ĐẶT VẤN ĐỀTrong mỗi tập thể lớp luôn có những học sinh dễ giáo dục và những học sinh khó giáo dục, luôn xuất hiện những hành vi không mong đợi và có những học sinh thường được gọi là học
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong mỗi tập thể lớp luôn có những học sinh dễ giáo dục và những học sinh khó giáo dục, luôn xuất hiện những hành vi không mong đợi và có những học sinh thường được gọi là học sinh cá biệt
Lứa tuổi HS THPT, các em đang ở giai đoạn phát triển hoài bão, ước mơ, tích lũy những tri thức, kĩ năng đề bước vào đời thực hiện ước mơ của mình Nếu các em có những lệch lạc trong hành vi, thái độ mà không được chỉnh sửa, uốn nắn kịp thời sẽ ảnh hưởng nặng nề đến thành công, hạnh phúc của các em trong tương lai Ngoài ra đối với lớp học, còn tồn tại những học sinh cá biệt sẽ
có ảnh hưởng đến tập thể và các học sinh khác
Trong thực tế, nhiều giáo viên cảm thấy gặp khó khăn, bất lực khi giải quyết vấn đề này Mặt khác tôi nhận thấy, giáo viên cần có những kĩ năng giúp những học sinh này có những điều chỉnh, thay đổi niềm tin thái độ, hành vi của mình để các em có một tương lai tốt hơn Vì vậy, tôi đã có quá trình học tập, áp dụng nội dung module này và có những kinh nghiệm chia sẻ với các đồng nghiệp về vấn đề giáo dục học sinh cá biệt
II NỘI DUNG
II.1 Nội dung cần tìm hiểu về học sinh cá biệt ở lứa tuổi THPT
II.1.1 Những tác động tích cực và tiêu cực đến học sinh từ gia đình, bạn bè và môi trường sống
- Gia đình: Hoàn cảnh gia đình, kinh tế, văn hóa gia đình, lối sống và bầu không khí tâm lí- đạo đức trong gia đình, tính chất các mối quan hệ và sự gắn bó giữa các thành viên trong gia đình, sự quan tâm của gia đình đối với việc giáo dục và học hành của học sinh…
- Nhóm bạn: định hướng giá trị, những qui ước của nhóm bạn chơi chung
có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến học sinh
- Ảnh hưởng của môi trường sống, các quan hệ xã hội khác: Học sinh đó sống trong môi trường lành mạnh hay chứa đựng những rủi ro nào
II.1.2 Những khó khăn trong từng phương diện của học sinh
- Học sinh có thể gặp những khó khăn trong học tập, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình, tâm lí cá nhân, khả năng tự nhận thức của học sinh, sự lôi kéo, áp lực của nhóm bạn, sự thiếu hoặc mất niềm tin vào năng lực của bản thân… Giáo
Trang 2viên cần có những tìm hiểu về những trở ngại này của các em để có những hỗ trự kịp thời, khích lệ các em định hướng theo chiều hướng tốt
II.1.3 Những nhu cầu, sở thích, mong muốn, điểm mạnh của từng học sinh cá biệt
- Ở mỗi con người tiềm ẩn những khả năng khác nhau: năng lực giao tiếp, năng lực tư duy logic và toán học, năng lực âm nhạc, năng lực nội tâm, năng lực thể thao vận động, năng lực quan hệ xã hội… Bên cạnh đó cũng có những nhu cầu khác nhau: ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí, nhu cầu về tình cảm, nhu cầu thể hiện bản thân, nhu cầu được tôn trọng, kình mến tin tưởng, địa vị…
- Giáo viên cần tìm hiểu những nhu cầu này ở học sinh cá biệt để phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường có thể đáp ứng những nhu cầu chính đáng, khích lệ những nhu cầu được kính trọng, tin tưởng, có giá trị phát triển
II.1.4 Niềm tin và quan niệm của học sinh về các giá trị cuộc sống
- Điều này có ý nghĩa quan trọng trong cách ứng xử của học sinh với những người xung quanh hoặc trong các hoạt động khác Do đó cần tìm hiểu xem các em có những niềm tin nào? Các em coi điều gì là quan trọng đối với bản thân và cuộc sống… để có tác động phù hợp thay đổi những niềm tin và giá trị không hợp lí chi phối hành động của các em
II.1.5 Khả năng nhận thức, nhu cầu, động cơ học tập, cách thức học sinh suy xét vấn đề…để có chiến lược tiếp cận cụ thể
II.1.6 Tính cách với những đặc điểm cơ bản Về điều này cần coi trọng những nét tích cực để phát huy nhằm triệt tiêu những nét tiêu cực ở các em
II.1.7 Những hành vi, thói quen chưa tốt và nguyên nhân làm học sinh có hành
vi, thái độ lệch lạc để có thể ra kế hoạch hỗ trợ các em thay đổi thói quen này trên cơ sở khắc phục nguyên nhân của chúng
II.2 Phương pháp thu thập thông tin về học sinh cá biệt.
