Mục đích của công trình này là xây dựng một quan niệm khả dĩ, một mô hình có tính tổng thể và do đó còn sơ khai trong việc giải thích cơ chế chữa bệnh của các tác nhân vật lý.. Trong mô
Trang 1TÁC NHÂN VẬT L Ý VÀ KHẢ NĂNG ĐIỀU CHỈNH TRẠNG THÁI CỦA
CÁC CƠ THỂ SỐNG
Vũ công Lập, Trần công Duyệt, Đỗ kiên Cường Huỳnh việt Dũng, Nguyễn thanh Phương Phân viện Vật lý Y Sinh học Trung tâm Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ quân sự
1 Trong các lĩnh vực ứng dụng của vật lý, ứng dụng trong y học có một vị trí đặc biệt Đó là quá trình ứng dụng vừa có chiều rộng, vừa có chiều sâu, đem lại những thay đổi có tính cách mạng trong y học và trong y tế Người ta đã tổng kết rằng, những tiến bộ mới mẻ nhất của khoa học nói chung và vật lý ỵhọc nói riêng trước hết được ứng dụng vào hai lĩnh vực: quốc phòng và y học, để bảo bảo vệ sự tồn tại của cả một quốc gia hay để cứu vớt sinh mạng cho từng con người
Đối với y học lâm sàng, các kỹ thuật vật lý được sử dụng rất hiệu quả cả trong chẩn đoán cũng như trong điều trị Trong khuôn khổ công trình này, chúng ta chỉ khảo sát vật lý với
tư cách một tác nhân, một nhân tố gây tác dụng chủ yếu trong quá trình điều trị Phổ các tác nhân như vậy là rất rộng khắp: dòng điện, từ trường, trường điện từ, ánh sáng, laser, lực cơ học, siêu âm, nhiệt, nước Phạm vi tác dụng của các tác nhân như vậy là rất sâu sắc, như vai trò của laser và từ trường trong khắc phục các di chứng của đột qụy não, như khả năng điều trị ung thư trong nhờ bức xạ ion hoá thu được từ các máy gia tốc tuyến tính Vấn đề tác nhân vật lý trong y học vừa là một vấn đề kinh điển, vừa là một vấn đề thời sự Đó là một lĩnh vực còn nhiều câu hỏi về mặt khoa học, mang đặc tính liên ngành rất cao và đòi hỏi vật lý phải có sự đóng góp của riêng mình: chuyên ngành “vật l y trị liệu” hay “y học vật lý”
Mục đích của công trình này là xây dựng một quan niệm khả dĩ, một mô hình có tính tổng thể và do đó còn sơ khai trong việc giải thích cơ chế chữa bệnh của các tác nhân vật lý Trong mô hình đó, cơ thể sống được quan niệm như một hệ thống mở, được đặc trưng bằng các trạng thái, còn tác nhân vật lý là nguyên nhân để hệ có thể chuyển từ trạng thái này sang một trạng thái khác Mang đặc trưng nhiệt động, mô hình chỉ chỉ ra những “con đường” mà không đi sâu vào các “cơ chế”
2 A Lange ( 1 ) đã tỏ ra bất ngờ khi nhìn nhận lại các khả năng chữa bệnh cho con người :”Thật đáng ngạc nhiên là các phương pháp chữa bệnh đã chẳng có thay đổi bao nhiêu kể từ thời Hipocrates” Ngay từ thời đó, người ta đã chia ra 4 phương pháp chữa bệnh:
1 Exclusio- Cắt bỏ, như loại bỏ khối u trong phẫu thuật , loại bỏ các mầm bệnh nhờ kháng sinh Ngày nay có thể loại bỏ khối u bằng tia phóng xạ, loại bỏ gen gây bệnh bằng các liệu pháp công nghệ sinh học
2 Substituo- Thay thế, hoặc thay thế hoàn toàn, hoặc hỗ trợ một phần, như việc dùng các cơ quan nhân tạo, như việc tiêm insulin trong bệnh đái tháo đường, như kỹ thuật cấy ghép tạng
