Kiến thức về xã hội học liên quan mật thiết với nhiều ngành khoa học, nhất là trong lĩnh vực cáckhoa học xã hội: dân tộc học, văn hóa học, chính trị học, giáo dục học, tâm lí học… Giống
Trang 1Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
Trang 2PHỤ LỤC
LỜI NÓI ĐẦU:……… 3
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CỦA XÃ HỘI HỌC 4
1 Xã hội học ……… 4
2 Quan hệ xã hội… ……… 4
3 Tương tác xã hội… ……… 5
4 Vị thế xã hội… ……… 5
5 Địa vị xã hội ……… 6
6 Vai trò xã hội ……… 6
7 Hành động xã hội ……… 7
8 Thiết chế xã hội ……… 8
9 Bất bình đẳng xã hội ……… 9
10 Phân tầng xã hội ……… 10
11 Di động xã hội ……… 11
II LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC……… 12
1 Lịch sử ra đời của xã hội học ……… 12
2 Điều kiện và tiền đề của sự ra đời của xã hội học ……… 13
2.1 Điều kiện phát triển kinh tế xã hội……… 13
2.2 Những tiền đề về tư tưởng, lí luận khoa học ……… 14
2.3 Một số đóng góp của các nhà sáng lập ra xã hội học ……… 15
III ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA XÃ HỘI HỌC………… 18
1 Đối tượng nghiên cứu của xã hội học ……… 18
2 Chức năng của xã hội học ……… 19
2.1 Chức năng nhận thức ……… 20
2.2 Chức năng tư tưởng ……… 20
Trang 32.3 Chức năng thực tiễn ……… 21
2.4 Chức năng dự báo ……… 22
2.5 Chức năng quản lý ……… 22
2.6 Chức năng công cụ ……… 22
3 Nhiệm vụ của xã hội học ……… 23
IV MỘT SỐ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC……… 23
1 Xã hội học nông thôn ……… 23
2 Xã hội học đô thị ……… 24
3 Xã hội học gia đình ……… 24
4 Xã hội học về chính sách xã hội ……… 25
5 Xã hội học về pháp luật và tội phạm ……… 26
6 Xã hội học về dư luận xã hội và thông tin đại chúng ……… 26
7 Xã hội học giáo dục 28
V MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC……… 29
1 Phương pháp chọn mẫu ……… 29
2 Phương pháp phân tích các nguồn tài liệu ……… 30
3 Phương pháp phỏng vấn ……… 31
4 Phương pháp qua sát ……… 32
KẾT LUẬN……… 33
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Xã hội học là một môn khoa học cụ thể, nó nằm trong hệ thống các môn khoahọc về xã hội và nhân văn Xã hội học đã ra đời muộn hơn nhiều môn khoa học khácnhưng đã nhanh chóng phát triển, trở thành một môn khoa học độc lập Kiến thức về
xã hội học liên quan mật thiết với nhiều ngành khoa học, nhất là trong lĩnh vực cáckhoa học xã hội: dân tộc học, văn hóa học, chính trị học, giáo dục học, tâm lí học…
Giống như các khoa học nghiên cứu về con người, xã hội học là lĩnh vựcnghiên cứu một cách khoa học những con người trong mối tương quan với ngườikhác nhưng đi sâu hơn trong việc nghiên cứu các hoạt động xã hội, các hành vi xãhội của con người
Để hiểu rõ hơn về xã hội học nên em xin chọn đề tài “Giới thiệu khái quát về
điều tra xã hội học” làm bài tiểu luận của môn học.
Trang 5I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CỦA XÃ HỘI HỌC.
1 Xã hội học.
Muốn hiểu đúng nội dung và tính chất của xã hội học chúng ta bắt đầu tìm
hiểu nguồn gốc của thuật ngữ này Người đưa thuật ngữ “xã hội học” vào ngôn ngữ
khoa học là Auguste Comte lần đầu tiên vào năm 1839 Thuật ngữ này được ghép từhai chữ Societas (xã hội) gốc latinh và logos (học thuyết) gốc Hy lạp có hàm nghĩa
là một khoa học nghiên cứu về xã hội, mặt xã hội của xã hội loài người
Xã hội học mà Auguste Comte đưa ra là khoa học nghiên cứu vừa trên cơ sởđịnh tính, vừa trên cơ sở định lượng đối với các quá trình xã hội Theo đó, xã hộiđược mô tả như một hệ thống hoàn chỉnh có cấu trúc xác định (các tập hợp, nhóm,tầng lớp, các cộng đồng) được cấu trúc và vận hành theo các thiết chế, luôn luôn vậnđộng, biến đổi và phát triển có tính qui luật Ngoài các phương pháp thông thường,theo ông, cần nghiên cứu bằng phương pháp thực nghiệm xã hội, xem đó như là cơ
sở thực tế của lí luận xã hội học
Nối tiếp Auguste Comte là Emile Durkheim (1858 – 1879), Max Weber(1864 – 1920) và đặc biệt là sự cống hiến của Karl Marx, các tác giả từ góc nhìnkhác nhau đã phát hiện các khía cạnh mới, vấn đề mới trong đời sống xã hội, làmcho xã hội ngày càng phát triển và phong phú thêm
Mặc dù ngày nay có rất nhiều trường phái xã hội học có quan điểm nghiêncứu khác nhau, nghiên cứu từ thực tiễn xã hội khác nhau, nhưng các định nghĩa về
xã hội học mà họ nêu lên cũng có nhiều điểm tương đồng, những khái quát lí luậngiống nhau
Nói một cách khái quát, xã hội học là một khoa học thuộc lĩnh vực khoa học
xã hội, nghiên cứu các tương tác xã hội, đặc biệt đi sâu nghiên cứu một cách có hệthống sự phát triển, cấu trúc, mối tương quan xã hội và hành vi, hoạt động của conngười trong các tổ chức nhóm xã hội Mối tương tác này liên hệ với nền văn hóarộng lớn cũng như toàn bộ cơ cấu xã hội
=> Định nghĩa chung xã hội học:
Xã hội học là một lĩnh vực khoa học xã hội nghiên cứu quy luật, tính quy luậtcủa sự hình thành, vận động, biến đổi mối quan hệ, tương tác qua lại giữa con người