II.2.1 Tổ chức cho học sinh thực hành tự nhận thức về bản thân: các em sẽ tự viết sơ yếu lí lịch để trình bày các nội dung liên quan về bản thân: đặc điểm tính cách, điểm mạnh, điểm yếu, những mục tiêu, mong muốn, những khó khăn rào cản trong cuộc sống trong việc thực hiện mong muốn… Qua đây, giáo viên có thể nắm bắt thông tin trực tiếp từ phía các em để có thể tiếp cận phù hợp Điều này cũng giúp học sinh tự đánh giá được bản thân mình và có thể thay đổi cho phù hợp
Trang 3II.2.2 Trò chuyện để tìm hiểu với học sinh cá biệt ngoài giờ học.
- Đây là phương pháp trực tiếp và thu nhận được nhiểu thông tin Để đảm bảo hiệu quả cao :
+ Giáo viên cần biết tạo môi trường an toàn và học sinh cá biệt tin tưởng, tâm lí thoải mái
+ Giáo viên cần thể hiện sự quan tâm lắng nghe để hiểu hơn là đáp lại, tránh gây mất tập trung
+ Giáo viên cũng nên đặt mình vào hoàn cảnh của người nói và xem xét đến các qua điểm khác
+ Giáo viên cần giữ bình tĩnh, tránh tranh cãi hoặc phê phán vì có thể đẩy các em vào thế phòng ngự hoặc nóng giận
Tóm lại, cần đảm bảo luôn lắng nghe tích cực: Tập trung chú ý; thể hiện đang lắng nghe; cung cấp thông tin phản hồi; không vội đánh giá; đối đáp hợp lí
II.2.3 Các phương pháp thu thập thông tin khác về học sinh cá biệt
- Tố chức cho học sinh viết về một vấn đề gì đó có thể là quan niệm sống, những điều ý nghĩa trong cuộc sống… qua đó các em trình bày quan điểm, suy nghĩ riêng của mình và giáo viên có thể nắm bắt tâm lí các em
- Quan sát các quá trình tham gia hoạt động của học sinh cá biệt đó với các học sinh khác
- Tìm hiểu thông tin về học sinh cá biệt thông qua nhóm bạn thân
- Tìm hiểu thông qua gia đình Khi thăm gia đình học sinh, gv cần tôn trọng và thích ứng với nếp sống gia đình học sinh; có thái độ lạc quan về sự tiến
bọ của học sinh; tôn trọng cách nghĩ của gia đình
- Tìm hiểu thông qua cán bộ lớp; tìm hiểu thông qua các bạn ngồi xung quanh học sinh cá biệt trong lớp; tìm hiểu thông qua các giáo viên khác; tìm hiểu thông qua cộng đồng xung quanh học sinh…
* Lưu ý: Khi trò chuyện cùng gia đình, bạn thân, cán bộ lớp, những HS ngồi
xung quanh trong lớp học…GV cần:
- Đặt câu hỏi đơn giản, cụ thể, có thể dùng những câu hỏi trực tiếp hoặc gián tiếp sao cho phù hợp nhưng phải liên quan đến mục đích tìm hiểu Hạn chế dùng những câu hỏi đóng mà người được hỏi chỉ cần trả lời có hay không
Trang 4- Sử dụng nguyên tắc lắng nghe tích cực không chỉ để thu thập đầy đủ thông tin chính xác, thể hiện thái độ tôn trọng người nói mà còn để kịp thời phát hiện
ra ý cần phải tiếp tục hỏi sâu hơn nhằm khai thác thông tin toàn diện hơn
- Kết hợp các hình thức giao tiếp: Giao tiếp không chỉ bằng lời mà còn thông qua ngôn ngữ không lời, đặc biệt là ánh mắt thân thiện, chân thành, khích lệ; tóm tắt và phản hồi lại ý kiến nghe được để đảm bảo rằng mình đã nghe và cảm nhận chính xác những điều mà họ đã trao đổi…
II 3 Hướng phối hợp, xử lí, lưu trữ, khai thác thông tin về từng học sinh cá biệt
II.3.1 Phối hợp xử lí và lưu trữ thông tin
- Kết hợp, đối chiếu, so sánh thông tin từ nhiều nguồn khác nhau: phiếu đặc điểm gia đình; sổ theo dõi sự phát triển của từng HS qua các tuần, tháng, học kì…; các kết quả sau khi thu thập thông tin về học sinh thông qua các phương pháp đã nêu trên; học bạ; sổ liên lạc Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá
để giữ lại những thông tin được kiểm chứng từ nhiều nguồn, sau đó tổng hợp, khái quát để có những nhận định cơ bản về học sinh
II.3.2 Hướng khai thác thông tin về học sinh
Các thông tin về học sinh cá biệt được khai thác để xác định biện pháp tác động,
dự báo chiều hướng phát triển, dự kiến kết quả cũng như những nguy cơ đề có biện pháp phòng ngừa
II.4 Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh cá biệt.