3 Directio- Định hướng, về cơ bản ( mặc dù không hoàn toàn ) là điều trị bằng thuốc để định hướng lại các quá trình chức năng bị rối lọan Như các dược phẩm điều hoà huyết áp, điều hoà rối loạn thần kinh Đáng chú y là trong nhiều trường hợp hiệu ứng phụ của thuốc là không tránh khỏi
4 Stimulatio- Kích thích Với phương pháp chữa bệnh này, tác giả trích lại quan điểm của Grote ( 2 ) nói rằng “trong những giai đoạn quyết định, việc chữa bệnh được thực hiện nhờ những qúa trình điều hoà trong chính bản thân cơ thể” Điều này dựa trên nguyên tắc luyện tập những chức năng sinh lý bình thường Các kích thích vật lý- sinh lý có tiềm năng chữa bệnh khi kích thích và phát triển những khả năng riêng của cơ thể Đáng chú y là, ở đây từ “kích thích” được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả quá trình tự chữa bệnh, chẳng hạn các quá trình hồi phục,
Trang 2hoàn thiện quá trình điều hoà do thích nghi hay tăng tiềm năng nhờ huấn luyện Trong nhóm điều trị thứ tư này, các tác nhân vật lý đóng vai trò hết sức quan trọng Tỷ lệ sử dụng phương pháp điều trị nhóm 4 cũng rất cao
Với các phương pháp chữa bệnh trên, A Lange phân biệt “chữa bệnh nhân tạo” và “tự chữa bệnh” ( hay “chữa bệnh tự nhiên” ) Chữa bệnh nhân tạo được sử dụng trong các trường hợp khẩn cấp, lúc đó các can thiệp có hiệu quả nhanh và chắc chắn được ưu tiên hàng đầu Dạng điều trị này liên quan trực tiếp đến các triệu chứng và nói chung hiệu quả điều trị giới hạn bởi thời gian, cho tới khi tác dụng của thuốc còn hiệu lực Chữa bệnh tự nhiên là chữa bệnh khi sử dụng các lực tự nhiên ( ánh sáng, điện, nhiệt, lực cơ học ) và tác động khai thác những tiềm năng tự chữa bệnh vốn tồn tại trong cơ thể theo quy trình “kích thích- phản ứng- trị liệu” Các phản ứng sinh ra và các thích nghi có được sau đó đòi hỏi phải có một thời gian lâu hơn nhưng lại có khả năng kéo dài hơn
Tác nhân vật lý = Kích thích khởi phát
======> Phản ứng trả lời
======> Luyện tập các chức năng sinh lý
======> Chữa bệnh
Duy trì sức khoẻ
Điều trị theo phương pháp này luôn kéo theo sự tham gia của chính bản thân cơ thể, dựa trên sự nghỉ ngơi, hồi phục, sự điều tiết các quá trình, sự thích nghi, nên tác dụng của các tác nhân vật lý không phải trực tiếp mà luôn luôn gián tiếp
Trong thực tế, việc sử dụng các phương pháp điều trị luôn có tính tích hợp, không tách rời thuần túy tự nhiên và nhân tạo, phối hợp cả điều trị theo triệu chứng và theo căn nguyên, tuy tùy từng trường hợp, từng giai đoạn cụ thể mà ưu tiên một phương pháp cụ thể thích hợp Về căn bản và lâu dài thì tuân theo nguyên tắc chung : “ càng sâu theo hướng nguyên nhân càng tốt, càng ít theo hướng triệu chứng càng hay”
