1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giáo trình lập và phân tích dự án phần 1

52 267 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 491,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không có vốn hoặc thiếu vốn, chúng ta sẽ không có điều kiện để nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học, áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất, và điều tất yếu sẽ đến, đó là tính

Trang 1

Lời mở đầu

Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế sang hoạt động theo cơ chế thị trường

có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Sự đổi mới mạnh mẽ trong lĩnh vực quản lý hoạt động đầu tư vừa là yêu cầu thực tế khách quan, vừa mang tính cấp bách Trong sự đổi mới này, đầu tư theo dự án giữ một vai trò cực kỳ quan trọng Đây

là vấn đề cần và phải được quan tâm ở nước ta hiện nay

Đẻ đáp ứng yêu cầu cấp bách đó, được sự đồng ý của hội đồng khoa học

và đào tạo trường Cao đẳng nghề Nam Định, Bộ môn Kế toán doanh nghiệp đã biên soạn cuốn Giáo trình Lập và phân tích dự án

Giáo trình Lập và phân tích dự án cung cấp cho sinh viên những kiến thức

về đầu tư, dự án đầu tư, lập, phân tích dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư.Giáo trình Lập và phân tích dự án được sử dụng làm tài liệu giảng dạy cho các giáo viên, sinh viên hệ Cao đẳng chuyên ngành kế toán và các chuyên ngành kinh tế khác Giáo trình này cũng có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu tham khảo cho các giáo viên giảng dạy, cán bộ quản lý kinh tế và quản trị doanh nghiệp ở các cơ quan quản lý và kinh doanh

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc biên tập, nhưng chắc chắn cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của tất cả các bạn đồng nghiệp, của các anh chị em sinh viên và tất cả các bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cuốn sách Tác giả xin chân thành cám ơn tất cả các đồng nghiệp, đã giúp đỡ trong quá trình biên soạn cuốn sách này

Xin chân thành cảm ơn!

Bộ môn Kế toán doanh nghiệp

Trang 3

chương I Một số nội dung cơ bản về đầu tư, dự án đầu tư

I ĐầU TƯ Và ĐầU TƯ PHáT TRIển

1 Khái niệm về đầu tư

Lịch sử phát triển kinh tế thế giới trong những thập niên gần đây đã khẳng

định vai trò của đầu tư đối với sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng Đầu tư cho tương lai đóng vai trò then chốt quyết định vận hội kinh tế của các quốc gia, sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Những nước tiêu dùng phần lớn thu nhập của mình, có mức đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ không cao, ngược lại, tỷ lệ đầu tư tính theo GDP tăng, tốc

độ tăng trưởng kinh tế sẽ cao; Những doanh nghiệp không chú trọng đầu tư sẽ khó thích nghi và phát triển trong kinh tế thị trường, sản phẩm tiêu thụ dễ bị suy yếu, doanh số bán ra bị giảm sút, sản xuất - kinh doanh sẽ trì trệ

Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều cách hiểu (quan niệm) khác nhau về đầu tư Các nhà kinh tế vĩ mô cho rằng: “Đầu tư là đưa thêm một phần sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sản sinh ra thu nhập của quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất đã hao mòn” David Begg, nhà kinh tế học nổi tiếng cho rằng:

“Đầu tư là việc các hãng mua sắm tư liệu sản xuất mới” Xuất phát từ nguồn gốc của đầu tư, SamuelSon chỉ ra rằng: “Đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để tăng tiêu dùng cho tương lai Thay vì ăn nhiều bánh pizza hôm nay, chúng ta hãy xây dựng các lò bánh nướng để có thể sản xuất ra nhiều bánh pizza hơn cho tiêu dùng ngày mai”

Dù được nhìn nhận dưới góc độ nào đi chăng nữa thì công cuộc đầu tư đều phải bỏ vốn ban đầu và mục tiêu của đầu tư là hiệu quả Lợi ích dự kiến thu được của công cuộc đầu tư phải lớn hơn chi phí bỏ ra cho công cuộc đầu tư đó và đạt

được mục tiêu không thể một sớm một chiều mà cần phải có một khoảng thời gian khá dài nhất định

Như vậy, có thể hiểu: “Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội” Thực chất của hoạt động đầu tư là tìm kiếm lợi ích đối với chủ đầu tư và lợi ích kinh tế - xã hội đối với đất nước

Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau:

Tính sinh lời: Thực tiễn cho thấy, chẳng ai bỏ vốn, công sức để thực hiện

đầu tư mà không tính toán đến lợi ích, lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư đó

Trang 4

Những người có ý định đầu tư đều hy vọng rằng, họ sẽ thu được lợi ích lớn hơn chi phí đã bỏ ra Nói cụ thể hơn là họ sẽ nhận được một khoản lợi nhuận từ hoạt

động đầu tư đó Chính niềm hy vọng đó là động lực của đầu tư Sẽ không có hoạt

động đầu tư nếu không thấy có triển vọng sinh lời Nói cách khác, khả năng sinh lời là điều kiện tiên quyết của đầu tư Vì vậy, có thể khẳng định: Tính sinh lời là

đặc trưng hàng đầu của đầu tư

Tính dài hạn: Đầu tư được xem là quá trình tìm kiếm lợi ích Đây là quá

trình cực kỳ gian nan, vất vả với biết bao công việc cụ thể phải tiến hành Mục

đích của đầu tư không thể ngày một, ngày hai là đạt được; Một khối lượng công việc rất lớn trong đầu tư không thể hoàn thành trong một thời gian ngắn Nói một cách khác, hoạt động đầu tư phải diễn ra trong một thời gian khá dài, thậm chí rất dài Vì vậy, tính dài hạn là một đăc trưng của đầu tư

Tính rủi ro: Mục đích chủ yếu của đầu tư là kiếm lời và điều này chỉ có

thể đạt được trong tương lai, có khi là rất xa Điều đó cũng có nghĩa là cái lời của hoạt động đầu tư chưa chắc chắn Chỉ khi nào thu hồi được đủ vốn và có lợi nhuận mới có thể nói rằng chủ đầu tư đã hoàn thành “sứ mệnh” của mình

Việc hoàn thành “sứ mệnh” đó là một việc hết sức khó khăn, bởi trong

“hành trình” đầu tư đã diễn ra biết bao điều bất ngờ, cho dù chủ đầu tư có tài giỏi

và rất nhiều khả năng, kinh nghiệm cũng không thể lường hết được Những bất ngờ đó sẽ dẫn đến rủi ro Đầu tư rất dễ gặp rủi ro, bởi lẽ đây là một lĩnh vực phức tạp, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội và cả tự nhiên

Về chính trị, nếu tình hình không ổn định hoặc chiến tranh xảy ra sẽ gây cản trở công cuộc đầu tư, làm cho hoạt động đầu tư cũng như nhiều hoạt động khác bị ngừng trệ, đổ vỡ

Tình hình kinh tế - xã hội diễn biến không bình thường, giá trị đồng tiền giảm sút, lạm phát ở mức cao, giá cả không ổn định sẽ làm đảo lộn tính toán ban đầu của chủ đầu tư, làm chuyển hoá kết quả đầu tư, từ lãi trở thành lỗ

Hoạt động đầu tư không thể tách rời điều kiện tự nhiên Chính những yếu

tố tự nhiên: Thời tiết, khí hậu, nắng mưa, gió bão có ảnh hưởng và ảnh hưởng rất lớn đến quá trình đầu tư, đặc biệt là những giai đoạn sau và các công cuộc

đầu tư vào ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp khai thác Khi điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho công cuộc đầu tư thành công và ngược lại, sự khắc nghiệt và bất thường về điêù kiện tự nhiên là một khó khăn rất khó vượt qua

để đi đến thành công đối với chủ đầu tư

Có thể nói, rủi ro là “ bạn đường” của đầu tư Chấp nhận rủi ro được xem như một bản năng của nhà đầu tư Vì vậy, rủi ro là một đặc trưng của đầu tư cần

được chú ý

Đầu tư phát triển là loại đầu tư bỏ vốn nhằm tạo ra năng lực sản xuất mới

Trang 5

làm phương tiện sinh lời Những năng lực mới hình thành qua quá trình đầu tư đó là: các công trình xây dựng, các dây chuyền sản xuất, máy móc trang thiết bị bao gồm :

- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Là hoạt động bỏ vốn nhằm phát triển cơ

sở hạ tầng kĩ thuật như điện, nước, cầu, cống, thông tin liên lạc và cơ sở hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện, cơ sở văn hoá, thể thao

