KHÁI QUÁT VỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘINghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội, chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc, nhằm làm sáng rõ cái đúng sai, tốt xấu
Trang 1KHÁI QUÁT VỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội, chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc, nhằm làm sáng rõ cái đúng sai, tốt xấu của vấn đề được nêu ra từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống và bản thân Những đề tài và nội dung này thường là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống, có tính giáo dục cao, có tính thời sự… Đối với chương trình Làm văn trong trường phổ thông, đó thường là các đề tài mang đến cho HS những suy nghĩ, nhận thức đúng đắn về cuộc sống, có ý nghĩa hướng đạo, đặc biệt là những vấn đề có ý nghĩa tác động trực tiếp đối với thế hệ trẻ Nội dung nghị luận thường được cô đúc trong các câu tục ngữ, danh ngôn, hay một lời nhận xét, đánh giá khái quát nào đó thể hiện những quan niệm, đánh giá,… về các vấn đề của xã hội Đó cũng có thể là các vấn đề mang tính chất xã hội được rút ra từ các tác phẩm văn học
Do đặc trưng đề tài của nghị luận xã hội, khi viết bài, người viết phải có sự hiểu biết về xã hội, cuộc sống và văn học ; có thái độ và nhận thức đúng đắn khi đứng trước các vấn đề nghị luận ; chủ động, chân thành, trung thực khi thể hiện cách ứng xử, đánh giá của mình trước vấn đề đặt ra.
Mặt khác, do đặc trưng kiểu văn bản nghị luận, người viết cũng cần thành thạo các thao tác nghị luận (giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận) ; biết cách lập luận để bài viết có sức thuyết phục ; biết cách bố cục bài nghị luận chặt chẽ, logic
I.MỘT SỐ KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Để có thể triển khai tốt một bài văn nghị luận xã hội, người học cần phải thành thạo những kĩ năng cơ bản sau
1 Phân tích đề, tìm hiểu đề
-Đọc kĩ đề, chú ý những từ quan trọng, những khái niệm khó, nghĩa đen, nghĩa bóng của từ ngữ, nghĩa tường mình, nghĩa hàm ẩn của câu, đoạn Chia vế, ngăn đoạn, tìm hiểu mối tương quan giữa các vế : song song, chính phụ, nhân quả, tăng tiến hay đối lập…
-Khi phân tích đề phải xác định được 3 yêu cầu sau :
a) Vấn đề cần nghị luận là gì ? Có bao nhiêu ý cần triển khai ? Mối quan hệ giữa các ý như thế nào ?
b) Sử dụng thao tác lập luận gì là chính ? Thường là phải sử dụng tổng hợp tất cả các thao tác, nhưng tùy theo từng dạng đề, tùy thuộc vào từng lĩnh vực kiến thức mà thiên về thao tác nào là chính.
c) Vùng tư liệu được sử dụng cho bài viết : thuộc lĩnh vực xã hội nào, phạm
vi, ảnh hưởng,…
Đây là một thao tác quan trọng và cần thiết giúp phát hiện ra vấn đề cần nghị luận trong yêu cầu của đề bài và triển khai đúng yêu theo yêu cầu của đề Vì
Trang 2thao tác này có ý nghĩa quyết định đến chất lượng bài viết nên cần phải có sự đầu tư thích đáng
Ví dụ, với đề bài : Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ và trả lời câu hỏi sau của
nhà thơ Tố Hữu :
Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn ?
(Một khúc ca) Cần phải xác định được những nội dung cơ bản sau từ đề bài :
-Về nội dung :
+ Câu thơ trên của Tố Hữu nêu lên vấn đề "sống đẹp"
+ Để "sống đẹp", con người cần có những phẩm chất gì ?
+ Người thanh niên, người học sinh để trở thành người sống tốt đẹp cần học tập
và tu dưỡng tốt.
Bài viết có thể chia làm 4 luận điểm, mỗi luận điểm gồm một ý như trên và phần liên hệ bản thân.
-Với đề văn như trên, cần sử dụng các thao tác lập luận : giải thích (khía niệm "sống đẹp"), phân tích (những biểu hiện của "sống đẹp”), chứng minh, bình luận… (những tấm gương “sống đẹp”, đánh giá những hành động, việc làm thể hiện cách "sống đẹp",…).
