Hộ gia đình: Là người tiêu dùng các hàng hóa va dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế.. Về nguyên tắc cần đảm bảo cho mọi người lao động được hưởng lợi ích từ những hàng hóa dịch v
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN VÀ XÂY DỰNG BẮC NINH
GIÁO TRÌNH KINH TẾ VI MÔ
Trang 2PHỤ LỤC
Trang 3
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC 1/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC VI MÔ
1.1.Kinh tế học:
Theo một khái niệm chung nhất, Kinh tế học là một môn khoa học giúp cho con
người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và cách ứng xử của từng chủ thể tham gia vào nền kinh tế nói riêng Cách thức ứng xử của nền kinh tế xoay quanh vấn đề sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm như thế nào cho có hiệu quả để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu không ngừng tăng lên của con người Sự khan hiếm tài nguyên là
vấn đề vốn có của mọi nền kinh tế do mâu thuẫn giữa nhu cầu vô hạn của con người về hàng hóa, dịch vụ và năng lực sản xuất có giới hạn của nền kinh tế Mâu thuẫn này đặt
ra vấn đề cần phải sử dụng có hiệu quả mọi nguồn tài nguyên khan hiếm để thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội về hàng hóa, dich vụ
1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Kinh tế vi mô là một bộ phận của kinh tế học, nghiên cứu bản chất của các hiện
tượng kinh tế, xu hướng vận động của các hiện tượng và quy luật kinh tế thị trường
- Nghiên cứu cách thức vận hành của nền kinh tế và cách thức ứng xử của các chủ thể kinh tế ( hộ gia đình, doanh nghiệp và Chính phủ) trong việc phân bổ hiệu quả nguồn lực khan hiểm để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ
Như vây, Kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ nền kinh tế( tổng thể ) và hành vi của các chủ thể kinh tế riêng lẻ ( những tế bào) trong nền kinh tế, bao gồm: các doanh nghiệp, các hộ gia đình, những người lao động, chủ đất, nhà đầu tư và Chính phủ Mỗi chủ thể kinh tế đều có những mục tiêu nhất định cần đạt được, đó là mục tiêu tối đa hóa các lợi ích kinh tế của họ Mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, mục tiêu của các hộ tiêu dùng là tối đa hóa lợi ích khi tiêu dùng và mục tiêu của Chính phủ là tối đa hóa phúc lợi xã hội trong điều kiện khan hiểm nguồn lực Kinh tế học
có nhiệm vụ giúp các thành viên kinh tế giải quyết các bài toán tối đa hóa lợi ích kinh tế này
1.3 Phương pháp nghiên cứu kinh tế học
Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng được sử dụng trong kinh tế học vi mô dựa
trên việc xây dựng các mô hình kinh tế để phân tích, lý giải và kết luận về những quy
tắc lựa chon kinh tế tối ưu Nhìn chung, phương pháp này cũng được các môn khoa học khác vận dụng tùy vào từng trường hợp cụ thể Mô hình là sự đơn giản hóa thực tế cần nghiên cứu bao gồm các thành phần chính như các khái niệm, các giả định và các kết luận được rút ra từ mô hình ( Xây dựng lý thuyết từ giả định) Để mô hình thực sự có ích trong việc rút ra những kết luận chính xác và có căn cứ khoa học thì mô hình kinh tế phải bảo đảm đơn giản hóa thực tế và được xây dựng từ những tình huống có thực Tuy
Trang 4nhiên, tình huống thực tế nhiều khi rất phúc tạp và không mang tính chất đại diện, vì thế cần có các giả thiết để đảm bảo điều kiện áp dụng của mỗi mô hình
1.3.1 Phương pháp xây dựng các mô hình kinh tế để lượng hóa các quan hệ kinh
tế
Vì thực tế rất phức tạp, để đơn giản hóa, các nhà kinh tế đã xây dựng các mô hình kinh tế bằng cách chỉ chọn một số biến cơ bản Việc đơn giản hóa được thực hiện bằng cách đưa ra các giả đinh Đơn giản hóa không có nghĩa là không tính đến sự phức tạp của thế giới thực tế mà đó là quá trình cần thiết để phát hiện ra thế giới thực tế đầy phức tạp
Kinh tế học vi mô sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích cân bằng bộ phận Theo
phương pháp này Kinh tế học vi mô bỏ qua sự tương tác của một hành vi kinh tế với toàn bộ nền kinh tế
Kinh tế học vĩ mô sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích cân bằng cụ thể Theo
phương pháp này, Kinh tế học vĩ mô xem xét cân bằng đồng thời của tất cả các thị trường, của các hàng hóa và các nhân tố để xác định đồng thời giá cả và sản lượng cân bằng trong toàn bộ nèn kinh tế
1.4 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Mặc dù nghiên cứu kinh tế bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại quốc
tế, tiền tệ và ngân hàng, lao động…nhưng lý thuyết kinh tế cơ bản có thể được chia thành hai phân ngành lớn là: kinh tê học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Trang 5Kinh tế học vĩ mô thường đơn giản hóa các vấn đề riêng biệt trong phân tích nhấn mạnh quá trình tương tác của nền kinh tế đối với việc quyết định ba vấn đề kinh tế cơ bản Kinh tế học vĩ mô tập chung phân tích việc phân bổ nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh tế tổng quát cho toàn bộ nền kinh tế như: Tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp…
VD: Các nhà kinh tế học vĩ mô thường không quan tâm đến việc phân loại hàng hóa
tiêu dùng thành xe máy, xe đạp hay ti vi, tủ lạnh…Họ nghiên cứu chúng dưới dạng thành một nhóm gọi là” Hàng tiêu dùng” Họ quan tâm tới việc nghiên cứu sự tương tác giữa quyết định mua hàng tiêu dùng của tất cả các hộ gia đình và quyết định sản xuất của tất cả các doanh nghiệp
Sự khác nhau của kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô.
Kinh tế học Vi mô quan tâm đến mục tiêu hiệu quả của từng đơn vị kinh tế
Kinh tế học Vĩ mô quan tâm đến mục tiêu hiẹu quả của toàn bộ nền kinh tế
Có thể coi kinh tế học Vĩ mô về nghiên cứu về một khu rừng còn kinh tế học vi mô
là cây cối trong khu rừng đó
2.NỀN KINH TẾ
Nền kinh tế là một cơ chế phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho các nhu cầu cạnh tranh nhau
Để hiểu được một nền kinh tế hoạt động như thế nào, chúng ta phải xem xét cách thức
tổ chức của một nền kinh tế và phương pháp tác động qua lại giữa các chủ thể kinh tế với nhau trong quá trình đưa ra quyết định kinh tế
2.1 Các chủ thề kinh tế
Trong một nền kinh tế có ba nhóm chủ thể ra quyết định về việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm Đó là: Doanh nghiệp, hộ gia đình và chính phủ
Hộ gia đình: Là người tiêu dùng các hàng hóa va dịch vụ được sản xuất ra trong nền
kinh tế Đây là người quyết định số lượng hàng hóa và dịch vụ được mua trên thị trường đầu ra Đồng thời, hộ gia đình là người sở hưu và cho thuê các yếu tố sản xuất trên thị trường đầu vào
Doanh nghiệp: Là người sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ cung ứng cho nền kinh
tế Đây là người quyết định việc phân bổ các nguồn lực để sản xuất ra các hàng hóa trên thị trường đầu ra Đồng thời là người thuê và sử dụng các yếu tố sản xuất trên thị trường đầu vào
Chính phủ: Là người ban hành các quy định và luật lệ phù hợp, tạo ra môi trường
pháp lý thuận lợi cho sự hoạt động của các chủ thể kinh tế khác nhau trên thị trường Bằng cách thay đổi các quy định và luật lệ, chính phủ có thể làm thay đổi sự lựa chọn của các doanh nghiệp và các hộ gia đình để điều chỉnh các hoạt động kinh tế theo những mục tiêu nhất định
Trang 6Đất đai(Đ): Là nguồn lực tự nhiên Thu nhập từ đất đai là tiền thuê đất®
Vốn(K): Là phương tiện sản xuất để tạo sản phẩm Thu nhập từ vốn là tiền lãi(i)
2.3 Ba vấn đề kinh tế cơ bản
Một nền kinh tế muốn tồn tại và phát triển được cần phải giải quyết 3 vấn đề kinh tế
cơ bản: Sản xuất cái gì; Sản xuất như thế nào; Sản xuất cho ai?
