1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp giáo dục học sinh THPT cá biệt

22 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt với HS cấp THPT ở độ tuổi giáp danh giữa trẻ em và người lớn với những biến đổi về tâm sinh lí, sức khỏe, nhận thức thì tính “cá biệt” của một bộ phận HS ở lứatuổi này có thể gâ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 6

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH THPT CÁ BIỆT

TRONG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM

Người thực hiện: Nguyễn Thị Lê Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực: Công tác chủ nhiệm

THANH HOÁ NĂM 2017

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1.2 Một số biểu hiện hành vi của HSCB

2

1.3 Ý nghĩa của việc giáo dục HSCB

3

2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN 3

3 Các SKKN đã áp dụng để giải quyết vấn đề 5

3.1 Khảo sát tình hình HSCB của lớp chủ nhiệm

5

3.2 Tìm hiểu nguyên nhân dẫn HS thành HSCB

7

3.3 Xác định rõ những yếu tố cần có của GVCN trong việc

giáo dục HSCB

3.3.1 GVCN phải tâm huyết và trách nhiệm với HSCB 9

3.3.2 GVCN phải biết lắng nghe và trò chuyện với HS,

HSCB

11122

2222335579910

1011

13131416

171717

Trang 3

3.3.3 GVCN phải có sự quan tâm động viên và định

hướng kịp thời cho HSCB

3.4 Tin tưởng giao việc phù hợp với khả năng của HSCB

3.5 Giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ năng sống cho HSCB

3.6 Tạo ra các sân chơi phù hợp cho HSCB

3.7 Áp dụng biện pháp kỉ luật tích cực đối với tập thể lớp và HSCB

4 Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

1 Kết luận …

2 Kiến nghị ………

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 4

13 CBGV – NV Cán bộ giáo viên – Nhân viên

14 GD & ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 5

I MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên” [1] Giáo

dục là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về đạo đức, tư tưởng, hành vi nhằm hìnhthành niềm tin, lí tưởng, động cơ, thái độ, thói quen ứng xử đúng đắn trong xãhội, chính vì lẽ đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định sự nghiệp trồng ngườikhông chỉ là sự nghiệp của toàn nhân loại nói chung mà còn là của toàn Đảng và

toàn dân ta nói riêng Đối với nước ta “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người

Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng

yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [2] Tuy nhiên trong những

năm gần đây mặt trái của nền kinh tế thị trường khiến cho một bộ phận ngườidân đặc biệt là giới trẻ có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lítưởng, thích chạy theo lối sống thực dụng, thậm chí gây ra những hành độngphạm pháp Các tệ nạn xã hội đã và đang xâm nhập vào học đường như: HSnghiện games, nghiện hút (thuốc lá, ma túy), bài bạc, lô đề, trộm cắp, Nhiều

HS có lối sống tự do, buông thả, coi thường nền nếp, kỉ cương, vi phạm đạo đức,pháp luật Những HS này gọi chung là HS cá biệt (HSCB) Số HS này đang có

xu hướng gia tăng, làm đau lòng cha mẹ, đau đầu thầy cô, ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sự bình yên của mỗi tổ ấm gia đình cũng như sự phát triển chung củatoàn xã hội

Là một GV, tôi luôn ý thức được HSCB trong mỗi trường học là đối tượng

mà nhà trường và GV phải lo lắng, quan tâm, đầu tư nhiều công sức và tâmhuyết Đã vậy gần như ở cấp học nào, khối lớp nào cũng có HSCB Đặc biệt với

HS cấp THPT ở độ tuổi giáp danh giữa trẻ em và người lớn với những biến đổi

về tâm sinh lí, sức khỏe, nhận thức thì tính “cá biệt” của một bộ phận HS ở lứatuổi này có thể gây hậu quả đáng tiếc nếu nhà trường và gia đình không cónhững biện pháp thích hợp để ngăn ngừa