- Đầu tư phát triển công nghiệp Là hoạt động bỏ vốn để xây dựng, cải tạo,

2 Vai trò của đầu tư

2.1 Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế

2.1.1 Đầu tư thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

Ngày nay, tăng trưởng và phát triển kinh tế là những khái niệm thường

được nhắc đến, rất gần gũi và thu hút sự quan tâm của mọi người Nhà kinh tế James Tobin đã khẳng định: “ Vấn đề tăng trưởng không phải là cái gì mới mà là

sự cải trang cái mới của một vấn đề cổ xưa, một vấn đề luôn luôn hấp dẫn các nhà kinh tế học và làm cho họ phải bận tâm suy nghĩ: cái hiện tại so với cái tương lai”

Tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng GDP hay sản lượng tiềm năng của một

đất nước, là sự tăng thu nhập quốc dân và sản phẩm bình quân đầu người Phát triển kinh tế có ý nghĩa rộng hơn, bao hàm nhiều điều khác nữa Đó là sự tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bản của nền kinh tế Như vậy, tăng trưởng kinh

tế chỉ là sự thay đổi về lượng, còn phát triển kinh tế là sự thay đổi về lượng và chất của nền kinh tế

Khi thu nhập tính theo đầu người của tất cả dân chúng trong đất nước đều tăng, chúng ta nói nền kinh tế có sự tăng trưởng Chính sự tăng trưởng kinh tế là

điều kiện cần để cải thiện phúc lợi vật chất cho số đông nhân dân Nếu không có

sự tăng trưởng thì một số người vẫn có thể giàu do chiếm đoạt thu nhập và tài sản của người khác Sự tăng trưởng kinh tế mở ra khả năng làm cho một số người giàu lên mà không làm cho những người khác nghèo đi Vì vậy, tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững là phương hướng và mục tiêu phấn đấu của các quốc gia Để đạt được điều đó cần quan tâm giải quyết các nhân tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, vốn và công nghệ Thông qua hoạt động đầu tư, các yếu tố đó sẽ được khai thác và huy động, từ đó tạo ra cơ sở vật chất - kĩ thuật và nguồn lực mới cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Có

Trang 6

thể nói rằng: Đầu tư là con đường đúng đắn, duy nhất để tăng trưởng và phát triển kinh tế

Kinh nghiệm xây dựng và phát triển kinh tế của các nước trên thế giới và ở nước ta cho thấy, điều kiện cơ bản để nền kinh tế có thể “cất cánh” được là phải dành cho đầu tư một tỷ lệ khoảng 20% GDP Đồng thời, cọi trọng hiệu quả của hoạt động đầu tư

2.1.2 Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế ở mỗi quốc gia cơ cấu kinh tế thường được phân chia theo ngành, theo vùng (lãnh thổ) và theo thành phần kinh tế Mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi thành phần kinh tế

đều có tiềm năng và thế mạnh riêng Đầu tư sẽ khai thác tiềm năng thế mạnh đó

và tạo ra sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế, bởi lẽ khi tập trung đầu tư cho một ngành nào đó sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi to lớn cho ngành đó phát triển, nâng cao tỷ trọng sản phẩm trong toàn bộ nền kinh tế

Như vậy, để tạo ra sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế, vấn đề đầu tiên có tính then chốt là phải thực hiện đầu tư và phân bổ vốn một cách hợp lý

Bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta xuất phát từ “ mức sàn ” rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới Vào những năm đầu của thập

kỷ 90, tỷ trọng ngành nông nghiệp nước ta chiếm khoảng 35%, công nghiệp chiếm 22%, còn lại là dịch vụ Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Một trong những mục tiêu được đặt ra là tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: Thời kỳ

đầu xây dựng cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp - dịch vụ, thời kỳ tiếp theo xây dựng cơ cấu kinh tế dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp

Trong những năm gần đây, thông qua nhiều chính sách và biện pháp đầu tư, nền kinh tế nước ta đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần

tỷ trọng ngành công nghiệp và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Với việc mỗi năm dành hơn 40% vốn đầu tư cho công nghiệp, 20% vốn đầu tư cho nông nghiệp, đã tạo ra tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành công nghiệp khoảng 10 - 12%, nông nghiệp khoảng 4 - 5%, dịch vụ khoảng 8 - 9% Đây là yếu tố quan trọng góp phần đưa tỷ trọng ngành công nghiệp hiện nay lên trên 30%, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp xuống còn hơn 20%, còn lại là tỷ trọng của ngành dịch vụ

Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở nước ta, thành phần kinh tế quốc doanh chiếm vị trí độc tôn và tạo ra đại bộ phận sản phẩm quốc nội Với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, thực hiện khuyến khích và tạo

điều kiện đầu tư phát triển kinh tế ngoài quốc doanh, đến nay thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm đạt 7 - 8% và đã đóng góp hơn 60% GDP

Trang 7

Do điều kiện tự nhiên về địa hình, đất đai, thời tiết, khí hậu, và phong tục tập quán đất nước ta được chia thành 3 miền: Bắc - Trung - Nam Mỗi miền có tiềm năng và thế mạnh riêng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần xây dựng những vùng kinh tế trọng điểm tại mỗi miền Miền Bắc, vùng kinh tế trọng điểm bao gồm: Hà Nội - Hải phòng - Quảng ninh -

Hà Đông; Miền Nam bao gồm: TP Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bình Dương - Bình Phước - Bà Rịa - Vũng Tàu; Miền Trung bao gồm: Quảng trị - Huế - Đà Nẳng - Quảng Ngãi Vùng kinh tế trọng điểm được xây dựng ở những địa bàn có nhiều tiềm năng, từ đó có tác dụng thúc đẩy và lôi kéo sự phát triển của các địa bàn khác trong mỗi miền và toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bên cạnh đó, cần chú trọng đầu tư nhằm phát triển các vùng miền núi, biên giới, hải đảo để đảm bảo sự phát triển đồng đều giữa các vùng và mọi miền của

đất nước Để đạt được điều đó, việc phân bổ vốn đầu tư cần thực hiện theo hướng:

- Vốn Ngân sách và vốn ODA do Trung Ương quản lý được phân bổ đều cho các vùng nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

- Vốn Ngân sách do địa phương quản lý dành 30% cho vùng kinh tế trọng

điểm, 70% dành cho các vùng khác

- Vốn của doanh nghiệp, của nhân dân và vốn FDI đầu tư vào các vùng kinh tế trọng điểm chiếm hơn 30%

2.1.3 Đầu tư tăng cường khả năng khoa học của đất nước

Bước sang thế kỉ XX, cách mạng khoa học - kĩ thuật diễn ra như vũ bão và trở thành động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của các quốc gia Tuy nhiên, công nghệ mà nhân loại đã và đang sử dụng cho đến nay là công nghệ truyền thống dựa trên kĩ thuật cơ khí Nền công nghệ này đã và đang vấp phải những giới hạn to lớn về nguyên liệu, môi trường và thị trường Điều này rất dễ dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu Để khắc phục tình trạng này, đã xuất hiện xu hướng chuyển sang công nghệ mới sử dụng các loại máy tính và người máy công nghiệp, công nghệ tin học, công nghệ sinh học

Như vậy là, ứng dụng khoa học và phát triển công nghệ là một yếu tố, một cơ sở quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đây cũng là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia Việc nâng cao và

đổi mới cơ cấu công nghệ một mặt phải xuất phát từ phục vụ cho những yêu cầu

mà chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặt ra, mặt khác nó cũng tác động trở lại tốc độ

và qui mô của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Hiện nay ở nước ta, trình độ công nghệ đang là vấn đề bức xúc cần được quan tâm So sánh công nghệ chính đang được sử dụng ở nước ta với thế giới cho thấy: công nghệ lạc hậu ở nước ta chiếm 52%, công nghệ trung bình chiếm 38%, còn lại 10% là công nghệ hiện đại Trước tình hình đó, vấn đề đặt ra là cần huy

động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển công nghệ Vốn cho phát triển công

Trang 8

nghệ đang là vấn đề cấp bách đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước nghèo như Việt Nam Theo kinh nghiệm của các nước đang phát triển thì vốn dành cho khoa học - công nghệ chiếm khoảng 3% GDP, trong khi đó ở nước ta hiện nay mới đạt khoảng 1% GDP Không có vốn hoặc thiếu vốn, chúng ta sẽ không có điều kiện để nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học, áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất, và điều tất yếu sẽ đến, đó là tính độc lập, tự chủ và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế sẽ suy giảm