Trên thị trường, giá cả là phương tiện phát tín hiệu báo cho các nhà kinh doanh biết
cần phải sản xuất và cung ứng cái gì để có lợi nhất Giá cả là “bàn tay vô hình” điều khiển thị trường, điều khiển quan hệ cung cầu và giúp người sản xuất lựa chọn quyết định sản xuất tối ưu
2.3.2 Sản xuất như thế nào?
Quyết định sản xuất như thế nào chính là quyết định về phương pháp sản xuất, hình thức công nghệ và cách phối hợp đầu vào tối ưu
Sau khi lựa chọn được sản xuất cái gì, Chính phủ và các nhà kinh doanh phải xem xét
và lựa chọn sản xuất như thế nào để có lợi nhuận cao nhất Động cơ lợi nhuận đã khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm, lựa chọn các phương pháp sản xuất có hiệu quả nhất
2.3.3 Sản xuất cho ai?
Quyết định sản xuất cho ai chính là quyết định việc phân phối thu nhập, Cần phải xác định rõ ai sẽ được hưởng lợi từ những hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra
Trang 7Thị trường quyết định giá cả của các yếu tố sản xuất Do đó, thị trường cũng quyết định thu nhập của các đầu ra- thu nhập từ hàng hóa, dịch vụ Thu nhập của xã hội , của tập thể hay của cá nhân phụ thuộc vào quyền sở hữu và giá của các hàng hóa dịch vụ Vấn đế mấu chốt cần giải quyết là những hàng hóa và dịch vụ sản xuất được phân phối cho ai để vừa có thể kích thích mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, vừa đảm bảo sự công bằng xã hội.
Về nguyên tắc cần đảm bảo cho mọi người lao động được hưởng lợi ích từ những hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp đã tiêu thụ, căn cứ vào cống hiến của họ( cả lao động sống và lao động vật hóa) đối với quá trình sản xuất ra những hàng hóa và dịch vụ, đồng thời cần chú ý thỏa đáng đến những vấn đề xã hội
Quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp chính la quá trình lựa chọn để quyết định tối ưu ba vấn đề kinh tế cơ bản trên Song việc lựa chọn giải quyết tối ưu ba vấn đề kinh tế cơ bản còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-
xã hội, vào hệ thống kinh tế, vào mức độ can thiệp của chính phủ và chế độ chính trị- xã hội của mỗi nước
2.4.Các mô hình kinh tế
Có 3 mô hình kinh tế chủ yếu là mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mô hình kinh tế thị trường, mô hình kinh tế hỗn hợp
2.4.1 Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Là mô hình kinh tế trong đó chính phủ quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc phân
bổ nguồn lực của xã hội
Trong mô hình này việc lựa chọn 3 vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Đều do chính phủ quyết định
Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập chung
Quyết định của chính phủ
Sản xuất cái gì Sản xuất như thế nào Sản xuất cho ai
Nhược điểm của mô hình này là: kém hiệu quả, kém linh hoạt và động lực khuyến khích của các chủ thể trong nền kinh tế
2.4.2 Mô hình kinh tế thị trường
Là mô hình kinh tế trong đó thị trường đưa ra mọi quyết định liên quan đến việc phân
bổ nguồn lực của xã hội
Trong mô hình nền kinh tế thị trường việc lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì, sản suất như thế nào và sản xuất cho ai đều được thực hiện thông qua hoạt động của quan hệ cung cầu và giá cả thị trường
Trang 8Mô hình nền kinh tế thị trường
PHÍA CUNG THỊ TRƯỜNG PHÍA CẦU
(Người sản xuất) (Người tiêu dùng)
Kết quả sản xuất
(sản xuất cái gi, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai)
Nền kinh tế thị trường tôn trọng các hoạt động của thị trường, quy luật của sản xuất và lưu thông hàng hóa Kinh tế thị trường là nền kinh tế năng động và khách quan
2.5 Sơ đồ hoạt động của nền kinh tế
Nền kinh tế thường xuyên trong trạng thái động Các yếu tố sản xuất di chuyển từ khu vực người tiêu dùng sang khu vực kinh doanh Khu vực kinh doanh sử dụng các yếu tố
để sản xuất hàng hóa và dịch vụ.Để đổi lại việc cung cấp các yếu tố sản xuất, người tiêu dùng nhận được thu nhập thông qua lương, tiền cho thuê, tiền lãi và lợi nhuận Nguồn thu nhập này sau đó lại được sử dụng để mua sắm hàng hóa và dịch vụ Các hoạt động này được thể hiện thông qua sơ đồ hoạt động của nền kinh tế
Trang 9Hình 1.1 Sơ đồ hoạt động của nền Kinh tế Nền kinh tế phức tạp hơn nhiều những gì mà chúng ta đã mô tả ở trên Song sơ đồ này rất hữu ích trong việc hiểu và phân tích phương thức hoạt động của một nền kinh tế.
3.LỰA CHỌN KINH TẾ TỐI ƯU
3.1 Lý thuyết lựa chọn
3.1.1 Khái niệm:
Lựa chọn là cách thức mà các cá nhân và các doanh nghiệp đưa ra quyết định tối ưu
về việc sử dụng các nguồn lực của họ
Lý thuyết lựa chọn tìm cách giải thích có cơ sở khoa học cho các quyết định của cá nhân và doanh nghiệp.Nó cố gắng giải thích tại sao họ lại lựa chọn như vậy và cách thức
sự lựa chọn
3.1.2 Sự cần thiết phải lựa chọn
Sự lựa chọn là cần thiết vì nhu cầu của con người là vô hạn trong khi đó nguồn lực lại
có hạn.(Nguồn lực có hạn nghĩa là sản phẩm đầu ra cũng có hạn)
Sự lựa chọn có thể thực hiện được vì một nguồn lực được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau và chúng có thể thay thế được cho nhau trong sản xuất hoặc trong tiêu dùng
3.1.3 Mục tiêu của sự lựa chọn
- Đối với người sản xuất, việc lựa chọn nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Thị trường hàng hóa,dịch vụ
Thị trường yếu tố sản xuất
DOANH NGHIỆP
Lao động, đất đai
Hàng hóa, dịch vụ Chi tiêu
Tiền lương, tiền thuế lãi Lao động, đất đai
vốn
Hàng hóa, dịch vụ
HH dịch vụ Trợ cấp
Thuế
Chi tiêu
L, K, đất đai
Trợ cấp
Thuế
Doanh thu
Tiền lương, tiền thuế lãi Tiền lương,
tiền thuế
Trang 10- Đối với người tiêu dùng, lựa chọn để tối đa hóa lợi ích tiêu dùng
- Đối với chính phủ Lựa chọn nhằm tối đa hóa phúc lợi xã hội
3.1.4 Căn cứ của sự lựa chọn
Khái niệm hữu ích nhất được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn là chi phí cơ hội Chi
phí cơ hội là giá trị của cơ hội tốt nhất hoặc phương án kinh doanh tốt nhất bị bỏ qua khi đưa ra một sự lựa chọn kinh tế.
Khái niệm chi phí cơ hội có ý nghĩa rất lớn về lý luận và thực tiễn Do các nguồn tài nguyên khan hiếm nên con người luôn phải lựa chọn sẽ tiến hành các hoạt động nào.Khi quyết định làm một việc gì đó tức là đã bỏ qua cơ hội để làm các việc khác
Trong tiêu dùng: Nếu mua hàng hóa hoặc dịch vụ này thì phải từ bỏ cơ hội mua hàng
hóa và dịch vụ khác
Trong sản xuất: Nếu sản xuất hàng hóa và dịch vụ này thì phải từ bỏ cơ hội để sản
xuất hàng hóa và dịch vụ khác Chi phi cơ hội của hàng hóa A là số lượng của hàng hóa
B phải từ bỏ do sử dụng nguồn lực để sản xuất hàng hóa A
Trong thực tiễn: Chọn phương án này là bỏ qua cơ hội thực hiện các phương án
khác
VD: Một cá nhân xem xét việc sử dụng 1 tỷ đồng như thế nào.