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, tôi đã đi sâu tìm tòi, nghiên cứu các giải pháp giáo dục HS đặc biệt là HSCB để tìm ra giải pháp tối

ưu Trong năm học 2016 – 2017 với cương vị là GVCN tôi đã chọn đề tài “Một

số giải pháp giáo dục HS THPT cá biệt trong công tác chủ nhiệm” làm đề tài

sáng kiến kinh nghiệm của mình

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Qua đề tài này giúp:

- HS trở thành một công dân có ích cho đất nước

- Biết tôn trọng chính bản thân mình

- Hiểu được ý nghĩa của việc học từ đó có thêm lòng đam mê trong họctập và nghiên cứu

Trang 6

- HS thấy được công lao to lớn của Thầy cô, cha mẹ… từ đó có lòng trungthực, nhân ái… và trở thành một con người đáp ứng được yêu cầu của xã hội.

- Giúp một phần nhỏ các GV những người làm công tác giáo dục biết rõvai trò quan trọng của mình và có thêm được giải pháp hợp lí trong sự nghiệpgiáo dục

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

- Trong đề tài này tập trung nghiên cứu vào đối tượng HS có biểu hiện cábiệt là những em chưa ngoan, có nhiều vi phạm và những HS thường tự ti, trầmcảm trong trường THPT Triệu Sơn 6 năm học 2016 – 2017

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu, sách,

các trang web về giải pháp giáo dục HS cá biệt, để hình thành cơ sở lý luậncho đề tài

- Phương pháp điều tra: Thực hiện tại các trường THPT trong địa

bàn huyện

- Phương pháp quan sát: Quan sát hiện tượng HS vi phạm như: Mất

trật tự có hệ thống trong giờ học, bỏ học, bỏ tiết, hỗn láo, vô lễ với thầy cô, lườihọc, thường xuyên nói tục, chửi bậy, nói dối với thầy cô và bố mẹ, hay đánhnhau với bạn trong lớp, trong trường,

- Phương pháp thống kê toán học: Lập bảng thống kê, phân tích, xử

lí số liệu của đề tài, giúp đánh giá vấn đề chính xác, khoa học

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn, trò chuyện với HS và CBGV

– NV trong trường và nhân dân trên địa bàn

- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Theo dõi hoạt động học

tập, kĩ năng giao tiếp của HS nhằm tìm hiểu kỹ năng sống của các em

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SKKN:

1.1 Khái niệm HSCB [3]:

- Thuật ngữ HSCB để chỉ những HS có những nét cá tính riêng, có suynghĩ và hành vi hoặc có những năng khiếu và sở thích đặc biệt khác với HStrong lớp

- Gia đình những HS này là gia đình riêng biệt với cá thể hoặc nhóm HStrong những tình huống, những biện pháp khác biệt với chúng

- Trong nhà trường GV cho rằng HSCB là những HS có những khiếmkhuyết về đạo đức nhân cách trong quá trình giáo dục

- Theo quan điểm giáo dục đúng đắn đối với loại HS có khiếm khuyết vềđạo đức, nhân cách, nên thống nhất dùng khái niệm: HSCB

1 2 Một số biểu hiện hành vi của HSCB.

Trang 7

Những biểu hiện về mặt hành vi của những HS này thường là:

- Vi phạm nội quy của nhà trường, của lớp như: Mất trật tự có hệ thốngtrong giờ học, lười học bài, đi học muộn,

- Vi phạm những chuẩn mực đạo đức, hỗn láo với thầy cô, cha mẹ, haynói tục chửi thề,

- Vi phạm pháp luật như: Đánh nhau, trộm cắp, trấn lột, cờ bạc, lô đề,

- Tự ti, trầm cảm, ngại tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, tiêu cực trong suynghĩ,

1 3 Ý nghĩa của việc giáo dục HSCB [3].