và xã hội
2 Quan hệ xã hội.
Trang 6Quan hệ xã hội là khái niệm chỉ mối quan hệ giữa người và người trong cơ cấu xã hội (nhóm, tập hợp, hội, đoàn), trong các hoạt động và các tương quan
xã hội
Quan hệ xã hội được hình thành trong quá trình hoạt động chung trong đờisống xã hội hàng ngày Người ta có thể phân biệt quan hệ xã hội thành các lĩnh vựckhác nhau: quan hệ vật chất và quan hệ tư tưởng
3 Tương tác xã hội.
Tương tác xã hội là khái niệm chỉ mối quan hệ tương hỗ, lệ thuộc vào nhaucủa những con người trong xã hội Phản ánh tương hỗ và sự thông đạt hỗ tương (tácđộng, ảnh hưởng qua lại) đối với từng cá nhân và các đoàn thể, cộng đồng… là điềukiện vô cùng thiết yếu, nhờ nó, thông qua nó mà các đoàn thể, cả xã hội mới có thểtồn tại và hoạt động Con người cũng như các tập hợp, các đoàn thể luôn luôn cónhững mối tương quan, tác động ảnh hưởng lẫn nhau với nhiều cách, nhiều dạng vẻ,
và đời sống xã hội vì thế, luôn luôn là một hệ thống tương quan xã hội mà trong đóchúng ta ảnh hưởng, tác động với nhau trong môi trường rộng lớn và phức tạp
Thông qua các quan hệ xã hội, mối tương quan xã hội hình thành và thôngqua các hoạt động chúng ta ảnh hưởng, tác động đến nhau (với các vai trò, các chứcnăng, nhiệm vụ cụ thể) Sự tương tác nào cũng có mối liên hệ với các khuôn mẫu,tác phong, chúng luôn luôn hiện hữu, có thể phân biệt được, lặp đi lặp lại và có ảnhhưởng tương hỗ, trong đó hai hoặc nhiều người cùng thực hiện các nhiệm vụ xã hộicủa họ Tương tác xã hội không tách rời quá trình xã hội hóa của cá nhân và đượcnhìn nhận như là một quá trình tất yếu, kéo dài suốt cuộc đời
4 Vị thế xã hội.
Vị thế xã hội là một dạng biểu hiện địa vị của con người, được hình thànhtrong cơ cấu của xã hội, phụ thuộc vào sự thẩm định và sự đánh giá của xã hội trongmột điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể
Nói cách khác, có thể hiểu vị thế xã hội của một người nào đó chính là địa vịhay thứ bậc mà những người sống cùng thời dành cho cho trong bối cảnh anh ta sinhsống, lao động và phát triển Do vậy, vị thế là sản phẩm của đời sống tinh thần, làthái độ và mức độ tôn trọng hay khinh rẻ của xã hội bày tỏ, biểu lộ ra đối với các cánhân
Như vậy, những yếu tố tạo nên vị thế tồn tại khách quan ngoài cá nhân, thểhiện ra ở các tiêu chuẩn có tính phổ biến (trong xã hội) về sự tán thành (khẳng định)hay chê bai (phủ định) của xã hội Đó cũng chính là các chuẩn mực, các giá trị xãhội nghĩa là những điều người ta cho là quan trọng nhất, đáng tôn trọng nhất
Trang 7Xã hội luôn luôn biến chuyển và phát triển, do đó vị thế xã hội cũng luôn luôn
di chuyển, bởi vì con người và vị thế xã hội của họ luôn luôn có mối tương quan mậtthiết với nhau
Trong đời sống xã hội, vị thế xã hội thường tương quan với quyền lực Nếu tahiểu rằng quyền lực xã hội có ý nghĩa là ảnh hưởng của một người có thể có đối vớingười khác trong xã hội (đó cũng là biểu hiện vị thế của người ấy)
Xét về mặt tâm lí xã hội, người ta thường tin tưởng, tín nhiệm vào những người có
vị thế xã hội cao hơn vì họ có ảnh hưởng lớn, rộng rãi đối với toàn xã hội nghĩa làhơn hẳn người bình thường
5 Địa vị xã hội.
Địa vị xã hội là sự phản ánh vị thế xã hội của cá nhân, do cá nhận đạt được ởtrong một nhóm hoặc là một thứ bậc xã hội trong nhóm này khi so sánh với thànhviên khác của nhóm khác
Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng địa vị xã hội của một người là cái mà xãhội công nhận về người này một cách tương đối tổng quát xét trong bậc thang xãhội Cũng có nhiều người thì cho rằng địa vị xã hội là sự kết tinh vị thế xã hội củamột người Trong trường hợp này địa vị xã hội của người đó là ổn định được mọingười thừa nhận
Một số tác giả trong quá trình nghiên cứu cho thấy một địa vị của cá nhânthường phản ánh những quyền lực và quyền lợi mà cá nhân đó được hưởng Trongđời sống xã hội có nhiều biểu hiện khác nhau về địa vị xã hội của mỗi người Thôngthường có:
- Địa vị gán: Là loại địa vị mà cá nhân sinh ra được thừa hưởng (gần như tự
nhiên) do đặc điểm của quan hệ xã hội của mình như từ tôn giáo, chủng tộc, sắc tộc, giòng dõi, gia thế…
- Địa vị giành được: Là loại địa vị mà con người nhờ sự phấn đấu, nỗ lực
trong các hoạt động sản xuất, đấu tranh, nghiên cứu khoa học… đạt được và được xãhội thừa nhận
Trang 8hội “phân công”, có người tùy năng lực, điều kiện chủ quan và khách quan có thể cóvai trò là người thừa hành, thực hiện.