-Phạm vi dẫn chứng :
+Từ thực tế
+Từ thơ văn (chú ý số lượng vừa phải để tránh lạc sang nghị luận văn học)
2 Lập dàn ý
Sau khi xác định được yêu cầu của đề bài, nội dung của luận đề, cần phải tổ chức lập luận, lập dàn ý thỏa mãn yêu cầu của đề bài Khâu này phụ thuộc rất nhiều vào kết quả phân tích đề HS cần phải vạch ra được những ý lớn, những luận điểm chính, trên cơ sở đó cụ thể hóa thành từng ý nhỏ Dàn ý càng chi tiết thì càng thuận lợi cho việc viết viết bài.
Lập dàn ý giúp cho người viết lực chọn, sắp xếp ý thành một hệ thống chặt chẽ
và bao quát được nội dung cơ bản, nhờ đó mà tránh tình trạng lạc đề hoặc lặp ý, tránh việc bỏ sót hoặc triển khai ý không cân xứng Đồng thời, nhờ dàn ý, người viết sẽ biết cách sắp x6e1p thời gian một cách hợp lí.
-Cách lập dàn ý bài văn NLXH :
+ Xác định các luận điểm (ý lớn)
• Đề bài có nhiều ý thì ứng với mỗi ý là một luận điểm.
• Đề bài có một ý thì ý nhỏ hơn cụ thể của ý đó được xem là những luận điểm Nội dung kiến thức này ở trong bài học, tư liệu vốn có.
Trang 3+ Tìm luận cứ (ý nhỏ) cho các luận điểm : Mỗi luận điểm cần được cụ thể hóa thành nhiều ý nhỏ hơn gọi là luận cứ Số lượng ý nhỏ và cách triển khai tùy thuộc vào ý lớn.
+ Lập dàn ý gồm ba phần :
a) Mở bài : Giới thiệu vấn đề xã hội cần nghị luận.
b) Thân bài : Triển khia nội dung theo các ý nhỏ và ý lớn đã tìm.
c) Kết bài : Tổng kết nội dung đã trình bày, liên hệ, mở rộng, nâng cao vấn đề.
Ví dụ, với đề bài : Đọc truyện Tấm Cám, anh (chị) suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh
giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu trong xã hội xưa và nay ?
Đề bài yêu cầu bàn luận một vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội nhưng xuất phát từ sự thể hiện của vấn đề đó trong văn học : cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, người xấu và kẻ tốt trong xã hội xưa và nay.
Lập dàn ý :
a) Mở bài
-Giới thiệu về những quan niệm đạo đức truyền thống liên quan đến thiệc - ác trong dân gian.
-Giới thiệu truyện cổ tích Tấm Cám và bài học đạo đức về sự chiến thắng của cái thiện.
b) Thân bài
-Cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, người tốt và kẻ xấu thể hiện trong Tấm Cám + Đặc trưng thể loại cổ tích: phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội + Mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác trong truyện Tấm Cám: Dùi ghẻ, Cám >< Tấm, giai cấp bóc lột >< giai cấp bị bóc lột, cái ác >< cái thiện.
+ Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác: Mẹ con Cám bóc lột Tấm, 4 lần giết Tấm: chặt cau, giết vàng anh, chặt cây xoan đào, đốt khung cửi → Tấm hóa kiếp nhắc nhở “Phơi áo chồng tao…”, giành lại hạnh phúc (vua mắc võng lên cây xoan đào), đe dọa kẻ thù “Kẽo cà kẽo kẹt…chị móc mắt ra”.
+Ý nghĩa cuộc đấu tranh của cái thiện với cái ác: tăng tiến về múc độ, từ thụ động đến chủ động,…
-Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong cuộc sống hiện nay.
-Rút ra bài học:
+ Muốn chiến thắng cái ác phải kiên quyết, không thể nhu nhược, nhún nhường + Con người phải biết hướng thiện và tránh xa cái ác.
c) Kết luận
Khẳng định đạo lí” ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặt bão”… của nhân dân ta Ý nghĩa của bài học đó với bản thân
Trang 4II CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN TRONG BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Do đặc trưng của việc bàn luận, làm sáng tỏ một vấn đề xã hội nào đó, cũng giống như các bài văn nghị luận nói chung, một bài văn nghị luận xã hội cần có
sự kết hợp thành thạo giữa các thao tác nghị luận, lập lu6a5n chặt chẽ, thuyết phục, bố cục logic.