- Giáo dục HSCB trở thành HS tốt là một trong những nhiệm vụ vô cùngkhó khăn của GVCN nhưng lại có ý nghĩa hết sức to lớn đối với bản thânHSCB, với nhà trường, với gia đình HS và xã hội

- Theo điều tra, HSCB thường là những HS tháo vát, có những khả năngtốt về văn nghệ, thể thao, khả năng tổ chức Vì vậy GVCN có thể giúp các emphát triển đúng hướng, phát huy tài năng, hoàn thiện nhân cách, đạo đức để trởthành một người công dân có ích

- Đối với lớp: Nhiệm vụ giáo dục có kết quả đối với HSCB là một trongnhững điều kiện đảm bảo cho lớp học ổn định trật tự, nề nếp Mọi thành viênkhác của lớp đều có điều kiện học tập, tu dưỡng đạt kết quả tốt

- Đối với cha mẹ HSCB: Thành công trong nhiệm vụ giáo dục HSCBcủa GVCN giúp gia đình HS tránh được sự bất hạnh, đem lại nguồn hạnh phúclớn lao cho họ

- Đối với xã hội: Thành công trong nhiệm vụ giáo dục HSCB của GVCNgóp phần quan trọng trong việc giữ gìn an ninh, trật tự xã hội và cung cấp cho xãhội những công dân tốt

2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SKKN:

- Trong những năm gần đây, chất lượng giáo dục toàn diện ở các trườngphổ thông đã đạt được những kết quả khả quan Đa số các HS đều có ý thức tudưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách của mình và phấn đấu học tốt.Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ thì tỉ lệ HS vi phạm các chuẩn mực đạođức ở các mức độ khác nhau ngày càng tăng, nhiều vụ việc HS đánh nhau hộiđồng rất dã man từ những mâu thuẫn, xích mích, lời qua tiếng lại trênfacebook… được tung lên mạng gây bức xúc dư luận, xã hội

- Trường THPT Triệu Sơn 6 được đóng trên địa bàn xã Dân Lực – HuyệnTriệu Sơn – Tỉnh Thanh Hóa, cùng với sự phát triển của xã hội nhiều trò chơigiải trí mới lạ mọc lên trên địa bàn này như: Game online, bi – a, … thu hút mộtlượng lớn HS của trường tham gia Điều này kéo theo hiện tượng như: Lừa dối

bố mẹ để xin tiền, ăn cắp vặt, … đến trường những HS này thường lơ là việchọc, luôn tỏ ra là “sành điệu”, thích làm “đại ca”, hay thường bỏ tiết, trốn học,

Trang 8

nghỉ học vô lí do, … Bên cạnh đó có không ít nhà trường, thầy cô giáo chỉ chútâm dạy chữ, kiến thức văn hóa mà sao nhãng, lơ là, thiếu biện pháp giáo dụcHSCB, HS đánh nhau… dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.

Theo thống kê từ ban nề nếp của trường, số HSCB năm học 2016

-2017 là 48 HS, trong đó có 20 HS thuộc khối 10; khối 11 có 15 HS và khối 12 là

13 HS Hành vi cá biệt của các em được thể hiện qua bảng sau:

Hành vi cá biệt Khối 10 Khối 11 Khối 12

SL TL SL TL SL TL

- Vi phạm nội qui của Nhà trường, của

lớp, mất trật tự trong giờ học, lười học

bài, đi học muộn, …

- Tự ti, trầm cảm, ngại tiếp xúc với thầy

cô, bạn bè, hoang mang, sợ hãi, tiêu cực

ý thức trong học tập, thiếu sự quan tâm của gia đình, các em thường bỏ giờ, trốnhọc đi chơi bi – a, chơi game, la cà quán xá, do học yếu, ham chơi nên bị bạn bèxấu lôi kéo dẫn đến vi phạm các chuẩn mực đạo đức, thậm chí là vi phạm phápluật Bên cạnh đó, số HS có những hành vi vi phạm: Hút thuốc lá, chơi bài, lô đềchiếm một tỉ lệ đáng kể đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sư phạm

