Vì vậy nghiên cứu xác định mức đầu tư tối ưu để đạt lợinhuận tối đa trong sản xuất cây cà phê cũng là việc làm cần thiết đã và đang được đặtra.Xuất phát từ những yêu cầu thực tế sản xuất
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
**********
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
CÀ PHÊ TẠI NÔNG HỘ HUYỆN CHƯ PĂH
TỈNH GIA LAI
Cán bộ hướng dẫn: TS ĐẶNG MINH PHƯƠNG
Học viên thực hiện: HOÀNG THỊ ÁNH NGUYỆT
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 11/2011
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4
1.1.Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 4
1.1.1 Vị trí địa lý 4
1.1.2 Địa hình 5
1.1.3 Khí hậu thời tiết 5
1.1.4 Thủy văn 6
1.1.5 Tài nguyên đất 6
1.1.6 Nguồn nước 7
1.2 Điều kiện kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai 7
1.2.1 Dân số 7
1.2.2.Hiện trạng sử dụng đất 8
1.3 Tổng quan đặc điểm về vấn đề nghiên cứu 8
1.3.1 Tình hình sản xuất cà phê thế giới 8
1.3.2 Tình hình sản xuất cà phê Việt Nam 9
1.4 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 10
1.4.1 Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế 10
1.4.2 Nghiên cứu về bệnh khô cành khô quả (Anthracnose, Die Back) ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế 12
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Cơ sở lý luận 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 14
Trang 32.3 Đo lường hiệu quả kinh tế 15
2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả 15
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu 18
2.4.1 Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia 18
2.4.2 Phương pháp chuyên gia 18
2.4.3 Hàm sản xuất 18
2.4.4 Phương pháp tối đa hoá lợi nhuận 21
2.4.5 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.4.6 Công cụ xử lý số liệu 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Tình hình sản xuất cà phê ở huyện Chư păh tỉnh Gia Lai 25
3.2 Kết quả sản xuất kinh doanh vuờn cà phê tại nông hộ 25
3.3 Đánh giá và phân tích hiệu quả kinh tế cây cà phê theo mức đầu tư 25
3.4 Tối đa hoá lợi nhuận trong sản xuất cây cà phê 25
3.5 Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả cây cà phê 25
Trang 4MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Tây Nguyên có 60 vạn ha đất đỏ bazan, sở hữu trên 40% tiềm năng phát triểncây công nghiệp dài ngày so với cả nước, trong đó cà phê được xác định là loại câymũi nhọn trong cơ cấu phát triển kinh tế toàn vùng
Cây cà phê được tập trung trồng nhiều ở 5 tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum,Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng) các tỉnh miền Đông Nam Bộ (Đồng Nai, BìnhPhước, Bà Rịa-Vũng Tàu) một số tỉnh ven tỉnh miền Trung và bắt đầu phát triển ở cáctỉnh phía Bắc Riêng tỉnh Gia Lai diện tích cà phê chiếm trên 17%/ diện tích cà phê cảnước Trong chương trình phát triển nông lâm nghiệp nước ta đã có những dự án pháttriển tài nguyên rừng, trồng cây lâu năm, cây ăn quả nhằm khai thác hợp lý tiềm năngđất đồi núi Sản lượng cà phê hàng năm đạt tới trên 950.000 tấn với kim ngạch xuấtkhẩu đạt trên 1 tỷ USD Việt Nam đứng hàng thứ hai về xuất khẩu cà phê trên thế giớichỉ sau Brasil
Cây cà phê có một vị trí quan trọng ở vùng đồi núi, tham gia có hiệu quả vàocác chương trình kinh tế-xã hội như định canh định cư, xóa đói giảm nghèo, tạo công
ăn việc làm cho người lao động ở miền núi mà chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu
số cũng như phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường v.v Cà phê cũng làmặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng đóng góp một phần không nhỏ tổng kimngạch xuất khẩu của cả nước
Tuy nhiên, tình hình sản xuất nông nghiệp luôn bị ảnh hưởng đến thời tiết, khíhậu và luôn bị đối mặt với biến động lớn về sản lượng, giá cả và thị trường Để đạt lợinhuận tối đa phải nâng cao giá bán sản phẩm và phải hạ được giá thành sản xuất mộtcách hợp lý hoặc là một trong 2 yêu cầu đó Trong bối cảnh thị trường cà phê gần nhưthị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá bán cà phê của nông hộ hoàn toàn phụ thuộc vàogiá cà phê trên thị trường, do đó việc tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tối ưu hoá yếu tốđầu vào là hướng đi đúng và phù hợp với điều kiện sản xuất và thị trường cà phê hiệnnay Mặt khác trong điều kiện giá cả phân bón tăng, lao động thiếu do dịch chuyển laođộng từ vùng nông thôn ra thành thị, người trồng cà phê phải tính toán đầu tư như thếnào để tiết kiệm chi phí đầu vào về vật tư và lao động nhưng vẫn đảm bảo qui trình sản