Các thao tác sử dụng trong văn nghị luận xã hội là:
1.Giải thích
Giải thích là vận dụng tri thức lí giải cho người khác hiểu vấn đề mà mình đề cập tới Trong 1 bài văn NLXH, thao tác giải thích thể hiện cụ thể trước hết ở việc đi vào lí giải các từ ngữ, khái niệm khó, nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa
mở rộng… Trên cơ sở đó giải thích toàn bộ vấn đề (chú ý đến nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn) Trong thao tác giải thích toàn bộ vấn đề (chú ý đến nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn) Trong thao tác giải thích, người viết vừa dùng lí lẽ để phân tích, lí giải là chủ yếu; vừa dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, xác lập
1 cách hiểu đúng đắn, có tính biện chứng, chống lại những cách hiểu sai, hiểu không đầy đủ về vấn đề xã hội đã được đưa ra.
Thực chất của thao tác này là việc đi vào trả lời các câu hỏi: Vấn đề xã hội được đưa ra nghị luận là gì? Cần phải hiểu vấn đề đó như thế nào? Tại sao lại có cách hiểu như vậy? Và cách hiểu đó dẫn đến kết quả như thế nào? Kết thúc thao tác giải thích , người viết phải làm cho người đọc, người nghe hiểu được vấn đề được đưa ra nghị luận, rút ra được chân lí để sau đó vận dụng vào cuộc sống hiện tại, vào bả thân.
Ví dụ: Trong đề: Đức Phật dạy : “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới jho6ng cạn
mà thôi”
Anh (chị) nghĩ gì về lời dạy trên? Viết bài văn bàn về vai trò của cá nhân và tập thể.
Vấn đề xã hội được đưa ra nghị luận là vai trò của cá nhân và tập thể được thể hiện trong một lời dạy của Phật Để hiểu vấn đề trên, người viết cần:
- Giải thích lời răn dạy
+ Nghĩa đen: Một giọt nước riêng sẽ dễ bay hơi, khó tồn tại Triệu triệu giọt nước hòa thành biển cả thì bền vững “không cạn”
+Nghĩa bóng: Mỗi cá nhân là một giọt nước, đứng một mình thì khó tồn tại và phát triển Con người phải biết hòa mình vào tập thể mới đứng vững, mới phát huy hết khả năng, mới có điều kiện để phát triển.
- Trả lời câu hỏi: Tại sao lại như vậy?
+ Cuộc sống có nhiều khó khăn, vất vả; một cá nhân không thể làm hết mọi việc, đáp ứng mọi nhu cầu.
+ Bước vào tập thể, con người học tập, sẻ chia, giúp đỡ, động viên nhau; xây dựng tập thể vững mạnh trong đó mỗi cá nhân đều được đáp ứng nhu cầu.
Trang 5+ Cá nhân và tập thể có mối quan hệ khăng khít: Cá nhân xây dựng nên tập thể, tập thể tạo điều kiện cho cá nhân phát triển.
Trên cơ sở giải thích ý nghĩa của lời dạy, giải thích ý nghĩa của vấn đề xã hội được đưa ra bàn luận: Vai trò cũng như mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể.
2 Chứng minh
Chứng minh là đưa ra những cứ liệu - dẫn chứng xác đáng để làm sáng tỏ một lí
lẽ, một ý kiến, làm sáng tỏ vấn đề XH đang bà luận, thuyết phục người đọc, người nghe tin tưởng vào vấn đề đang được nghị luận đó.
Để chứng minh một vấn đề, trước hết, người viết cần phải hiểu về những điều cần chứng minh, chứng minh làm sáng rõ cho những thao tác giải thích trước
đó cũng như chứng minh cho những luận điểm , luận cứ trong bài viết Tùy theo yêu cầu của đề, cần chứng minh cho những luận điểm, luận cứ trong bài viết Tùy theo yêu cầu của đề,cần phải có sự khoanh vùng những vấn đề xã hội được bàn luận, đưa ra các dẫn chứng xác đáng, tiêu biểu và toàn diện nhát để làm sáng tỏ điều cần chứng minh Dẫn chứng đưa ra cần có sự chọn lọc, tránh việc đưa dẫn chứng quá nhiều, không tiêu biểu, không sát với vấn đề được nghị luận, biến bài NL thành 1 bva2i liệt kê số liệu xã hội Dẫn chứng đưa ra cần có lí lẽ phân tích, để làm nổi bật những điểm phục vụ cho việc nghị luận, làm sâu sắc thêm vấn đề.