Các tác nhân vật lý có thể đặc hiệu và cũng có thể không đặc hiệu Một số nhóm mô cần những kích thích đặc hiệu để có thể phản ứng: xương cần kích thích trọng lực, mô liên kết cần kích thích kéo dãn, sụn cần tải áp lực có tính cách đoạn Tuy nhiên, phổ biến hơn là tính không đặc hiệu của kích thích, thể hiện ở những thích nghi lâu dài Nhiều tác nhân vật lý có thể sinh ra cùng một hiệu qủa chữa bệnh, một tác nhân vật lý có thể chữa được nhiều bệnh khác nhau, và cùng một tác nhân vật lý, tác dụng tức thời khác, tác dụng lâu dài lại khác Chẳng hạn chúng ta đã biết trong châm cứu, từ phương thác châm ban đầu theo truyền thống chỉ bằng kim, bây giờ chúng ta
có thể châm bằng điện ( điện trên da và điện trong da ), châm bằng từ, châm bằng lực cơ học ( day huyệt ), châm bằng laser Cùng một tia laser công suất thấp ( laser mềm ), chúng ta có thể chống viêm, giảm đau, tăng tuần hoàn tổ chức, chống nhiễm trùng, tăng sinh tế bào Trong thủy trị liệu, kích thích lạnh tức thời làm co mạch, nhưng hiệu quả điều trị ngắn ngày lại là tăng khả năng truyền máu của mạch ( dùng cho bệnh thiếu máu tĩnh mạch mãn tính ), còn đáp ứng dài hạn
là tăng khả năng chống nhiễm trùng và trị chai da Thậm chí, những tác dụng của cùng một tác nhân vật lý gây ra có thể hoàn toàn trái ngược ( hiệu ứng đối song ): chúng ta đều biết , dùng laser và từ trường, chúng ta có thể tăng hay giảm huyết áp Trạng thái sinh lý của cơ thể khi tiếp nhận tác nhân vật lý dường như có ảnh hưởng quyết định đối với hiệu quả chữa bệnh cụ thể Những nét đặc trưng như vậy của tác nhân vật lý trong điều trị cần được thể hiện trong mô hình của chúng ta
3 Để có thể chữa bệnh bằng các tác nhân vật lý, cơ thể sống phải: 1- Có khả năng tiếp nhận các kích thích và 2- Có khả năng phản ứng một cách thích hợp với các kích thích sao cho manglại lợi ích tối đa cho mình Hay nói khác đi, cơ thể phải có khả năng thu nhận các dạng năng lượng vật lý hết sức khác nhau để lấy đó làm yếu tố khởi phát cho hàng loạt thay đổi theo chuỗi phản ứng- điều hoà- thích nghi và cuối cùng là điều chỉnh trạng thái của mình Trong trường hợp này, ta có thể xem cơ thể sống như một hệ tự điều khiển, trên cơ sở
nó là một hệ vật lý “thông minh” Bởi các quá trình nhận tín hiệu, truyền tín hiệu, xử lý tín
Trang 3hiệu ở đây đều có nền tảng và có bản chất là các quá trình vật lý Tuy nhiên, chi tiết quá trình truyền, xử lý tín hiệu và ra quyết định phản ứng của cơ thể không nằm trong phạm vi của công trình này, vì chúng ta không đi sâu vào cơ chế như đã nói từ đầu Hai nội dung mà chúng ta quan tâm: quá trình tiếp nhận kích thích và quá trình chuyển trạng thái
Theo quan điểm chung của nhiệt động học ( 3, 4 ), cơ thể sống là một hệ thống mở, vừa trao đổi vật chất, vừa trao đổi năng lượng với môi trường ngoài Các hoạt động sống vừa phong phú phức tạp, vừa chính xác tinh tế, và chính những quá trình trao đổi này là cơ sở cần thiết để các quá trình đó diễn ra một cách hoàn hảo Trong phạm vi vật lý trị liệu, ta quan tâm trước hết đến khả năng tiếp nhận các kích thích vật lý từ bên ngoài của cơ thể Có các kích thích phổ biến có ngay trong các yếu tố tự nhiên của môi trường, và có các yếu tố có bản chất tự nhiên nhưng sinh ra từ các thiết bị chuyên dụng Ta hãy khảo sát các yếu tố thuộc nhóm một, còn nhóm hai