Với nguồn tiền 1 tỳ đồng đó cá nhân này có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như
Gửi tiết kiệm Mua căn hộ
Như vậy với khái niệm chi phí cơ hội có thể thấy rằng để đưa ra bất kỳ một quyết định kinh tế nào, các thành viên đều cân nhắc kỹ lưỡng giữa cái được và cái mất của mọi
sự lựa chọn, so sánh các phương án khác nhau một cách kỹ lưỡng
Trên thực tế các chủ thể khác nhau có sự khan hiếm khác nhau về nguồn lực Vì vậy, khi lựa chọn phải tính đến nguồn lực khan hiếm Nó chính là giới hạn ràng buộc, hạn chế khả năng lựa chọn
Trang 11VD: Một ông giám đốc và một sinh viên có nhu cầu đi từ HN vào TPHCM, giả sử có
thể đi từ HN đến HCM bằng 2 cách là máy bay và Tầu hỏa giá vé máy bay 1.500.000đ,
đi mất 2 giờ giá vé Tầu hỏa là 800.000đ đi mất 30g
Sv 1g = 20.000đ
DN 1g= 1.000.000đ
Ông giám đốc lựa chọn đi lại là máy bay còn sinh viên lựa chọn là tầu hỏa
Để minh họa cho vấn đề khan hiếm, sự lựa chọn và hiệu quả kinh tế người ta sừ dụng đường giới hạn khả năng sản xuất
3.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất
3.2.1 Nguồn lực khan hiếm
Thời gian là một trong những nguồn lực khan hiếm Mỗi người chỉ có một quỹ thời gian có hạn để thực hiện các công việc mong muốn
Giả sử những hoạt động chủ yếu của sinh viên được chia làm hai loại học tập và nghỉ ngơi Với những cách phân chia như vậy ta có thể biểu diễn sự phân chia quỹ thời gian trên đồ thị như sau
Hình 1.2: Thời gian là nguồn lực khan hiểm
Trên hình 1.2,đường đồ thị biểu diễn những khả năng kết hợp có thể giữa học tập và nghỉ ngơi mà sinh viên có thể tiến hành trong quỹ thời gian của mình( 24h).Một đường
như vậy gọi là đường giới hạn về thời gian Cụm từ đường giới hạn” chỉ ra rằng đó
chỉ là một đường biên mà chúng ta không thể vượt quá.Thực vậy những điểm nằm ngoài đường giới hạn là những điẻm không khả thi, để đạt được những điểm này, cần có quỹ thời gian lớn hơn 24h trong 1 ngày Những điểm nằm ngoài đường giói hạn được gọi là những điểm không hiệu quả, bởi vì có thể đạt được đến điểm này mà không cần sử dụng quỹ thời gian 24h
3.2.2 Đường giói hạn khả năng sản xuất
Trang 12Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) chỉ ra số lượng tối đa của hai hàng hóa có thể được sản xuất ra từ các đầu vào khác nhau của nền kinh tế với một nguồn lực và một công nghệ nhất định khi toàn bộ nguồn lực được sử dụng một cách có hiệu quả.
VD: Giả sử một khu đất nông nghiệp với một diện tích đất định cư được sử dụng để
Đường giơi hạn khả năng sản xuất
Hình 1.3: Đường giới hạn khả năng sản xuất
Vì nguồn lực có hạn nên sản xuất thêm hàng hóa này có nghĩa là phải sản xuất bớt hàng hóa khác Vì vậy cần phải lựa chọn giữa các kết hợp hàng hóa khác nhau và đường giới hạn khả năng sản xuất phản ánh sự giới hạn mà khan hiếm nguồn lực buộc xã hội phải lựa chọn
Đường giới hạn khả năng sản xuất cho biết những điểm mà tại đó xã hội sản xuất có hiệu quả
Cà phê
chè
14 15
1
12 9 5
0
Trang 13Những điểm nằm phía trong đường giới hạn khả năng sản xuất là không hiệu quả vì
xã hội có thể tăng thêm sản lượng của một mặt hàng mà không phải cắt bớt sản lượng của mặt hàng khác Tại những điểm này nguồn lực bị sử dụng lãng phí hoặc phân bổ không đúng
Nguồn lực bị sử dụng lãng phí khi chúng nhàn rỗi trong khi chúng có thể được đưa
Sự khan hiếm về nguồn lực buộc xã hội phải lựa chọn các điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) Bằng cách chọn như vậy, xã hội sẽ quyết định sản xuất cái
gì, bao nhiêu hàng hóa, bao nhiêu hàng hóa B.Khi chọn một điẻm cụ thể trên đường PPF, xã hội cũng chọn phương án sản xuất như thế nào, để sản xuất được số lượng hàng hóa của mỗi loại cần phải sử dụng bao nhiêu yếu tố đầu vào, phải chọn công nghệ nào
để tạo ra được mức sản lượng mong muốn
Trong việc lựa chọn các điểm hiệu quả, chúng ta gặp phải chi phí cơ hội Có nghĩa là tăng thêm sản lượng của một hàng hóa chỉ có thể đạt được bằng cách hy sinh sản lượng của mặt hàng khác,
Có thể đo lường chi phí cơ hội bằng cách sử dụng đường giới hạn khả năng sản xuất
YB YA
O Hàng hóa Y
Trang 14Hình 1.4: Đường giới hạn khả năng sản xuất phản ánh chi phí cơ hội
Nếu chuyển từ điểm A xuống điểm B, xã hội phải từ bỏ một số lượng hàng hóa Y và thay thế vào đó sẽ thu được một số lượng hàng hóa X,
Chi phí cơ hội của hàng hóa X được đo bằng số lượng hàng hóa Y phải từ bỏ cho một đơn vị tăng thêm của X, chi phí cơ hội của X:
bổ lại như thế Cuối cùng sẽ phải giảm diện tích đất phù hợp với sản xuất chè để dùng cho việc sản xuất cà phê, nhưng có năng suất thấp Lợi ích thu được khi chuyển sang cây
cà phê không lớn nhưng sản lượng chè sẽ giảm đi nhiều
Đường giới hạn sản xuất này không giống với đường giới hạn mô tả ở trên Tại sao đường này là một đường cong lõm nếu xét từ góc tọa độ? Các đường PPF thường có dạng đường cong lõm vì năng suất cận biên( sẽ giải thích sau) của các nguồn lực này sẽ thay đổi nếu như chúng ta chuyền từ việc sản xuất mặt hàng này sang mặt hàng khác Những điểm nằm ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất là những điểm đạt được
Do vậy, để tăng sản xuất một loại hàng hóa này thì phải giảm sản xuất một loại hàng hóa khác
Lưu ý rằng chi phí cơ hội sẽ thay đổi nếu A và B nằm ở hai điểm khác của PPF Cụ thể là, khi thực hiện di chuyển xuống phía dưới của PPF, chi phí cơ hội của hàng hóa X
sẽ tăng lên
Chúng ta có thể giải thích tại sao chi phí cơ hội của hàng hóa X thay đổi khi di chuyển dọc theo PPF Chi phí cơ hội của hàng hóa X được biểu diễn bằng độ dốc của đường nối điểm A và B Khi di chuyển xuống dưới của đường cong, thì độ dốc của những đường nối trở nên dốc hơn, chi phí cơ hội tăng lên
Thông thường chi phí cơ hội được xác định tại một điểm trên PPF Tại một điểm trên PPF, chi phí cơ hội của hàng hóa X tương đương với độ dốc của PPF tại chính điểm đó
Để có thể tính được độ dốc của đường PPF, chúng ta có thể tính độ dốc của đường tiếp tuyến với PPf tại điểm cần xác định
*Đặc điểm của đường giới hạn khả năng sản xuất.
-Đường giới hạn khả năng sản xuất thể hiện trình độ sản xuất hiện có
Trang 15-Đường giới hạn khả năng sản xuất biểu hiện hiệu quả tối đa của việc phân bổ nguồn lực Nghĩa là nguồn lực được tận dụng hết cho việc sản xuất hai mặt hàng hoặc cho hai hoạt động kinh tế.