II.4.1 Chưa có mục đích học tập rõ ràng, chưa nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân
- HS chưa nhận thức được: học để làm gì? Vì cái gì mà học? hoặc do chưa hài hòa được giữa quyền và bổn phận, trách nhiệm của mỗi con người trong cuộc sống… Vì vậy, các em đến trường đi học như là ý muốn của gia đình mà không nhận thức được đi học là cơ hội để thành công sau này dẫn đên thiếu tự giác, thiếu trách nhiệm trong học tập và tu dưỡng
II.4.2 Một số em có niềm tin sai về giá trị con người trong cuộc sống
- Các em này cho rằng: Việc học sẽ không đem lại giá trị con người và cuộc sống có chất lượng
Trang 5VD nhiều em nghĩ rằng sau này cũng chỉ là về đi biển, có em thì nghĩ nhà mình
có nhiều ghe nhiều tài sản như vậy sau này cũng chẳng cần lo gì mà học…
II.4.3 Chán nản
- Tình trạng học kém ở một số HS làm cho các em cảm thấy bất lực trong học tập nên sinh ra chán nản, thờ ơ, thậm chí là bỏ cuộc Các em tin rằng mình không thể khá lên được, đánh giá thấp về bản thân mình
- Tư chất HS chậm trong nhận thức, hổng kiến thức từ lớp dưới nên chán học, thường hay nghịch phá, mất trật tự
- Sức ép trong thi cử, sức ép của gia đình, nhà trường và xã hội khiến HS căng thẳng, rơi vào lối sống trầm cảm, tự ti về bản thân mình
- Một số em khi chuyển trường hoặc học lên bậc cao hơn thì cần có thời gian tập thích nghi, nếu cứ bị phạt lỗi, hay vi phạm nội qui nhà trường cũng dẫn đến cảm giác không an toàn, chán nản và không hứng thú đi học
- Phương pháp học tập không hiệu quả cũng là 1 nguyên nhân dẫn đến chán nản II.4.4 Rối loạn hành vi xã hội của học sinh cá biệt
- Biểu hiện của rối loạn hành vi: Côn đồ, rất thích đánh nhau; hung hãn, tàn bạo với mọi người và súc vật; phá hoại tài sản; ăn cắp, ăn trộm, đốt phá; bỏ học, bỏ nhà đi bụi; hay lên cơn thịnh nộ, tức giận; hay khiêu khích, châm chọc mọi người xung quanh; thường xuyên và công khai không chịu nghe lời
- Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rối loạn hành vi chủ yếu xuất phát từ gia đình học sinh:
+ Cha mẹ đối xử với con cái quá khắc nghiệt, thô bạo; các thành viên trong gia đình thờ ơ, dửng dưng với nhau; chiều con quá mức; do gia đình có vấn đề xã hội: nghiện ngập, cờ bạc …
+ Một số phụ huynh vì điều kiện kinh tế phải vất vả mưu sinh nên không có thời gian quan tâm các em hay một số phụ huynh có điều kiện kinh tế ổn định thương con bằng cách nuông chiều và chu cấp nhiều tiền bạc cho các em nên một số em
dễ bị lôi kéo bởi những thanh niên hư hỏng bên ngoài nhà trường dẫn đến ăn chơi, đua đòi
+ Một số em có hoàn cảnh gia đình: Bố mẹ sống không hạnh phúc, ly thân, ly hôn ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý các em
Trang 6- Bên cạnh đó còn có những nguyên nhân khác:
+ HS bị bạn bè lôi kéo, thích chơi hơn thích học, muốn tự khẳng định mình + HS bị cuốn vào chuyện tình cảm nam nữ, không dành thời gian cho việc học + Một số GV vẫn quan niệm rằng chức năng giáo dục đạo đức HS là thứ yếu so với việc truyền thụ kiến thức nên thiếu sự động viên, nhắc nhở kịp thời đối với những HS có biểu hiện lệch lạc về tư tưởng
+ HS cá biệt thường chịu nhiều áp lực từ chính thầy cô và các bạn trong lớp GVCN có khi chỉ dựa vào cảm tính mà trách mắng, phạt tội, không tìm hiểu rõ nguyên nhân Các em đã kém lại càng kém hơn và không thể hòa đồng được cùng các bạn trong lớp Từ đó, các em càng chán nản và tiếp tục vi phạm