sẽ khảo sát trong các chuyên đề sau ( điện, từ, laser, phóng xạ ) Chẳng hạn kích thích điện được xác định bởi tính chất điện của tế bào và màng tế bào
Thật đáng ngạc nhiên về sự toàn diện và nhậy cảm của cơ thể trong việc tiếp nhận các yếu tố kích thích từ môi trường ngoài Khi chưa có các thiết bị vật lý, tác nhân vật lý luôn có sẵn trong các yếu tố môi trường tự nhiên bên ngoài ( áp lực, nhiệt độ ) Đối với cơ thể con người, trong
tư cách một khu vực biên giới, da đóng vai trò rất quan trọng trong việc tiếp nhận các kích thích đó ( Ngay cả ở những giai đoạn phát triển về sau, các kích thích vật lý trong điều trị cũng thường tác dụng qua da ) Theo Hartmann ( 5 ), trên 1 cm 2 da có tới 200 phần tử thụ cảm đau,
100 thụ cảm áp lực, 12 thụ cảm lạnh, 2 thụ cảm nóng Diện tích tổng cộng của da là 2 m 2 và
có khối lượng lên tới 10 kg Các thụ cảm đau là thụ cảm đa mốt, phản ứng đối với cả các tác nhân nhiệt, cơ và hoá ( toàn cơ thể có chừng 3- 4 triệu yếu tố thụ cảm thuộc nhóm này ) Các yếu tố thụ cảm “lạnh” nằm ở lớp thượng bì và phản ứng với nhiệt độ từ – 18 oC tới +44 oC Cả
cơ thể có chừng 250 000 yếu tố thụ cảm thuộc nhóm này, trong đó mật độ cao nhất là ở vùng cằm và mũi ( cỡ 9 đến 13 yếu tố thụ cảm/ cm 2 ), cao hơn nữa là ở môi ( 15/cm 2 ) Nếu nhiệt
độ cao hơn các giá trị giới hạn đối với thụ cảm nhiệt độ, tín hiệu không được đánh giá như yếu
tố nhiệt mà như yếu tố đau để truyền về não Đối với tác dụng của lực cơ học, các yếu tố thụ cảm nằm ở lớp hạ bì và có độ nhậy cảm tới 0,005 g Khoảng 1 / 4 tổng lượng máu lưu hành trong cơ thể tuần hoàn trong các hệ mạch máu của da ( nhiều hơn lượng máu tuần hoàn trong não ), điều này cũng giúp rất nhiều cho cơ chế điều hoà, nhất là điều hoà thân nhiệt Cũng cần nói thêm rằng, trung bình trong một đời người, da bị tổn thương 3 500 lần Thật may mắn, nhờ những “hệ sửa chữa” vốn có trong da, về cơ bản những tổn thương này tự lành sau một thời gian nhất định
Liều kích thích quyết định phạm vi tác dụng vào một hệ điều hoà của cơ thể Liều kích thích được xác định bằng một loạt các tham số: kiểu kích thích hay bản chất của kích thích, cường độ kích thích, độ kéo dài của kích thích, chu vi hay diện tích vùng kích thích cũng như khoảng cách giữa các kích thích Cường độ kích thích phụ thuộc vào năng lượng đưa vào cơ thể để tạo
ra kích thích ( nhiệt độ, áp lực, cường độ dòng điện ) Nhìn chung, các cơ quan thụ cảm phản ứng với các cường độ kích thích khác nhau theo nguyên lý trả lời phân bậc, nghĩa là độ lớn của thế kích thích toàn phần được sinh ra phản ánh lại chính cường độ kích thích Nếu thụ quan hoạt động theo nguyên lý “tất cả hay không có gì”, thì khả năng định lượng thực hiện qua số thụ quan bị kích thích Để tạo ra một kích thích, tác nhân vật lý phải đủ mạnh và tác dụng trong thời gian đủ lâu, nghĩa là năng lượng đưa vào phải vượt qua một ngưỡng nào đó Mối quan hệ giữa thời gian kích thích, khoảng cách giữa các kích thích và cường độ kích thích là một mối quan hệ chặt chẽ, phức tạp Nhờ đó mà có thể sinh ra hiệu ứng tích luỹ hay hiện tượng trở lỳ Nói chung, cơ thể sống có khả năng tiếp nhận nhiều dạng tác nhân vật lý với độ nhập cảm khá cao, nhưng đồng thời cũng tạo ra “những chế độ tiếp nhận” để từ đó mà sinh ra các quá trình điều hoà thích hợp