-Trên đường giới hạn khả năng sản xuất, có thể tính được chi phí cơ hội của việc sản xuất mặt hàng này bằng số đơn vị mặt hàng kia phải hi sinh
-Đường giới hạn khả năng sản xuất có thể sử dụng để mô tả tăng trưởng kinh tế Các
động lực của tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sự gia tăng về lực lượng lao động, vốn
và công nghệ mới
3.3 Ảnh hưởng cúa các quy luật kinh tế đối với sự lựa chọn kinh tế tối ưu
3.3.1 Tác động của quy luật khan hiếm
Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai, sẽ không trở thành vấn đề nếu nguồn lực không bị hạn chế Nếu có thể sản xuất một số lượng vô hạn về hàng hóa, dịch vụ hoặc nếu thỏa mãn được đầy đủ nhu cầu của con người thì không cần đến việc kết hợp lao động máy móc thiết bị và nguyên vật liệu một cách tối ưu Nhưng thực tế là khôg như vậy, mọi hàng hóa đều không cho không, vì nguồn lực bị hạn chế, tài nguyên ngày một khan hiếm và bị can kiệt.Nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, càng đa dạng và phong phú, nhất là về hàng hóa và dịch vụ Song tài nguyên để thỏa mãn nhu cầu trên lại có giới hạn, ngày càng khan hiếm và cạn kiệt Do vậy, vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu ngày càng đặt ra một cách nghiêm túc, gay gắt và thực hiện rất khó khăn Đó là đòi hỏi tất yếu của nhu cầu ngày một tăng và tài nguyên ngày một khan hiếm
Các doanh nghiệp phải lựa chọn những vấn đề kinh tế cơ bản của mình trong giới hạn cho phép của khả năng sản xuất hiện có mà xã hội đã phân phối cho
3.3.2 Tác động của quy luật hiệu suất giảm dần
Có thể sử dụng đường giới hạn khả năng sản xuất để minh họa một trong những mối quan hệ kinh tế quan trọng Đó là, Quy luật hiệu suất giảm dần Quy luật này nói lên mối liên hệ, không phải là giữa hai loại hàng hóa( thiết bị cơ bản và hàng tiêu dùng) mà là giữa hai đầu vào của quá trình sản xuất( như lao động) và đầu ra mà nó góp phần sản xuất ra
Quy luật hiệu suất giảm dần đề cập khối lượng đầu ra có thêm ngày càng giảm, khi ta
liên tiếp đưa vào những đơn vị bằng nhau của một đầu vào biến đổi( như lao động) với một số lượng cố định của một đầu vào khác( như đất đai)
VD:
Một trang trại trồng chè, nếu một lao động bỏ ra vào đó tào sản lượng 2.000kg chè; Khi tăng thêm một lao động nữa thì sản lượng đạt 3000kg liên tiếp tăng thêm một lao động nữa thì sản lượng đạt 3.500kg chè,…Như vậy tăng thêm 1 lao động thì sản lượng tăng lên 1000kg chè, nhưng tăng thêm một lao động nữa thì sản lượng chỉ tăng lên 500kg chè.Đơn vị đầu vào thứ hai(lao động) tăng lên sẽ làm tăng thêm đầu ra, nhưng sự
Trang 16tăng lên đầu ra này ít hơn đơn vị lao động thư nhất Nếu tăng thêm người lao động thứ
ba thì đầu ra sẽ tăng lên ít hơn
3.3.3 Tác động của quy luật chi phí cơ hội tăng dần
Nếu đường giới hạn khả năng sản xuất là một đường thẳng thì chi phí cơ hội để có thêm mặt hàng này khi từ bỏ mặt hàng kia sẽ không đổi Đây là truòng hợp chi phí cơ hội không thay đổi
Khi quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng phát huy tác dụng, nếu muốn có thêm một
số lượng bằng nhau về một mặt hàng, xã hội phải hy sinh ngày càng nhiều số lượng một mặt hàng hóa khác.Đường cong lõm của đường giới hạn khả năng sản xuất biểu thị quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng
Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng có quan hệ với hiệu suất giảm dần, nhưng không phải là một Chúng ta nhận thấy rằng cùng với quy luật hiệu suất giảm dần, sản suất thiết bị cơ bản và hàng tiêu dùng phải sử dụng các yếu tố sản xuất như( lao động, thiết bị, đất đai ) theo những tỷ lệ khác nhau nếu quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng
là đúng
Chẳng hạn để sản xuất lương thực cần đất đai và lao động còn để sản xuất vải cần lao động còn đất đai không đáng kể Vì vậy, giả sử đất đai là cố định, ta giả định hy sinh lượng hàng hóa công nghiệp (vải) để đưa lao động sản xuất lương thực trên diện tích đất đai cố định, tình huống này cho ta thấy rằng quy luật hiệu suất giảm dần phát huy tác dụng Như vậy, mỗi lao động càng có ít diện tích sản xuất và do đó đem lại ít sản phẩm
và một đơn vị lương thực phải trả một lượng chi phí ngày càng cao tính về mặt hy sinh sản xuất vải
Trang 17c Người thu nhập có mức thu nhập cao có thể sẽ mua nhiều hàng xa xỉ hơn
d Một quốc gia phát triển có thể được thể hiện ở chỉ tiêu của người tiêu dùng cao hơn
e Lãi suất cao trong nền kinh tế thì có thể làm giảm khuyến khích tăng đầu tư tư nhân
f Mức thất nghiệp của toàn bộ khu vực thành thị của Việt Nam tăng lên nhanh ào cuối những năm 90
Trang 18a Vẽ đường giới hạn khả năng ssản xuất
b Tính chi phí cơ hội của việc sản xuất 1, 2, 3, 4, 5 đơn vị máy móc
c Tính chi phí cơ hội của việc sản xuất đơn vị máy móc thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm
d Tại sao lại có sự khác nhau giữa chi phí cơ hội tính được ở câu c?
CHƯƠNG 2 CUNG - CẦU
Xã hội phải tìm ra cách thức để giải quyết các vấn đề : Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Kinh tế thị trường cho thấy, thị trường và giá cả là căn cứ để phân bổ nguồn lực khan hiếm cho các nhu cầu sử dụng mang tính cạnh tranh.Chương này nghiên cứu thị trường chi tiết hơn với những vấn đề quan trọng đối với phân tích kinh tế
1 CẦU
1.1 Khái niệm
Cầu là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định( với giả thiết các yếu tố khác không thay đổi)
Cầu khác nhu cầu : Nhu cầu là những mong muốn và nguyện vọng vô hạn của
con người Sự khan hiếm làm cho hầu hết các nhu cầu không được thoả mãn Hoặc thoả mãn nhu cầu này thì người ta lại hướng tới nhu cầu khác
Cầu bao gồm hai yếu tố là khả năng và sự sẵn sàng
Ví dụ: Nếu bạn thích một chiếc xe Drem II nhưng bạn không có tiền để mua, cầu
của bạn về chiếc xe này bằng không Trong khi người khác có tiền mua chiếc xe này nhưng anh ta không thích nó nên không mua và cầu của người này đối với xe Drem II bằng không
Lượng cầu là lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người mua sẵn sàng hoặc có khả năng mua ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định ( với giả thiết các yếu tố khác không thay đổi)
Như vậy, cầu là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cầu và giá
1.2 Cầu cá nhân và cầu thị trường
Cầu của từng người tiêu dùng đối với một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó là cầu
cá nhân cầu của tất cả người tiêu dùng về hàng hoá hay dịch vụ là cầu thị trường Cầu thị trường là tổng hợp của các cầu cá nhân
Biểu cầu cho thấy : Tương ứng với mỗi mức giá là một lượng cầu nhất định
Ví dụ : Cầu thị trường về xe máy Drem II ở thành phố Hà Nội như sau:
Trang 19Giá (triệu đồng/ chiếc) Lượng cầu ( chiếc/tuần)
15 20 25 30
100 200 300 400 500
Hình 2.1 Đường cầu về xe máy Drem II
Ví dụ : Khi giá thịt tăng thì người sẽ chuyển sang cá, trứng, đậu
Mối quan hệ giữa lượng cầu và mức giá là mối quan hệ hàm số:
Hàm cầu : QD
X = f(PX)Trong đó : QD
X : là lượng cầu về hàng X
PX : giá hàng XMột cách khác, hàm cầu được mô tả là phương trình mà biến có thể là giá hoặc lượng cầu.Phương trình đường cầu được viết là :
QD = a0 – a1P (1)
Trang 20Trong đó QD : lượng cầu P : giá cả
a0 : Hệ số biểu thị lượng cầu khi giá bằng 0
a1 : Hệ số biểu thị mối quan hệ giữa giá và lượng cầu
b0: Hệ số biểu thị mức giá khi lượng cầu bằng 0
b1: Hệ số biểu thị mối quan hệ giữa lượng cầu và giá Trên thực tế, lượng cầu về một hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác chứ không phải chỉ phụ thuộc vào giá cả hàng hoá hoặc dịch vụ đó
1.4 Các yếu tố hình thành cầu
1.4.1 Thu nhập của người tiêu dùng (I)
Thu nhập là một yếu tố quan trọng xác định cầu vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua hàng của người tiêu dùng Khi thu nhập tăng lên thì người tiêu dùng mua nhiều hàng hoá hơn và họ có khả năng mua được nhiều hàng hôắhn, dẫn đến sự tăng cầu đối với nhiều loại hàng hoá Song có những loại hàng hoá mà cầu về nó lại giảm khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên Những hàng hoá có cầu tăng khi thu nhập tăng gọi là
Trang 21hàng hoá thông thường Còn những hàng hoá mà nhu cầu giảm khi thu nhập tăng gọi là hàng hoá thứ cấp (sắn, ngô…) Rõ ràng khi thu nhập tăng người tiêu dùng sẽ mua nhiều thịt, cá, trứng và mua ít ngô, khoai, sắn…
1.4.2 Giá cả của các loại hàng hoá liên quan (P Y )
Các hàng hoá liên quan chia làm 2 loại: Hàng hoá thay thế và hàng hoá bổ trợHàng hoá thay thế là những hàng hoá có công dụng mà việc tiêu dùng hàng này thay thế cho tiêu dùng hàng kia ( ví dụ : chè và cà phê) Khi giá chè tăng lên, cầu về cà phê sẽ tăng
Hàng hoá bổ trợ là những hàng hoá khác nhau về công dụng mà khi tiêu dùng hàng này phải tiêu dùng hàng kia
Ví dụ : Chè với đường, xe máy và xăng … Khi giá của hàng này tăng lên thì cầu hàng kia sẽ giảm
1.4.3 Sở thích hay thị hiếu(T)
Người tiêu dùng thường hướng tới việc tiêu dùng những hàng hóa mà họ thích Với khả năng có hạn người tiêu dùng sẽ ưu tiên cho những hàng hóa mà họ thích nhất hoặc thích hơn Quảng cáo cũng đem đến những tác động đối với thị hiếu của người tiêu dụng Vì thế, thị hiếu là một nhân tố khác hẳn với các yếu tố khác của cầu
1.4.4 Tác động của chính phủ(G)
Chính phủ đánh thuế vào người tiêu dùng sẽ làm giảm cầu và ngược lại nếu trợ cấp cầu về hàng hóa dịch vụ sẽ được tăng lên
1.4.5 Dân số(N)
Dân số càng đông thì cầu về hàng hóa, dịch vụ càng nhiều
VD: Cầu về gạo của việt nam và trung quốc.
