ đại của ông
Những tác phẩm chính bằng chữ Hán:
- Quân trung từ mệnh tập gồm khoảng trên dưới 70 bài văn từ lệnh viết trong thời gian
kháng chiến, phần lớn là thư từ giao thiệp với các tướng Minh Ngoài ra còn biểu, tấucầu phong gửi vua Minh, văn tấu cáo các vua Trần, lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân,chiếu khuyến dụ hào kiệt v v
- Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi phụng chỉ Lê Lợi soạn thảo, công bố ngày 17 tháng
Chạp năm Đinh Mùi ( đầu năm 1428), sau khi cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi
- Ức Trai thi tập hiện còn 105 bài thơ chữ Hán viết theo thể thơ luật Đường ngũ ngôn
và thất ngôn
- Văn chữ Hán: Chí Linh sơn phú, Băng Hồ di sự lục ( Chuyện cũ về tướng công Băng
Hồ, tức Trần Nguyên Đán ), Nguyễn Phi Khanh truyện, Văn bia Vĩnh Lăng (Văn bia
Lê Thái Tổ), Lam Sơn thực lục, Văn loại
Trang 9Những tác phẩm bằng chữ Nôm:
- Quốc âm thi tập hiện còn 254 bài chia làm bốn môn loại: Vô đề, Thời lệnh môn, Hoa mộc môn, Cầm thú môn Phần Vô đề chia thành nhiều mục: Thủ vĩ ngâm (1 bài), Ngôn chí (21 bài), Mạn thuật (14 bài), Thuật hứng (25 bài), Tự thán (41 bài), Tự thuật (11bài), Tức sự (4 bài), Bảo kính cảnh giới (61 bài) v.v
Ngoài sáng tác văn học, nhiều người cho rằng Nguyễn Trãi còn để lại cuốn Dư địa chí Sách viết khoảng năm 1435, phỏng theo lối văn của thiên Vũ cống trong Kinh thư nên
Dư địa chí còn được gọi là Đại Nam Vũ cống Đây là bộ sách địa lí cổ nhất của nước
ta hiện còn
Trang 10Văn học của Nguyễn Trãi
Quan điểm văn học của Nguyễn Trãi
Khác với nhiều tác giả văn học giai đoạn trước, thậm chí hơn cả nhiều tác giả văn học
giai đoạn sau, trong sáng tác Nguyễn Trãi đã có một quan niệm văn học tiến bộ và nhất
quán
Mối quan hệ giữa văn học và những yêu cầu của cuộc sống, trách nhiện của nhà văn.
- Văn học gắn liền với sự nghiệp cứu nước cứu dân
- Văn học có nguồn gốc từ đời sống
- Nhà văn - chiến sĩ
Khả năng to lớn của văn học.
- Văn học có tác dụng như vũ khí chiến đấu
- Văn học có tác dụng mở rộng tầm nhìn và tâm hồn con người
Bản chất thẩm mĩ của văn học.
- Văn học hướng tới cái đẹp
- Văn học mang bản chất thẩm mĩ
Trang 11Nguyễn Trãi - nhà văn chính luận kiệt xuất
Quân trung từ mệnh tập
Vị trí của tác phẩm
- Kết tinh thành tựu văn chương chính luận của các thế kỉ trước,
- Đạt tới đỉnh cao “vô tiền khoáng hậu” trong loại hình văn chính luận Việt Nam thờitrung đại
- Tập văn chiến đấu “có sức mạnh của mười vạn quân” (Bùi Huy Bích)
Giá trị nội dung
Lập trường chủ đạo: lập trường nhân nghĩa, yêu nước
- Thế đứng chính nghĩa, cao hơn hẳn kẻ thù, tạo nên một sức mạnh áp đảo luận chiến
- Sự kết hợp tài tình tư tưởng nhân giả vô địch của Nho giáo với sức mạnh của lòng yêunước
- Thể hiện truyền thống yêu nươc, truyền thống nhân nghĩa của nhân dân Việt Nam.Giá trị nghệ thuật
- Phân loại đối tượng, xác định mục đích và vận dụng bút pháp thích hợp
+ Viết cho loại hung hăng, hiếu chiến, "hữu dũng vô mưu" như Phương Chính, các bứcthư thường ít nhằm thuyết phục mà nhằm khiêu khích để lôi chúng vào cái "thòng lọng"trận địa của ta mà tiêu diệt Vì vậy cách xưng hô rất coi thường, lời văn mang tính đảkích, khiêu khích
Trang 12Phần tiếp theo lí giải, chứng minh bằng thực tiễn.