2.2 Vai trò của đầu tư đối với doanh nghiệp

2.2.1 Đầu tư đối với sự hình thành doanh nghiệp

Doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân hoạt

động sản xuất kinh doanh trên thị trường vì mục đích tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị doanh nghiệp và phát triển

Trong nền kinh tế, các doanh nghiệp được xem là những “tế bào” chủ yếu nhất Chính sự ra đời và hoạt động của các doanh nghiệp tạo ra sức sống cho nền kinh tế Khi có nhiều doanh nghiệp ra đời, tồn tại và phát triển sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo; ngược lại, số lượng các doanh nghiệp giảm sút và hoạt

động kém hiệu quả, nền kinh tế sẽ trì trệ, suy thoái

Để hình thành doanh nghiệp có nhiều điều kiện, trong đó điều kiện quan trọng phải kể đến là về vốn đầu tư Nhờ có vốn đầu tư, những nhà xưởng, trang thiết bị được hình thành, tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật cho doanh nghiệp hoạt

động Mặt khác, vốn đầu tư còn được sử dụng để mua sắm nguyên vật liệu, trả lương cho người lao động trong chu kỳ sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp

Thực tiễn ra đời và hoạt động của các doanh nghiệp nước ta trong thời gian qua đã khẳng định vai trò của vốn đầu tư Không có vốn đầu tư đã trở thành lực cản cho sự ra đời của khá nhiều doanh nghiệp Mặt khác, nhiều doanh nghiệp

ra đời, song do hạn chế về vốn nên không có khả năng sử dụng công nghệ - thiết

bị hiện đại, dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh không cao, thiếu sức cạnh tranh và khó đứng vững trên thương trường Một số doanh nghiệp khi ra

đời tuy có trang thiết bị hiện đại, song lại thiếu vốn lưu động dẫn đến tình trạng sản xuất cầm chừng hoặc bị gián đoạn

Từ những vấn đề trên, có thể nói rằng, không có vốn để thực hiện đầu tư, không có sự ra đời của các doanh nghiệp và qui mô vốn đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến qui mô và chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp Nói một cách ngắn gọn, đầu tư có ảnh hưỏng quyết định đến sự ra đời và tồn tại của các doanh nghiệp

2.2.2 Đầu tư đối với quá trình phát triển của doanh nghiệp

Hoạt động đầu tư có ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Từ tình trạng hoạt động sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ, các doanh nghiệp đã nảy

Trang 9

sinh những quyết định đầu tư để thích nghi và phát triển Chẳng hạn, khi thị trường tiêu thụ bị suy yếu, doanh số bán ra bị giảm sút, các doanh nghiệp phải đa dạng hoá sản phẩm và dịch vị của mình Tức là, thực hiện đầu tư cho việc đa dạng hoá gắn liền với một định hướng về thị trường tiêu thụ mới

Cạnh tranh là điều bình thường trong nền kinh tế thị trường Với sự mở cửa các nền kinh tế và sự quốc tế hoá ngày càng tăng nhanh, cạnh tranh đã phát triển với một qui mô chưa từng thấy Chính sự cạnh tranh gay gắt này đã biến thương trường thành chiến trường Kĩ thuật - công nghệ đã trở thành vũ khí sống còn trong việc cạnh tranh Nó dẫn đến những thay đổi sâu xa về điều kiện sản xuất, khống chế và hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm

Lịch sử kinh tế thế giới, đặc biệt là những năm gần đây cho thấy làn sóng

đầu tư vào kĩ thuật - công nghệ ngày càng dâng cao mạnh mẽ Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ nhằm mở rộng qui mô sản xuất và tăng cường sức mạnh cạnh tranh luôn luôn là một nhu cầu bức xúc đối với các doanh nghiệp trong nền kinh

tế thị trường

Như vậy là, nhờ có đầu tư, công nghệ - thiết bị của các doanh nghiệp được

đổi mới, chất lượng sản phẩm được nâng cao, sản phẩm ngày càng phong phú

đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, từ đó tăng nhanh khả năng tiêu thụ

và mang lại lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp Điều đó khẳng định: Đầu tư

đóng vai tró cực kì quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp

Khi chuyển sang nến kinh tế thị trường, hầu hết các doanh nghiệp nước ta gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất - kinh doanh Có nhiều nguyên nhân, song có một nguyên nhân quan trọng là máy móc thiết bị Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, phần lớn các máy móc thiết bị của các doanh nghiệp hiện nay được sản xuất từ thập kỉ 50, tỉ lệ hao mòn bình quân trên cả nước là 59,3% ở nhiều nước, khi máy móc thiết bị hao mòn khoảng 70% là phải được thanh lý, trong khi ở nước ta nhiều thiết bị đã khấu hao hết vẫn còn sử dụng

Công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kĩ đã đưa đến hệ quả là hàng hoá sản xuất

từ các doanh nghiệp trong nước có giá thành cao, chất lượng thấp, chủng loại kém phong phú, mẫu mã chậm thay đổi để phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng

Do đó, hàng nội mất uy tín, không cạnh tranh được với hàng ngoại ngay tại thị trường ở trong nước, sức sản xuất trong nước giảm sút và trì trệ và đây cũng là một nguyên nhân gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nước ta

Thực trạng hoạt động sản xuất - kinh doanh đã đặt ra vấn đề cần đầu tư

đổi mới công nghệ - thiết bị cho hàng ngàn doanh nghiệp nước ta Trong bối cảnh hiện nay, khi nguồn vốn Ngân sách và nguồn vốn tự có còn rất hạn chế thì nguồn vốn chủ yếu để thực hiện đổi mới công nghệ và thiết bị cho các doanh nghiệp là nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại Vì vậy, đầu tư đổi

Trang 10

mới công nghệ - thiết bị vừa là mối quan tâm của các doanh nghiệp vừa là mối quan tâm của các ngân hàng thương mại Thực hiện tốt hoạt động này có tác

động rất lớn đến sự tồn tại, phát triển của các doanh nghiệp và bản thân ngân hàng

3 Các nguồn vốn cho đầu tư

Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước như vốn Ngân sách, vốn tự có, vốn tín dụng Ngân hàng

Đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài như vốn đầu tư trực tiếp, vốn vay, viện trợ

II Dự áN ĐầU TƯ

1 Khái niệm dự án đầu tư

Trong mục I, chúng ta đã nghiên cứu về đầu tư Giữa đầu tư và dự án có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Đây là mối quan hệ nhân quả Đầu tư phát triển

là nguồn gốc ra đời của các dự án Ngược lại, việc xây dựng và thực hiện các dự

án đầu tư sẽ kiểm nghiệm tính đúng đắn và hiệu quả của quyết định đầu tư

Thực tiễn đã chứng minh rằng, muốn tối đa hoá hiệu quả của đầu tư thì trước khi ra quyết định đầu tư nhất thiết phải có dự án đầu tư Nói khác đi, đầu tư phải được tiến hành trên cơ sở các dự án được soạn thảo và xem xét một cách kĩ lưỡng Vì vậy, đầu tư theo dự án trở thành xu thế phổ biến trong nền kinh tế thị trường

Trong nhiều năm qua, cách tiếp cận đầu tư bằng dự án đã đứng vững được như một phương pháp đã tôi luyện để quản lý việc sử dụng các nguồn lực nhằm

đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội quan trọng

Tuy nhiên, hiện nay chưa có một định nghĩa nào thật hoàn chỉnh về dự án

đầu tư Dự án đầu tư được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Theo thời gian, quan niệm về dự án ngày càng phát triển Có người coi dự án là cách sử dụng các nguồn lực vào mục đích sản xuất nhất định; Ngân hàng Thế giới, một tổ chức tài chính quốc tế lớn nhất và có vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn, viện trợ kinh tế - kỹ thuật, thúc đẩy đầu tư vào các nước đang phát triển thông qua các chương trình và dự án đầu tư đã xem dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động

và chi phí có liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt những mục tiêu nào

đó trong một thời gian nhất định; Cũng có người cho rằng: dự án đầu tư là tập hợp các đối tượng được hình thành và hoạt động theo một kế hoạch cụ thể để đạt

được mục tiêu nhất định (các lợi ích) trong một khoảng thời gian nhất định; Với tư cách là người đầu tư, mối quan tâm hàng đầu và mục đích chủ yếu của chủ

đầu tư là kiếm lời Đây là một quá trình tìm kiếm rất khó khăn, vất vả Để đạt

được điều này, nhà đầu tư phải nghiên cứu chi tiết, tỷ mỉ tất cả những vấn đề có liên quan, ảnh hưởng đến tính sinh lời của công cuộc đầu tư đó Tập hợp những