Trang 5xuất và hiệu quả kinh tế Vì vậy nghiên cứu xác định mức đầu tư tối ưu để đạt lợinhuận tối đa trong sản xuất cây cà phê cũng là việc làm cần thiết đã và đang được đặtra.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế sản xuất, tôi quyết định lựa chọn đề tài:
‘‘Đánh giá và phân tích hiệu quả kinh tế cây cà phê tại nông hộ huyện Chư Păh tỉnh Gia Lai”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Đánh giá và phân tích hiệu quả sản xuất của nông hộ trồng cà phê
Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu thực trạng sản xuất cà phê ở tỉnh Gia Lai
- Phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê ở tỉnhGia Lai trong thời gian qua
- Xác định mức đầu tư tối ưu để đạt lợi nhuận tối đa trong sản xuất cà phê
- Phân tích thuận lợi và khó khăn, từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảsản xuất cà phê tỉnh Gia Lai
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Tình hình đầu tư và kết quả sản xuất kinh doanh vườn cà phê ở các nông hộ
- Đánh giá và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cây cà phê
- Phân tích hồi qui nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất với các yếu tố đầuvào
- Tối đa hoá lợi nhuận trong sản xuất cây cà phê
Về không gian: Đề tài nghiên cứu chủ yếu tại Gia Lai là một trong những tỉnhtrồng nhiều cà phê ở vùng Tây Nguyên
Về thời gian: Đề tài được tiến hành từ tháng 11/2011 đến tháng 4/2012 baogồm các công việc như: nghiên cứu, thu thập và xử lý số liệu và viết kết quả nghiên
Trang 6cứu.
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu:
1.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Gia Lai nằm trên địa bàn Tây Nguyên, với diện tích 15.536,92 km²,trải dài từ 15°58'20" đến 14°36'36" vĩ Bắc, từ 107°27'23" đến 108°94'40" kinh Đông.Phía bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía tây giáp Campuchia,
Trang 8phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên
Thành phố Pleiku là đô thị phía bắc Tây Nguyên, nằm trên trục giao thông giữaquốc lộ 14, quốc lộ 19 nối thông suốt cả nước, gần ngã ba Đông Dương, nằm trên cungđường Hồ Chí Minh, có đường biên giới quốc gia dài 90 km và trong vùng tam giáctăng trưởng các tỉnh lân cận, cũng như các quốc gia láng giềng như Campuchia, Làorất thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa đến cảng để xuất khẩu và các trung tâm kinh tếlớn của cả nước
Trong tương lai khi đường hàng không được nâng cấp thì Gia Lai sẽ là đầumối giao lưu rất quan trọng nối liền các trung tâm kinh tế của cả nước như Đà Nẵng,thành phố Hồ Chí Minh Đây là động lực lớn, thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh cũng nhưtoàn vùng Tây Nguyên phát triển
1.1.2 Địa hình
Vùng núi chiếm 2/5 diện tích tự nhiên toàn tỉnh, mang kiểu phân cắt mạch nhưdãy An Khê, Ngọc Linh, Chư Dù, có diện tích là 6.909 km2, có đỉnh cao nhất trên2.023 m Vùng cao nguyên có diện tích 5.800 km2: Cao nguyên Kon Hà Nừng có diệntích 1.250 km2, kiểu đất bazan cổ với nền đất chính là feralít nâu đỏ, độ cao trung bình
700 đến 800 m
Cao nguyên Pleiku có diện tích 4.550 km2 nền đất đồng nhất là đá đỏ bazandạng vòm bất đối xứng Vùng trung du và đồng bằng chiếm 3/5 diện tích tự nhiên toàntỉnh Vùng trũng gồm vùng An Khê và vùng Cheo Reo, Phú Túc có diện tích 2.786
km2, đất trong vùng gồm hai nhóm vàng xám trên đá Mắc ma axít và phù xa có độ caotrung bình 200 đến 300 m Ðiểm cao nhất 2.023 m; điểm thấp nhất 200m; độ cao trungbình là 500m so với mặt nước biển
1.1.3 Khí hậu thời tiết
Do đặc điểm vị trí địa lý, địa hình nên khí hậu ở Gia Lai vừa chịu sự chiphối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên mátdịu Nhìn chung thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10 kèm theo gió Tây Nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng7,8,9 lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa năm Riêng vùng phía T â y do chịu ảnhhưởng của Tây Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11 Mùa khô từtháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Tây Bắc thổi
Trang 9mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng.