Để dẫn chứng và lí lẽ có sức thuyết phục capo, phải sắp xếp chúng thành 1 hệ thống mạch lạc và chặt chẽ theo các mặt của vấn đề, theo trình tự thời gian, không gian, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong… cho hợp lí và logic Các dẫn chứng đưa ra phải là những dẫn chứng phục vụ đắc lực cho việc bàn luận về các vấn đề xã hội, tức cũng mang tính xã hội, có ý nghĩa trong đời sống xã hội.
Ví dụ: Trong đề văn: Tuổi trẻ học đường suy nghi và hành động để góp phần
giảm thiểu tai nạn giao thông, để làm sáng tỏ vấn đề, cần đưa ra dẫn chứng chứng minh cho các luận điểm:
- Thực trạng tai nạn giao thông
- Hậu quả của vấn đề
- Các hành động của tuổi trẻ học đường trong việc góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông.
Sau đây là 1 đoạn văn chứng minh về thực trạng an toàn giao thông:
“Những thực tế đau buồn về tình hinh tai nạn giao thông đã phản ánh tầm quan trọng của vấn đề: Mỗi ngày qua đi có tới hơn ba mươi người chết và bị thương
do tai nạn giao thông Trong vài năm trở lại đây, trong chương trình “Chào buổi sáng” mới có chuyên mục “An toàn giao thông” Đó là do tình hình tai nạn đã quá phổ biến gây xôn xao trong dư luận Từng ngày từng giờ, có tới hàng trăm vụ tai nạn, theo đó là hàng chục thiệt hại: Những vụ đâm tàu ( ở Hà Nam, ở Quảng Bình…), những tai nạn ô tô nghiêm trọng, phổ biến hơn là các tai nạn mô tô xe máy… tại các thành phố lớn, khu dâ cư đông đúc… Và đáng buồn thay, trong số
Trang 6những vụ tai nạn ấy, có nhiều vụ là hậu quả của những người học sinh - sinh viên coi thường an toàn giao thông Mặt khác, cũng không ít HS - sinh viên là nạn nhau đau thương của nhiều vụ tai nạn thảm khốc…”
Trong đoạn trên, người viết đã đưa ra những dẫn chứng từ thực trạng nền giao thông đang diễn biến ngày càng phức tạp với rất nhiều những bắt cập: mặc đẹp mấy lâu xì hơi cho cái
3 Phân tích
Phân tích là việc chia tách đối tượng, sự vật, hiện tượng thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội dung và mối quan hệ bên trong của đối tượng.
Đối tượng phân tích của một bài nghị luận xã hội là 1 vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực xã hội, được thể hiện trực tiếp trong yêu cầu của đề bài hay qua một câu tục ngữ, 1 câu danh ngọn, 1 ý kiến, nhận định… qua vấn đề xã hội thể hiện trong văn học Tác dụng của phân tích là thấy được giá trị ý nghĩa của sự vật, hiện tượng, mối quan hệ giữa hình thức bên ngoài và bản chất bên trong của sự việc, hiện tượng đó Phân tích để nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về các vấn đề xã hội đang được đưa ra xem xét, bàn luận Yêu cầu khi phân tích cần phải nắm vững đặc điểm cấu trúc của đối tượng để chia tách 1 cách hợp lí Sau khi phân tích, tìm hiểu từng bộ phận, chi tiết, phải tổng hợp khái quát lại để nhận thức đối tượng đầy đủ, chính xác.
Ví dụ, dưới đây là đoạn văn phân tích về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể
trong đề: Đức Phật dạy: “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạ mà thôi” Anh(chị) nghĩ gì về lời dạy trên? Viết bài băn về vai trò của cá nhân và tập thể.
“… Đức Phật từng dạy: “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi” Nếu coi từng giọt nước là những cá thể riêng lẻ trong xã hội và biển cả là tập thể rộng lớn thì lời dạy của Đức Phật thật sâu xa, thâm thúy Câu nói ấy nhắc nhở con người phải biết hòa mình vào tập thể, sống trong tập thể và sống vì tập thể
“một người vì mọi người” Mỗi cá nhân là một bộ phận hữu cơ của tập thể xung quanh Tự cá nhân ấy không thể đáp ứng mọi nhu cầu về vật chất, tinh thần cho mình bởi mỗi người không phải là cả thế giới:
Một ngôi sao chẳng sáng đêm Một bông lúa chín chẳng nên mùa vàng Một người đâu phải nhân gian Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi
(Tố Hữu - Tiếng ru) Bước vào tập thể họ sẽ được bù đáp những khiếm khuyết, bổ sung, giúp đỡ những thiếu thốn Một học sinh yếu môn toán sẽ được bạn cùng lớp học tốt hơn giúp đỡ Một người chuyên trồng rau không có gạo để ăn có thể đổi rau lấy gạo với một người trồng lúa Có tập thể ủng hộ nâng đỡ, con người sẽ không bao giờ
Trang 7buồn phiền hay lo lắng “Hòa vào biển cả”, một giọt nước sẽ “không bao giờ khô cạn” Ngược lại, sống trong tập thể, gắn bó với tập thể, mỗi cá nhân có thể đóng góp cho sự phát triển của tập thể mình Một học sinh tốt có thể giúp đỡ được nhiều bạn học yếu trong lớp, đưa phong trào học tập của lớp đi lên Một nhân viên làm việc chăm chỉ sẽ tác động, kích thích tinh thần làm việc của cả nhóm, cả phòng, ban Thực tế, trong một tổ chức, tập thể, mỗi thành viên đều có một vị trí, vai trò nào đó Vì vậy bản thân mỗi cá nhân lại có sự tác động nhất định đến những cá nhân khác, từ đó tác động đến cả tập thể Cha ông ta từng có câu : Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ Vậy là mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể vô cùng khăng khít, gắn bó hữu cơ Nhận thức được điều đó, mỗi người cần sống tốt hơn
để xây dựng gia đình, lớp học, cơ quan của mình Ta không sợ mất đi điều gì bởi
ta vì mọi người thì đến lượt tập thể họ cũng sẵn sàng “mọi người cũng vì một người” giúp đỡ ta tiến lên nhiều hơn, mạnh hơn nữa”.
4 Bình luận
Bình luận là bàn bạc, đánh giá vấn đề, sự việc, hiện tượng… chỉ ra sự đúng - sai, phải- trái, tốt- xấu, lợi - hại,… để nhận thức đội tượng, có cách ứng xửa phù hợp, phương châm hành động đúng Đây là thao tác có tính tổng hợp vì nó bao hàm
cả công việc giải thích lẫn chứng minh Tuy nhiên, đây là thao tác giải thích và chứng minh được viết cô đọng để tập trung làm sáng rõ cho phần việc quan trọng nhất là phần mở rộng vấn đề Việc bình luận phải dựa trên sự nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, khách quan, có lập trường tư tưởng đúng đắn, rõ ràng.
Bình luận gồm có hai phần:
+ Đưa ra nhận định về đối tượng nghị luận (Thông thường, những nhận định được rút ra từ kết quả phân tích).
+ Trên cơ sở của những nhận định, đánh giá về vấn đề Muốn đánh giá vấn đề một cách thuyết phục cần có lập trường đúng đắn và nhất thiết là phải có tiêu chí Trong nghị luận về văn học, đó là các tiêu chí giá trị đặc trưng của văn học nghệ thuật như giá trị nhận thức, giá trị thẩm mĩ, giáo dục, nhân đạo… Còn trong nghị luận xã hội đó thường là việc dựa vào lập trường mang tính đạo đức truyền thống của nhân dân, các tiêu chí đạo lí của xã hội…
Người viết thể hiện ý kiến của mình đối với vấn đề xã hội được đưa ra nghị luận; đồng ý hay không đồng ý? Đồng ý ở những nội dung, khía cạnh nào? Sau đó bình luận - mở rộng lời bàn về vấn đề một cách sâu hơn, toàn diện và triệt để hơn Cuối cùng, cần chỉ ra phương hướng vận dụng vào cuộc sống, chỉ ra ý nghĩa, tác dụng của vấn đề đối với bản thân và đời sống xã hội.
Trong khi thực hiện thao tác bình luận, người viết cần phải rất linh hoạt, tránh cách nhìn phiến diện, một chiều Bằng vốn tri thức, vốn sống của bản thân, cần phải đưa ra những cách nhìn nhận đúng đắn, bằng lập luận, lí lẽ và dẫn chứng, lôi cuốn, thuyết phục mọi người.