Trang 11

kết quả nghiên cứu này bằng văn bản được gọi là dự án đầu tư

Dù được xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư cũng bao gồm các thành phần chính như sau:

- Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án Cụ thể là khi thực hiện,

dự án sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho bản thân chủ

đầu tư nói riêng Những mục tiêu này cần được biểu hiện bằng kết quả cụ thể như tạo nguồn thu cho ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động, mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư

- Các hoạt động của dự án Dự án phải nêu rõ những hành động cụ thể phải thực hiện, địa điểm diễn ra các hoạt động của dự án, thời gian cần thiết để hoàn thành, và các bộ phận có trách nhiệm thực hiện những hành động đó Cần lưu ý rằng các hoạt động đó có mối quan hệ với nhau vì tất cả đều hướng tới sự thành công của dự án và các hoạt động đó diễn ra trong một môi trường không chắc chắn Môi trường dự án không phải là môi trường hiện tại mà là môi trường tương lai

- Các nguồn lực Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực về vật chất, tài chính, con người Vì vậy, phải nêu rõ các nguồn lực cần thiết cho dự án Tổng hợp các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho

dự án Mỗi dự án bao giờ cũng được xây dựng và thực hiện trong sự giới hạn về nguồn lực

Tóm lại, mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về dự án, song quan niệm

về dự án đầu tư dưới giác độ của nhà đầu tư sẽ được sử dụng nhằm đáp ứng cho mục đích chủ yếu là tiến hành thẩm định các dự án đầu tư Theo quan niệm này,

dự án đầu tư được hiểu là tập hợp kết quả nghiên cứu các nội dung có liên quan,

ảnh hưởng đến sự vận hành và tính sinh lời của công cuộc đầu tư

2 Tại sao phải tiến hành hoạt động đầu tư theo dự án

Dự án đầu tư là “sản phẩm” đem lại cho công cuộc đầu tư một hiệu quả như mong muốn Chính nguồn gốc ra đời của dự án đã cho thấy một cách khái quát vai trò của dự án đối với sự phát triển Dự án đầu tư tạo cơ sở vật chất kỹ - thuật nguồn lực mới cho sự phát triển, là phương tiện chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế, giải quyết quan hệ cung - cầu về vốn, về sản phẩm dịch vụ trên thị trường, góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, cải tiến bộ mặt kinh tế xã hội cho đất nước Vai trò cụ thể của dự án

đối với chủ đầu tư, nhà nước và nhà tài trợ được thể hiện ở những điểm chính như sau:

Trước hết đối với chủ đầu tư: Dự án là căn cứ quan trọng để quyết định sự

bỏ vốn đầu tư Dự án đầu tư được soạn thảo theo một quy trình chặt chẽ trên cơ

sở nghiên cứu đầy đủ các mặt về thị trường, kỹ thuật, tài chính, tổ chức quản lý

do đó, chủ đầu tư sẽ yên tâm hơn trong việc bỏ vốn ra để thực hiện dự án vì có

Trang 12

khả năng mang lại lợi nhuận và ít rủi ro Mặt khác, vốn đầu tư của một dự án thường rất lớn và để san xẻ rủi ro (nếu có) nên ngoài phần vốn tự có, để thực hiện các dự án chủ đầu tư còn cần đến nguồn vốn vay Dự án là một phương tiện để thuyết phục các tổ chức tài chính - tín dụng xem xét tài trợ cho vay vốn Dự án cũng là cơ sở để chủ đầu tư xây dựng kế hoạch đầu tư, theo dõi đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện đầu tư Đó là những kế hoạch mua sắm máy móc thiết bị,

kế hoạch thi công xây lắp, kế hoạch sản xuất kinh doanh Ngoài ra, dự án còn

là căn cứ để đánh giá và có điều chỉnh kịp thời những tồn tại và vướng mắc trong quá trình thực hiện đầu tư và khai thác công trình

Đối với Nhà nước, dự án đầu tư là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước xem xét, phê duyệt cấp vốn và cấp giấy phép đầu tư Vốn ngân sách nhà nước sử dụng để đầu tư phát triển theo kế hoạch thông qua các dự án đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, các dự án đầu tư quan trọng của quốc gia trong từng thời kỳ (điện, xi măng, sắt, thép ) Dự án sẽ được phê duyệt, cấp giấy phép đầu tư khi mục tiêu của dự án phù hợp với đường lối, chính sách phát triển kinh tế của đất nước, hoạt

động của dự án không gây ảnh hưởng đến môi trường và mang lại hiệu quả kinh

tế - xã hội Khi dự án đã được phê chuẩn thì các bên liên quan đến dự án phải tuân thủ theo nội dung yêu cầu của dự án Nếu nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên liên quan thì dự án là một trong những cơ sở pháp lý để xem xét, giải quyết

Đối với các nhà tài trợ Khi tiếp nhận các dự án xin tài trợ vốn của chủ đầu tư, các tổ chức tài chính - tín dụng sẽ xem xét các nội dung cụ thể của dự án, đặc biệt là về mặt kinh tế - tài chính để đi đến quyết định có đầu tư hay không đầu tư cho các dự án đó Dự án chỉ được đầu tư vốn nếu mang tính khả thi theo quan

điểm của nhà tài trợ và ngược lại Khi chấp nhận đầu tư, dự án là cơ sở để các tổ chức này lập kế hoạch cấp vốn hoặc cho vay theo mức độ hoàn thành kế hoạch

đầu tư, đồng thời lập kế hoạch thu hồi vốn vay

3 Phân loại dự án đầu tư

3.1 Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư

* Đối với dự án đầu tư trong nước: Để tiến hành quản lý và phân cấp

quản lý, tuỳ theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, các dự án đầu tư trong nước được phân theo 3 nhóm A, B và C Có hai tiêu thức được dùng để phân nhóm là dự án thuộc ngành kinh tế nào?; Dự án có tổng mức đầu tư lớn hay nhỏ

? Trong các nhóm thì nhóm A là quan trọng nhất, phức tạp nhất, còn nhóm C là

ít quan trọng, ít phức tạp hơn cả Tổng mức vốn nêu trên bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, thềm lục địa, vùng trời (nếu có)

* Đối với các dự án đầu tư nước ngoài: gồm 3 loại dự án đầu tư nhóm A,

B và loại được phân cấp cho địa phương

Trang 13

3.2 Phân theo trình tự lập và trình duyệt dự án

Theo trình tự (hoặc theo bước) lập và trình duyệt, các dự án đầu tư được phân ra hai loại:

Nghiên cứu tiền khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo

nghiên cứu tiền khả thi

Nghiên cứu khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên

cứu khả thi

3.3 Theo nguồn vốn

Dự án đầu tư bằng vốn trong nước (vốn cấp phát, tín dụng, các hình thức huy động khác) và dự án đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài (nguồn viện trợ nước ngoài ODA và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI)

4 Chu kỳ của một dự án đầu tư

Một công cuộc đầu tư được xem như bắt đầu từ ý tưởng về dự án đầu tư Bất kỳ một dự án đầu tư nào cũng được hình thành từ một ý tưởng ban đầu của nhà đầu tư Tuy ý tưởng chỉ là một sự “hình dung” mong muốn của nhà đầu tư, nhưng cũng phải dựa trên những căn cứ cụ thể, vì nếu không ý tưởng đó sẽ trở thành viễn tưởng

Từ ý tưởng của dự án đến đến việc xây dựng, thực hiện và kết thúc dự án

là cả một quá trình Quá trình này thường được chia làm 3 giai đoạn và trong mỗi giai đoạn lại gồm rất nhiều công việc diễn ra vừa tuần tự vừa đan xen lẫn nhau Sau đây là các giai đoạn với các bước và công việc chính của một chu kỳ

dự án:

Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư

Giai đoạn này gồm những bước chính như sau:

- Nghiên cứu cơ hội đầu tư

- Nghiên cứu tiền khả thi

- Nghiên cứu khả thi

- Thẩm định để ra quyết định đầu tư

Nghiên cứu cơ hội đầu tư là nghiên cứu những khả năng, những điều kiện

để chủ đầu tư có thể tiến hành đầu tư Mục đích của nó là tìm ra được cơ hội đầu tư phù hợp nhất đối với chủ đầu tư Việc nghiên cứu cơ hội đầu tư có tác dụng xác định một cách nhanh chóng và ít tốn kém nhưng lại dễ thấy về các khả năng