TQ là một nước lớn có dân số hơn tỷ người trong khi đó Việt Nam có dân số hơn 80tr người.Rõ ràng là ở mỗi mức giá lượng cầu đối với trung quốc sẽ lớn hơn nhiều so với cầu việt nam Cho dù thu nhập, sở thích và các yếu tố khác là như nhau thì điều này vẫn đúng đơn giản là vì trung quốc có quá nhiều người tiêu dùng trong thị trường gạo
1.4.6.Các kỳ vọng(E)
Cầu về hàng hóa và dịch vụ sẽ thay đổi theo sự mong đợi của người tiêu dùng Nếu người tiêu dùng dự đoán và mong đợi giá hàng hóa nào đó trong tương lai sẽ giảm xuống thì cầu về hàng hóa đó hiện tại giảm và ngược lại Người tiêu dùng còn kỳ vọng
vể thu nhập, thị hiếu, giá cả hàng hóa liên quan, Những kỳ vọng này đều tác động đến cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ hiện tại
Với tất cả các yếu tố hình thành cầu, hàm cầu được biết đầy đủ là
QD
x,t: = F ( P x,t I t’ P y,t’ T t’ G t’ N t’ E )
Trang 22Trong đó:
QD
x,t: Lượng cầu đối với hàng hóa x trong thời gian t
Px,t: Giá của hàng hóa x trong thời gian t
It: Thu nhập của người tiêu dùng trong thời gian t
Py,t: Giá của hàng hóa y có liên quan trong thời gian t
Nt: Dân số trong thời gian t
Tt:: Thị hiếu của người tiêu dùng trong thời gian t
E: Các kỳ vọng
Gt: Chính sách của chính phủ trong thời gian t
1.5.Sự thay đổi của lượng cầu và của cầu
1.5.1.Sự thay đổi của lượng cầu
Lượng cầu thay đổi theo hai hướng: hoặc là tăng hoặc là giảm khi giả cả của hàng hóa, dịch vụ thay đổi:( giảm hoặc tăng ) các yếu tố khác giữ nguyên)
Hình 2.3: sự di chuyển dọc đường cầu
Sự thay đổi của lượng cầu dẫn đến sự di chuyển dọc theo cầu
1.5.2 Sự thay đổi của cầu
Cầu cũng thay đổi theo hai hướng: hoặc là tăng hoặc là giảm khi có một trong các yếu
tố hình thành cầu thay đổi còn các mức giá hàng hóa, dịch vụ giữ nguyên,
Q
P
P0 P1
Trang 23Hình 2.4: sự di chuyển đường cầu
Cầu thay đổi làm cho đường cầu dịch chuyển lên trên hoặc sang phải( cầu tăng), xuống dưới hoặc sang trái( cầu giảm)
2 CUNG
2.1.Khái niệm
Cung là lượng hàng hóa mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.( với giả thiết các yếu tố khác của hàng hóa không thay đổi)
Cũng như cầu cung gồm hai yếu tố cơ bản là khả năng và ý muốn của người bán.Người sản xuất có hàng để bán nhưng không muốn bán vì giá quá rẻ thì không có cung Tương tự, khi hàng hóa khan hiếm, giá cao, người sản xuất rất muốn bán song sản xuất không đáp ứng được kịp thì khi đó cũng không có cung
Lượng cung là lượng hàng hóa dịch vụ mà người bán sẵn sàng và có khả năng bán ở mức giá đã cho trong 1 thời gian nhất định( với giả thiết các yếu tố khác không đổi)
2.2.Cung cá nhân và cung thị trường
Cung của từng nhà sản xuất là cung cá nhân Cung của tất cả người sản xuất là cung thị trường.Cung thị trường là tổng hợp của các mức cung của từng cá nhân
Biểu cung cho thấy:Tương ứng với mỗi mức giá là một lượng cung nhất định
VD: Cung thị trường về xe Drem II ở thành phố Hà Nội như sau:
Giá(triệu đồng/chiếc) Lượng cung(chiếc/tuần)
2.3 Luật cung
Trang 24Số lượng hàng hóa được cung trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của nó tăng lên và ngược lại.
Khi giá hàng hóa cao hơn, nếu chi phí đầu vào không thay đổi thì lợi nhuận dành cho sản xuất cao hơn,Họ sẽ sản xuất nhiều hơn và thị trường sẽ có thêm các doanh nghiệp khác tham gia vào sản xuất cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ này
Mối quan hệ giữa lượng cung và mức giá là mối quan hệ hàm số.