4 Mục tiêu của các quá trình điều hoà đó là đưa cơ thể trở về những trạng thái thuận lợi nhất đối với các quá trình sống Khi khảo sát cơ thể sống như một hệ nhiệt động mở, Vonkenstein ( 4 ) đã chỉ ra rằng, trong quá trình phát sinh và phát triển, Entropie của các hệ
Trang 4sinh vật giảm xuống còn năng lượng của chúng lại tăng lên, tới một lúc nào đó, độ trật tự của cấu trúc và khả năng sinh công tiềm trữ trong cấu trúc đủ để duy trì sự sống thì các tham số trạng thái của hệ không đổi và ta nói rằng hệ ở trong các trạng thái dừng Trong các trạng thái dừng, giá trị các tham số dặc trưng của hệ là không thay đổi
Trong các hệ nhiệt động thông thường, các tham số trạng thái là P, V và T, kể cả khí lý tưởng lẫn khí thực Trong các hệ thống sống vấn đề phức tạp hơn nhiều Thứ nhất: số các đại lượng có thể chọn làm tham số trạng thái là rất nhiều Thứ hai: giá trị cụ thể của các tham số thường có biên
độ rộng và có đặc trưng cá thể rất lớn Chẳng hạn một phiếu xét nghiệm sinh hoá rất bình thường cũng có thới 30 tham số Số các xét nghiệm tại một bệnh viện lớn tiêu chuẩn cao có tới cả trăm Các tham số định lượng trong một chẩn đoán siêu âm tim cũng tới cả chục Tuy nhiên, một giải pháp cụ thể cho việc dùng các tham số trạng thái mô tả trạng thái cơ thể luôn là có thể, vì tuy các tham số là rất lớn, đối với từng mặt bệnh, ta chỉ cần chuyên tâm vào một số tham số cụ thể Với bệnh vữa xơ động mạch, các tham số thường được chọn là Triglýcerid, Cholesterol, HDL- Cholesterol và LDL- Cholesterol Một số tham số khác, rất đặc trưng cho việc đánh giá trạng thái
cơ thể và hầu như được sử dụng cho mọi loại bệnh là nhiệt độ cơ thể, nhịp tim, huyết áp ( tâm thu và tâm trương ) Nói một cách đơn giản, “sốt”- nhiệt độ tăng- là một biểu hiện bệnh lý, còn
“hết sốt”- nhiệt độ trở về 37 oC- là dấu hiệu khỏi bệnh Nguyên nhân của sốt thì có thể có rất nhiều, và để làm rõ căn nguyên ấy thì cần sự hiện diện của nhiều tham số khác, nhưng nếu chỉ dùng tham số nhiệt độ thì ta cũng đã có một hình ảnh có tính khái quát, một bức tranh về tình trạng cơ thể Bởi vậy, dùng một số tham số trạng thái nhất định để đánh giá tình trạng cơ thể, làm tiêu chí đánh giá bệnh tật và khả năng chữa bệnh là một điều hợp lý