Đầu năm học 2016 – 2017 tôi được phân công tiếp nhận chủ nhiệm lớp11A2 do GVCN cũ nghỉ sinh Để có một kế hoạch giáo dục cụ thể tôi đã tiếnhành điều tra, khảo sát tình hình cụ thể của 45 HS trong lớp từ nhiều kênh khácnhau, kết quả ban đầu thu được là: Tổng số 45 HS có 10 HS xếp loại HL khá; 27

HS xếp loại HL trung bình; 08 HS xếp loại HL yếu; có 30 HS xếp loại HK tốt;

08 HS xếp loại HK khá; 07 HS xếp loại HK trung bình; Đặc biệt lớp 05 HSCBvới những biểu hiện hành vi như sau:

Trang 9

STT Họ tên HSCB Hành vi cá biệt

1 Lê Văn Dương - Ngủ gật, hay đi học muộn, nghỉ học vô lí do

2 Lê Văn Hiếu - Nói tục, chửi thề, mất trật tự trong lớp, đánh nhau

3 Hồ Văn Thanh - Ngủ gật, bỏ tiết, lười học bài

4 Lê Hữu Thiện - Nghiện games, lô đề, nghỉ học không có lí do

5 Nguyễn Thị Vân - Tự ti, ngại tiếp xúc với bạn bè, thầy cô

Từ thực trạng trên, khi nhận lớp chủ nhiệm tôi đã tìm tòi học hỏi thêm từbạn bè đồng nghiệp, từ tài liệu sách báo, từ các bài tham luận, hội thảo, từ cácSKKN được đăng tải trên mạng về lĩnh vực giáo dục HS chưa ngoan, HS có họclực yếu, HSCB, … để có kế hoạch giáo dục HSCB của lớp chủ nhiệm ngay từđầu năm học Cuối năm học, kết quả đạt được rất khả quan nên tôi xin chia sẻ

cùng bạn bè đồng nghiệp “một số giải pháp giáo dục HS THPT cá biệt trong công tác chủ nhiệm” mà tôi đã áp dụng rất hiệu quả trong năm học.

3 CÁC SKKN ĐÃ ÁP DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

3.1 Khảo sát tình hình HSCB của lớp chủ nhiệm

Bước 1 Thu thập thông tin về HSCB:

Để giáo dục được HSCB, người GVCN cần nắm bắt thông tin mọi mặt

về HS đó từ hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, quan hệ với mọi người xungquanh, với bạn bè, người thân… đến sở thích, tâm tư nguyện vọng, ước mơ củacác em Để làm được điều này tôi đã tiến hành như sau:

- Tổ chức cho HS hoàn thành các thông tin theo mẫu sau:

7 Mục tiêu, mong muốn:

8 Những thuận lợi, khó khăn, rào cản trong việc thực hiện mục tiêu,mong muốn:

9 Những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực từ gia đình, bạn bè, môitrường sống, học tập:

10 Bản thân cần sự giúp đỡ nào từ GV, bạn bè:

Trang 10

11 Bản thân định sẽ làm gì để đạt được những mong muốn, mục tiêucủa mình:

 Thông qua việc làm này HS có thể nhận thức về bản thân về nhữngđiểm mạnh điểm yếu cần khắc phục của mình Đồng thời GV có thể nắm đượcthông tin cơ bản về cá tính của từng HS, giúp GV có cách tiếp cận phù hợp đểgiúp đỡ các em tiến bộ

- Tìm hiểu thông tin về HSCB thông qua GVCN cũ và các GVBM:

Vì GVCN cũ của lớp là cô Lê Thị Hương đã nghỉ sinh sau khi kết thúcnăm học lớp 10 của lớp A2 Lớp 11 tôi được phân công làm công tác chủ nhiệmthay thế Để làm tốt nhiệm vụ của mình tôi đã trò chuyện với GVCN cũ và cácGVBM của lớp để nắm bắt tình hình học tập và rèn luyện của HS, đặc biệt là các