Hàm cung: Qs
x = g(Px) Trong đó: Qs
x: Cung về hàng X
Px: Giá hàng X
Một cách khác, hàm cung được mô tả là một phương trình mà biến số có thể là giá hoặc lượng cung
2.5: Đường cung về xe máy Drem II
Phương trình đường cung được viết là: Qs = c0 +c1.P
Trong đó: Qs: Lượng cung
P: Giá cả
Co: Hệ số biểu thị lượng cung khi giá cả bằng 0
C1: Hệ số biểu thị mối quan hệ giữa giá và lượng cung
(3): Có thể được viết dưới dạng
P
30
300 200 100
40
Q 400
s
Trang 25Q: Lượng cung
do: Hệ số biểu diễn mức giá khi lương cung bằng 0
d1: Hệ số biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cung và giá
Trên thực tế, lượng cung về một loại hàng hóa dịch vụ nào đó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác chứ khôg phải chỉ phụ thuộc vào giá cả của hàng hóa dịch vụ đó
2.4.Các yếu tố hình thành cung
2.4.1 Công nghệ(T)
Công nghệ là một yếu tố góp phần làm tăng sản xuất, giảm chi phí lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm Sự cải tiến công nghệ làm tăng cung
2.4.2 Giá của các yếu tố sản xuất(P i )
Giá của các yếu tố đầu vào có ảnh hưởng đến khả năng cung sản phẩm.Nếu giá các yếu tố đầu vào giảm xuống, chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm giảm dẫn đến xu hướng tăng cung và ngược lại
2.4.3 Chính sách của Chính phủ(G)
Nếu Chính phủ tăng thuế đối với các nhà sản xuất,cung hàng hóa, dịch vụ giảm và ngược lại, Tương tự, Chính phủ có thể trợ cấp đối với một số ngành hoặc doanh nghiệp
để khuyến khích tăng cung
2.4.4 Số lượng người sản xuất.(N)
Số lượng người sản xuất càng nhiều thì khả năng cung ứng càng lớn
2.4.5 Các kỳ vọng(E)
Người sản xuất mong đợi vào sự thay đổi của giá hàng hóa, giá yếu tố sản xuất, tiến
bộ công nghệ và chính sách của chính phủ Vì thế lượng cung hiện tại tăng hoặc giảm tuy thuộc vào sự mong đợi này
Như vậy hàm cung được viết một cách đầy đủ là
Qs
x,t = g( Px,,t ,Pi,t ,Tt ,Gt,Nt, E…)
Trong đó: Qs
xt:Cung về hàng X trong thời gian t
Px,t: Giá của X trong thời gian t
Pit:Giá yếu tố đầu vào trong thời gian t
Tt: Công nghệ trong thời gian t
Gt: Chính sách của chính phủ trơng thời gian t
Nt: Số lượng nhà sản xuất trong thời gian t
E: Các kỳ vọng
2.5.Sự thay đỏi của lượng cung và của cung
Trang 262.5.1 Sự thay đổi của lượng cung
Lượng cung thay đổi theo hai hướng:Tăng hoặc giảm khi giá của hàng hóa tăng hoặc giảm và các yếu tố khác không đổi
Hình 2.6: Sự di chuyển dọc đường cung
Sự thay đổi của lượng cung dẫn đến sự di chuyển dọc theo đường cung
2.5.2 Sự thay đổi của cung
Cung thay đổi cung theo hai hướng:Tăng hoặc giảm khi có sự thay đổi của một trong các yếu tố hình thành cung
Hình 2.7: Sự di chuyển của đường cung
Sự thay đổi của cung làm cho đường cung dịch chuyển sang phải( cung tăng),hoặc sang trái(cung giảm)
3 MỐI QUAN HỆ CUNG- CẦU.
E
Q1 Q0
Q2
P0 P2 P1
Q
S H
Trang 273.1.Trạng thái cân bằng
Cân bằng cung- cầu xẩy ra ở một mức giá mà tại đó lượng cung bằng lượng cầu Tại trạng thái cân bằng này ta có giá cân bằng và sản lượng cân bằng
Trở lại ví dụ thị trường xe Drem II ở thành phố Hà Nội ta thấy mối quan hệ cung cầu
ở mỗi mức giá khác nhau ở mức giá 20tr đồng/chiếc lượng cung bằng lượng cầu và bằng 300chiếc/ tuần Trên đồ thị ta thấy mức cân bằng được xác định bởi giao điểm của hai đường cung và cầu đối với xe máy DremII Đó là điểm cân bằng
Giá(triệu
đồng/chiếc)
Lượng cung(chiếc/tuần)
Lượng cầu(chiếc/tuần)
Hình 2.8: Điểm cân bằng thị trường
Đặc điểm quan trọng của mức giá cân bằng này là nó không được xác định bởi từng
cá nhân riêng lẻ mà nó được hình thành bởi hoạt động tập thể của toàn bộ người mua và người bán Giá cả được hình thành một cách khách quan
3.2 Trạng thái dư thừa và thiếu hụt.
Một mức giá bất kỳ có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá cân bằng thị trường
Với mức giá cao hơn mức giá cân bằng, người bán muốn bán nhiều(theo luật cung) trong khi người mua muốn mua ít( theo luật cầu) gây lên sự chênh lệch giữa cung và lượng cầu.Lượng chênh lệch này là dư thừa thị trường hay còn gọi là dư cung
P
10 15 20 25 30
500
200 300 100
S
Điểm cân bằng D
Trang 28Với các mức giá thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trường, người mua muốn mua nhiều (theo luật cầu) trong khi người bán muốn bán ít( theo luật cung) gây nên sự chênh lệch này gọi là thiếu hụt thị trường hay còn gọi là dư cầu.
Khi xuất hiện dư thừa hoặc thiếu hụt thị trường, cơ chế thị trường sẽ tự điều chỉnh, Đây là sự tác động qua lại giữa cung và cầu, được mô tả như một sơ đồ nhện
Hình 2.9: Cơ chế thị trường tự điều chỉnh
lượng cầu này, trên đường cung sẽ cho biết mức giá mà người bán sẵn sàng bán, ở mức giá này, trên đường cầu sẽ biết được lượng cầu mà người mua muốn mua…Cứ như thế, mức giá sẽ dịch chuyển vào giá cân bằng Po và lượng cung, cầu sẽ gặp nhau tại lượng cân bằng Qo.
3.3.Sự thay đổi cân bằng và kiểm soát giá
3.3.1.Sự thay đổi trạng thái cân bằng
Chúng ta đã biết rằng, hoạt động tập thể của người mua và bán sẽ hình thành nên giá cân bằng không phải là vĩnh cửu mà nó sẽ thay đổi khi đường cung hoặc đường cầu dịch chuyển bởi sự tác động của các yếu tố hình thành cung, cầu Khi đó, cần bằng ban đầu mất đi, cân bằng mới xuất hiện
3.3.2.Kiểm soát giá
Kiểm soát giá là một minh họa cụ thể cho tình trạng dư thừa và thiếu hụt trên thị trường
Kiểm soát giá là việc quy định giá của chính phủ đối với một số loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó nhằm thực hiện những mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ
Đây là cách chính phủ can thiệp vào thị trường Nếu không có sự can thiệp này, thị trường luôn biến động một cách trôi chảy theo cơ chế tự điều chỉnh Tổng lợi ích xh bao gồm lợi ích của người mua (thặng dư tiêu dùng) và lợi ích của người bán( thặng dư sản xuất)
P0
Trang 29Kiểm soát giá của chính phủ làm thay đổi thặng dư sản xuất và thặng dư tiêu dùng đồng thời làm giảm lợi ích xã hội Thông thường, chính phủ thực hiện kiểm soát giá với hai loại là giá trần và giá sàn.
Giá trần: Là mức giá tối đa không được cao hơn Trong hình( 2.10a ) giá trần là mức
giá P1 được chính phủ đặt ra trong trường hợp mức giá cân bằng của thị trường quá cao, gây khó khăn cho người tiêu dùng, nhất là những người có thu nhập thấp Nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, chính phủ áp đặt một mức giá thấp hơn Nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, chính phủ áp đặt một mức giá thấp hơn giá cân bằng và buộc các tổ chức kinh doanh phải bán theo mức giá quy định này Tuy nhiên, vận dụng lý thuyết về dư thừa và thiếu hụt chúng ta thấy ngay rằng, bất
cứ lúc nào giá bị đặt thấp hơn giá cân bằng đều gây ra hiện tượng thiếu hụt hàng hóa bởi
vì khi đó lượng cầu (QB) lớn hơn lượng cung ( QA) Khi hàng hóa khan hiếm, người tiêu dùng lại sẵn sàng trả một mức giá cao hơn giá trần P1 để mua được hàng hóa Lợi dụng tình trạng này, nhiều tổ chức kinh doanh đã giữ hàng hóa lại hoặc bán cho những nhà đầu cơ để tung ra thị trường tự do bán với giá cao hơn giá cân bắng ban đầu, mà chúng
ta thường gọi là “ giá chợ đen” Hiện tượng giá trần gây ra sốt giá là kết quả của việc kiểm soát giá chưa có hiệu quả của Chính phủ Kết quả này cho thấy, các Chính phủ cần hết sức thận trọng khi can thiệp vào thị trường, việc kiểm soát giá bằng cách quy định giá trần và giá sàn không phải là giải pháp luôn mang lại hiệu quả
2.10a Giá trần 2.10b Giá sàn
Ngoài ra, giá trần còn một số nhược điểm khác như vấn đề chất lượng hàng hóa kém do thiếu hụt Thiếu hụt buộc chính phủ phải khắc phục bằng cách tung lượng hàng hóa dự trữ ( nếu có) bán ra, người mua phải xếp hàng hoặc mua theo phân phối định suất Những giải pháp này có thể là các nguyên nhân của nhiều tiêu cực trong nền kinh tế
Giá sàn: Là mức giá tối thiểu không được phép thấp hơn Trong hình (2.10b) giá sàn
là mức giá P1 được Chính phủ đặt ra trong trường hợp mức giá cân bằng của thị trường quá thấp, gây khó khăn cho người sản xuất hoặc người lao động nhất là những lĩnh vực sản xuất nhỏ, năng suất và thu nhập thấp
D
S
E
Dư thừa E
QN QM
Trang 30Ví dụ Nông dân sản xuất nông nghiệp) Nhằm mục đích bảo vệ lợi ích cho người sản xuất và người lao động, Chính phủ áp đặt một mức giá cao hơn giá cân bằng và buộc các nhà cung cấp phải bán hàng hóa, dịch vụ của mình theo mức giá quy định này Vận dụng lý thuyết về dư thừa và thiếu hụt chúng ta thấy ngay rằng, bất cứ lục nào giá bị đặt cao hơn giá cân bằng đều gay ra hiện tượng dư thừa hàng hóa, bởi vì khi đó lượng cung (QN) lớn hơn lượng cầu ( QM) Trên thị trường lao động, hiện tượng dư thừa lao động
có thể coi là thất nghiệp Đối với hàng hóa, dịch vụ đầu ra, khi hàng hóa ế thừa, Chính phủ lại phải cân nhắc tới nhứng giải pháp tiếp theo để giải quyết số hàng hóa đó, tùy theo loại hàng hóa và từng trường hợp cụ thể, Chính phủ có thể mua vào dự trữ hoặc các giải pháp khác
Tóm lại, kiểm soát giá thông qua việc đặt giá trần và giá sàn là biện pháp điều tiết của Chính phủ, can thiệp vào cơ chế định giá khách quan của thị trường tự do, nên bên cạnh ưu điểm là bảo vệ lợi ích cho người tiêu dùng và người sản xuất, nó cúng có nhiều mặt trái như đã phân tích ở trên Điều này cho thấy việc can thiệp của Chính phủ vào thị trường dưới hình thức kiểm soát giá sẽ dẫn đên sự dư thừa hay thiếu hụt ở các mức giá quy định chứ không phải là một giải pháp cho vấn đề phân bổ tài nguyên và Chính phủ cần nhận thức đúng đắn để vận dụng hợp lý các quy luật khách quan của thị trường tự
do
4 SỰ CO DÃN CỦA CUNG- CẦU
4.1.Co dãn của cầu
4.1.1 Khái niệm về co dãn của cầu
Co dãn của cầu là sự thay đổi phần trăm của lượng cầu chia cho sự thay đổi phần trăm của các nhân tố ảnh hưởng đến lượng cầu (giá cả hàng hóa đó, thu nhập hoặc giá cả hàng hóa khác) với điều kiện các nhân tố khác không đổi.