II.5 Cách thức giáo dục học sinh cá biệt
II.5.1- Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt lớp :
Ngoài việc giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường, giờ sinh hoạt lớp (SHL) cũng rất quan trọng trong vấn đề này Bởi vì thông qua giờ SHL, GVCN,
CB lớp kịp thời uốn nắn những sai trái khuyết điểm của HS khi bị vi phạm, lấy tình cảm bạn bè, lấy nghĩa thầy trò làm cho các em thấy được khuyết điểm của mình Đồng thời với sự chân thành của GVCN, HS trong lớp, HS khi vi phạm sẽ sớm nhận ra lỗi lầm của mình mà sửa chữa
Trong khi giáo dục các em, GVCN không nên nặng về kiểm điểm, phê bình, mà phải tìm ra và xác định đúng nguyên nhân đã tác động đến các em làm cho các em mắc sai lầm, vi phạm, vận dụng những điều khoản trong nội qui, trong qui định xếp loại của TT 58 làm cho các em thấy được phạm vi vi phạm ở mức độ nào và nêu ra hướng cho các em khắc phục GVCN nêu những việc làm tốt, những cố gắng nổ lực của các thành viên trong lớp để xây dựng tập thể lớp thành lớp tiên tiến … với thành tích như vậy thì không được bất cứ thành viên nào trong lớp phá vỡ
II.5.2 Tác động vào bản thân HS cá biệt
Tác động vào động cơ học tập để các em này thấy rõ tầm quan trọng của việc học Có thể đưa ra một số tranh ảnh về nạn thất học - chỉ mới mấy tuổi đầu không được đến trường, phải làm những việc nặng nhọc của người lớn rồi lại bị bạn bè khinh thường, xa lánh, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc Ngược lại những em có học thì làm việc thuận lợi dễ dàng, càng ngày càng tiến thân, bạn
bè ngưỡng mộ phải trầm trồ khen ngợi, cha mẹ được nở mày, nở mặt
Trang 7Giáo viên phải biết trân trọng những gì là tốt dù rất nhỏ của HS Một lời động viên khích lệ kịp thời khi các em chỉ có một việc làm tốt rất nhỏ cung đủ làm cho các em thấy tự tin hơn, thấy mình thực sự có ích
Hãy mạnh dạn giao việc cho chúng, hướng dẫn các em để chúng làm theo định hướng của mình nhưng vẫn phải để “Đất” cho các em thể hiện tính sáng tạo, tuyệt đối không được áp đặt
II.5.3 Phối hợp với GV bộ môn
- GVCN cần cung cấp những thông tin mình có được với GVBM về những đối tượng HS cá biệt GVCN và GVBM cần ngồi lại bàn bạc và tìm ra giải pháp
để giúp HS cá biệt tiến bộ hơn trong học tập
- Thường xuyên trao đổi với GVBM để nắm được tình hình học tập từng môn của các em
- Tổ chức phụ đạo bồi dưỡng để các em nắm được những kiến thức cơ bản, từng bước giúp các em lấp những lỗ hỏng kiến thức ở các cấp dưới, tạo cho các
em niềm vui, niềm tin về khả năng học tập của mình
- Công nhận và khích lệ sự tiến bộ trong học tập của các em dù là rất nhỏ
II.5.4- Kết hợp với PHHS để giáo dục HS :
- GVCN thường xuyên liên lạc với phụ huynh HS để báo cáo tình hình học tập và rèn luyện của HS
- Nếu những hành vi tiêu cực của HS có một phần nguyên nhân là do hoàn cảnh gia đình thì tùy vào từng trường hợp có thể trao đổi với phụ huynh để tìm
ra giải pháp
- GV cần trình bày rõ kế hoạch giáo dục cụ thể của mình với phụ huynh của
HS cá biệt để phụ huynh dễ phối hợp hơn
- GV cũng cần giúp phụ huynh hiểu rõ chỉ có sự quan tâm chân thành mới có thể thay đổi tư tưởng, hành vi lệch lạc của các em