Trong xã hội học khi nghiên cứu vai trò xã hội của cá nhân chúng ta phảinghiên cứu mô tả các đặc điểm của vai trò và các cách thức ảnh hưởng của chúngđối với hành vi của mỗi các nhân
Người ta thường chú ý đến vai trò định chế tức là loại vai trò mà mỗi cá nhânkhi sắm vai phải hành động theo khuôn mẫu, cách thức nhất định mà định chế đãchế tài, quy định sẵn Ngày nay trong xã hội, tất cả các lĩnh vực hoạt động từ chuyênmôn khoa học, nghiệp vụ… đều đã được chuẩn hóa dần dần Do đó muốn tham giavào bất cứ công việc gì mỗi cá nhân đều phải được chuẩn bị: học hỏi, đào tạo, bồidưỡng, tuyển chọn Và khi đã chính thức hoạt động phải tuân thủ các nội quy, quychế… nhằm đáp ứng đòi hỏi của xã hội, nhằm đạt hiệu quả cao theo đúng chuẩnmực của các vai trò xã hội mong đợi
7 Hành động xã hội.
Trong ngành xã hội học, hành động xã hội (Social actions) là một hình thứchoặc cách thức giải quyết các mâu thuẫn hay các vấn đề xã hội Hành động xã hộiđược tạo ra bởi các phong trào xã hội, các tổ chức, các đảng phái chính trị, v.v Thực chất, hành động xã hội là sự trao đổi trực tiếp giữa các cá nhân với nhau cũngnhư các khuôn mẫu quan hệ đã được cấu trúc hóa bên trên các nhóm, tổ chức, thiếtchế và xã hội Một thực tế có thể quan sát được trong mọi tình huống cá nhân vàcông cộng hàng ngày là hành động xã hội của con người diễn ra theo những quy tắcnhất định và trong những hình thái nhất định, những quy tắc và hình thái này có một
sự bất biến tương đối Hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con ngườivới xã hội, đồng thời là cơ sở của đời sống xã hội của con người Hành động xã hộimang một ý nghĩa bao trùm tổng thể các mối quan hệ xã hội
Định nghĩa hành động xã hội:
Định nghĩa của nhà xã hội học người Đức Max Weber về hành động xã hộiđược cho là hoàn chỉnh nhất; ông cho rằng, hành động xã hội là hành vi mà chủ thểgắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định, một hành động xã hội là một hành động củamột cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó tính đến hành
vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hành động đó.Weber đã nhấn mạnh đến động cơ bên trong chủ thể như nguyên nhân của hànhđộng Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không thể là một hànhđộng xã hội Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có
Trang 9từ những người khác thì không phải là hành động xã hội Hành động không phải làkết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã hội.
Các kiểu của hành động xã hội:
- Kiểu hành động truyền thống được thực hiện bởi vì nó vẫn được làm như thế
từ xưa đến nay
- Kiểu hành động cảm tính bị dẫn dắt bởi cảm xúc
- Kiểu hành động duy lý với giá trị hướng tới các giá trị tối hậu
- Kiểu hành động duy lý có mục đích hay còn gọi là kiểu hành động mangtính công cụ
8 Thiết chế xã hội.
Thiết chế xã hội là một tập hợp các vị thế và vai trò có chủ định nhằm thỏamãn nhu cầu xã hội quan trọng Khái niệm thiết chế xã hội là khái niệm quan trọng
và được dùng rộng rãi trong xã hội học Cũng giống như nhiều khái niệm khác của
xã hội học, nội hàm của thiết chế xã hội cũng chưa được xác định một cách rõ ràng
Sự nhầm lẫn phổ biến nhất là việc đồng nhất thiết chế xã hội với một nhóm thực, tổchức thực nào đó Lý do của sự nhầm lẫn này là mặc dù khái niệm thiết chế xã hộirất trừu tượng, nhưng bản thân thiết chế lại hữu hình
Nhà xã hội học người Mỹ J Fichter cho rằng, thiết chế xã hội chính là mộtđoạn của văn hóa đã được khuôn mẫu hóa Những khuôn mẫu tác phong của nềnvăn hóa đó được xã hội đồng tình, khuyến khích sẽ có xu hướng trở thành các môhình hành vi được mong đợi - các vai trò Do đó, thiết chế xã hội là một tập hợp cáckhuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận (các vai trò) nhằm thỏa mãn một nhucầu cơ bản của nhóm xã hội
Một số đặc điểm của thiết chế xã hội:
- Mỗi thiết chế đều có đối tượng, có mục đích nhằm thỏa mãn các nhu cầu xã hội, trong đó bao hàm những lề lối, tác phong mà những người liên kết với nhau (trong thiết chế) đều theo đó mà hoạt động
- Nội dung của thiết chế thường có tính ổn định, vĩnh cửu
- Các thiết chế đều được tổ chức thành cơ cấu, trong đó các yếu tố tạo thành thiết chế có xu hướng kết lại với nhau, tăng cường cho nhau nhờ các vai trò xã hội
và những tương quan xã hội
- Mỗi thiết chế là một cơ cấu tổ chức thống nhất, điều hành như một đơn vị, không một thiết chế nào tách biệt, cô lập, với các định chế khác nhưng mỗi định chế
Trang 10điều hành như một giai đoạn vì thế có thể nhận định riêng biệt trong tác phong của con người.
- Thiết chế phản ánh hệ thống các giá trị, trong đời sống hiện thực được lặp đilặp lại trở thành các quy phạm, các luật lệ, tạo nên áp lực xã hội trong tiềm thức củamọi người và mọi người cùng chia sẻ với nhau
9 Bất bình đẳng xã hội.
Bất bình đẳng xã hội là sự không bình đẳng, sự không bằng nhau về các cơhội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhómtrong xã hội
Tất cả các xã hội, cả quá khứ hay hiện tại đều được đặc trưng bởi sự khác biệt
xã hội Đó là một quá trình trong đó con người tạo nên khoảng cách do cách ứng xửkhác nhau bởi các địa vị, vai trò và những đặc điểm khác nhau Quá trình của sựkhác biệt xã hội không đòi hỏi con người đánh giá các vai trò và các hoạt động cụthể tồn tại như là quan trọng hơn những cái khác Tuy nhiên, sự khác biệt xã hộichuẩn bị cho sự bất bình đẳng xã hội, là một điều kiện trong đó con người có cơ hộikhông ngang bằng về sử dụng của cải, quyền lực và uy tín Nhà xã hội học DanielRossides cho rằng: ngay trong các xã hội đơn giản nhất "người già thường có uyquyền đối với người trẻ, cha mẹ có uy quyền với con cái, và đàn ông có uy quyềnđối với đàn bà."