Gọi lượng cầu của hàng hóa X là QD
X, mức thay đổi tuyệt đối của lượng cầu là
ΔQD
X , mức thay đổi phần trăm là % ΔQD
X , giá cả hàng hóa X, Y, Z lần lượt là Px, PY,
PZ, thu nhập là I Với các ký hiệu như vậy, ta có thể biểu diễn quan hệ giữa lượng cầu hàng hóa X và các nhân tố ảnh hưởng tới nó bằng phương trình:
QD
X = f(Px, PY, PZ, I…)
a) Co dãn của cầu theo giá của hàng hóa
Độ co giãn của cầu theo giá cả hàng hóa cho ta biết: có bao nhiêu phần trăm biến đổi
về lượng cầu khi giá hàng hóa đó thay đồi 1%
Gọi co dãn của cầu theo giá cà hàng hóa đó là ED
Trang 31- Giả định giá trị các nhân tố khác (PY, PZ, I…) không đổi
- Sẽ có giá trị âm phản ánh sự nghiêng xuống của đường cầu
b) Co dãn chéo của cầu đối với giá cả hàng hóa khác
- Giả định giá trị các nhân tố khác (PX,I…) không đổi
- Sẽ có giá trị âm, bằng không hoặc dương phụ thuộc vào hàng hóa là bổ sung, độc lập hay thay thế
c) Co dãn của cầu đối với thu nhập
- Giả định giá trị của các nhân tố khác (PX, PY, PZ…) không đổi
- Sẽ có giá trị âm đối với hàng hóa thứ cấp, dương đối với các hàng hóa thông thường, giá trị nằm giữa 0 và 1 đối với hàng hóa thiết yếu và lớn hơn 1 đối với hàng hóa cao cấp
Trang 32Hình 2.11: Cầu thị trường về dưa hấu và co dãn khoảngNếu chúng ta coi điểm ban đầu là H thì H ứng với mức giá bằng 7500đ được thể hiện bằng đoạn OH và lượng cầu bằng 0 Điểm E ứng với mức giá 5000đ và lượng cầu bằng 20 được thể hiện bằng đoạn OB Như vậy, khi vận động từ H đến E trên đường cầu, giá sẽ giảm từ 7500đ xuống 5000đ, tức là giá giảm 2500đ (thể hiện bằng đoạn HA hay ∆PX = -2500, còn lượng cầu sẽ tăng từ 0 đến 20 hay ∆QD
X = 20 (thể hiện bằng đoạn AE) Khi tính hệ số co dãn có 2 yêu cầu được đặt ra:
- Thứ nhất: mục đích tính toán là so sánh quan hệ thay đổi lượng cầu so với sự thay đổi của giá Tính toán phải cho phép so sánh phản ứng của cầu đối với giá cả giữa các hàng hóa khác nhau có đơn vị vật lý rất khác nhau Để đạt được mục đích này, chúng ta phải so sánh tỷ lệ phần trăm chứ không so sánh về sự thay đổi ở mặt tuyệt đối
- Thứ hai: Độ co dãn tính được phải đúng cho cả khi vận động trên đường cầu từ H đến E cũng như từ E đến H Muốn vậy chúng ta phải tính co dãn của cầu ở trung điểm
Ta có các công thức tính toán sau:
Trang 33p là một số âm vì mối quan hệ của lượng cầu với giá hàng hóa đó tỷ lệ nghịch.
Các kết quả khác nhau của E mang ý nghĩa khác nhau cho việc ra quyết định ở một doanh nghiệp hay việc áp dụng chính sách thuế hoặc trợ cấp của chính phủ
p
Trường hợp 1:Cầu được gọi là co dãn tương đối trong miền giá cả hiện thời /ED
p/>1
Cứ 1% thay đổi của giá kéo theo sự thay đổi lớn hơn 1% về lượng cầu
Trường hợp 2: Cầu được gọi là co giãn đơn vị/ED
P// = 1.Giá thay đổi bao nhiêu phần trăm, kéo theo sự biến đổi bấy nhiêu phần trăm của lượng cầu
Trường hợp 3:Cầu được gọi là kém co dãn/ED
P/<1.Cứ 1% thày đổi của giá kéo theo sự thay đổi nhở hơn 1% về lượng cầu
Trường hợp 4: Cầu hoàn toàn co dãn ED
P = ∞ Đường cầu là một đường nằm ngang
Trường hợp 5:Cầu hoàn toàn không co dãn ED
P = 0 Đường cầu là một đường thẳng đứng
4.1.2 Co dãn của cầu theo giá hàng hóa liên quan(co dãn của cầu theo giá chéo)
Độ co dãn của cầu theo giá hàng hóa có liên quan cho ta biết: có bao nhiêu phần trăm biến đổi về lượng cầu của hàng này khi giá hàng hóa khác thay đổi 1%
Gọi co dãn của của cầu theo giá hàng hóa có liên quan là ED
xy=0 khi đó X,Y là hai hàng hóa không có quan hệ với nhau
4.1.3:Co dãn của cầu theo thu nhập
Trang 34Độ co dãn của cẩu theo thu nhập cho ta biết: Có bao nhiêu phần trăm biến đổi của lượng cầu khi thu nhập thay đổi 1%.