Theo định nghĩa của Cannon ( 6 ), “Sự sống là một trạng thái cân bằng hết sức phức tạp và vô cùng chính xác về trao đổi chất và chuyển hoá năng lượng, đạt được thông qua các quá trình điều khiển, với mục đích duy trì sự hằng định của môi trường bên trong cơ thể” Những điều chúng ta vừa trình bầy ở trên phù hợp với định nghĩa này Do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, tính hằng định của môi trường bên trong cơ thể có thể bị phá vỡ Khi đó các tham số trạng thái của hệ thay đổi, và ta nói cơ thể bị bệnh Có một trạng thái được gọi là mạnh khoẻ, khi tất cả các tham số đều nằm trong một giới hạn cho phép Giới hạn cho phép này là khá rộng, và dao động nhiều từ cơ thể này tới cơ thể khác, nhưng mỗi cơ thể chỉ có một trạng thái khoẻ như vậy Ngược lại, có rất nhiều trạng thái ốm, khi một trong vô số các tham số trạng thái không nằm trong giới hạn bình thường, và mỗi trạng thái ốm sẽ gắn với một hay một nhóm các tham số trạng thái xác định Chẳng hạn, bệnh đái tháo đường- chỉ số đường trong máu, bệnh thiếu máu cơ tim- chỉ số về Cholesterol và Triglýcerid, trong các hội chứng đau, ngưỡng đau điện và ngưỡng đau nhiệt, hay đơn thuần chỉ là các chỉ số đau theo thang giá chủ quan Chữa bệnh, hiểu theo ngưỡng đơn giản,
là tìm cách chuyển các tham số trạng thái từ giá trị “bệnh” về giá trị “khoẻ”
Hình 1 chỉ ra 3 khả năng khác nhau trong quá trình chuyển trạng thái như vậy Thông thường,
ta có một tiến trình tiệm tiến theo kiểu hàm e- mũ Nhưng ở không ít trường hợp, kiểu chuyển với xuất phát giả là độ lệch dư có thể làm phân tâm nhà kỹ thuật và gây âu lo cho người bệnh N.I Gubanov ( 3 ) đã chỉ ra một vài thí dụ về kiểu chuyển trạng thái như vậy Cả A Lange ( 1 )
và V.S Ulasic ( 6 ) đều lưu tâm đến những hiện tượng này, và các ông cho đó là những giai đoạn mang tính “khủng hoảng” trong vật lý trị liệu Chẳng hạn, Lange viết :”Tác dụng lâu dài hay thứ cấp chỉ xuất hiện một thời gian sau khi lặp lại liên tục các kích thích điều trị, như kết quả của một hiệu ứng có tính luyện tập Đôi khi trước đó có những hiện tượng có tính chất khủng hoảng tức thời hay sự xấu đi của các triệu chứng mang tính quá độ” Đấy là một nét đặc trưng khá điển hình cho tác dụng của các tác nhân vật lý trong việc điều chỉnh trạng thái của các cơ thể sống lý
5 Từ những tổng kết trên, ta có thể đưa ra một mô hình sau để nghiên cứu tác dụng điều chỉnh trạng thái của các tác nhân vật lý đối với cơ thể sống:
5.1 Cơ thể sống được xem như những hệ nhiệt động mở luôn tồn tại ở những trạng thái dừng, đặc trưng bởi sự hằng định của các tham số trạng thái Số tham số trạng thái của hệ thống sống là nhiều nhưng hữu hạn, và tùy từng trường hợp cụ thể, ta có thể dùng một số, thậm chí chỉ một tham số trạng thái để mô tả hệ Sự đơn giản hoá như vậy sẽ không làm mất tính
Trang 5quy luật tổng quát của bài toán Tiếp theo, khi hệ nằm trong trạng thái dừng, ta có thể xem như một hạt nằm trong một “hố thế” Trong các trạng thái dừng- hố thế đó, có trạng thái cơ bản- trạng thái “khoẻ”- với tất cả các tham số là tối ưu cho sự tồn tại và phát triển của cơ thể Đây là một trạng thái mà cơ thể nhận biết được và toàn bộ hoạt động sống luôn hướng
cơ thể về trạng thái đó Điều này được thể hiện bằng mũi tên trên hình vẽ Điều này có thể xem như một tiên đề và cũng hợp lý về mặt nhiệt động học, một khoa học dựa trên hai tiên