Phần cuối nêu giải pháp trên cơ sở thừa nhận nguyên lí hoặc thực tiễn
+ Áng văn yêu nước lớn của dân tộc, áng văn chói ngời tư tưởng nhân văn Trong lịch
sử, tiếp theo bài thơ Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo được xem là bản tuyên ngônđộc lập lần thứ hai của dân tộc
+ Có sự kết hợp tuyệt diệu giữa mục đích chính trị và nghệ thuật văn chương trong loạihình văn chính luận
Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo dưới hai nguồn cảm hứng: cảm hứng chính trị vàcảm hứng sáng tác Cảm hứng chính trị đem đến cho lịch sử dân tộc bản Tuyên ngônđộc lập đầy ý nghĩa Cảm hứng sáng tác đưa tới lịch sử văn học nước nhà một kiệt tácvăn chương Hoà quyện cả hai nguồn cảm hứng, dân tộc Việt Nam có Bình Ngô đại cáo
- áng "thiên cổ hùng văn"
- Hoàn cánh sáng tác
Sau khi quân ta đại thắng ở trận Chi Lăng tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn viện binh củagiặc, Vương Thông buộc phải giảng hoà, chấp nhận rút quân về nước, Nguyễn Trãi thừalệnh Lê Thái Tổ viết Bình Ngô đại cáo
Trang 13Đặc trưng thể cáo và những sáng tạo của Nguyễn Trãi
Đặc trưng thể cáo:
+ Mục đích chức năng:
Do vua chúa hoặc thủ lĩnh trình bày một chủ chương, một sự nghiệp hay tuyên ngôn một
sự kiện để mọi người cùng biết
Trong thể cáo có hai loại: văn cáo thường ngày (như chiếu sách của vua truyền xuống
về một vấn đề nào đó); văn đại cáo (mang ý nghĩa một sự kiện trọng đại, có tính chấtquốc gia)
+ Đặc điểm nghệ thuật:
Thể văn hùng biện, lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén Viết theo lối văn biền ngẫu
Kết cấu chặt chẽ, nhìn chung thường gồm bốn phần; Nêu luận đề chính nghĩa; Vạch rõtội ác kẻ thù; Kể lại quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng; Tuyên bố chiến quả, nêucao chính nghĩa
Phân tích bài Bình Ngô đại cáo
Bình ngô đại cáo đã thể hiện:
• Mối quan hệ giữa lịch sử và văn học
Trong mối quan hệ giữa lịch sử và văn học dân tộc, chúng ta thường gặp những hiệntượng thời điểm lịch sử đồng thời là thời điểm văn học (trường hợp Nam quốc sơn hàvới chiến thắng sông Như Nguyệt, Hịch tướng sĩ văn với cuộc kháng chiến chống quânNguyên lần hai, Bình ngô đại cáo với cuộc đại phá quân Minh toàn thắng)
Nói riêng của Bình ngô đại cáo:
Trang 14Nguyễn Trãi – nhà thơ trữ tình sâu sắc
Vị trí của thơ trữ tình Nguyễn Trãi
- Hơn nhiều tác giả trước đó và những tác giả cùng thời, khi sáng tác Nguyễn Trãi bướcđầu tự giác ý thức mình là một nhà thơ
+ Trước Nguyễn Trãi, văn học Việt Nam dường như chỉ mới có kiểu tác giả - tăng lữ, tácgiả - nhà nho, tác giả - vua quan, tướng lĩnh Con người chức năng chi phối con ngườinghệ sĩ
+ Đến Nguyễn Trãi, văn học dân tộc xuất hiện một kiểu tác giả mới, trước đó hầu nhưchưa thấy: kiểu tác giả - nghệ sĩ Đây là bước tiến lớn của văn học dân tộc Khi sáng tác,một mặt Nguyễn Trãi vẫn xuất hiện với tư cách tác giả - nhà nho, mặt khác ông còn xuấthiện với tư cách tác giả - nghệ sĩ Con người nghệ sĩ chi phối tác giả trong sáng tác.+ Ức Trai bước đầu tự giác được hai điều cực kì quan trọng:
* Nhà thơ khác mọi người nói chung
* Cái làm cho nhà thơ khác mọi người chính là sự giàu có, phong phú của tâm hồn để
có thể phát hiện ra những vẻ đẹp mà người đời nhiều khi chưa nhận thấy
Việc tác giả ý thức được mình là nhà thơ đã tạo ra một bước phát triển mới thay đổi vềchất trong sáng tác
- Ở những tác phẩm thơ trữ tình, con người công dân và con người cá nhân Nguyễn Trãihài hoà với nhau tạo nên sự thống nhất sâu sắc giữa nhà thơ - chiến sĩ, nhà thơ của nhữngbiến cố lịch sử và nhà thơ - nhân tình, nhà thơ của đời thường với con người "trần thếnhất trần gian" (trong những tác phẩm mang tính chính luận chủ yếu là con người côngdân Nguyễn Trãi cất lên tiếng nói của nhân dân, của thời đại)