Bất bình đẳng xã hội không phải là một hiện tượng tồn tại một cách ngẫunhiên giữa các cá nhân trong xã hội Xã hội có bất bình đẳng khi một số nhóm xãhội kiểm soát và khai thác các nhóm xã hội khác Qua những xã hội khác nhau đãtồn tại những hệ thống bất bình đẳng xã hội khác nhau Bất bình đẳng xã hội là mộtvấn đề trung tâm của xã hội học, đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sựphân tầng trong tổ chức xã hội
Nguyên nhân của bất bình đẳng xã hội
Ở những xã hội khác nhau, bất bình đẳng cũng có những nét khác biệt Trong
xã hội có quy mô lớn và hoàn thiện hơn thì bất bình đẳng xã hội gay gắt hơn so vớitrong các xã hội giản đơn Bất bình bình đẳng thường xuyên tồn tại với những
nguyên nhân và kết quả, cụ thể liên quan đến giai cấp xã hội, giới tính, chủng tộc,
tôn giáo, lãnh thổ, v.v Những nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội có đa
dạng và khác nhau giữa các xã hội và nền văn hóa, và các nhà xã hội học đưa về baloại căn bản đó là:
- Cơ hội trong cuộc sống: bao gồm tất cả những thuận lợi vật chất có thể cải
thiện chất lượng cuộc sống Nó không chỉ bao gồm những thuận lợi về vật chất, của
Trang 11cải, tài sản và thu nhập mà cả những điều kiện như lợi ích bảo vệ sức khỏe hay anninh xã hội Cơ hội là những thực tế và những thực tế này cho thấy những lợi ích vậtchất và sự lựa chọn thực tế của một nhóm xã hội, bất kể những thành viên của nhóm
có nhận thức được điều đó hay không Trong một xã hội cụ thể, một nhóm người cóthể có cơ hội, trong khi các nhóm khác thì không và đó là nguyên nhân khách quancủa bất bình đẳng xã hội
- Địa vị xã hội: trái lại, với nguyên nhân khách quan trên, bất bình đẳng xã
hội về địa vị xã hội là do những thành viên của các nhóm xã hội tạo nên và thừanhận chúng Cơ sở địa vị xã hội có thể khác nhau, có thể là bất cứ cái gì mà mộtnhóm xã hội cho là ưu việt và được các nhóm xã hội khác thừa nhận Bất kể vớinguyên nhân như thế nào, địa vị xã hội chỉ có thể được giữ vững bởi những nhóm xãhội nắm giữ địa vị đó và các nhóm xã hội khác tự giác thừa nhận tính ưu việt củanhững nhóm đó;
- Ảnh hưởng chính trị: bất bình đẳng trong ảnh hưởng chính trị có thể đượcnhìn nhận như là có được từ những ưu thế vật chất hoặc địa vị cao Thực tế, bản thânchức vụ chính trị có thể tạo ra cơ sở để đạt được địa vị và những cơ hội trong cuộcsống Có thể gọi đó là những bất bình đẳng dựa trên cơ sở chính trị
Khi nói đến phân tầng xã hội, các nhà xã hội học đề cập đến bất bình đẳng xãhội, coi đó như một yếu tố cơ bản cho việc hình thành nên sự phân tầng xã hội Một
số tác giả lưu tâm đến sự biến đổi hình thức của phân tầng xã hội, và cho rằng điều
đó phụ thuộc vào tính chất "mở" của hệ thống xã hội Một số tác giả khác quan tâmđến sự phân phối không đồng đều các lợi ích giữa các thành viên trong xã hội, coi
đó là nguyên nhân dẫn tới sự phân tầng xã hội Phân tầng xã hội và bất bình đẳng xãhội có mối quan hệ mật thiết Bất bình đẳng là nguyên nhân, phân tầng xã hội là kếtquả Sự không ngang nhau về mọi lĩnh vực giữa các cá nhân trong xã hội dẫn đến cơhội và lợi ích của các các nhân là không như nhau, từ đó dẫn đến việc các cá nhânhay các nhóm xã hội có cùng chung lợi ích sẽ tập hợp lại thành một nhóm Nhiều
Trang 12nhóm có cơ hội và lợi ích khác nhau ra đời Có nhóm lợi ích và cơ hội nhiều, cónhóm thì ít, từ đó dẫn đến phân tầng xã hội.
Phân tầng xã hội không có ý nghĩa tuyệt đối Do vị thế xã hội của các nhân cóthể thay đổi, từng ngày, từng giờ, có cá nhân hôm nay thuộc tầng lớp này, mai lạithuộc tầng lớp khác Bởi vì cơ hội và lợi ích của họ không còn nằm trong tầng lớp
đó nữa
Định nghĩa của phân tầng xã hội:
Theo nhà xã hội học Mỹ Neil Smelser, "phân tầng xã hội liên quan đến nhữngcách thức, trong đó bất bình đẳng dường như từ thế hệ này truyền qua thế hệ khác,tạo nên vị trí hoặc đẳng cấp xã hội" Một định nghĩa khác: "sự phân tầng trong xãhội học thường được áp dụng để nghiên cứu về cấu trúc xã hội bất bình đẳng, vì vậy,nghiên cứu về những hệ thống bất bình đẳng giữa những nhóm người nảy sinh như
là kết quả không chủ ý của những quan hệ xã hội và quá trình xã hội"
Đặc điểm của phân tầng xã hội:
- Phân tầng xã hội diễn ra ở nhiều khía cạnh như chính trị, kinh tế, địa vị xã
hội, học vấn
- Phân tầng xã hội có phạm vi toàn cầu
- Phân tầng xã hội tồn tại theo lịch sử, theo các thể chế chính trị
- Phân tầng xã hội tồn tại trong các nhóm dân cư, giai cấp, tầng lớp xã hội
11 Di động xã hội.
Di động xã hội (Social mobility), còn gọi là sự cơ động xã hội hay dịchchuyển xã hội, là khái niệm xã hội học dùng để chỉ sự chuyển động của những cánhân, gia đình, nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội Di động xã hộiliên quan đến sự vận động của con người từ một vị trí xã hội này đến một vị trí xãhội khác trong hệ thống phân tầng xã hội Thực chất di động xã hội là sự thay đổi vịtrí trong hệ thống phân tầng xã hội Vấn đề di động xã hội liên quan tới việc các cánhân giành vị trí, địa vị xã hội, liên quan tới điều kiện ảnh hưởng tới sự biến đổi cơcấu xã hội Nội hàm của di động xã hội là sự vận động của cá nhân hay một nhómngười từ vị thế xã hội này sang vị thế xã hội khác, là sự di chuyển của một conngười, một tập thể, từ một địa vị, tầng lớp xã hội hay một giai cấp sang một địa vị,tầng lớp, giai cấp khác Di động xã hội có thể định nghĩa như sự chuyển dịch từ mộtđịa vị này qua một địa vị khác trong cơ cấu tổ chức
Hình thức di động xã hội
Trang 13- Thế hệ: Có thể phân biệt di động xã hội theo hai khía cạnh khác nhau:
+ Di động giữa các thế hệ: thế hệ con cái có địa vị cao hơn hoặc thấp hơn sovới địa vị của cha mẹ;
+ Di động trong thế hệ: là một người thay đổi vị trí nghề nghiệp, nơi ở trongcuộc đời làm việc của mình, có thể cao hơn hoặc kém hơn so với người cùng thế hệ
- Ngang dọc: Di động xã hội được xác định như là sự vận động của các cá
nhân hay một nhóm xã hội từ vị trí, địa vị xã hội này sang vị trí, địa vị xã hội khác.Bởi vậy, khi nghiên cứu di động xã hội, các nhà lý luận còn chú ý tới hình thức:
+ Di động theo chiều ngang: chỉ sự vận động cá nhân giữa các nhóm xã hội,giai cấp xã hội tới một vị trí ngang bằng về mặt xã hội Trong xã hội hiện đại, diđộng theo chiều ngang cũng rất phổ biến, nó liên quan đến sự di chuyển địa lý giữacác khu vực, các thị trấn, thành phố hoặc các vùng địa phương;
+ Di động theo chiều dọc: chỉ sự vận động của các cá nhân giữa các nhóm xãhội, giai cấp xã hội tới vị trí, địa vị xã hội có giá trị cao hơn hoặc thấp hơn Biểuhiện của hình thức này di động là sự thăng tiến, đề bạt - di động lên và miễn nhiệm,rút lui, lùi xuống, thất bại - di động xuống
II LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC.
1 Lịch sử ra đời của xã hội học.
Ngay từ thời cổ đại những vấn đề lớn của cá nhân và xã hội đã thu hút sựquan tâm chú ý của nhiều nhà tư tưởng trong các giai đoạn lich sử khác nhau Nhiều
tư tưởng của các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà triết học, chính trị học đã ra đời
và ảnh hưởng khá sâu sắc đến sự phát triển, sự vận động của xã hội Tuy vậy các môhình xã hội, các ý tưởng vĩ đại về con người, về xã hội chỉ được xây dựng trênnhững giả định, những dự đoán trừu tượng, chưa giải thích được cơ cấu và sự vậnhành của xã hội trên cơ sở khoa học
Bắt đầu từ thế kỷ 18, đời sống xã hội ở các nước Châu Âu trở nên hết sứcphức tạp Cuộc cách mạng công nghiệp năm 1750 đã đưa đến những đảo lộn ghêgớm Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những đô thị công nghiệp khổng lồ gây nên nhữnglàn sóng chuyển dịch dân cư lớn, kèm theo đó là những mâu thuẫn giai cấp, mâuthuẫn dân tộc, mâu thuẫn tôn giáo căng thẳng, các quan hệ xã hội ngày càng thêm đadạng và phức tạp Xã hội rơi vào trạng thái biến động không ngừng: chiến tranh,khủng hoảng kinh tế, xung đột chính trị, suy thoái đạo đức, phân hoá giàu nghèo,bùng nổ dân số, tan rã hàng loạt các thiết chế cổ truyền Trước tình hình như thế,
xã hội nảy sinh một yêu cầu cấp thiết là cần phải có một ngành khoa học nào đó
Trang 14đóng vai trò tương tự như một bác sĩ luôn luôn theo dõi cơ thể sống - xã hội tiến tớigiải phẫu các mặt, các lĩnh vực khác nhau trên bề mặt cắt của nó từ tầm vĩ mô đến vi
mô, kể cả khi xã hội đó thăng bằng cũng như khi mất thăng bằng để chỉ ra trạng tháithật của xã hội đó, phát hiện ra những vấn đề xã hội (social problems), dự báokhuynh hướng phát triển của xã hội, và chỉ ra những giải pháp có tính khả thi
Emile Durkheim một trong các bậc tiền bối của khoa học xã hội học đã phátbiểu rằng: cuối cùng thì nhà xã hội học phải chẩn đoán xem xã hội ở trong tình trạng
"khỏe mạnh" hay "bệnh tật" và sau đó nhà xã hội học phải kê đơn những loại thuốccần cho sức khỏe của xã hội Và mãi cho đến nửa sau của thế kỷ XIX, xã hội họcmới xuất hiện với tư cách là một môn khoa học độc lập có đối tượng, chức năng vàphương pháp riêng biệt
2 Điều kiện và tiền đề của sự ra đời của xã hội học.
2.1 Điều kiện phát triển kinh tế xã hội.
Vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, nhiều quốc gia ở Tây Âu nền kinh tế, chínhtrị có những bước phát triển mạnh mẽ có tính chất đột biến đã tạo nên một khốilượng sản phẩm, của cải vật chất khổng lồ tương đương với tất cả những gì mà conngười sáng tạo nên từ khi con người xuất hiện cho đến khi chủ nghĩa tư bản hìnhthành Biến đổi mạnh mẽ trong kinh tế, trong sản xuất đã làm thay đổi mạnh mẽ mọilĩnh vực hoạt động của con người Lao động công nghiệp, cơ khí hóa trong các côngxưởng đã thay thế lao động thủ công, làm thay đổi nền sản xuất nông nghiệp cổtruyền Lối sống đô thị theo phong cách công nghiệp đã đẩy lùi ảnh hưởng của lốisống điền dã, tản mạn, manh mún, kiểu công nghiệp, nông thôn Các tác phongkhuôn mẫu xã hội cổ truyền, có tính ổn định, quen thuộc, được xem là truyền thống
bị tấn công, phá vỡ từng mảng và bị thay thế dần Rất nhiều nhân tố mới, hiện tượngmới, xã hội mới đã xuất hiện Hiện tượng cư dân tập trung chen chúc ở đô thị, làmnảy sinh các vấn đề về dân số, về môi trường, về bệnh tật và nạn thất nghiệp
Sự phát triển mạnh của đời sống kinh tế xã hội đã tạo tiền đề cho sự khẳngđịnh vị thế, vai trò của cá nhân trong đời sống xã hội Ngay từ thời kỳ phục hưng,quyền con người, vai trò của cá nhân đã được xác lập và khẳng định, nhất là việc đềcao sự tự do của con người Xã hội tư bản được hình thành và củng cố, điều kiện vàyêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội kiểu mới đã khác với thời kỳ phục hưng Xãhội tư bản đòi hỏi sự tự do của con người phải được đặt trong khuôn mẫu, trong thiếtchế xã hội và tuân thủ pháp luật Nhu cầu nghiên cứu về vai trò của cá nhân trongcác tương quan xã hội đặt ra cho xã hội học những vấn đề cụ thể, bức thiết
Trang 15Hơn nữa vào thời kỳ này, so với giai đoạn trước, sự giao lưu quốc tế, quan hệthương mại, quan hệ thực dân đã tạo ra cơ hội, tiền đề tiếp xúc, làm ăn với nhiều xãhội, nhiều nền văn hóa, nhiều lối sống khác lạ Họ bắt đầu quan sát, so sánh, đốichiếu và nhận ra rằng xã hội Tây Âu có nhiều điểm khác xa so với xã hội châu Á,châu Úc, châu Mĩ, châu Phi về kinh tế, các quan hệ chính trị, xã hội, Từ nhữngtiền đề kinh tế xã hội và sự phát triển kinh tế xã hội kể trên đã đặt ra yêu cầu phảinhanh chóng nghiên cứu, phát hiện, tìm kiếm các qui luật, xu thế phát triển của xãhội và con người, định hướng cho sự phát triển xã hội tương lai Không thể nghiêncứu các vấn đề trên chỉ trong phạm vi của triết học, kinh tế học, dân tộc học, vănhóa học và cũng không thể chỉ bằng lòng với các lý thuyết sẵn có, tất cả tạo ra tiền
đề cho sự xuất hiện một lý thuyết, một khoa học mới nghiên cứu về sự vận động,phát triển của đời sống xã hội đó là xã hội học
2.2 Những tiền đề về tư tưởng, lí luận khoa học.
Xã hội học cũng như bất kì một khoa học nào khác sẽ không thể nào pháttriển được nếu chỉ xuất phát, căn cứ từ các nhu cầu thực tiễn mà thiếu những tiền đề
lí thuyết, cơ sở khoa học nhất định
Khi đi sâu nghiên cứu mặt xã hội trong đời sống con người một thực thể sinhđộng và rất phức tạp, xã hội học phải dựa trên cơ sở lí luận phong phú, làm công cụcho quá trình nghiên cứu sáng tạo
Dựa vào và kế thừa nhiều thành tựu của các khoa học khác khi xác lập xã hộihọc, Auguste Comte đã cố gắng làm rõ, phân biệt đối tượng, phương pháp nghiêncứu, hình thành nội dung và cấu trúc của xã hội với tư cách là một khoa học riêngbiệt so với các khoa học khác trong hệ thống các khoa học xã hội
Trong quá trình nghiên cứu, xã hội học cũng đã tiếp thu và vận dụng có kếtquả, nhất là về phương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên, các khoa học về conngười, kể cả một số phương pháp của khoa học kỹ thuật Nhờ vậy mà chất lượngnghiên cứu ngày càng cao, càng có độ tin cậy Trong các phương pháp ấy phươngpháp nghiên cứu theo cấu trúc – hệ thống vốn có trong các khoa học tự nhiên, trongkhoa học kỹ thuật (nghiên cứu về vật chất) đã được mô phỏng, chọn lọc, áp dụngvào việc nghiên cứu xã hội và tương quan giữa cá nhân với đời sống xã hội
Trong rất nhiều công trình nghiên cứu xã hội học từ trước tới nay người ta đã
áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu của các khoa học khác nhau (như cácphương pháp toán học, các phương pháp nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu triếthọc…), đặc biệt là các phương pháp định lượng trong các khoa học tự nhiên vàoviệc tìm hiểu, đo đạc, lượng giá các vấn đề xã hội, tăng thêm độ chính xác, tường
Trang 16minh, tính khoa học trong nghiên cứu xã hội học Ngày nay xã hội học ngày càng cốgắng nâng cao tính chất khoa học của mình qua việc thu thập số liệu, thực hànhquan sát, phân tích dữ liệu, xử lí thông tin, mô tả, biểu diễn tổng quát và áp dụngnhững phương pháp, kĩ thuật, thủ thuật nghiên cứu của nhiều khoa học có liên quan.
Nhờ có tiên đề lí thuyết phong phú, vững chức với quá trình nghiên cứu bámsát thực tế đời sống, trong các công trình nghiên cứu xã hội học đã thật sự tôn trọng,đảm bảo các điều kiện sau:
- Dựa trên các bằng chứng hiển nhiên, có đủ điều kiện có thể thẩm tra, kiểmchứng được độ chính xác
- Thực tiễn xã hội luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, do đó trong quátrình nghiên cứu không nên tuyệt đối hóa, xem xét vấn đề với thái độ cực đoan, chỉchấp nhận sự thật khoa học sau khi đã lật đi lật lại, nghiên cứu vấn đề với nhiềuphương pháp, kiểm chứng thử nghiệm khác nhau
- Trong xã hội học có thể lập luận, chứng minh, trả lời câu hỏi nào đó đặt rabằng những kiến thức mới mẻ Nhưng giá trị của các phát hiện, các lí thyết mới ấycần được đánh giá sau khi đã vận dụng vào thực tế đời sống, không xuất phát từ ýchí chủ quan, hoặc từ thái độ có tính định kiến, từ xúc cảm của người nghiên cứu
- Phải đảm bảo tính khách quan trong quá trình nghiên cứu, từ những việc đơngiản, riêng lẻ cho đến việc tập hợp, xử lí đánh giá những vấn đề lớn, không thiên vị,thành kiến đối với đối tượng
- Nghiên cứu xã hội rộng lớn muốn chính xác cần tiêu chuẩn hóa các tiêu chíđánh giá, khảo sát, kiểm tra và phải vận dụng các phương pháp nghiên cứu một cáchchính xác, tie mỉ khách quan
Tóm lại, sự phát triển nhanh chóng của xã hội Tây Âu cuối thế kỷ 19 đầu thế
kỷ 20 đã đòi hỏi sự xuất hiện cảu khoa học nghiên cứu về sự vận động và phát triểncủa xã hội
2.3 Một số đóng góp của các nhà sáng lập ra xã hội học.
a) Auguste Comte (1798 – 1857).