Gọi co dãn của cầu theo thu nhập là ED
I=0 khi đó ta nói hàng X không có quan hệ với thu nhập
4.2 Co dãn của cung theo giá
Độ co dãn của cung theo giá cho ta biết:Có bao nhiêu phần trăm biến đổi về lượng cung khi giá thay đổi 1%
Trường hợp 2: Cung co dãn đơn vị ES
P=1 Giá thay đổi bao nhiêu phần trăm Lượng cung thay đổi bấy nhiêu phần trăm
Trường hợp 3 : Cung kém co dãn ES
P<1 Cứ 1% thay đổi của giá làm cho lượng cung thay đổi nhỏ hơn 1%
Trường hợp 4: Cung hoàn toàn co dãn ES
P = ∞ Đường cung là một đường nằm ngang
Trường hợp 5: Cung hoàn toàn không co dãn ES
P = 0 Đường cung là một đường thẳng đứ
Trang 35BÀI TẬP THỰC HÀNH Bài số 1
Cung và cầu sản phẩm A được cho ở bảng dưới đây
a/ Hãy vẽ đường cung và đường cầu, xác định giá và lượng cân bằng
b/ Điều gì sẽ xẩy ra nếu:
- cung về sản phẩm A tăng gấp đôi ở mỗi mức giá
- Cung về sản phẩm A tăng thêm 15 đơn vị ở mỗi mức giá
c/ Giả sử đặt bằng 2 ngàn đồng / 1 đơn vị Hyax phân tích tình hình, Thị trường và biện pháp can thiệp của Chính phủ ( nếu có) để ổn định thị trường
Trang 36CHƯƠNG 3
LÝ THUYẾT HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG
1 LÝ THUYẾT VỀ LỢI ÍCH
1.1 Một số khái niệm
1.1.1.Lợi ích tiêu dùng (U)
Lợi ích tiêu dùng được hiểu là sự hài lòng, thỏa mãn do tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ mang lại
Việc tiêu dùng đem đến sự thỏa mãn, càng thỏa mãn chứng tỏ lợi ích từ quá trình tiêu dùng càng cao
1.1.2.Tổng lợi ích hay lợi ích toàn bộ (TU)
Tổng lợi ích hay lợi ích toàn bộ là tổng thể sự hài lòng, thỏa mãn do tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ mang lại
1.1.3.Lợi ích cận biên (MU)
Lợi ích cận biên là sự thay đổi của tổng lợi ích khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa hoặc dịch vụ Hay đó là lợi ích có được ở đơn vị hàng tiêu dùng cuối cùng trong một quá trình tiêu dùng
1.2.Quy luật của lợi ích cận biên giảm dần
Nội dung: lợi ích cận biên của một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó có xu hướng giảm
đi khi lượng hàng hóa hoặc dịch vụ đó được tiêu dùng nhiều hơn trong một thời kỳ nhất định
Nghĩa là khi tiêu dùng một mặt hàng nào đó nhiều hơn, tổng lợi ích sẽ tăng lên nhưng tăng với tốc độ ngày càng chậm
Ý nghĩa của quy luật: không nên tiêu dùng quá nhiều một mặt hàng nào đó trong ngắn
hạn
Điều kiện vận dụng: - Chỉ xét đối với một loại hàng hóa
- Số lượng sản phẩm hay hàng hóa khác được giữ nguyên
- Thời gian ngắn
1.3.Lợi ích cận biên và đường cầu
Lợi ích cận biên của việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ càng lớn thì người tiêu dùng càng sẵn sàng trả giá cao hơn cho nó và khi lợi ích cận biên giảm thì sự sẵn sàng chi trả cũng giảm đi Như vậy có thể dùng giá cả để đo lợi ích cận biên của việc tiêu dùng một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó
Trang 37Về hình dáng, đường cầu và đường lợi ích cận biên giống nhau Nghĩa là ẩn bên trong đường cầu là lợi ích cận biên giảm dần của người tiêu dùng Hay do quy luật lợi ích cận biên giảm dần mà đường cầu dốc xuống.
2.LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU
2.1.Sở thích của người tiêu dùng
2.1.1.Khái niệm giỏ “hàng hóa”
Giả sử hàng hóa là tập hợp của một hay nhiều loại hàng hóa Trong những giỏ hàng hóa, người tiêu dùng có thể ưu thích giỏ này hơn giỏ kia
2.1.2.Một số giả thiết
Giả thiết thứ nhất: sở thích là hoàn chỉnh, người tiêu dùng có khả năng đánh giá được
sở thích của mình đối với các giỏ hàng hóa được đưa ra
Ví dụ: người tiêu dùng sẽ thích A hơn B hoặc thích B hơn A, hoặc thích A và B như
nhau (bàng quan giữa hai giỏ hay thỏa mãn như nhau khi nhận được bất cứ giỏ nào trong hai giỏ)
Giảc thiết thứ hai: sở thích có tính chất bắc cầu, có nghĩa là nếu người tiêu dùng thích
giỏ hàng hóa A hơn B, B hơn C thì người này cũng thích A hơn C
Giả thiết 3: người tiêu dùng luôn thích nhiều hàng hóa hơn ít hàng hóa Nếu coi rằng
mọi hàng hóa đều tốt, nghĩa là đều được mong muốn: khi bỏ qua chi phí thì người tiêu dùng luôn thích nhiều nhiều hàng hóa hơn ít (bỏ qua những hàng hóa không được mong muốn như ô nhiễm môi trường chẳng hạn)
Ba giả thiết này đúng với hầu hết người tiêu dùng và nó tạo thành cơ sở lý thyết về hành vi người tiêu dùng
2.2.Đường bàng quan
*Khái niệm: đường bàng quan là tập hợp tất cả các giỏ hàng hóa có thể đem lại một
mức thỏa mãn như nhau cho người tiêu dùng Ký hiệu là (U)
Ví dụ: có 4 giỏ hàng hóa gồm bữa ăn và xem phim đem đến mức độ thỏa mãn như
nhau cho sinh viên H
Giỏ hàng hóa Số bữa ăn Số lần xem phim
Trang 38Hình 3.1: Đường bàng quanGọi đường bàng quan này là U1.
Ta thấy, U1 dốc xuống từ trái qua phải, cho thấy để có mức độ thỏa mãn như nhau giữa các giỏ hàng hóa, người tiêu dùng khi có thêm mặt hàng này phải giảm bớt mặt hàng kia
*Tính chất của đường bàng quan
Hình 3.2: các đường bàng quang không cắt nahu
- Tính chất 1: các đường bàng quan cao hơn được ưu thích hơn những đường bàng
quan thấp hơn
- Tính chất 2: các đường bàng quan dốc xuống.
- Tính chất 3: các đường bàng quan không thể cắt nhau.
2 1
C B
D A
Trang 39- Tính chất 4: các đường bàng quan là đường cong lồi xét từ gốc tọa độ.
*Tỷ lệ thay thế biên
Là tỷ số xác định cần phải đánh đổi bao nhiêu đơn vị hàng hóa này để có thêm một đơn vị hàng hóa kia mà không làm thay đổi độ thỏa dụng
Ví dụ: Ở hình 3.3 từ giỏ A sang giỏ B, người tiêu dùng phải đánh đổi 3 đơn vị mặt
hàng xem phim để có 8 bữa ăn Tiếp tục từ B đến C là sự đánh đổi 1 lần xem phim cho 3 bữa ăn Từ C đến D là sự đánh đổi 1:8
- Tỷ lệ thay thế biên ký hiệu là (MRS)
MRS = - Δy/Δx
Dấu (-) biểu thị số lần xem phim (Y) giảm để tăng số bữa ăn (X)
- Tỷ lệ thay thế biên giảm dần dọc theo đường bàng quan, do quy luật lợi ích cận biên giảm dần chi phối
*Hai trường hợp đặc biệt
+ Hàng thay thế hoàn hảo
Hình dáng của đường bàng quan có thể chỉ ra những mức độ khác nhau của sự mong muốn thay thế hàng hóa khác Nhưng cũng có những người tiêu dùng hoàn toàn bàng quan trong việc lựa chọn tiêu dùng hàng này hay hàng kia
Ví dụ: Minh có thể uống một cốc nước cam hay nước táo đều được Tỷ lệ thay thế
biên của nước cam và nước táo bằng 1 Vậy 2 hàng hóa là những hàng thay thế hoàn hảo khi tỷ lệ thay thế của hàng hóa này đối với hàng hóa kia là 1 số không đổi Các đường bàng quan là những đường thẳng
+ Hàng bổ sung hoàn hảo
Có những loại hàng hóa mà việc tiêu dùng hàng này bắt buộc phải kèm theo một số lượng nhất định hàng kia
Ví dụ; giày trái và giày phải, giày trái không làm tăng sự thỏa mãn nếu nó không được
dùng kèm theo chiếc giày phải tương ứng
Trang 40Hai hàng hóa là hàng bổ sung hoàn hảo khi các đường bàng quan của chúng có hình
Hình 3.4: Thay thế hoàn hảo Hình 3.5: Bổ sung hoàn hảo
2.3.Đường ngân sách và Sự ràng buộc ngân sách
Là đường mô tả những kết hợp hàng tiêu dùng khác nhau mà người tiêu dùng có thể mua được từ một mức ngân sách nhất định
Giấy trái
21Y
X20
Độ dốc = - PX/Py