Pháp lệnh cán bộ công chức CBCC năm 1998 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức và quản lý các hoạt động liên quan đến công vụ,công chức, xây dựng nền hành chính phục vụ nhân
Trang 1I – PHẦN MỞ ĐẦU :
Chế độ công vụ là nội dung quan trọng trong hoạt động của nền hành chính quốc gia Pháp lệnh cán bộ công chức (CBCC) năm 1998 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức và quản lý các hoạt động liên quan đến công vụ,công chức, xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân, từng bước đổi mới cơ chế quản lý công chức phù hợp với thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện Pháp lệnh CBCC 1998
đã bộc lộ một số hạn chế Đó là nguyên nhân dẫn tới việc sửa đổi, bổ sung sửa đổi Pháp lệnh
đó vào năm 2000, năm 2003 và sau đó là sự ra đời của Luật CBCC năm 2009 Trong đó, các nguyên tắc của chế độ công vụ được quy định rất cụ thể
II – PHẦN NỘI DUNG :
1 Giải thích khái niệm :
1.1 Công vụ là gì?
- Là một loại hoạt động mang tính quyền lực và tính pháp lý, do đội ngũ công chức, sử dụng Ngân sách để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong việc quản lí toàn diện các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của một quốc gia Hoạt động công vụ là hoạt động có tính tổ chức cao, được tiến hành thường xuyên, liên tục theo trật tự do pháp luật quy định trên cơ sở sử dụng quyền lực nhà nước và được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước
1.2 Chế độ công vụ là gì ?
- Là hệ thống các quan hệ được hình thành trên cơ sở các quy tắc thể chế công vụ, hình thành trong hoạt động tổ chức nội bộ của cơ quan, tổ chức trong giải quyết các công việc của công dân, tổ chức, cơ quan
2 Nguyên tắc của chế độ công vụ :
Chế độ công vụ được xây dựng dựa trên những nguyên tắc nhất định, đó là:
2.1.Nguyên tắc cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân :
Mọi hoạt động của CB, CC đều nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân CB, CC phải tận tụy
phục vụ nhân dân, phải “liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân”
(khoản 3 Điều 8 Luật CBCC 2009)
Nhiệm vụ đặt ra với đội ngũ CBCC hiện nay là: Bằng lao động của mình, bằng sự am hiểu công việc, bằng sự tận tụy với công việc góp phần đổi mới mọi mặt của đời sống xã hội Đội ngũ CBCC phải tự đổi mới phải thay đổi nếp suy nghĩ và cách làm việc, phải tự thay đổi
để thực hiện nhiệm vụ mới Để có thể làm được điều đó phải đổi mới đội ngũ CB, từ việc giáo dục, đào tạo lại hoặc thay thế một phần đội ngũ CB…Vì thế, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 18/2010/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 1/5/2010) về đào tạo và bồi dưỡng CC
Ví dụ: để thực hiện Luật CBCC 2009 (có hiệu lực thi hành từ 1/1/2010), năm 2009, Bộ Nội vụ đã phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương mở lớp tập huấn và bồi dưỡng dưới các hình thức lồng ghép nhằm nâng cao và thống nhất về nhận thức cho đội ngũ CBCC, đặc biệt
là những người làm công tác quản lý về các nội dung liên quan đến quan điểm, mục tiêu và các quy định mới của Luật CBCC
2.2 Nguyên tắc CBCC chịu sự giám sát của nhân dân, có thể bị nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bãi miễn nếu không đáp ứng được yêu cầu mà Nhà nước đã đề ra đối với họ
CBCC chịu trách nhiệm về việc thi hành công vụ, nhiệm vụ của mình; phải trả lời trước Nhà nước, xã hội, nhân dân, công dân về mọi hành vi công vụ của mình cũng như chịu trách
Trang 2nhiệm về mọi hành vi công vụ của mình; CBCC chịu trách nhiệm pháp lý khi có những vi phạm pháp luật trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ CBCC phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định,chỉ thị mệnh lệnh hợp pháp của cấp trên CBCC có thể bị thay thế nếu tỏ
ra không đủ năng lực thực hiện công việc được giao, vi phạm kỉ luật nhà nước, kỉ luật lao động, có biểu hiện quan lieu, cửa quyền, vi phạm pháp luật…
Hiện nay, những yêu cầu CBCC ngày càng sâu sắc, toàn diện hơn Cụ thể:
- CBCC phải có khả năng nhìn xa, trông rộng; có khả năng phân tích tình hình
tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố khác nhau; biết tiếp thu cái mới, biết gắn lí luận với thực tiễn, biết lựa chọn phương pháp tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ;
- CBCC phải trung thực, tận tụy với công việc và phải có thái độ không khoan nhượng với những biểu hiện không trung thực ở người khác;
- CBCC phải nắm vững khoa học quản lý; có chí tiến thủ; có khả năng đạt được kết quả tốt trong công tác, phát huy sáng kiến, phối hợp trong công tác, bố trí và sử dụng cán bộ; có tính tổ chức, tự chủ cao, tính chất quyết đoán, lòng nhân ái, sự chu đáo với nhân viên dưới quyền