Trang 8Đặc biệt, vì đây là kiểu bài nghị luận về các vấn đề xã hội nên việc bàn luận, mở rộng dựa trên những ý nghĩa xã hội thực tiễn cũng như vận dụng vào trong đời sống hàng ngày là không thể thiếu Người viết cần phải trang bị cho mình vốn kiến thức phong phú về đời sống, hiểu biết về xã hội, về các tư tưởng đạo lí…Bàn luận mở rộng vấn đề cần tập trung, tránh đi vào những vấn đề không cần thiết hoặc ít liên quan dẫn đến lạc đề, xa đề.
Ví dụ, trong đề: Phân tích và làm sáng tỏ ý nghĩa câu nói:
“Đường đi không khó vì ngăn cách sông núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Bá Học)
Bàn luận mở rộng vấn đề bằng việc liên hệ với thế hệ trẻ, với chính bản thân mình Dưới đây là một đoạn văn bình luận:
“Là học sinh, chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ và bổn phận của mình, luôn tự nhắc nhở bản thân:
Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên
Và “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi, e sông”
Nói như vậy có nghĩa là, nhiệm vụ chính của chúng ta là học tập, sẽ không có lí
do gì để chúng ta không cố gắng học tốt, chỉ có tích cực trau dồi kiến thức, mỗi người trẻ tuổi mới có thể trở thành những chủ nhân có ích cho đất nước Đứng trước một bài tập khó hay trước những phút lười biếng, hãy nhớ đến câu nói của thẩy Nguyễn Bá Học để vượt qua, để vươn lên thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Chúng ta là những con người hạnh phúc bởi đang được sống trong một đất nước hòa bình phát triển Chúng ta được học tập, vui chơi, được tự do mơ ước mà không phải “xếp vào ba lô mọi mơ ước dịu hiền nhất… mà đánh giặc” Vì vậy, hãy cố gắng ở mức cao nha61gt để trở thành những con người ưu tú, có ích cho công đồng”.
Như đã nói ở trên, 1 bài văn nghị luận thường là sự kết hợp của nhiều thao tác lập luận, trong đó, tìu theo từng yêu cầu và vấn đề nghị luận nêu ra ở đề bài mà lực chọn và sử dụng thao ya1c nào là thao tác chính.Không thể sử dụng đơn độc
1 thao tác lập luận duy nhất, làm cho vấn đề bàn luận trở nên thiếu sức thuyết phục, không thấu đáo Viết văn nghị luận xã hội là thể hiện sự hiểu biết, nhận thức, khám phá của mình về đối tượng xã hội nghị luận, nhằm nâng cao trình
độ, năng lực, giúp người khác cũng hiểu và tin vào vấn đề Không chỉ thế, người viết qua đócũng thể hiện chính kiến, thái độ, sự đáng giá vấn đề, đưa ra những điều chỉnh tích cực nhằm nâng cao hiểu biết và tiến bộ về các lĩnh vựa trong đời sống xã hội Do đó, phải sử dụng kết hợp các thao tác lập luận để đi từ hiểu biết, nhận thức đến khám phá, và cuối cùng là bàn luận, đánh giá về vấn đề, liên hệ
Trang 9bản thân và đời sống Việc vận dụng một cách linh hoạt các thao tác lập luận sẽ khiến cho vấn đề xã hội nghị luận được nhìn nhận một cách đầy đủ, sâu sắc hơn, mang tính thuyết phục cao hơn, hấp dẫn người đọc người nghe.
III.CÁCH LÀM CÁC DẠNG ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Trong văn NL, căn cứ vào đối tượng nghị luận, người ta phân chia thành hai dạng chính: nghị luận về tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống.
a) Nghị luận về 1 tư tưởng đạo lí:
Đề tài của dạng bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí vô cùng phong phú Nó bao gồm các vấn đề nhận thức (như lí tưởng, mục đích sống…), về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính trung thực, thói ích kỉ, ), về các mối quan hệ gia đình, quan hệ xã hội, cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộc sống.
Chẳng hạn đề bài:
- Tình thương là hạnh phúc của con người.
- Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng:
“Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.
Để làm tốt dạng đề này cần chú ý những vấn đề sau:
- Giới thiệu, giải thích tư tưởng đạo lí cần nghị luận: Đó là vấn đề tư tưởng đạo
lí gì? Điều đó được thể hiện như thế nào trong thực tế? Nguyên nhân, nguồn gốc của tư tưởng đạo lí đó?
- Phân tích các mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn
đề nghị luận Lưu ý rằng có những vấn đề đạo lí trong thời đại này nhưng còn thiếu sót trong thời đại khác, đúng trong hoàn cảnh này nhưng chưa toàn diện trong hoàn cảnh khác Vì vậy việc phân tích, bác bỏ, bình luận phải đặt dưới nhiều chiều, nhiều góc độ.
- Nêu ý nghĩa, rút ra bài học về tư tưởng đạo lí, và hành động: đây là vấn đề cơ bản của một bài nghị luận bởi mục đích của việc nghị luận là rút ra những kết luận đúng để thuyết phục người đọc áp dụng vấn đề vào thực tiễn đời sống.
- Lấy dẫn chứng minh họa (chủ yếu là các dẫn chứng trong thực tế đời sống) Để bài viết thêm sâu sắc, người viết nên liên hệ với các ý kiến khác tương đồng hoặc đối lập.
Ví dụ: Trong đề: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ngợi ca lòng vị tha, tình đoàn kết.
Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên”.
Đề bài yêu cầu bàn luận về 1 vấn đề tư tưởng, đạo lí là thái độ sống (thờ o8, ghẻ lạnh hay vị tha, đoàn kết) của con người, từ đó đưa ra quan niệm về một cách sống đúng đắn, tiến bộ Để làm tốt đề này người viết cần:
Trang 10+ Giải thích các khái niệm: thờ ơ, ghẻ lạnh, vị tha, đoàn kết Vấn đề đó được thể hiện và có vai trò như thế nào trong cuộc sống?
+ Bài học rút ra cho mỗi người: Cần lên án lối sống thờ ơ, ghẻ lạnh giữa người với người, sống nhân ái, bao dung với những người xung quanh và nhân rộng tấm lòng bao dung ấy đến mọi nơi, mọi người, làm cho xã hội ngày càng nhân văn, tốt đẹp hơn.
+ Liên hệ với thế hệ trẻ, với bản thân.
+ Lấy dẫn chứng từ thực tế dời sống minh họa cho vấn đề: về những hành động thờ ơ, ghẻ lạnh giữa con người với nhau đáng bị phê phán, về tấm gương vị tha, đoàn kết đáng được học tập và phát huy.
b) Nghị luận về một hiện tượng đời sống:
- NGhị luận về một hiện tượng đời sống là bàn về 1 hiện tượng đời sống có ý nghĩa đối với đời sống xã hội: cách thể hiện tình cảm gia đình, thực trạng trong
xã hội, các vấn đề nóng bỏng mang tính thời sự,…
Chẳng hạn đề bài:
- Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông.
- Hiện nay ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.
Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó.
Để làm tốt dạng đề này cần chú ý những vấn đề sau:
- Đặt hiện tượng đời sống vào hoàn cảnh cụ thể, xã hội thực tại, nhìn chúng dưới những điều kiện xã hội cụ thể để có sự phân tích, lí giải, đánh giá đúng.
- Từ những điều đã phân tích, chỉ ra mặt đúng - sai, lợi - hại của hiện tượng.
- Lí giải nguyên nhân của hiện tượng trên, từ đó bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết và đưa ra giải pháp hợp lí cho vấn đề.
- Lấy dẫn chứng minh họa (chủ yếu là các dẫ chứng trong thực tế đời sống)
Ví dụ như trong đề bài: Tình trạng ô nhiễm môi trường và trách nhiệm của người dân.
Đề bài yêu cầu người viết bàn về tình trạng ô nhiễm môi trường sống và trách nhiệm của người dân đới với thực trạng đáng buồn này Để giải quyết được vấn
đề này người viết phải:
+ Giải thích khái niệm môi trường Trình bày thực trạng của việc môi trường bị
ô nhiễm hiện nay, đặt trong hoàn cảnh cụ thể, xã hội thục tại (Đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, bị nhiễm chất độc công nghiệp; nước bị ô nhiễm trầm trọng gây hại cho mọi sinh vật,… Không khí cũng đang bị ô nhiễm ặng nề bởi khói, bụi,…)