Ông sinh tại Montpellier, nước pháp, trong một gia đình theo đạo Giatô theo
xu hướng quân chủ
Trong các tác phẩm đầu tiên của mình, Auguste Comte đã phân tích sự khủnghoảng của xã hội Tây Âu hồi đầu thế kỷ 19 với sự sụp đổ của xã hội thần học vàquân sự, đồng thời là sự ra đời của xã hội khoa học và công nghệ
Trang 17Ông đã phát hiện, xây dựng nên quy luật ba trạng thái trong đó trình bày bagiai đoạn phát triển tinh thần của con người:
- Kỷ nguyên thần học, trong đó tinh thần giải thích các hiện tượng bằngnhững thực thể hay sức mạnh có hình người
- Kỷ nguyên siêu hình học, trong đó tinh thần giải thích các hiện tượng bằngnhững thực thể trừu tượng
- Kỷ nguyên thực chứng, trong đó tinh thần thiết lập những liên hệ đều đặngọi là các quy luật
Theo ông tất cả các môn học trí tuệ đều phải trải qua ba kỷ nguyên đó nhưng
không đồng thời với nhau Do đó theo ông, có thể phân loại khoa học theo thư tự
vừa logic vừa lịch sử mà trong đó khoa học cuối cùng, phức tạp nhất là xã hội học.Đặc trưng của xã hội học là ở tính tổng hợp của nó, cho nên đối tượng của xã hộihọc chỉ có thể là lịch sử loài người
Auguste Comte quan niệm rằng xã hội học sẽ mạng lại giải pháp cho sựkhủng hoảng của văn minh phương Tây, là một thứ “kinh Phúc âm” của khoa họcthực chứng mà ông truyền giảng với tư cách là nhà “cải cách xã hội” Nhưng ôngkhông có ảo tưởng đối với vệc can thiệp vào đời sống xã hội, vì đó là việc quá phứctạp Cải cách xã hội cũng đòi hỏi phải xét lại nhiều khái niệm căn bản, phải chỉnhđốn phong tục, rất tốn thời gian và công sức Ông xem chiến tranh là lỗi thời và dựbáo trước sự xuất hiện một quyền lực tinh thần mới: quyền lực của các nhà bác học
và các nhà triết học
Về sau Auguste Comte được tôn vinh là người khai sáng ra xã hôi học Ôngluôn luôn tin tưởng rằng muốn nghiên cứu xã hội học phải dựa trên sự quan sát có
hệ thống và phân loại
Ông cũng thừa nhận rằng xã hội học luôn luôn bị chi phối bởi các nguyên tắc
và phương pháp của khoa học tự nhiên
Với những cống hiến to lớn như trên, ông được xem là người có công đầu xâydựng nên xã hội học với vai trò của một khoa học chân chính
b) Karl Marx (1818 – 18830.
Là nhà triết học, kinh tế học người Đức Lúc sinh thời Karl Marx không coimình là nhà xã hội học, nhưng những tư tưởng trong di sản đồ sộ của ông đã ảnhhưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của xã hội học, đến nỗi ngày nay aicũng coi ông mặc nhiên là một trong những người sáng lập ra xã hội học Dườngnhư tất cả các nhà xã hội học hiện đại khi giải thích xã hội đều tiếp cận bằng lý
Trang 18thuyết mâu thuẫn và xung đột của Karl Marx Các nhà xã hội học "đều vay mượncủa Karl Marx các lý giải về giai cấp, ngay cho dù nhà xã hội học đó kết thúc bằngcách bài bác Karl Marx như là sai lầm và bị lịch sử vượt qua" Karl Marx chủ yếu sửdụng lý thuyết mâu thuẫn để làm sáng tỏ biến chuyển xã hội Đó là mâu thuẫn giữalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa hai giai cấp cơ bản kiến tạo nên xã hội.Các vấn đề như: phân tầng xã hội, tội phạm, biến chuyển xã hội, đều được các nhà
xã hội học đương đại xem xét dưới ánh sáng lý thuyết mâu thuẫn của Karrl Marx
Các tác phẩm chính: Gia đình thần thánh (1845), Hệ tư tưỏng Đức (1846), Sựkhốn cùng của triết học (1847), Tư bản (1875)
c) Herbert Spencer (1820 – 1903).
Spencer là nhà triết học và xã hội học người Anh được giới triết học xem làcha đẻ của triết học tiến hóa Ông phản bác sự phân chia khoa học thành khoa học tựnhiên và khoa học xã hội Ông cố gắng xây dựng một hệ thống lí luận thống nhất về
sự tiến hóa, theo công thức: chuyển từ đơn giản thuần nhận trong một số trường hợpriêng biệt có sự vận động ngược lại
Ông cũng chủ trương phân loại xã hội thành “xã hội quân sự” và “xã hội côngnghiệp” theo đó, các xã hội quân sự là những xã hội độc tài, trong đó sự ganh đua vàgây hấn luôn luôn ngự trị, còn các xã hội công nghiệp là các “xã hội tự do” Quátrình tiến hóa xã hội diễn ra từ kiểu này sang kiểu kia, tùy thuộc vào thời kì chiếntranh hay hòa bình Hòa bình có lợi cho xu thế tự nhiên chuyển từ các xã hội quân
sự sang các xã hội công nghiệp, còn chiến tranh thì cản trở và xóa bỏ sự tiến hóa ấy,tạo điều kiện cho phản cách mạng xuất hiện
Lí thuyết “tiến hóa xã hội” của Spencer có lúc đã được giới khoa học thừanhận nhưng sau đó bị bác bỏ và ông đã phục hưng chúng bằng cách có những thayđổi và đổi mới nhất định
d) Emile Durkheim (1858 – 1917).
Nhà xã hội học nổi tiếng được coi là cha đẻ của xã hội học Pháp Ông làngười lập ra chuyên ngành xã hội học ở trường Đại học Bordeaux và ở Đại họcSorbonne của Paris Các nhà xã hội học trên thế giới ngày nay đều ảnh hưởng rấtnhiều lối tiếp cận cấu trúc, chức năng của ông E Durkheim đã cố gắng tách các sựkiện, hiện tượng xã hội ra khỏi sự chi phối của con người và yêu cầu xem xét chúngnhư các "vật thể" để không áp đặt vào chúng những định kiến đã có sẵn Ông cũng
là người sáng lập ra "Niên giám xã hội học" nhằm tập hợp các công trình khoa họccủa các nhà xã hội học đương thời Ông là người có công lao rất lớn trong việc hìnhthành và phát triển ngành xã hội học hiện đại
Trang 19Các tác phẩm chính: Phân công lao động xã hội (1893), Các qui tắc củaphương pháp xã hội học (1897), Tự tử (1897), Các hình thức cơ bản của đời sốngtôn giáo (1912).
Sau khi ra đời, xã hội học đã phát triển rực rỡ và có được những bước tiến dàitrong việc xây dựng nền tảng cũng như các phân nghành xã hội học ở các nước côngnghiệp phát triển Có thể nói những thành tựu to lớn mà các nước công nghiệp pháttriển đạt được là có sự đóng góp đáng kể của ngành khoa học xã hội học Ngày nay,
xã hội học đã có mặt ở hầu khắp các nước trên thế giới và chiếm một vị trí xứngđáng trong hệ thống lý thuyết cũng như ứng dụng Nó được coi là môn khoa họcphát triển Rất nhiều trường phái xã hội học hiện đai nổi tiếng có ảnh hưởng lớn trênthế giới Chẳng hạn như trường phái lý thuyết hệ thống của Talcott Parsons (Đại họcHarvard), trường phái xã hội học đô thị (Đại học Chicago), trường phái xã hội họctội phạm (Đại học Michigan), trường phái lý thuyết tương tác Marx (Bulgaria),
e) Max Weber (1864 – 1920).
Nhà xã hội học Đức, được coi là một trong những nhà xã hội học lớn nhất đầuthế kỷ 20 Lĩnh vực được ông chú ý nhiều là hành động xã hội Ngoài ra, MaxWeber còn dành khá nhiều thì giờ nghiên cứu về đạo Tin lành, về tổ chức quan liêu,
về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Những tư tưởng của ông đã để lại khá đậmnét cho các thế hệ xã hội học sau này không chỉ về lý thuyết mà còn các phươngpháp tiếp cận xã hội
Các tác phẩm chính: Những tiểu luận phương pháp luận (1902), Đạo đức Tinlành và tinh thần của CNTB (1904), Kinh tế và xã hội (1910-1914), Xã hội học tôngiáo (1916)
III ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA XÃ HỘI HỌC.
1 Đối tượng nghiên cứu của xã hội học.
Đối tượng nghiên cứu của xã hội chính là xã hội loài người, trong đó quan hệ
xã hội (tương quan xã hội) được biểu hiện thông qua các hành vi xã hội giữa người
và người
Từ việc nghiên cứu các quan hệ của con người trong gia đình, bạn bè, trongcộng đồng… chúng ta tìm ra logic, cơ chế vận hành thường tàng ẩn trong đó, pháthiện tính quy luật của các hình thái vận động và phát triển của xã hội
Như vậy là cái mang tính phổ quát, bao trùm trong các công trình nghiên cứu
xã hội học là các hành vi xã hội của con người
Trang 20Vấn đề thứ hai mà xã hội học quan tâm nghiên cứu là hệ thống xã hội, ở đây
cá nhân trong tương quan xã hội với nhóm, với cộng đồng diễn ra như thế nào Qua
đó có thể thấy được cấu trúc hệ thống xã hội, và cấu trúc này trong từng phân hệ của
nó lại có mối liên hệ, tác động lẫn nhau, định hình dưới dạng các thiết chế xã hội,những hệ thống giá trị chuẩn mực lại quy định cơ chế hoạt động của hệ thống
Nhiệm vụ của xã hội học từ chỗ phát hiện ra cơ cấu xã hội thể hiện dưới dạngcác thiết chế xã hội, chúng do con gười thiết lập nên nhưng lại tác động trở lại cuộcsống của con người theo các chiều hướng khác nhau: mang tính quy luật kháchquan Tất nhiên về lĩnh vực này, do xuất phát nghiên cứu ở nhiều xã hội khác nhau,các tác giả cũng có nhận xét, khái quát khác nhau và thể hiện quan điểm khác nhau
Ngoài việc nghiên cứu về giai cấp, xã hội còn nghiên cứu cơ cấu xã hội vớicác nhóm, các cộng đồng khác trong xã hội (nhóm dân tộc, nhóm tôn giáo, nhómtheo giới tính…)
Nghiên cứu nhóm cộng đồng xã hội chính là nghiên cứu về mối quan hệ, tácđộng qua lại giữa các cá nhân trong cộng đồng về lợi ích để xem xét mức độ gần gũi
về quan điểm, tín ngưỡng, về định hướng chính trị, mục tiêu và phương thức hànhđộng để đạt tới mục đích Nhờ vậy sẽ có cơ sở để xem xét tác động qua lại giữa cácnhóm, các cộng đồng tạo nên một chỉnh thể xã hội với tất cả những mâu thuẫn, xungđột, vận động và phát triển…qua đó có thể đoán định được tính ổn định, tính bềnvững của mỗi thể chế xã hội, trong những điều kiện chủ quan và khách quan có tínhxác định
Nhờ nghiên cứu sâu nhóm cộng đồng, chúng ta cũng sẽ phát hiện được bảnsắc đặc thù trong hành vi xã hội của người Trong trường hợp này các chuẩn mựcgiá trị, thiết chế xã hội, bản sắc văn hóa chính là khuôn mẫu, chuẩn mực hành vi củamỗi nhóm người Vậy đối tượng nghiên cứu của xã hội học nói một cách khái quátchính là hành vi xã hội của con người Chúng ta chỉ có thể hiểu rõ hành vi xã hộidựa trên cơ sở làm rõ một tương quan giữa người và người trong các nhóm và trongcộng đồng xã hội dựa trên các dấu hiệu đặc trưng
Những nhóm cộng đồng xã hội khác nhau tương tác với nhau tạo nên một kếtcấu chỉnh thể của một xã hội Nghiên cứu các vấn đề trên, xã hội học phát hiện ratính quy luật chi phối các quan hệ, các mối liên hệ tạo thành hệ thống tổng thể, hoànchỉnh của xã hội
2 Chức năng của xã hội học.