đề xuất phát Đấy là hố thế được mang ky hiệu số 1 Hình 2
5.2 Các trạng thái khả dĩ được xem như những thăng giáng trong các điều kiện khác nhau ( hố thế 2 ) Hệ tồn tại ở những trạng thái này trong khoảng thời gian ngắn rồi tự động trở về trạng thái 1
5.3 Có những trạng thái “ốm”: loại hố thế thứ 3, có độ sâu lớn, và nằm khá xa trậng thái cân bằng dừng Khi đó hệ không thể tự trở về trạng thái “khoẻ”, vì đó là hiệu ứng đường ngầm
có xác suất quá bé Đế chữa bệnh, cần tác nhân bên ngoài, trong đó tấc nhân vật lý tỏ ra rất thích hợp
5.4 Vai trò của tác nhân vật lý thực chất là tạo ra một cú hích, có tác động khởi phát Nhờ tác nhân vật lý mà hệ rời khỏi trạng thái ỳ trệ, giống như hạt được đưa lên khỏi hố thế Do vậy, tác nhân vật lý nhiều trường hợp có bản chất không đặc hiệu Hình 3
5.5 Sau khi đã ra khỏi trạng thái ỳ như hạt ở đáy hố thế, cơ thể sống sẽ hành xử theo những quá trình vốn có trong bản thân cơ thể mà cụ thể ở đây là chuyển về trạng thái “khoẻ” theo mũi tên đã chỉ ra ở trên Nhờ đặc tính này, tác nhân vật lý có tác dụng đối song ( ngược chiều nhau ), có thể tăng hay giảm một tham số trạng thái nào đó tùy thuộc vào trạng thái sinh lý ban đầu của hệ Hình 4
5.6 Các phương thức chuyển trạng thái được mô tả trên hình 5 Theo mô hình trạng thái- hố thế, ta có cả ba phương thức chuyển trạng thái điển hình mà Gubanov đã đề cập: phương thức tiệm tiến, phương thức xuất phát giả và phương pháp độ lệch dư Xuất phát giả và độ lệch dư có thể là hậu quả của những thăng giáng trong quá trình chuyển trạng thái Tuy nhiên, những thăng giáng này sẽ được nhanh chóng bù trừ vì tiên đề lựa chọn trạng thái tôi
ưu như đã đề cập tới trong phần đầu
Cũng có những khả năng khác trong việc lựa chọn hình dáng của hố thế Tuy nhiên, xu hướng
mô tả nhiệt động học cơ thể sống qua trạng thái và dùng hình ảnh hố thế để xét đoán các bước chuyển trạng thái dưới tác động của tác nhân vật lý dường như là một giải pháp có thể chấp nhận
6 Trên cơ sở mô hình trạng thái- hố thế, việc làm sắp tới là thử nghiệm một mô hình tính toán cho hệ Khi đó, chúng ta sẽ xuất phát từ một mô hình đơn giản nhất: mô hình một tham số Nhiệm vụ trung tâm sẽ là tính các bước chuyển trạng thái theo cả ba khả năng, từ đó nghiên cứu sâu hơn về bản chất vật lý của hệ và tiên đoán dáng điệu của hệ trong những trường hợp khác nhau
( Nộp Phân viện Vật lý Y Sinh học ngày 02/06/2004 )
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 A Lange
Y học vật lý, tiếng Đức
Nhà xuất bản Springer, 2003
2 Grothe- Brauche
Trò chuyện về y học chính thống và chữa bệnh bằng các phương pháp tự nhiên, tiếng Đức
Leipzig, 1935
3 N.I Gubanov, A.A Uchepbergenov
Lý sinh y học, tiếng Nga
Nhà xuất bản y học, Matxcva, 1979
4 Vũ công Lập và cộng sự
Giáo trình vật lý – Lý sinh
Học viện quân y, 1986
5 Hartmann
Bảo vệ, điều trị và chăm sóc da
Focus, 19/2004
6 V.S Ulasic, I.V Lucomski
Vật lý trị liệu đại cương, tiếng Nga
Minscơ, 2003