HSCB của lớp Đây là nguồn cung cấp thông tin quý giá giúp tôi lập hồ sơ HS

một cách chính xác và nhanh nhất

- Thu thập thông tin HSCB thông qua bạn bè và gia đình:

Thông tin về HSCB có thể thu thập bổ sung thêm thông qua bạn bè Rấtnhiều điều mà GV không biết nhưng bạn bè lại biết Khai thác được nguồnthông tin này GVCN mới có thể đưa ra giải pháp giáo dục HSCB hợp lí chotừng HS

Thông tin về HSCB thu thập qua tiếp xúc, trò chuyện với gia đình HScũng rất quý giá để GVCN lập hồ sơ HS GVCN có thể nắm được về hoàn cảnhgia đình, đặc điểm của HS qua nhận định của cha mẹ HS để so sánh đối chiếu bổsung cho những thông tin mình đã thu thập được…

Bước 2 Phân loại HS cá biệt

Từ kết quả thu được, đi sâu vào tìm hiểu hành vi cá biệt của từng HS ởlớp học rồi tiến hành phân loại như sau:

Nhóm 1: Cá biệt do vi phạm nội qui của Nhà trường, của lớp, mất trật tựtrong giờ học, lười học bài, đi học muộn, … (Gồm các HS: Lê Văn Dương, LêVăn Hiếu, Hồ Văn Thanh, Lê Hữu Thiện)

Nhóm 2: Cá biệt do ham chơi điện tử, sẵn sàng bỏ học, bỏ tiết, lừa dốicha mẹ, thầy cô, … (HS: Lê Hữu Thiện)

Nhóm 3: Cá biệt do vi phạm những chuẩn mực đạo đức, hỗn láo với thầy

cô, cha mẹ, hay nói tục, chửi thề, … (HS: Lê Văn Hiếu);

Nhóm 4: Cá biệt do vi phạm pháp luật, đánh nhau, trộm cắp, trấn lột, cờbạc, lô đề… (HS: Lê Văn Hiếu, Lê Hữu Thiện )

Nhóm 5: Cá biệt do tự ti, trầm cảm, ngại tiếp xúc với thầy cô, bạn bè,hoang mang, sợ hãi, tiêu cực trong suy nghĩ , … (HS: Nguyễn Thị Vân)

Bước 3: Lập hồ sơ về HSCB

Giáo dục HSCB không chỉ ngày một ngày hai là thu được kết quả màcần phải có thời gian và kế hoạch cụ thể Dựa vào các thông tin thu thập được ở

Trang 11

trên và kết quả phân loại HSCB, tôi tiến hành lập hồ sơ từng HSCB, cụ thể hồ sơgồm:

+ Phiếu đặc điểm gia đình HS

+ Phiếu theo dõi sự phát triển cá nhân từng HS qua từng tuần, tháng, học

kì, năm học

+ Các thông tin sâu thu thập được về HS

+ Học bạ

+ Số điện thoại liên hệ

3.2 Tìm hiểu nguyên nhân dẫn HS thành HSCB.

Số HS có hành vi cá biệt không nhiều so với tổng số HS của toàn lớp,tuy nhiên nó lại có ảnh hưởng không nhỏ và dễ lây lan trong tập thể HS Để tìmnhững nguyên nhân trên tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của 60 người là GVCN,GVBM, công tác quản lí và HS Kết quả thể hiện ở bảng sau:

Bảng: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi cá biệt của HS.

TT Các nguyên nhân Số ý kiến Tỉ lệ Xếp bậc

1 Gia đình, xã hội chưa quan tâm giáo dục

các em đầy đủ

3 Những biến đổi về tâm sinh lí lứa tuổi 42 70% 3

4 Quản lí giáo dục đạo đức của nhà trường

chưa chặt chẽ

5 Nội dung giáo dục đạo đức chưa thiết thực 39 65% 5

6 Tác động tiêu cực của nền kinh tế thị

Ngày đăng: 21/10/2019, 19:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w