đầu tư trên cơ sở những thông tin cơ bản đưa ra đủ để làm người có khả năng đầu tư cân nhắc, xem xét và đi đến quyết định có triển khai tiếp sang giai đoạn nghiên cứu sau hay không

Nghiên cứu tiền khả thi là sự lựa chọn sơ bộ cơ hội đầu tư Mặc dù mới chỉ

Trang 14

là sự lựa chọn sơ bộ cơ hội đầu tư, nhưng không vì thế mà chủ đầu tư coi nhẹ, giảm bớt nội dung nghiên cứu Nội dung nghiên cứu tiền khả thi là tất cả những vấn đề có liên quan ảnh hưởng đến công cuộc đầu tư như thị trường, tài chính, kinh tế - kỹ thuật Tuy nhiên, vì là sự lựa chọn sơ bộ cho nên chủ đầu tư chưa nghiên cứu những vấn đề đó một cách chi tiết tỷ mỉ Việc nghiên cứu những vấn

đề đó ở mức độ trung bình và trong trạng thái tĩnh Tức là, chưa đề cập đến sự tác

động của các yêú tố bất định và các kết quả tính toán chỉ là những ước tính sơ

bộ

Nghiên cứu khả thi là sự lựa chọn cuối cùng cơ hội đầu tư nên chủ đầu tư phải tiến hành nghiên cứu hết sức chi tiết, tỉ mỉ, toàn diện, triệt để những nội dung về thị trường, tài chính, kinh tế, kỹ thuật có ảnh hưởng đến công cuộc

đầu tư Điều đáng chú ý là nghiên cứu khả thi diễn ra trong trạng thái động, tức

là, có tính đến những yếu tố bất định có thể xảy ra theo từng nội dung cụ thể

Như vậy, về mặt nội dung, có thể coi nghiên cứu tiền khả thi và khả thi là như nhau Giữa nghiên cứu tiền khả thi và khả thi chỉ khác nhau về tính chất, mức độ nông, sâu của việc nghiên cứu

Thẩm định để ra quyết định đầu tư Trên cơ sở kết quả nghiên cứu khả thi

sẽ tổ chức thẩm định để đi đến quyết định có thực hiện đầu tư hay không

Giai đoạn 2: Thực hiện đầu tư

Đây là giai đoạn tiến hành các hoạt động nhằm tạo nên cơ sở vật chất - kỹ thuật, tiền đề cho dự án đi vào giai đoạn sau cùng Giai đoạn này gồm những bước chính như:

- Đàm phán ký kết các hợp đồng

- Thiết kế và lập dự toán thi công công trình

- Thi công xây lắp công trình

- Vận hành chạy thử nghiệm thu công trình

Trong giai đoạn này vốn đầu tư được chi ra rất lớn và chưa sinh lời Thời gian càng kéo dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn và có thể xảy ra các tổn thất đối với thiết bị chưa hoặc đang được thi công lắp đặt, các công trình

đang được xây dựng dở dang Thế nhưng, không thể tuỳ tiện rút ngắn thời gian thực hiện đầu tư vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thi công xây dựng - lắp

đặt công trình, gây ảnh hưởng xấu đến giai đoạn vận hành, khai thác Như vậy là, vấn đề đảm bảo chất lượng xây dựng - lắp đặt công trình và thời gian thi công là quan trọng hơn cả trong giai đoạn thực hiện đầu tư

Giai đoạn 3: Vận hành kết quả đầu tư

Đây là giai đoạn cuối cùng của dự án đầu tư Thực chất của giai đoạn này

là đưa công trình đã được xây dựng, lắp đặt xong vào vận hành, khai thác Tức

là, thực hiện tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu của dự án

Trang 15

đề ra, trong đó mục tiêu chủ yếu là thu hồi vốn và có lợi nhuận

ở những năm đầu, khi dự án mới đi vào hoạt động, do tình hình chưa ổn

định nên công suất thực tế đạt được không cao Vì vậy, ở năm thứ nhất, công suất thực tế chỉ nên tính khoảng 50% công suất thiết kế, năm thứ hai ở mức cao hơn, khoảng 75% Công suất thiết kế thực tế đạt được ở mức cao nhất thường là

từ năm thứ 3 trở đi và khi đó cũng chỉ nên tính ở mức xấp xỉ 90% công suất thiết

kế

Tóm lại, chu kỳ của một dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà

một dự án phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mớ chỉ là ý tưởng cho đến khi dự án

được hoàn thành chấm dứt hoạt động

III Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của môn học

1 Đối tượng nghiên cứu

Lập và phân tích dự án là một bộ môn khoa học kinh tế nghiên cứu

những vấn đề phương pháp luận và phương pháp cụ thể về lập dự án và phân tích các dự án đầu tư

Nghiên cứu các vấn đề phương pháp luận và phân tích dự án đầu tư, môn học lập và phân tích dự án đầu tư bắt đầu từ việc xem xét những vấn đề lý luận chung về đầu tư, đầu tư phát triển và về dự án đầu tư Trên cơ sở đó, đi sâu xem xét trình tự và các nội dung cần nghiên cứu trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư; xem xét công tác tổ chức soạn thảo dự án; xem xét nội dung, phương pháp phân tích, đánh giá các khía cạnh của dự án ở giai đoạn nghiên cứu khả thi: nghiên cứu các điều kiện vĩ mô ảnh hưởng đến sự hình thành và thực hiện dự án

đầu tư (khung cảnh đầu tư); nghiên cứu khía cạnh thị trường; khía cạnh kỹ thuật của dự án đầu tư; nghiên cứu khía cạnh tổ chức quản lý và nhân sự của dự án đầu tư; nghiên cứu khía cạnh tài chính; nghiên cứu khía cạnh kinh tế xã-hội của dự

án đầu tư Với việc phát triển của công nghệ thông tin, môn học lập dự án đầu tư còn nghiên cứu ứng dụng phần mềm tin học Excel trong việc tính toán các chỉ tiêu khi soạn thảo dự án đầu tư phát triển

2 Nhiệm vụ nghiên cứu của môn học

- Làm rõ những vấn đề lý luận chung về đầu tư, đầu tư phát triển, về dự án

đầu tư

- Làm cơ sở khoa học cho việc phải đầu tư theo dự án

- Làm rõ trình tự, nội dung nghiên cứu và công tác tổ chức soạn thảo dự

án

- Làm rõ cơ sở khoa học và nội dung của phương pháp phân tích, tính toán các chỉ tiêu phản ánh khía cạnh thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án, khía cạnh kỹ thuật, hình thức tổ chức quản lý và nhân sự, tài chính, kinh tế xã hội của

các dự án đầu tư

Trang 16

- Vận dụng các vấn đề lý luận và phương pháp luận về lập dự án đầu tư vào

điều kiện cụ thể ở Việt Nam

Trên cơ sở nghiên cứu đối tượng và thực hiện các nhiệm vụ trên đây, môn học Lập và phân tích dự án được sử dụng để giảng dạy cho sinh viên sau khi đã

được trang bị kiến thức kinh tế đại cương

IV Phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu

Là môn khoa học kinh tế, cho nên cũng như các môn khoa học kinh tế khác, môn học Lập và phân tích dự án coi chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở phương pháp luận và sử dụng các phương pháp của thống kê học, toán kinh tế, phân tích hệ thống Trong quá trình nghiên cứu đối tượng và thực hiện các nhiệm vụ của mình

2 Nội dung nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề về phương pháp luận, môn học lập và phân tích dự

án tập trung xem xét các vấn đề sau đây:

- Một số vấn đề lý luận chung về đầu tư, dự án đầu tư, đối tượng và nhiệm

vụ nghiên cứu của môn học

- Trình tự, nội dung nghiên cứu và công tác tổ chức soạn thảo một dự án

đầu tư

- Nghiên cứu khía cạnh thị trường của dự án đầu tư

- Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật trong dự án đầu tư

- Nghiên cứu khía cạnh tài chính của dự án đầu tư

- Nghiên cứu khía cạnh kinh tế xã hội và tác động về môi trường của dự án

đầu tư

- ứng dụng Excel trong lập dự án đầu tư

- Giáo trình còn đề cập đến một số vấn đề về quản lý thực hiện dự án đầu tư cho sinh viên nghiên cứu và học tập

Trang 17

Câu hỏi

1 Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển?