Trang 15"Tiên ưu niệm", "tiên ưu chí" ở Ức Trai cao hơn nhiều so với lí tưởng "tiên ưu hậu lạc"thông thường Nhà Nho đề cao quan niệm "tiên ưu hậu lạc" của Phạm Trọng Yêm, mộtdanh thần đời Tống: "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc" (Lo thì
lo trước thiên hạ, vui thì vui sau thiên hạ) Nguyễn Trãi thường chỉ nói tới tiên ưu màkhông nói tới hậu lạc Nguyễn Trãi không dành cho mình sự "hậu lạc", dù đó chỉ là niềmvui sau mọi người
Côn Sơn trong thơ Nguyễn Trãi
Quốc âm thi tập
- Tác phẩm đầu tiên viết bằng ngôn ngữ dân tộc hiện còn, là tập đại thành của thơ catiếng Việt (“tác phẩm mở đầu nền văn học cổ điển Việt Nam”- Xuân Diệu)
- Sáng tạo thể loại: thơ Nôm Đường luật
- Phát triển ngôn ngữ: khẳng định vai trò và khả năng to lớn của ngôn ngữ tiếng Việttrong chức năng thẩm mĩ, trong việc phản ánh đời sống xã hội và tâm trạng con người(đưa tiếng việt thành ngôn ngữ văn học)
- Khẳng định sự tồn tại trong thực tế dòng văn học tiếng Việt (phát triển song song cùngvăn học chữ Hán, làm cho văn học dân tộc phát triển toàn diện và mạnh mẽ hơn).Chân dung người anh hùng yêu nước vĩ đại
Hình ảnh Nguyễn Trãi hiện lên qua Quốc âm thi tập trước hết là con người hết lòng vìdân vì nước – người anh hùng yêu nước vĩ đại Hình ảnh này được thể hiện với nhiềusắc thái khác nhau:
• Thể hiện trực tiếp, mạnh mẽ thôi thúc mãnh liệt (Tự thán – bài 2)
• Quyện hòa giữa yêu nước, nhân nghĩa, anh hùng ( Bảo kính cảnh giới – bài 5).Trong hoàn cảnh hòa bình xây dựng đất nước thì yêu nước, nhân nghĩa anhhùng là chống bọn gian thần, quyền thần, chiến đấu cho công lí, lẽ phải ( Tựthán – bài 40)
Trang 16- Tình yêu thiên nhiên: Tập thơ thường phản ánh vẻ đẹp của thiên nhiên kì thú và bình
dị ( Bảo kính cảnh giới - bài 26 ), ( Tự thuật - bài 31), thiên nhiên là những bức kí hoạ
tự nhiên, mộc mạc (Ngôn chí - bài 8), (Ngôn chí - bài 11)
Thơ thiên nhiên bình dị trong Quốc âm thi tập thể hiện sự thay đổi cảm hứng sáng tạo,cảm hứng thẩm mĩ của nhà thơ: cái bình dị, đời thường cũng trở thành đối tượng của cáiđẹp Sự thay đổi này mang ý nghĩa cách tân theo hướng dân chủ, tiến bộ
Đặc điểm cảm xúc về thiên nhiên: nồng nàn và tinh tế (Ngôn chí - bài 10), thiên nhiêntrở thành môi trường sống thnh tao, con người chan hoà với thiên nhiên, tạo vật (Ngônchí - bài 20)
- Tình yêu giữa người với người : Tình cha con ( Ngôn chí - bài 7), tình bạn (Bảo kínhcảnh giới - bài 34), Tình yêu đôi lứa (Bảo kính cảnh giới - bài 26) ( Cây chuối)…
Khía cạnh “con người” trong người anh hùng Nguyễn Trãi chính là vẻ đẹp nhân bản đãnâng người anh hùng dân tộc lên tầm cao nhân loại
Giá trị nghệ thuật
Thành tựu giá trị ngôn ngữ
+ Sử dụng từ Việt: tiếng Việt không chỉ làm tốt chức năng biểu đạt mà còn mang chứcnăng thẩm mĩ Nhà thơ đã hoặc giữ nguyên vẻ đẹp thô sơ, mộc mạc của từ Việt hoặcbằng cách kết hợp từ, cấp cho từ Việt những nghĩa bóng, những nét nghĩa “tinh thần”thoát khỏi tính cụ thể, đơn nghĩa ( Bảo kính cảnh giới - bài 7 )
Sử dụng từ Việt một cách thanh thoát, nghệ thuật ( Thuật hoài - bài 3 )
+ Sử dụng ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ văn học dân gian:
Lớp từ vựng khẩu ngữ: ( Mạn thuật - bài 6 )Vận dụng sáng tạo ngôn ngữ văn học dângian: sử dụng thành ngữ tục ngữ (Bảo kính cảnh giới - bài 15)
+ Sử dụng từ Hán Việt, điển cố thi liệu Hán học (Tự thán - bài 37 )
Nguyễn Trãi dùng điển không cầu kì
Cách dùng điển có kèm nội dung giải thích ( Mạn thuật - bài 4), dùng điển nhiều ngườiquen thuộc, chỉ cần nhắc đến là có thể hiểu ( Tự thán - bài 4 )