- GV cần trao đổi thẳng thắn, chân thành với phụ huynh, thể hiện quyết tâm của mình trong việc giáo dục con em họ, tạo niềm tin và động lực cho họ cùng
cố gắng
II.5.5- Phối hợp với các Đoàn thể và các lực lượng khác trong xã hội :
- GVCN phải thường xuyên cập nhật tình hình rèn luyện của HS thông qua
sổ theo dõi nội quy, nề nếp của Đoàn trường để kịp thời uốn nắn và xử lí các em
Trang 8- Hiện nay ở địa phương đã hình thành các khu dân cư và nhiều nơi đã xây dựng khu dân cư, thôn văn hóa, đó là điều kiện tốt để các Đoàn thể cùng với nhà trường, qua đó giáo dục HS Các đoàn thể, chính quyền địa phương giúp cho các thành viên xây dựng gia đình văn hóa, hạn chế tình trạng cha mẹ bỏ mặc con cái
đi làm ăn, những mối bất hòa trong gia đình dần dần chấm dứt, từ đó cha mẹ sẽ
có điều kiện chăm sóc giáo dục con cái tốt hơn
II.5.6- Dùng phương pháp kết bạn :
Thường lứa tuổi HS dễ bị ảnh hưởng những thói hư tật xấu nhưng cũng dễ tiếp thu những điều hay lẽ phải, dễ hòa mình vào những trò chơi có tính tập thể, tính giáo dục cao Do đó GVCN nên phân công một nhóm bạn tốt, cùng hoàn cảnh, cùng sở thích, uớc mơ sinh hoạt, học tập với đối tượng này dần dần lôi kéo các em hòa nhập vào các cuộc chơi bổ ích, từ đó xóa bỏ các mặc cảm là HS
hư để rồi cùng với các thành viên trong lớp xây dựng tập thể vững mạnh
Mặt khác, thông qua nhóm bạn tốt, GVCN giao cho HSCB thực hiện một
số công việc, tạo những điều kiện để những HS này hoàn thành và động viên khích lệ các em để các em xóa những tự ti, mặc cảm là HSCB để hòa mình với bạn bè Ngoài ra có thể vận động gia đình của nhóm bạn tốt tham gia vào việc giúp đỡ những HS này bằng cách tạo cho các em tâm lý xem gia đình của bạn như gia đình mình, tạo điều kiện cho các em cùng tham gia học tập với con em mình để tách dần ra khỏi nhóm bạn chưa ngoan Việc làm này cả là một cố gắng trong đó vai trò của GVCN rất quan trọng và sự tham gia của Hội PHHS là rất cần thiết
II 6 Phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh cá biệt
1 Đánh giá hành vi không đồng nhất với đánh giá nhân cách
- Không nên có qui kết hành vi vi phạm nào đó của hs thành nét nhân cách
2 Đánh giá theo quan điểm tích cực đối với học sinh cá biệt
- Đánh giá cần mang lại thái độ tích cực, lạc quan mang tính xây dựng tích cực không phải là sự trừng phạt, giúp học sinh tự đánh giá và hình thành động cơ hoàn thiện bản thân
3 Đánh giá sự tiến bộ của học sinh theo quá trình
III Kết Luận
Qua nội dung tự học giáo viên sẽ liệt kê được các phương pháp thu thập thông tin về học sinh cá biệt, các phương pháp giáo dục và các phương pháp
Trang 9đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh cá biệt Từ đó sử dụng và phối hợp được các phương pháp thu thập thông tin về học sinh cá biệt, các phương pháp giáo dục và các phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh cá biệt có tính đến đặc điểm lứa tuổi của học sinh THPT và đặc điểm cá nhân Đặc biệt qua nội dung tự bồi dưỡng này giáo viên tích luỹ được kinh nghiệm và có phương pháp linh hoạt trong giáo dục học sinh cá biệt Giáo viên có thể tham khảo những cách thức giáo dục học sinh cá biệt:
+ Giáo viên cần phải tiếp cận cá nhân và xây dựng quan hệ tin cậy, tôn trọng, thân thiện với học sinh cá biệt
+ Giúp học sinh biết nhận thức đúng về điểm mạnh và điểm yếu của bản thân + Giúp học sinh nhận thức được hậu quả của những hành vi tiêu cực và tất yếu phải thay đổi thói quen, hành vi cũ
+ Giáo viên cần phải quan tâm hỗ trợ vượt qua những khó khăn và đáp ứng nhu cầu chính đáng của học sinh cá biệt
+ Động viên, khích lệ, tạo động lực cho học sinh cá biệt tạo động lực học tập
và hoàn thiện nhân cách cho học sinh
+ Tránh sử dụng củng cố tiêu cực
+ Sử dụng hệ quả tự nhiên và logic
+ Phương pháp ứng xử đối với một số loại hành vi có mục đích điển hình + Lập kế hoạch phát triển cá nhan, khơi dậy hoài bãovaf ý thức tự giáo dục của học sinh
+ Áp dụng mô hình thay đổi nhận thức, hành vi để cải thiện niềm tin, suy nghĩ chưa hợp lý của học sinh cá biệt
+ Áp dụng biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực đối với cả tập thể lớp và học sinh cá biệt
+ Thiết lập mối quan hệ thân thiện, gần gũi, chặt chẽ giữa giáo viên với cha
mẹ học sinh
Từ đó, giáo viên nên phối hợp các cách thức đó như thế nào để giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả nhất
IV VẬN DỤNG
Sau khi học tập nội dung module, tôi đã tiếp thu những kiến thức nêu trên và áp dụng vào trường hợp cụ thể đó là một số học sinh cá biệt thuộc lớp chủ nhiệm như sau:
1 Học sinh: Đỗ Cao Tài.
- Biểu hiện: Lười học bài cũ, không ghi bài, nói chuyện, không chú bài học, nói dối cha mẹ
Trang 10- Tìm hiểu thông tin:
+ Qua sơ yếu lí lịch: Cha mẹ làm giáo Trường tiểu học 4
+ Qua trò truyện với học sinh đó: HS nói là chỉ ghé vào quán game đợi bạn về chung, lâu lâu mới chơi một lần
+ Qua trò chuyện với gia đình: Thường xuyên đi học về muộn, lấy lý do trễ phà
Về nhà ít khi học bài
+ Qua tìm hiểu thông qua một số học sinh khác trong lớp: thường xuyên có mặt tại quán game: chơi game, và bida
- Từ những thông tin khai thác được từ nguồn trên, phân tích và nhận thấy nguồn nguyên nhân dẫn đến hiện tượng cá biệt ở học sinh này:
+ Do cha mẹ nuông chiều, nên mê chơi game và bida
+ Do bản thân không ý thức được động cơ học tập đúng đắn…
+ Do bạn bè rủ rê
- Định hướng phướng cách giáo dục:
+Tác động vào động cơ học tập để em này thấy rõ tầm quan trọng của việc học Đưa ra một số tranh ảnh về nạn thất học - chỉ mới mấy tuổi đầu không được đến trường, phải làm những việc nặng nhọc của người lớn rồi lại bị bạn bè khinh thường, xa lánh, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc Ngược lại những em có học thì làm việc thuận lợi dễ dàng, càng ngày càng tiến thân, bạn bè ngưỡng mộ phải trầm trồ khen ngợi, cha mẹ được nở mày, nở mặt
+ Giáo dục từng bước, chậm rãi từ những công việc nhỏ Mình học yếu thì nên chịu khó, siêng làm bài tập hơn các bạn, khi nào làm bài tập, học sinh mệt thì nên giải lao để tinh thần thoải mái rồi làm tiếp, không nên cố gắng quá sức Giáo viên không nên giáo dục ào ạt chưa hỏi han lý do gì hết mà đã la mắng học sinh cho dù học sinh đó vi phạm nhẹ, như vậy sẽ mất hiệu quả giáo dục Bởi vì đấy là những học sinh cá biệt, tính tình ương ngạnh, tâm lý bất cần, học hay không đối với bản thân học sinh không quan trọng mà học sinh vào lớp là chỉ được "lãnh lương" hàng ngày, không phải làm những việc nặng nhọc bằng tay chân ở nhà
2 Học sinh: Trần Diệp Chi.
- Biểu hiện: Nghỉ học nhiều, lười học bài cũ, không ghi bài, chốn học phụ đạo, đánh nhau, nói dối cha mẹ