2 Vai trò của đầu tư và các nguồn vốn cho đầu tư?

3 Trình bày khái niệm dự án đầu tư?

4 Tại sao phải tiến hành các hoạt động đầu tư theo dự án?

5 Khái niệm chu kỳ dự án đầu tư, hãy trình bày các giai đoạn của chu kỳ dự

án đầu tư Phân tích mối quan hệ giữa các giai đoạn trong chu kỳ dự án

đầu tư?

6 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của môn học Lập và phân tích dự án?

7 Phương pháp và nội dung nghiên cứu của môn học Lập và phân tích dự

án?

Trang 18

Chương II Trình tự nội dung nghiên cứu và công tác tổ

chức soạn thảo một dự án đầu tư

I Trình tự và nội dung nghiên cứu để soạn thảo dự án

Cần phân biệt 2 loại cơ hội đầu tư tuỳ thuộc vào phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư và phân cấp quản lý đầu tư Đó là :

+ Cơ hội đầu tư chung cho đất nước, cho địa phương, cho ngành kinh tế -

kỹ thuật hoặc cho một loại tài nguyên thiên nhiên của đất nước Đối với loại cơ hội đầu tư này, thường có nhiều dự án

+ Cơ hội đầu tư cụ thể cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ Trong trường hợp này, mỗi cơ hội đầu tư thường sẽ có một dự án đầu tư

1.2 Căn cứ phát hiện và đánh giá các cơ hội đầu tư

Khi nghiên cứu để phát hiện các cơ hội đầu tư phải xuất phát từ những căn

cứ sau đây:

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ của ngành, của cơ sở Đây là những định hướng lâu dài cho sự phát triển của đất nước và của cơ sở Mọi công cuộc đầu tư không xuất phát từ những căn cứ này sẽ không có tương lai và tất nhiên sẽ không chấp nhận

- Nhu cầu trong nước và trên thế giới về những hoạt động dịch vụ cụ thể

Đây là nhân tố quyết định sự hình thành và hoạt động của các dự án đầu tư Không có nhu cầu thì sự hoạt động của các dự án không để làm gì mà chỉ dẫn

đến sự lãng phí tiền của và công sức của xã hội, ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành và hoạt động của các dự án có nhu cầu Nhu cầu ở đây trong điều kiện nền

Trang 19

kinh tế mở, bao gồm cả nhu cầu trong nước và nhu cầu trên thế giới, trong đó nhu cầu trên phạm vi thế giới lớn hơn rất nhiều so với nhu cầu trong nước Trong hoạt động đầu tư luôn chú ý tận dụng cơ hội để tham gia vào phân công lao động quốc tế, để có thị trường ở nước ngoài

- Tình hình cung cấp những mặt hàng hoặc hoạt động dịch vụ trên đây ở trong nước và trên thế giới còn chỗ trống để dự án chiếm lĩnh trong một thời gian dài Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều tất nhiên Tuy nhiên, ở những lĩnh vực hoạt động cung chưa đáp ứng cầu thì sự cạnh tranh trong tiêu thụ sản phẩm và tiến hành các hoạt động dịch vụ không là vấn đề phải quan tâm nhiều Do đó, tìm chỗ trống trên thị trường để tiến hành các hoạt động đầu tư sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ sản phẩm không gặp phải sự cạnh tranh gay gắt với các cơ sở khác Điều này cho phép giảm chi phí tiêu thụ sản phẩm, tăng năng suất lao động, nhanh chóng thu hồi đủ vốn đã bỏ ra

Một điều cần lưu ý là do vốn chi cho một công cuộc đầu tư phát triển rất lớn, các thành quả của các công cuộc đầu tư phát triển thường rất lớn, các thành quả của các công cuộc đầu tư cần phải hoạt động trong một thời gian dài mới thu hồi đủ vốn đã bỏ ra Vì vậy, "chỗ trống" trong thị trường tiêu thụ sản phẩm của

dự án đầu tư cũng phải tồn tại trong một thời gian dài đủ để dự án hoạt động hết

đời và chủ đầu tư tiêu thụ hết sản phẩm của dự án

- Tiềm năng sẵn có cần và có thể khai thác về vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động để thực hiện dự án của đất nước, của địa phương, của ngành hoặc của các cơ sở Những lợi thế so sánh nếu thực hiện đầu tư so với nước khác, địa phương khác hoặc cơ sở khác

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, có lợi thế so sánh sẽ đảm bảo khả năng thắng đối thủ cạnh tranh rất nhiều Vì vậy, khi dự kiến tiến hành các công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, không thể không chú ý đến vấn đề lợi thế so sánh Nếu tự nó không có lợi thế so sánh (tài nguyên thuộc loại khan hiếm, lao động vào loại có giá rẻ, vị trí rất thuận lợi cho tiêu thụ sản phẩm ) thì phải dự kiến phương án tạo ra lợi thế so sánh như đầu tư sang các nước khác có nhiều lợi thế so sánh hơn trong nước hoặc hơn ở nước dự kiến ban

đầu sẽ đầu tư (không bị đánh thuế xuất khẩu hàng hoá của dự án, nhập khẩu thiết

bị để thực hiện dự án - chứ không phải để bán lại kiếm lời - khai thác tài nguyên khan hiếm, ), hoặc đề ra các biện pháp để tạo lợi thế so sánh như sử dụng vật liệu mới, vật liệu khai thác tại chỗ để giảm chi phí đầu vào, tận dụng lao động dư thừa giá rẻ của địa phương (một phần hoặc bộ phận thời gian lao động của họ) để khai thác nguyên vật liệu tại chỗ vừa làm giảm giá chi phí công nhân vừa giảm giá chi phí vận chuyển cả các đầu vào thường xuyên

- Những kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư Đây là tiêu chuẩn tổng hợp để đánh giá tính khả thi của toàn bộ dự án đầu tư Những kết quả

và hiệu quả này phải lớn hơn hoặc chí ít cũng phải bằng nếu đầu tư vào dự án

Trang 20

khác hoặc bằng định mức thì cơ hội đầu tư mới được chấp nhận để chuyển tiếp sang giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi hoặc khả thi

2 Nghiên cứu tiền khả thi

2.1 Mục đích

Đây là bước nghiên cứu tiếp theo của các cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đã được lựa chọn có quy mô đầu tư lớn, phức tạp về mặt kỹ thuật, thời gian thu hồi vốn lâu, có nhiều yếu tố bất định tác động Bước này nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh mà khi xem xét cơ hội đầu tư còn thấy phân vân chưa chắc chắn, nhằm tiếp tục lựa chọn, sàng lọc các cơ hội đầu tư (đã được xác định ở cấp độ ngành, vùng hoặc cả nước) hoặc để khẳng định lại cơ hội đầu tư đã được lựa chọn có đảm bảo tính khả thi hay không

Mục đích nghiên cứu tiền khả thi nhằm loại bỏ các dự án bấp bênh (về thị trường, về kỹ thuật), những dự án mà kinh phí đầu tư quá lớn, mức sinh lợi nhỏ, hoặc không thuộc loại ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hoặc chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh Nhờ đó các chủ đầu tư có thể hoặc loại bỏ hẳn dự án để khỏi tốn thời gian và kinh phí, hoặc tạm xếp dự án lại chờ cơ hội thuận lợi hơn

Đối với các cơ hội đầu tư quy mô nhỏ, không phức tạp về mặt kỹ thuật và triển vọng đem lại hiệu quả rõ ràng thì có thể bỏ qua giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi

2.2 Nội dung nghiên cứu tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau đây:

+ Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư, các điều kiện thuận lợi và khó khăn

+ Dự kiến quy mô đầu tư, hình thức đầu tư

+ Chọn khu vực địa điểm xây dựng và dự kiến diện tích sử dụng trên cơ sở giảm tới mức tối đa việc sử dụng đất và những ảnh hưởng về môi trường, xã hội

+ Tính toán sơ bộ hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế xã hội của dự án

+ Xác định tính độc lập khi vận hành, khai thác của các dự án thành phần hoặc tiểu dự án

Trang 21

Đặc điểm nghiên cứu các vấn đề trên ở giai đoạn này là chưa chi tiết, xem xét ở trạng thái tĩnh, ở mức trung bình mọi đầu vào, đầu ra, mọi khía cạnh kỹ thuật, tài chính kinh tế của cơ hội đầu tư và toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư vận hành kết quả đầu tư Do đó độ chính xác chưa cao