Đặc điểm nổi bật của chế độ nhiệt ở Tây Nguyên là hạ thấp theo độ cao tănglên Nhiệt độ trung bình ở độ cao 700 - 800m dao động từ 22 -250C, Lượng mưa trungbình hàng năm toàn tỉnh đạt từ 1800-2000mm, trong đó vùng có lượng mưa lớn nhất
là vùng T â y T r ư ờ n g S ơ n (2200-2500mm); vùng có lượng mưa thấp nhất làvùng phía Đ ô n g T r ư ờ n g S ơ n (1200-1750mm) Độ ẩm không khí: trung bìnhnăm khoảng 82%, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 9 trung bình 90% tháng có độ
ẩm thấp nhất là tháng 3 trung bình 70% Lượng bốc hơi các tháng 2,3,4 đạt từ
150-200 mm Tổng lượng bốc hơi trung bình năm 1300-1500mm bằng 70% lượng mưanăm chủ yếu vào mùa khô Tổng số giờ nắng bình quân hàng năm khá cao khoảng
2139 giờ, năm cao nhất 2323 giờ, năm thấp nhất khoảng 1991 giờ Trong đó mùa khô
số giờ nắng trung bình cao hơn (1.167 giờ) so với mùa mưa (972 giờ)
1.1.4 Thủy văn
Gia Lai là nơi đầu nguồn của nhiều con sông đổ về vùng duyên hải miền TrungViệt Nam và về phía Campuchia Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh khá phong phú,phân bố tương đối đồng đều, nhưng do địa hình dốc nên khả năng giữ nước kém,những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô nên mực nước các sôngsuối lớn thường xuống rất thấp
Trên địa bàn có hai hệ thông sông chính chảy qua là hệ thống sông Ba và sông
Sê San Hệ thống sông Ba có diện tích lưu vực chiếm tới 2/3 diện tích lãnh thổ baogồm lưu vực dòng chính Sông Ba và sông Ayun; Hệ thống sông Sê San bao gồm hainhánh lớn là sông Đăk Bla và sông Pô Cô Ngoài hệ thống sông Ba và sông Sê Santrên địa bàn tỉnh còn có các phụ lưu của sông Sêrêpok bao gồm nhánh sông như IaDrăng, Ia Lốp, Ia Muer
1.1.5 Tài nguyên đất
Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Gia Lai, đó là tàinguyên đất Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 15.536,9 km2, trong đó chủ yếu lànhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đấtđen Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đếnchua, đạm và lân tổng số khá)
Đất đai của Gia Lai phần lớn nằm trên sườn tây dãy Trường Sơn Độ cao trung
Trang 10bình của tỉnh từ 700 - 800 m, đỉnh cao nhất là kông Kah King (kông Ka Kinh) 1.761 mthuộc huyện Kbang Địa hình có hướng thấp dần từ bắc xuống nam, thoải dần từ đỉnh(là trục đường 14) sang hai phía đông và tây với các đồi núi, cao nguyên và thung lũngxen kẽ nhau Nhóm đất phù sa (fuvisols): Được hình thành và phân bố tập trung vencác sông suối trong tỉnh Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phonghóa của mẫu chất Nhóm đất gley (gleysols): Phân bố tập trung ở các khu vực thấptrũng thuộc các huyện Chư Prông, An Khê, Đăk Pơ, Ayun Pa, Ia Pa Nhóm đất xám(acrisols): Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Gia Lai, phân bố ởhầu hết các huyện Nhóm đất đỏ (ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan) Lànhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 50,44% diện tích tựnhiên Đất đỏ bazan có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 -65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao rất thuận lợi cho việc phát triểncác loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà phê, cao su, hồ tiêu và nhiềuloại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác Đây là một lợi thế rất quan trọng
về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Gia Lai, đặc biệt đối với cây cà phê
1.1.6 Nguồn nước
Nguồn nước mặt với những đặc điểm về khí hậu-thủy văn và với 3 hệ thốngsông ngòi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Ba; hệ thống sông SêSan, hệ thống sông Sêrêpok) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dàitrên 10 km, đã tạo cho Gia Lai một mạng lưới sông hồ khá dày đặc Vì vậy, nhiềuvùng trong tỉnh có khả năng khai thác nguồn nước mặt thuận lợi để phục vụ sản xuất
và đời sống Nguồn nước ngầm tập trung chủ yếu trong các thành tạo BaZan & Trầmtích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng nước lỗ hổng và nước khe nứt, chấtlượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hóa M= 0,1 - 0,5, pH = 7-9, loạihình hóa học thường là Bicacbonat Clorua- Magie, Can xi hay Natri
1.2 Điều kiện kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai
1.2.1 Dân số
Với dân số tỉnh Gia Lai hiện nay là 1.277.451 người, trong đó ở thành thị là364.726 người chiếm 28,55% và ở nông thôn là 912.725 người chiếm 71,45% dân sốtoàn tỉnh
Toàn tỉnh hiện nay có 705.153 người trong độ tuổi lao động, chiếm 55,2% dân
Trang 11số toàn tỉnh, lao động đã qua đào tạo chiếm trên 30% tổng số lao động xã hội Tỷ lệtăng dân số và lao động hàng năm khá cao, giá nhân công rẻ nhưng rất cần đào tạo vềvăn hóa và chuyên môn kỹ thuật.
1.2.2.Hiện trạng sử dụng đất
Toàn tỉnh có 1.549.571 ha đất tự nhiên trong đó Trong đó: Diện tích đất nôngnghiệp là 375.536 ha, chiếm 24,23%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 750.819 ha,chiếm 48,45%; diện tích đất chuyên dùng là 51.746 ha, chiếm 3,33%; diện tích đất ở là9.906 ha, chiếm 0,63%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 361.564 ha,chiếm 23,33%
Diện tích trồng cà phê năm 2000 đạt 81.030 ha và đang có xu hướng giảm vàonăm 2006 là 75.910 ha, những năm gần đây đang có xu hướng tăng trở lại vào năm
2009 là 76.580 Nguyên nhân từ năm 2001 trở đi giá cà phê liên tục sụt giảm do đónông dân có xu hướng chuyển sang các loại cây trồng khác
1.3 Tổng quan đặc điểm về vấn đề nghiên cứu
1.3.1 Tình hình sản xuất cà phê thế giới
Qua bảng 1.1 cho thấy sản lượng cà phê thế giới giai đoạn 91-95 là5.663.700 tấn (94,4 triệu bao) đến năm 2005 là 6.411.720 tấn (106,9 triệu bao), tăng748.020 tấn (tăng 13,81%) Trong năm 2010 bốn nước sản xuất cà phê lớn nhất thếgiới gồm Brasil, Việt Nam, Colombia, Indonesia sản lượng cà phê trung bình4.034.100 tấn chiếm tỷ lệ 60.96% sản lượng cà phê trên toàn thế giới Trong khi đóViệt Nam trong giai đoạn 1991-1995 sản lượng chỉ đạt 169.680 tấn đến năm 2005 sảnlượng đạt 660.000 tấn tăng 490.320 tấn tức tăng (288,97%) Trong giai đoạn này ViệtNam góp phần tăng sản lượng cà phê thế giới
Trang 12Bảng 1.1 Sản lượng cà phê của 10 nước hàng đầu thế giới giai đoạn 2005 - 2010
Tổng cộng 7.368 8.002 8.159 8.235 8.341 8.381
Nguồn: Tổ chức Lương thực Thế giới (FAO), 2011
1.3.2 Tình hình sản xuất cà phê Việt Nam
Trong 20 năm trở lại đây ngành cà phê Việt Nam phát triển vượt bậc, sản lượngtăng hàng chục lần, là mặt hàng xuất khẩu đứng vị trí thứ hai, sau gạo trong danh mụchàng nông sản xuất khẩu, với kim ngạch đạt gần 2 tỷ USD Trên thế giới, cà phê ViệtNam đứng vị trí số 2 về khối lượng sản xuất và xuất khẩu, sau Brazil Ngành cà phê đãthu hút trên 300.000 hộ gia đình, với trên 700.000 lao động chuyên nghiệp
Hiện nay nước ta có khoảng 550 nghìn hec ta đất trồng cà phê (trong đó TâyNguyên chiếm tới 80% diện tích đất trồng và 90% sản lượng) với năng suất gần 1,7tấn/ha, sản lượng bình quân mỗi năm trên 1 triệu tấn Sản phẩm chủ yếu là cà phê nhânxuất khẩu, cà phê rang xay và cà phê hoà tan Cà phê xuất khẩu chiếm tới 90% cà phêcủa cả nước Tuy nhiên sản xuất cà phê của Việt Nam vẫn ở trong quy mô nhỏ lẻ Pháttriển có tính tự phát, phân tán, không có quy hoạch dài hạn cũng như ngắn hạn, 80%sản lượng là của hộ gia đình, 10% là của chủ trang trại và 10% của các nông trườngquốc doanh Diện tích mỗi hộ trong khoảng từ 3-5ha, mỗi trang trại 30-50ha Trong
Trang 13những năm cuối cùng của thế kỷ XX, do sự kích thích về giá, sản xuất vượt ra ngoài sựkiểm soát của nhà nước, đưa sản lượng cà phê Việt Nam nói riêng, thế giới nói chunglên cao, vượt quá nhu cầu tiêu thụ, tạo nên khủng hoảng thừa, đẩy giá sút giảm liêntục, giảm đến mức thấp kỷ lục Nhu cầu tiêu dùng cà phê trên thế giới thiên về cà phêchè (Arabica), trong khi cây cà phê của ta chủ yếu là cà phê vối (Robusta) Từ đó, chothấy ngành cà phê của ta đang trong tình trạng thiếu sự quản lý chỉ đạo thống nhất từgiống, kỹ thuật thâm canh và chế biến dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp, giá thành hạ
Bảng 1.2 Diện tích, sản lượng cà phê Việt Nam giai đoạn 2000-2009
Năm Diện tích Tăng trưởng(%) Sản lượng Tăng trưởng
1.4 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.4.1 Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế
Vấn đề hiệu quả kinh tế của các cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp đã
và đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu và do đó cũng có nhiều tài liệu đề cậptới, tuy nhiên đối với cây cà phê các tài liệu đề cập chủ yếu đến các khía cạnh như:Khuyến cáo về số lượng và tỷ lệ phân bón hoá học (N:P:K) phù hợp trong sản xuất câycông nghiệp dài ngày trong các giai đoạn sinh trưởng của cây Khuyến cáo sử dụngcác loại thuốc BVTV để phòng trị các loại sâu bệnh hại trên các loại cây công nghiệpdài ngày nhằm hạn chế thiệt hại của sâu bệnh hại, tăng năng suất cây trồng Giới thiệu
Trang 14những trường hợp (hộ trồng cây công nghiệp dài ngày) điển hình cho năng suất cao,sản lượng và doanh thu lớn v.v.
Trần Vĩnh Phúc (2007) Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cà phêtỉnh Đăk Lăk với mục tiêu xác định hiệu quả sản xuất cà phê thông qua các chỉ tiêuNPV, IRR, BCR, RR; tỷ giá xuất khẩu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các chỉtiêu NPV, IRR, xác định lợi thế so sánh cây cà phê thông qua tính các chỉ tiêu chiphí nguồn lực trong nước DRC, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi thế so sánhcây cà phê tại Đắk Lắk
Đoàn Hữu Tiến (2006) Đánh giá và phân tích hiệu quả kinh tế cây cam sành tạinông hộ ở Tiền Giang và Vĩnh Long, trong đề tài này đã sử dụng các chỉ tiêu NPV,IRR, BCR để đánh giá hiệu quả kinh tế ở nhóm vườn đầu tư thấp và nhóm vườn đầu tưcao, và nhóm hộ trồng giống không xác nhận và nhóm hộ trồng giống xác nhận Tácgiả sử dụng phương pháp phân tích hồi qui nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu tố giống
và mức đầu tư Và sử dụng phương pháp tối đa hoá lợi nhuận trong sản xuất cây camsành, tác giả chia ra làm 02 giai đoạn kinh doanh và khuyến cáo người trồng cam sànhnên sử dụng mức phân bón hợp lí để mang lại lợi nhuận tối đa Phương pháp nghiêncứu này cũng được áp dụng trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi
Hiệu quả kinh tế của cây cà phê chịu tác động của nhiều yếu tố: giống, phân bón,thuốc BVTV v.v Trong đó bệnh khô cành khô quả là bệnh gây hại nghiêm trọng ảnhhưởng đến năng suất phẩm chất quả cà phê, ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận trongsản xuất Bệnh khô cành khô quả đã và đang có ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh tếcây công nghiệp dài ngày, trong đó cà phê là cây trồng chịu thiệt hại rất lớn của bệnhnày, do đó hiệu quả kinh tế của cây cà phê ở khu vực Tây Nguyên phụ thuộc rất lớnvào sự kiểm soát bệnh khô cành khô quả
Mức đầu tư và cây giống có ảnh hưởng đến việc quản lý bệnh khô cành khô quả,đến năng suất, chất lượng quả và do đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuấtcây cà phê
Việc đánh giá và phân tích hiệu quả kinh tế của cây cà phê theo mức đầu tư và yếu
tố giống là việc làm cần thiết, tuy vậy trong thời gian qua chưa có nghiên cứu đầy đủ
về vấn đề này
Trang 151.4.2 Nghiên cứu về bệnh khô cành khô quả (Anthracnose, Die Back) ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
Do nguyên nhân sinh lý hay do nấm Colletotrichum coffeanum Noack gây nên.
Bệnh thường phát triển từ đầu mùa mưa nhưng thể hiện rõ rệt khi quả non đã ở được 6
- 7 tháng tuổi Bệnh gây hiện tượng khô cành, khô quả, khô lá thành từng vết haythành từng mảng trên phiến lá Khi bệnh nặng có thể làm cho cà phê bị chết khô khônghồi phục lại được
Đây là bệnh quan trọng thứ hai sau bệnh gỉ sắt trên cây cà phê Bệnh làm khô quả,khô cành và chết cây Bệnh được phát hiện ở Ấn độ năm 1919 và gây hại ở đây vàonăm 1928, gây dịch Kenya (1960) làm giảm 50% sản lượng
Tại Việt Nam, bệnh được phát hiện năm 1930 và cho đến nay cùng với việc giatăng diện tích cà phê tại các tinh Tây Nguyên tỷ lệ cây bệnh và mức độ gây bệnh cũnggia tăng
Các kết quả điều tra của bộ môn Bảo vệ thực vật, Viện nghiên cứu cà phê tại ĐắkLắk cho thấy tỷ lệ quả bệnh trên cây từ 4,6-20,4%, tỷ lệ quả bệnh rụng dưới đất là 6%,không kể tỷ lệ quả rụng do sinh lý là 26%, tỷ lệ cây bệnh nặng là 12% Bệnh làm giảm7% sản lượng qua việc làm giảm 22,8% trọng lượng 100 nhân
Trang 16CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương này trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề hiệu quả kinh
tế trong sản xuất nói chung và sản xuất cây cà phê nói riêng, cách đo lường hiệu quảkinh tế, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thu thập dữ liệu, phân tích hồiqui và tối đa hoá lợi nhuận trong sản xuất cây cà phê tại nông hộ
2.1 Cơ sở lý luận
Bất kỳ ở đâu và lúc nào đã tiến hành sản xuất là phải đánh giá hiệu quả kinh tế.Điều đó được đặt ra như một tất yếu khách quan, nguyên tắc cơ bản và là tư tưởng chỉđạo của bất cứ ai khi đã bước vào lĩnh vực kinh tế trong mọi hình thái kinh tế xã hội.Chỉ có trên cơ sở hiệu quả kinh tế ngày càng cao hơn trước mới có thể tích luỹ và đápứng được yêu cầu của qui luật tái sản xuất mở rộng nền kinh tế Từ đó cho thấy việcnghiên cứu hiệu quả kinh tế của sản xuất được đặt ra như một tất yếu khách quan, có ýnghĩa chiến lược đối với xu thế phát triển của xã hội, mà trong từng giai đoạn cụ thể
nó càng có ý nghĩa thiết thực Trên cơ sở hiệu quả kinh tế đã đạt được trong lĩnh vựcsản xuất mà có thể nâng cao mức sống vật chất, tinh thần trong toàn bộ xã hội, nó làcăn cứ quan trọng nhất để đánh giá thành tích của mỗi đơn vị, mỗi ngành sản xuấttrong nền kinh tế của đất nước
Trong lĩnh vực sản xuất của cải vật chất, hiệu quả của sản xuất có vai trò đặcbiệt quan trọng phản ánh kết quả tổng hợp nhất của quá trình kinh tế trên cơ sở xácđịnh mối quan hệ giữa lợi nhuận thu được với chi phí sản xuất hoặc vốn đầu tư trongquá trình kinh tế đó Mục đích của hoạt động sản xuất luôn hướng tới lợi nhuận caonhất trên đơn vị chi phí đầu tư, do đó việc nâng cao hiệu quả kinh tế của từng đơn vị,từng xí nghiệp, hộ gia đình có tác động đến sản xuất và thu nhập của nền kinh tế quốcdân
Phù hợp với yêu cầu của qui luật kinh tế cơ bản dưới chủ nghĩa xã hội mà phạm
Trang 17trù hiệu quả của sản xuất vừa bao hàm cả nội dung kinh tế vừa bao hàm cả nội dung xãhội Mặt kinh tế của hiệu quả được thể hiện bằng các chỉ tiêu có tính chất số lượng,thông thường được đo bằng phương pháp thống kê Mặt xã hội được xem xét bởi cácyếu tố phi kinh tế, phản ánh đặc thù của sản xuất dưới chủ nghĩa xã hội Sự thống nhất
và mâu thuẫn giữa hai mặt đó thường diễn ra với những mức độ khác nhau trongnhững điều kiện khác nhau Vì vậy đã làm cho việc xem xét, đánh giá và đo lườnghiệu quả trở nên phức tạp Từ đó về mặt phương pháp luận có ý đã tách biệt hai mặt đócủa hiệu quả sản xuất thành hai bộ phận hoàn toàn độc lập nhau Hoặc là theo hướngthứ nhất hoàn toàn tập trung vào công việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệuquả kinh tế với lý lẽ rằng một khi nền kinh tế được nâng cao thì đương nhiên đáp ứngđược mục đích chính trị xã hội Hoặc theo hướng thứ hai chủ yếu đánh giá hiệu quảkinh tế bằng một hệ thống chỉ tiêu kinh tế có xem xét đến nội dung xã hội của nó.Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ đánh giá hiệu quả sản xuất cây cà phê theohướng thứ nhất
2.2 Cơ sở thực tiễn
Nhận thức được tính tất yếu khách quan và vai trò của hiệu quả kinh tế đến pháttriển kinh tế-xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến hiệu quả kinh tế trongsản xuất, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp vì đây là ngành chiếm đến 2/3lao động Cây công nghiệp dài ngày được xác định là ngành sản xuất quan trọng, nhất
là đối với khu vực Tây Nguyên, nhưng thực tế thời gian qua vấn đề đánh giá hiệu quảkinh tế của cây công nghiệp dài ngày chưa được coi trọng, đáng lẽ ra đó là việc làmthường xuyên trong quá trình phát triển Các chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa kinh tế chưathống nhất, dẫn đến trong tính toán và đánh giá hiệu quả kinh tế của từng loại cây côngnghiệp dài ngày gặp nhiều khó khăn trở ngại
Trong điều kiện bị ảnh hưởng rất lớn của bệnh khô cành khô quả và một sốbệnh hại khác, sản xuất cây cà phê tại các nông hộ ở Tây Nguyên nói chung và tại GiaLai nói riêng đang đối mặt với nhiều thách thức, do đó mọi chi phí bỏ ra trong sản xuấtphải được tính toán, cân nhắc Ngày nay các nông hộ trồng cây công nghiệp dài ngàykhông chỉ quan tâm đến mặt kết quả như năng suất, doanh thu, thu nhập là bao nhiêu,
mà còn rất quan tâm đến lợi nhuận trên một diện tích đất, trên một đồng vốn đầu tư