2.3 Nguyên tắc “công tác CBCC đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng cộng sản Việt Nam”.
Ở nước ta, đội ngũ CBCC được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng Đảng xây dựng đội ngũ CBCC cho cả hệ thống chính trị, bồi dưỡng, đào tạo những đảng viên ưu
tú, có phẩm chất và năng lực để gánh vác những nhiệm vụ trong bộ máy HCNN Ví dụ: Cơ quan có thẩm quyền của ĐCSVN căn cứ vào điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội
và quy định của Luật CBCC năm 2009 quy định cụ thể chức vụ, chức danh cán bộ làm việc trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị- xã hội
Đảng thực hiện đường lối, chính sách cán bộ thông qua các tổ chức Đảng và Đảng viên trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, thực hiện đúng quy trình, thủ tục pháp luật của Nhà nước và điều lệ của các tổ chức xã hội Ví dụ: để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, ngày 13/11/2008 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII Nước CHXHCNVN, Luật CBCC đã được Quốc hội thông qua (có hiệu lực từ ngày 1/1/2010)
Đảng phân công, phân cấp quản lí CB cho các cấp ủy và các tổ chức Đảng đồng thời thường xuyên kiểm tra việc thực hiện công tác CB của ngành, các cấp, coi đây là một trong những công việc quan trọng nhất của lãnh đạo Những vấn đề về chủ trương, chính sách, đánh giá, bố trí, sử dụng, điều động, đề bạt, khen thưởng, xử lí kỉ luật CB do cấp ủy có thẩm quyền quyết định theo đa số
2.4 Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trong việc đảm nhiệm công vụ
Mọi công dân đều có thể tham gia gánh vác công vụ nhà nước tùy theo năng lực chuyên môn, phẩm hạnh và sức khỏe của mình, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần xuất thân, giới tính Ví dụ: khoản 1 Điều 36 Luật CBCC quy định người có đủ các điều kiện : Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam; Đủ 18 tuổi trở lên; Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ và các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, thì được đăng ký
dự tuyển công chức
Trang 3Như vậy, quyền bình đẳng trong đảm nhiệm công vụ là biểu hiện cụ thể của quyền bình đẳng trong việc tham gia quản lí nhà nước - xã hội
Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định hết sức chặt chẽ về những người có thể tham gia việc đảm nhiệm công vụ Ví dụ: khoản 2 Điều 36 quy định: những người không cư trú tại Việt Nam; mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, thì không được đăng ký dự tuyển CC
Để đảm bảo thực hiện quyền bình đẳng của công dân trong việc tham gia quản lí nhà nước và xã hội cần:
- Áp dụng rộng rãi việc bầu cán bộ trong bộ máy HCNN, việc thay người giữ chức vụ sau một thời gian nhất định trên cơ sở thi tuyển, đòi hỏi những người được bầu giữ chức vụ phải thường xuyên báo cáo công việc của mình trước tập thể
- Đảm bảo tính công khai của chính sách CBCC Vấn đề dự kiến người giữ chức vụ này hay chức vụ khác, tổ chức bầu, thi tuyển, bổ nhiệm, đề bạt… phải tiến hành công khai dưới
sự giám sát chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền và công luận
- Quy định quyền từ chức, cơ sở và điều kiện từ chức, thủ tục nộp đơn và xem xét đơn xin từ chức, những hậu quả pháp lí của việc từ chức…
2.5 Nguyên tắc bảo đảm nguyên tắc tập thể, dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị
Chế độ công vụ bảo đảm nguyên tắc tập thể, dân chủ để bố trí đúng người, đúng việc, đúng lúc và đúng chỗ Mọi vấn đề về chủ trương, chính sách, đánh giá, sử dụng CBCC do tập thể có thẩm quyền quyết định sau khi xem xét ý kiến của các cơ quan có liên quan và ý kiến đóng góp của nhân dân tại cơ sở
Hoạt động công vụ bảo đảm sự kết hợp đúng đắn giữa chế độ tập thể và trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, lấy hiệu quả công tác và sự đóng góp thực tế làm thước đo phẩm chất và năng lực CB
III – KẾT LUẬN :
Việc nhà nước ban hành Luật CBCC 2009 một lần nữa khẳng định hoạt động công vụ và đội ngũ CBCC là một nội dung quan trọng của nền hành chính quốc gia, có vai trò quyết định đến quá trình đổi mới, cải cách và thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội Đây là bước tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, CC; thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về tiếp tục cải cách chế độ công vụ, CC và về công tác CB, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
ở nước ta