Đối với các khoản chi phí đầu tư nhỏ có thể tính nhanh chóng Chẳng hạn

dự tính vốn lưu động cho một chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp bằng cách chia tổng doanh thu bình quân năm cho số chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp trong năm Đối với chi phí bảo hiểm, thuế: ước tính theo tỷ lệ phần trăm so với doanh thu, chi phí lắp đặt thiết bị ước tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị công trình hoặc thiết bị (các tỷ lệ này sẽ khác nhau đối với các dự án khác nhau) Đối với các chi phí đầu tư lớn như giá trị công trình xây dựng, giá trị thiết bị và công nghệ phải tính toán chi tiết hơn

Sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu tiền khả thi là Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi

3 Nghiên cứu khả thi

Đây là bước sàng lọc lần cuối cùng để lựa chọn được dự án tối ưu ở giai

đoạn này phải khẳng định cơ hội đầu tư có khả thi hay không? Có vững chắc, hiệu quả hay không? ở bước nghiên cứu này, nội dung nghiên cứu cũng tương tự như giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, nhưng khác nhau ở mức độ chi tiết hơn, chính xác hơn Mọi khía cạnh nghiên cứu đều được xem xét ở trạng thái động, tức là có tính đến các yếu tố bất định có thể xảy ra theo từng nội dung nghiên cứu Xem xét sự vững chắc hay không của dự án trong điều kiện có sự tác động của các yếu tố bất định, hoặc cần có các biện pháp tác động gì để đảm bảo cho

dự án có hiệu quả

Tất cả ba giai đoạn nghiên cứu nói trên phải được tiến hành đối với các dự kiến đầu tư lớn nhằm đảm bảo từng bước phân tích sâu hơn, đầy đủ và chi tiết hơn, phát hiện và khắc phục dần những sai sót ở các giai đoạn nghiên cứu trước thông qua việc tính toán lại, đối chiếu các dữ kiện, các thông số, thông tin thu thập được qua mỗi giai đoạn Điều này sẽ đảm bảo cho các kết quả nghiên cứu khả thi đạt được độ chính xác cao Đối với các dự án đầu tư nhỏ, quá trình nghiên cứu có thể gom lại làm một bước

3.1 Bản chất và mục đích của nghiên cứu khả thi.

a Bản chất của nghiên cứu khả thi:

Xét về mặt hình thức, tài liệu nghiên cứu khả thi là một tập hợp hồ sơ trình bày một cách chi tiết và có hệ thống tính vững chắc, hiện thực của một hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội theo các khía cạnh thị trường, kỹ thuật, tài chính, tổ chức quản lý và kinh tế xã hội

ở nước ta, nghiên cứu khả thi thường được gọi là lập luận chứng kinh tế

kỹ thuật Nghiên cứu khả thi được tiến hành dựa vào kết quả của các nghiên cứu

Trang 22

cơ hội đầu tư và nghiên cứu tiền khả thi đã được các cấp có thẩm quyền chấp nhận ở giai đoạn nghiên cứu khả thi, dự án được soạn thảo kỹ lưỡng hơn, đảm bảo cho mọi dự đoán, mọi tính toán đạt được ở mức độ chính xác cao trước khi

đưa ra để các cơ quan kế hoạch, tài chính, ngân hàng, các định chế tài chính quốc tế thẩm định

b Mục đích của nghiên cứu khả thi:

Như phần trên đã đề cập, quá trình nghiên cứu khả thi được tiến hành qua

3 giai đoạn Giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư nhằm loại bỏ ngay những dự kiến rõ ràng không khả thi mặc dù không cần đi sâu vào chi tiết Tính không khả thi này được chứng minh bằng các số liệu thống kê, các tài liệu thông tin kinh tế

dễ tìm Điều đó giúp cho tiết kiệm được thì giờ, chi phí của các nghiên cứu kế tiếp

Mục đích nghiên cứu khả thi là xem xét lần cuối cùng nhằm đi đến những kết luận xác đáng về mọi vấn đề cơ bản của dự án bằng các số liệu đã được tính toán cẩn thận, chi tiết, các đề án kinh tế - kỹ thuật, các lịch biểu và tiến độ thực hiện dự án trước khi quyết định đầu tư chính thức

Như vậy, nghiên cứu khả thi là một trong những công cụ thực hiện kế hoạch kinh tế của ngành, của địa phương và của cả nước, để biến kế hoạch thành hành động cụ thể và đem lại lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước, lợi ích tài chính cho nhà đầu tư

3.2 Nội dung chủ yếu của nghiên cứu khả thi

Nghiên cứu khả thi còn được gọi là lập dự án đầu tư Nội dung chủ yếu của dự án đầu tư bao gồm các khía cạnh kinh tế vi mô và vĩ mô, quản lý và kỹ thuật Các khía cạnh này ở các dự án thuộc các ngành khác nhau đều có nét đặc thù riêng Do đó việc chọn lĩnh vực để mô tả kỹ thuật soạn thảo và phân tích dự

án sẽ ra một mô hình tương đối hoàn chỉnh Mô hình này có thể được sử dụng tham khảo khi soạn thảo các dự án thuộc các ngành khác

Nội dung chủ yếu cụ thể của một dự án đầu tư bao gồm các vấn đề sau

đây:

-Xem xét tình hình kinh tế tổng quát liên quan đến dự án đầu tư

Có thể coi tình hình kinh tế tổng quát là nền tảng của dự án đầu tư Nó thể hiện khung cảnh đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển và hiệu quả kinh tế tài chính của dự án đầu tư

+ Điều kiện về địa lý tự nhiên (địa hình, khí hậu, địa chất ) có liên quan

đến việc lựa chọn, thực hiện và phát huy hiệu quả của dự án sau này

+ Điều kiện về dân số và lao động có liên quan đến nhu cầu và khuynh hướng tiêu thụ sản phẩm, đến nguồn lao động cung cấp cho dự án

Trang 23

+ Tình hình chính trị, các chính sách và luật lệ có ảnh hưởng đến sự quan tâm của nhà đầu tư

+ Tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương, tình hình phát triển sản xuất kinh doanh của ngành, của cơ sở (tốc độ gia tăng GDP,

tỷ lệ đầu tư so với GDP, quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, GDP/đầu người, tỷ suất lợi nhuận sản xuất kinh doanh ) có ảnh hưởng đến quá trình thực hiện và sự phát huy hiệu quả của sự dự án

+ Tình hình ngoại hối (cán cân thanh toán ngoại hối, dự trữ ngoại tệ, nợ nần và tình hình thanh toán nợ ) đặc biệt đối với các dự án phải nhập khẩu nguyên vật liệu, thiết bị

+ Hệ thống kinh tế và các chính sách bao gồm:

- Cơ cấu tổ chức hệ thống kinh tế theo ngành, theo quan hệ sở hữu, theo vùng lãnh thổ để đánh giá trình độ và lợi thế so sánh của dự án đầu tư

- Các chính sách phát triển, cải cách kinh tế, chuyển dịch cơ cấu nhằm

đánh giá trình độ nhận thức, đổi mới tư duy và môi trường thuận cho đầu tư đến

đâu

+ Thực trạng kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân theo thời hạn, theo mức

độ chi tiết, theo các mục tiêu, các ưu tiên, các công cụ tác động để từ đó thấy

được khó khăn, thuận lợi, mức độ ưu tiên mà dự án sẽ được hưởng ứng, những hạn chế mà dự án phải tuân theo

+ Tình hình ngoại thương và các định chế có liên quan như tình hình xuất nhập khẩu, thuế xuất nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái, các luật lệ đầu tư cho người nước ngoài, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế Những vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với các dự án sản xuất hàng xuất khẩu, nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc Chẳng hạn chính sách tỷ giá hối đoái không thích hợp (tỷ giá đồng nội địa so với ngoại tệ thấp) sẽ gây ra tình trạng càng xuất khẩu càng lỗ, thuế xuất khẩu quá cao sẽ gây khó khăn trong cạnh tranh với hàng hoá của các nước khác trên thị trường ngoài nước, các luật lệ đầu tư có tác dụng khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài

Các dữ kiện và số liệu để nghiên cứu tình hình kinh tế tổng quát của dự án trên đây có thể thu thập dễ dàng trong các niên giám, báo cáo thống kê, tạp chí, sách báo và tài liệu kinh tế quốc tế

Tuy nhiên, những dự án nhỏ không cần nhiều dữ kiện kinh tế vĩ mô như vậy Còn các dự án lớn thì tuỳ thuộc vào mục tiêu, đặc điểm và phạm vi tác dụng của dự án mà lựa chọn trong các vấn đề kinh tế tổng quát trên đây những vấn đề nào có liên quan đến dự án để xem xét

Đối với các cấp thẩm định dự án, các vấn đề kinh tế vĩ mô được xem xét không chỉ ở góc độ tác động của nó đối với dự án, mà cả tác động của dự án đối

Trang 24

với nền kinh tế ở giác độ vĩ mô như lợi ích kinh tế xã hội do dự án đem lại, tác

động của dự án đối với sự phát triển của nền kinh tế, của ngành đối với cải cách cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế đối ngoại

-Nghiên cứu về thị trường

Thị trường là nhân tố quyết định việc lựa chọn mục tiêu và quy mô của dự

án Ngay cả trong trường hợp dự án đã ký được các hợp đồng bao tiêu cũng phải nghiên cứu thị trường nơi người bao tiêu sẽ bán sản phẩm và uy tín của người bao tiêu trên thị trường

Mục đích nghiên cứu thị trường ở đây nhằm xác định:

+ Thị trường cung cầu sản phẩm hoặc dịch vụ của dự án hiện tại, tiềm năng phát triển của thị trường này trong tương lai, các yếu tố kinh tế và phi kinh

tế tác động đến nhu cầu của sản phẩm hoặc dịch vụ

+ Các biện pháp khuyến thị và tiếp thị cần thiết để có thể giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm của dự án (bao gồm cả chính sách giá cả, tổ chức, hệ thống phân phối, bao bì, trang trí, quảng cáo )

+ Khả năng cạnh tranh của sản phẩm so với sản phẩm cùng loại có sẵn và các sản phẩm có thể ra đời sau này

Để nghiên cứu thị trường cần:

Các thông tin cần thiết cho nghiên cứu nhu cầu ở tầm vĩ mô và vi mô Trường hợp thiếu thông tin, hoặc thông tin không đủ tin cậy, tuỳ thuộc vào mức thiếu thông tin có thể sử dụng các phương pháp khác nhau để đoán như ngoại suy từ các trường hợp tương tự , từ tình hình của quá khứ, sử dụng các thông tin gián tiếp có liên quan, tổ chức điều tra bằng phỏng vấn, hoặc khảo sát lấy mẫu phân tích để bổ sung

Có các chuyên gia có kiến thức về sản phẩm của dự án, về những sản phẩm có thể thay thế, về quy luật và cơ chế hoạt động của thị trường, pháp luật, thương mại, chính trị, xã hội để có thể lựa chọn, phân tích và rút ra được những kết luận cụ thể và xác đáng

* Nội dung của nghiên cứu thị trường:

+ Đối với thị trường nội địa:

- Nhu cầu hiện tại và tương lai về sản phẩm của dự án Ai là khách hang chính? Ai là khách hàng mới?

- Nhu cầu hiện tại được đáp ứng ra sao ? (bao nhiêu do địa phương sản xuất, bao nhiêu do các địa phương khác trong nước đáp ứng, bao nhiêu do nhập khẩu, nhập khẩu từ khu vực nào trên thế giới);

- Ước lượng mức gia tăng nhu cầu ngoài nước hàng năm về sản phẩm của

dự án;

Trang 25

- Ước lượng mức gia tăng nhu cầu ngoài nước hàng năm về sản phẩm của

dự án

- Ước giá bán và chất lượng sản phẩm của dự án, dự kiến kiểu dáng, bao bì để có thể cạnh tranh với các cơ sở sản xuất khác trong và ngoài nước, hiện tại và tương lai Trường hợp phải cạnh tranh với hàng nhập, cần sự hỗ trợ gì của Nhà nước Chi phí cần thiết cho sự cạnh tranh này

+ Đối với thị trường xuất khẩu:

- Khả năng cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu về mặt giá cả, kiểu dáng, chất lượng và sự phụ thuộc về cung ứng vật tư, khả năng tài chính, quản lý và kỹ thuật

- Khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu (ở khu vực nào, khối lượng bao nhiêu hàng năm) Cần phải làm gì để mở rộng thị trường xuất khẩu ?

- Quy định của thị trường xuất khẩu về bao bì, phẩm chất, vệ sinh

- Khế ước tiêu thụ sản phẩm: Thời hạn bao lâu? Số lượng tiêu thụ, giá cả;

- Dự kiến thị trường thay thế khi cần thiết

- Để có thể xuất khẩu được, cần sự hỗ trợ gì của Nhà nước

- Vấn đề tiêu thụ sản phẩm:

- Các cơ sở tiếp thị và phân phối sản phẩm

- Chi phí cho công tác tiếp thị và phân phối sản phẩm

- Sản phẩm dự kiến bán cho ai (qua hệ thống thương nghiệp, bán trực tiếp, qua các đại lý )

Phương thức thanh toán : chuyển khoản, tiền mặt;

- Về vấn đề cạnh tranh:

Xem xét các cơ sở cạnh tranh chính trong nước hiện có và trong tương lai, tình hình và triển vọng hoạt động của các cơ sở này, lợi ích so sánh của sản phẩm do dự án sản xuất (chi phí sản xuất, kiểu dáng, chất lượng )

Xem xét khả năng thắng trong cạnh tranh với hàng nhập, cần điều kiện gì;

II Tổ chức soạn thảo dự án đầu tư

1 Yêu cầu và căn cư để soạn thảo dự án

Soạn thảo dự án là một công việc khó khăn, phức tạp Không thể xem soạn thảo dự án là việc làm chiếu lệ để tìm đối tác hoặc vay vốn đầu tư Để một dự án

đầu tư có tính thuyết phục và thu hút các bên tham gia, khi soạn thảo dự án cần

đảm bảo đầy đủ những yêu cầu cơ bản sau:

Một là, dự án phải có tính khoa học Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu

Trang 26

của dự án đầu tư Đảm bảo yêu cầu này sẽ tạo tiền đề cho việc triển khai và thực hiện thành công dự án Tính khoa học của dự án được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau:

- Về số liệu thông tin Những dữ liệu, thông tin để xây dựng dự án phải

đảm bảo trung thực, chính xác, tức là phải chứng minh được nguồn gốc và xuất

xứ của những thông tin và những số liệu đã thu thập được (do các cơ quan có trách nhiệm cung cấp, nghiên cứu tìm hiểu thực tế )

- Về phương pháp lý giải Các nội dung của dự án không tồn tại độc lập, riêng rẽ mà chúng luôn nằm trong một thể thống nhất, đồng bộ Vì vậy, quá trình phân tích, lý giải các nội dung đã nêu trong dự án phải đảm bảo logic và chặt chẽ

- Về phương pháp tính toán Khối lượng tính toán trong một dự án thường rất lớn Do đó, khi thực hiện tính toán các chỉ tiêu cần đảm bảo đơn giản và chính xác Đối với các đồ thị, các bản vẽ kỹ thuật phải đảm bảo chính xác về kích thước, tỷ lệ

-Về hình thức trình bày Dự án chứa đựng rất nhiều nội dung, nên khi trình bày phải đảm bảo có hệ thống, rõ ràng và sạch đep

Hai là, tính pháp lý Tính pháp lý của dự án phản ánh quyền lợi của quốc gia trong dự án Vì vậy, việc triển khai, thực hiện dự án phải được phép của các cơ quan có thẩm quyền Muốn vậy, dự án đầu tư không chứa đựng những điều trái với luật pháp và chính sách của Nhà nước về đầu tư Nói khác đi là dự án cần

có cơ sở pháp lý vững chắc, tức là phù hợp với chính sách và luật pháp của Nhà nước Điều này đòi hỏi người soạn thảo dự án phải nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước và các văn bản luật pháp có liên quan đến các hoạt

động đầu tư đó

Ba là, tính thực tiễn Tính thực tiễn của dự án đầu tư thể hiện ở chỗ nó có khả năng ứng dụng và triển khai trong thực tế Mỗi dự án bao giờ cũng thuộc một ngành, lĩnh vực cụ thể với những thông số, tính toán và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cụ thể Mặt khác, dự án diễn ra ở những địa điểm cụ thể và chịu tác động của những yếu tố môi trường xác định về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội

Bởi các lý do chính yếu trên, cho nên, các nội dung, khía cạnh phân tích của dự án đầu tư không thể chung chung mà dựa trên những căn cứ thực tế, tức là

dự án phải được xây dựng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt bằng, thị trường, vốn

Bốn là, tính thống nhất Lập và thực hiện dự án đầu tư là cả một quá trình gian nan, phức tạp Đó không phải là công việc độc lập của chủ đầu tư mà nó liên quan đến nhiều bên như cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, các nhà tài trợ

Ngày đăng: 28/05/2016, 01:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm