CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC CẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ Hàm lượng cặn không tan Được xác định bằng cách lọc một đơn vị thể tích nước nguồn qua giấy lọc, rồiđem sấy khô ở nhiệt độ 105 ÷ 1
Trang 1CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC CẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
Hàm lượng cặn không tan
Được xác định bằng cách lọc một đơn vị thể tích nước nguồn qua giấy lọc, rồiđem sấy khô ở nhiệt độ (105 ÷ 1100oC)
Hàm lượng cặn là một trong những chỉ tiêu cơ bản để chọn biện pháp xử lí đốivới các nguồn nước mặt Hàm lượng cặn của nước nguồn càng cao thì việc xử lí càngtốn kém và phức tạp
Độ màu của nước
Đơn vị đo độ màu thường dùng là Platin – Coban Nước thiên nhiên thường có
độ mầu thấp hơn 200PtCo Độ màu biểu kiến trong nước thường do các chất lơ lửngtrong nước tạo ra và dễ dàng loại bỏ bằng phương pháp lọc Trong khi đó, để loại bỏmàu thực của nước (do các chất hòa tan tạo nên) phải dùng các biện pháp hóa lý kếthợp
Mùi và vị của nước
Nước có mùi là do trong nước có các chất khí, các muối khoáng hoà tan, cáchợp chất hữu cơ và vi trùng, nước thải công nghiệp chảy vào, các hoá chất hoà tan,…Nước có thể có mùi bùn, mùi mốc, mùi tanh, mùi cỏ lá, mùi clo, mùi phenol, … Vịmặn, vị chua, vị chát, vị đắng, …
Độ đục thường được đo bằng máy so màu quang học dự trên cơ sở thay đổicường độ ánh sáng khi đi qua lớp nước mẫu Đơn vị đo độ đục xác định theo phươngpháp này Là NTU (Nepheometric Turbidity Unit) 1NTU tương ứng 0.58 mgfoomazin trong một lít nước
Độ dẫn điện
Trang 2Nước có độ dẫn điện kém Nước tinh khiết ở 20oC có độ dẫn điện là 4.2 µS/m(tương ứng điện trở 23.8 mΩ/cm Độ dẫn điện của nước tăng theo hàm lượng cácchất khoáng hòa tan trong nước và dao động theo nhiệt độ.
1.1.2 Tính chất hóa học của nước
Độ pH
PH là chỉ số đặc trưng cho nồng độ ion H+ có trong dung dịch, thường đượcdùng để
biểu thị tính axit và tính kiềm của nước
Khi pH =7 nước có tính trung tính
pH <7 nước co tính axit
pH >7 nước co tính kiềm
Độ pH của nước có liên quan đến sự hiện diện của một số kim loại và khí hòatan trong nước Ở độ pH<5, tùy thuộc vào điều kiện địa chất, trong một số nguồnnước có thể chứa sắt, mangan, nhôm ở dạng hòa tan và một số loại khí như CO2, H2Stồn tại ở dạng tự do trong nước
Độ kiềm
Độ kiềm toàn phần là tổng hàm lượng của cá ion bicacbonat, cacbonat,hydroxyt và anion của các muối của các axit yếu Do hàm lượng các muối này cótrong nước rất nhỏ nên có thể bỏ qua
Độ kiềm bicacbonat và cacbonat góp phần tạo nên tính đệm cho dung dịchnước Nguồn nước có tính đệm cao, nếu trong quá trình xử lý có dùng thêm các hóachất như phèn thì độ pH của nước cũng ít thay đổi nên sẽ tiết kiệm được các hóa chấtdùng để điều chỉnh pH
Độ cứng
Độ cứng của nước là đại lượng biểu thị hàm lượng các ion canxi và magie cótrong nước.Nước có độ cứng cao gây trở ngại cho sinh hoạt và sản xuất: giặt quần áotốn xà phòng, nấu thức ăn lâu chín, gây đóng cặn nồi hơi, giảm chất lượng sản phẩm,
…
Độ oxy hoá
Là lượng oxy cần thiết để oxy hoá hết các hợp chất hữu cơ có trong nước Chỉtiêu oxy hoá là đại lượng để đánh giá sơ bộ mức độ nhiễm bẩn của nguồn nước ĐộGVHD:Mai Quang Tuấn
2 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 3oxy hoá của nguồn nước càng cao, chứng tỏ nước bị nhiễm bẩn và chứa nhiều vitrùng.
Clorua
Clorua làm cho nươc có vị mặn Ion này thâm nhập vào nước qua sự hòa tancác muối khoáng hoặc bọ ảnh hưởng từ quá trình nhiễm mặn các tầng chứa nướcngầm hay ở đoạn sông gần biển Việc dùng nước có hàm lượng clorua cao có thể gây
ra mắc bệnh về thận Ngoài ra, nước chứa nhiều clorua có tính xâm thực đối với bêtông
Sunfat
Ion sunfat thường có trong nước có nguồn gốc khoáng chất hoặc nguồn gốchữu cơ Với hàm lượng sunfat cao hơn 400 mg/l, có thể gay mất nước trong cơ thể vàlàm tháo ruột Ngoài ra, nước có nhiều ion clorua và sunfat sẽ làm xâm thực bê tông
Florua
Nước ngầm từ cá vùng đất chưa quặng apatit, đá alkalic, granit thường có hàmlượng florua cao đến 10mg/l trong nước thiên nhiên, các hợp chất của florua khá bềnvững và khó loại bỏ trong quá trình xử lý thông thường Ơ nồng độ thấp, từ 0.5 mg/ldến 1mg/l, florua giúp bảo vệ men răng
Hàm lượng sắt
Sắt tồn tại trong nước dưới dạng sắt (II) hoặc sắt (III) Trong nước ngầm, sắtthường tồn tại dưới dạng sắt (II) hoà tan của các muối bicacbonat, sunfat, clorua, đôikhi dưới dạng keo của axit humic hoặc keo silic
Việc tiến hành khử sắt chủ yếu đối với các nguồn nước ngầm Khi trong nước
có hàm lượng sắt > 0,5 mg/l, nước có mùi tanh khó chịu, làm vàng quần áo khi giặt,làm hư hỏng sản phẩm của ngành dệt, giấy, phim ảnh, đồ hộp và làm giảm tiết diệnvận chuyển nước của đường ống
Trang 4 Nhôm
Vào mùa mưa, ở nững vùng đất phèn, đát ở trong điều kiện khử không co oxy,nên các chất như Fe2O3 và Jarosite tác dộng qua lại, lấy oxy của nhau và tạo thành sắt, nhôm, sunfat hòa tan trong nước Do đó, nước mặt ở vung náy thường rấ chua, pH =2.5÷4.5, sắt tồn tại chủ yếu là Fe2+ (có khi dến 300 mg/l), nhôm hòa tan ở dạng ion
Al3+ ( từ 5 ÷ 70mg/l)
Khi chứa niều nhôm hào tan nước thường có màu trong xanh và vị rất chua.Nhôm có đọc tính đối với sức khỏe con người Khi uống nước co chứa hàm lượngnhôm cao có thể gây t\ra các bênh về não như Alzheimer
Các chất khí hoà tan
Các chất khí hoà O2, CO2, H2S trong nước thiên nhiên dao động rất lớn Khí
H2S là sản phẩm của quá trình phân huỷ các chất hữu cơ, phân rác Khi trong nước có
H2S làm nước có mùi trứng thối khó chịu và ăn mòn kim loại
Hàm lượng O2 hoà tan trong nước phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất, đặc tính củanguồn nước Nước ngầm có hàm lượng oxy hoà tan rất thấp hoặc không có, do cácphản ứng oxy hoá khử xảy ra trong lòng đất đã tiêu hao hết oxy
Khí CO2 hoà tan đóng vai trò quyết định trong sự ổn định của nước thiênnhiên Trong kỹ thuật xử lý nước, sự ổn định của nước có vai trò rất quan trọng Việcđánh giá độ ổn định trong sự ổn định nước được thực hiện bằng cách xác định hàmlượng CO2 cân bằng và CO2 tự do Lượng CO2 cân bằng là lượng CO2 đúng bằnglượng ion HCO-
3 cùng tồn tại trong nước Nếu trong nước có lượng CO2 hoà tan vượtquá lượng CO2 cân bằng, thì nước mất ổn định và sẽ gây ăn mòn bêtông
1.1.3 Các chỉ tiêu vi sinh
Trong nước thiên nhiên có rất nhiều vi trùng, rong tảo và các đơn bào Chúngxâm nhập vào nước từ môi trường xung quanh hoặc sống và phát triển trong nước.Trong đó có một số sinh vật gây bệnh cần phải được loại bỏ khỏi nươc trước khi sửdụng
Trong thực tế không thể xác định tất cả các loại sinh vật gây bệnh qua đườngnước vì phức tạp và tốn thời gian Mục đích của việc kiểm tra vệ sinh nước là xácđịnh mức độ an toàn của nước đối với sức khỏe con người Do vậy có thể dùng vài visinh chỉ thị ô nhiễm phân để đánh giá ô niễm từ rác, phân người và động vật
GVHD:Mai Quang Tuấn
4 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 5Có 3 nhóm vi sinh chỉ thị ô nhiễm phân:
• Nhóm Coliform đặc trưng là Escherichia Coli ( E.coli)
• Nhóm Streptococci đặc trưng là Streptococcus faecalis
• Nhóm Clostridia khử sunfit đặc trưng là Clostridum perfringents
Đây là những nhóm vi khuẩn thường xuyên có mặt trong phân người Trong đóE.Coli là loại trực khuẩn đường ruột, có thời gian bảo tồn trong nước gần giốngnhững vi sinh vật gây bệnh khác Sự có mặt E.Coli chứng tỏ nguồn nước đã bị nhiễmbẩn phân rác và có khả năng tồn tại các loại vi trùng gây bệnh khác
1.2 CHẤT LƯỢNG NƯỚC CẤP CHO ĂN UỐNG VÀ SINH HOẠT
Theo tiêu chuẩn QCVN 01:2009/BYT “ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chấtlượng ăn uống” phải đạt được những chi tiêu về lí hóa học và vi trùng như sau:
Bảng 3.1: Chất lượng nước cấp cho sinh hoạt ăn uống
TT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính Giới hạn tối đa
Trang 61.3 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC
1.3.1 Phương pháp hóa lý
Quá trình keo
Trong nước sông suối, hồ ao, thường chứa các hạt cặn có nguồn gốc thành phần vàkích thước rất khác nhau Đối với các loại cặn này dùng các biện pháp xử lý cơ họctrong công nghệ xử lý nước như lắng lọc có thể loại bỏ được cặn có kích thước lớnhơn 10-4mm Cũn cỏc hạt cú kớch thước nhỏ hơn 10-4mm không thể tự lắng được màluôn tồn tại ở trạng thái lơ lửng Muốn loại bỏ các hạt cặn lơ lửng phải dùng biệnpháp lí cơ học kết hợp với biện pháp hoá học, tức là cho vào nước cần xử lí các chấtphản ứng để tạo ra các hạt keo có khả năng kết lại với nhau và dính kết các hạt cặn lơlửng có trong nước, taọ thành các bông cặn lớn hơn có trọng lượng đáng kể
Để thực hiện quá trỡnh keo tụ người ta cho vào nước các chất phản ứng thíchhợp như : phèn nhôm Al2(SO4)3; phốn sắt FeSO4 hoặc FeCl3 Các loại phèn này đượcđưa vào nước dưới dạng dung dịch hoà tan
Trường hợp độ kiềm tự nhiên của nước thấp, không đủ để trung hoà ion H+ thỡcần phải kiềm hoỏ nước Chất dùng để kiềm hoá thông dụng nhất là vôi CaO Một sốtrường hợp khỏc cú thể dựng là Na2CO3 hoặc xút NaOH Thông thường phèn nhômđạt được hiệu quả keo tụ cao nhất khi nước có pH = 5.5÷7.5
Một số nhân tố cũng ảnh hưởng đến quá trình keo tụ như: các thành phần ion
có trong nước, các hợp chất hữu cơ, liều lượng phèn, điều kiện khuấy trộn, môitrường phản ứng, nhiệt độ…
Hấp phụ
GVHD:Mai Quang Tuấn
6 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 7Hấp phụ là quá trình tập trung chất lên bề mặt phân chia pha và gọi la hấp phụ
bề mặt Khi phân tử các chất bị hấp phụ đi sâu và trong lòng chất hấp phụ, người tagọi quá trình này là sự hấp phụ
Trong quá trình hấp phụ có tỏa ra một nhiệt lượng gọi là nhiệp hấp phụ Bề mặtcàng lớn tức lòa độ xốp chất hấp phụ càng cao thì nhiệt hấp phụ tỏa ra cang lớn
Bản chất của quá trình hấp phụ: hấp phụ các chất hòa tan là kết quả của sựchuyển phân tử của những chất có từ nước vào bề mặt chất hấp phụ dưới tác dụngcủa trường bề mặt Trường lực bề mặt gồm có:
+ Hydrat hóa các phân tử chất tan, tức là tacvs dụng tương hỗ giữa cácphân tử chất rắn hòa tan với những phân tử nước
+ Tác dụng tương hỗ giữa các phân tử chất rắn bị hấp phụ thì đầu tiên sẽloại được các phân tử trên bề mặt chất rắn
Với các hệ thống cấp nước công nghiệp cũng cần phải diệt trùng để ngăn ngừa
sự kết bám của các vi sinh vật lê thành ống dẫn nước trong các thiết bị làm lạnh, làmgiảm khả năng truyền nhiệt đồng thời làm tăng tổn thất thủy lực của hệ thống
Các quá trình khử trùng:
• Khử trùng bằng phương pháp hóa học
• Khử trùng bằng Clo và các hợp của Clo
Clo là một chất oxi hóa mạnh ở bất cứ dạng nào Khi Clo tác dụng với nướctạo thành axit hypoclorit (HOCl) có tác dụng diệt trùng mạnh Khi cho Clo vào nước,chất diệt trùng sẽ khuếch tán xuyên qua vỏ tế bào vi sinh vaatjvaf gây phản ứng vớimen bên trong của tế bào, làm phá hoại quá trình trao đổi chất dẫn đến vi sinh vật bịtiêu diệt
Trang 8Khi cho Clo vào nước, phản ứng diễn ra như sau:
Cl2 + H2O -> HOCl + HCl
Hoặc có thể ở dạng phương trình phân li:
Cl2 + H2O -> H+ + OCl- + Cl
-Khi sử dụng Clorua vôi, phản ứng diễn ra nư sau:
Ca(OCl)2 + H2O -> CaO + 2HOCl
Thiết bị amoniac hóa được bố trí trong buồng riêng, cách li với buồng định liềulượng Clo và phải được trang bị cơ gới hóa để di chuyển các bình và thùng
• Dùng ôzôn để khử trùng
Ôzôn là 1 chất khí có màu ánh tím ít hòa tan trong nước và rất độc hại đối vớicon người Ở trong nước, ôzôn phân hủy rất nhanh thành ỗi phân tử và nguyên tử.Ôzôn có tính hoạt hóa mạnh hơm Clo, nên khả năng diệt trùng mạnh hơn Clo rấtnhiều lần
Lượng ozon cần thiết cho vào nước không lớn Thời gian tiếp xúc rất ngắn (5phút), không gây mùi khó chịu cho nước kể cả khi trong nước có phenol
• Khử trùng nước bằng tia tử ngoại
Tia tử ngoại hay còn gọi là tia cực tím, là các tia có bước sóng ngắn có tácdụng diệt trùng rất mạnh
Dùng các đèn bức xạ tử ngoại, đặt trong dòng chảy của nước Các tia cực tímphát ra sẽ tác dụng lên các phân tử protit của tế bào vi sinh vật, phá vỡ cấu trúc vàmất khả năng trao đỏi chất, vì thế chúng bị tiêu diệt Hiệu quả khử trùng chit đạt đượctriệt để khi trong nước không co các chất hữu cơ và cặn lơ lửng
Các phương pháp khử trùng khác
• Khử trùng bằng siêu âm
Dùng dòng siêu âm với cường độ tác dụng lớn trong khoảng thời gian nhỏ nhất
là 5 phút, sẽ có thể tiêu diệt toàn bộ vi sinh vật co trong nước
• Khử trùng bằng phương pháp nhiệt
GVHD:Mai Quang Tuấn
8 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 9Dây là phương pháp cổ truyền Đun sôi nước ở nhiệt độ 100oC có thể tiêu diêuphần lớn các vi khuẩn có trong nước Chỉ trừ nhóm vi khuẩn khi gặp nhiệt độ cao sẽchuyển sang dạng bào tử vững chắc
Tuy nhiên, nhóm vi khuẩn này chiếm tỉ lệ rất nhỏ Phương pháp đung sôi nướctuy đơn giản, nhưng tốn nhiên liệu và cồng kềnh, nên chỉ dùng trong quy mô gianđình
• Khử trùng bằng Ion bạc
Ion bac thể tiêu diệt phần lớn vi trùng có trong nước Với hàm lượng 2-10iong/l đã có tác dụng diệt trùng Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là : nếu trongnước có độ màu cao, có chất hữu cơ, có nhiều loại muối … thì ion bạc không pháthuy được khả năng diệt trùng
Làm mềm nước
Nước có độ cứng cao thường gây nên nhiều tác hại cho người sử dụng làm lãngphí xà phòng và các chất tẩy, tạo ra cặn kết bám bên trong đường ống, thiết bị côngnghiệp làm giảm khả năng hoạt động và tuổi thọ của chúng
Làm mềm nước thực chất là quá trình xử lý giảm hàm lượng canxi và magienhằm hạ độ cứng của nước xuống đến mức cho phép
Khi cho vôi vào nước, các phản ứng xảy ra theo trình tự sau:
2CO2 + Ca(OH)2 -> Ca(HCO3)2
Ca(HCO3)2 + Ca(OH)2 ->2CaCO3↓ + 2H2O
Mg(HCO3)2 + 2Ca(OH)2 ->Mg(HCO3)2 + 2CaCO3↓ + 2H2O
2NaHCO3 + Ca(OH)2 ->CaCO3↓ + Na2CO3 + H2O
Để tăng cường cho quá trình lắng cặn CaCO3 và Mg(OH)2 khi làm mềm nướcbằng vôi, pha thêm phèn vào nước Do phản ứng làm mềm nước diễn ra ở pH lớn hơn
9 nên không dùng được phèn nhôm, trong môi trường kiềm phèn nhôm tạo raaluminat hòa tan
Để kiểm tra hiệu quả của trình làm mềm bằng vôi, chỉ cần xác định giá trị pHsau khi pha vôi vào nước Phản ứng sẽ diễn ra triệt để khi đã đạt đến sự cân bằng bão
Trang 10hòa CaCO3 và Mg(OH)2 trong nước Tương ứng với trạng thái bão hòa đó, độ ổnđịnh của nước phải được thể hiện ở một giá trị pHo nào đó Tại trạng thái bão hòa tựnhiên ứng với pHs của nước, tốc độ phản ứng lắng cặn diễn ra rất chậm Để tăng tốc
độ lên, cần phải có một lượng dư ion OH biểu thị bằng giá trị ∆pH Như vậy giá trịpHo sẽ có được biểu thị bằng công thức:
pHo = pHs + ∆pHTrong đó
pHo: độ pH bão hòa của nước ở cuối quá trình làm mềm
pHs: có thể xác định bằng phương pháp Langlier để đánh giá độ ổn định củanước
Làm mềm nước bằng vôi và sođa
Khi tổng hàm lượng các ion Mg2+ và Ca2+ lớn hơn tổng hàm lượng các ionHCO3- và CO32+ nếu sử dụng vôi được đọ cứng magie, nhưng độ cứng toàn phầnkhông giảm Để khắc phục điều này, cho thêm sođa vào nước các phản ứng sẽ là:
MgSO4 + Ca(OH)2 -> Mg(OH)2↓ + CaSO4
MgCl2 + Ca(OH)2 -> Mg(OH)2↓ + CaCl2
Và
CaSO4 + Na2CO3 -> CaCO3↓ + Na2SO4
CaCl2 + Na2CO3 -> CaCO3↓ + 2NaCl2
Như vậy ion CO32- của sođa đã thay thế ion của các axit mạnh tạo ra CaCO3 kếttủa
Làm mềm nước bằng photphat
Khi cần làm mềm triệt để, sử dụng vôi và sođa vẫn chưa hạ độ cứng của nướcxuống được đến mức tối thiểu Để đạt được điều này, cho vào nước Na3PO4 sẽ khửđược hết các ion Ca2+ và Mg2+ ra khỏi nước ở dạng muối không tan theo phản ứng:
3CaCl2 + 2Na3PO4 -> Ca3(PO4)2↓ + 6NaCl
3MgSO4+ 2Na3PO4 -> Mg3(PO4)2 ↓+ 3Na2 SO4
3Ca(HCO3)2+2Na3PO4 -> Ca3(PO4)2↓ + 6NaHCO3
3Mg(HCO3)2+2Na3PO4 -> Mg3(PO4)2 ↓+ 6NaHCO3
Quá trình làm mềm nước bằng photphat chỉ diện ra ở nhiệt độ lớn hơn 100oC.Sau xử lý, độ cứng của nước giảm xuống còn 0,04 đến 0,05 mđlg/l Do giá thành của
Na3PO4 cao nên thường chỉ dùng nó với liều lượng nhỏ sau khi đã làm mềm bằng vôi
và sođa
• Phương pháp nhiệt
GVHD:Mai Quang Tuấn
10 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 11Nguyên lý cơ bản của phương pháp là khu đun nóng nước, khí cacbonic hòatan sẽ bị khử hết thông qua sự bốc hơi, trạng thái cân bằng của các hợp chất cacbonic
sẽ chuyển dịch theo phương trình:
Ca(HCO3)2 -> CaCO3↓ + CO2↑ + H2OTuy nhiên đun sôi nước chỉ khử hết khí CO2 và giảm độ cứng cabonat củanước, trong nước vẫn còn một lượng CaCO3 hòa tan Đối với magie quá trình lắngcặn xảy ra qua hai bước, khi nhiệt độ nước đạt 18oC:
Mg(HCO3)2 -> MgCO3 + CO2↑ + H2OKhi tiếp tục tăng nhiệt độ thì MgCO3 bị thủy phân:
MgCO3 + H2O -> Mg(OH)2↓ + CO2↑Như vậy khi đun nóng nước, độ cứng ccbonat sẽ giảm đi đáng kể Nếu kết hợp
xử lý hóa chất với đun nóng, bông cặn tạo ra có kích thước lớn và lắng nhanh do độnhớt của nước giảm, đồng thời giảm được lượng hóa chất cần sử dụng
Làm mềm nước bằng đun nóng thường chỉ áp dụng cho các hệ thống cấp nướcnóng công nghiệp như nước nồi hơi vì kết hợp sử dụng nhiệt lượng nhiệt dư của nồihơi Các công trình làm mềm bao gồm: pha chế, và định lượng hóa chất, thiết bị đungnống nước, bể lắng và bể lọc
1.3.3 Biện pháp cơ học
Lắng nước
Lắng nước là giai đoạn là sạch sơ bộ trước khi đưa nươc vào bể lọc để hoànthành quá trình làm trong nước Quá trình lắng xảy ra rất phức tạp, có thể tóm tắt là:
• Lắng ở trạng thái động ( nước luôn chuyển động)
• Các hạt cặn không tan không đồng nhất ( có hình dạn, kích thước khác nhau
Trường hợp lắng nước có dùng chất keo tụ, quỹ đạo chuyển động của cac hạtcặn là những đường cong có bán kính cong nhỏ hơn so với trường hợp lắng không
Trang 12dùng chất keo tụ Càng xa điểm xuất phát, kích thước hạt càng tăng lên do quá trình
va chạm, kết dính Do đó tốc độ lắng cũng tăng lên So với lắng không keo tụ, lắng cókeo tụ có hiệu quả lắng co hơn nhiều
Bể lắng ngang
Là loại nước chuyển động theo chiều ngang
Có kích thước hình chữ nhật, làm bằng bê tông cốt thép
Sử dụng khi công suất lớn hơn 300m3/ngàyđêm
Cấu tạo bể lắng ngang: bộ phận phân phối nước vào bể; vùng lắng cặn; hệthống thu nước đã lắng; hệ thống thu nước xã cặn
Có 2 loại bể lắng ngang: bể lắng ngang thu nước ở cuối và bể lắng ngang thunước đều trên bề mặt
Bể lắng đứng
Là loại nước chuyển động theo phương thẳng đứng từ dưới lên trên, còn cáchạt cặn rơi ngược chiều với chiều chuyển động của dòng nước từ trên xuống
Khi xử lý nước không dùng chất keo tụ, các hạt keo có tốc độ rơi lớn hơn tốc
độ dâng của dòng nước sẽ lắng xuống được Còn các hạt keo có tốc độ rơi nhỏ hơnhoặc bằng tốc độ dâng của dòng nước, sẽ chỉ lơ lửng hoặc bị cuốn theo dòng nước lênphía trên bể
Khi sử dụng nước có dùng chất keo tụ, tức là trong nước có các hạt cặn kếtdính, thì ngoài các hạt cặn có tốc độ rơi bân đầu lớn hơn tốc độ rơi của dòng nướclắng xuống được, còn các hạt cặn khác cũng lắng xuống được
Nguyên nhân là do quá trình các hạt cặn có tốc độ rơi nhỏ hơn tốc độ dòngnước bị đẩy lên trên, chúng đã kết dính lại với nhau và tăng dần kích thước, cho đếnkhi có tốc độ rơi lớn hơn tốc độ chuyển động của dòng nước sẽ rơi xuống Như vậylắng keo tụ trong bể lắng đứng có hiệu quả lắng cao hơn nhiều so với lắng tự nhiên
Tuy nhiên hiệu quả lắng trong bể lắng đứng không chỉ phu thuộc vào chất keo
tụ, mà còn phụ thuộc vào sự phân bố đều của dong nước đi lên và chiều cao vùnglắng phải đủ lớn thì các hạt cặn mới kết dính với nhau được
Bể thường có dạng hình vuông hoặc hình tròn được xây bằng gạch hoặc bêtông cốt thép
Được sử dụng cho những trạm xử lý có công suất nhỏ hơn 3000m3/ ngàyđêm Ống trung tâm có thể là thép cuốn hàn điện hay bê tông cốt thép
Bể lắng đứng hay bố trí kết hợp với bể phản ứng xoáy hình trụ
GVHD:Mai Quang Tuấn
12 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 13Cấu tạo bể: vùng lắng có dạng hình trụ hoặc hình hộp ở phía trên và vùng chứanến cặn ở dạng hình nón hoặc hinh chóp ở phía dưới, Cặn tích lũy ở vùng chứa néncặn được thải ra ngoài theo chu kì bằng ống và van xả cặn
Nguyên tắc làm việc bể: đầu tiên nước chảy vào ống trung tâm ở giữa bể, rồi đixuống dưới qua bộ phận hãm là triệt tiêu chuẩn động xoáy rồi vào bể lắng Trong bểlắng đứng, nước chuyển động theo chiều đứng từ dưới lên trên, cặn rơi từ trên xuốngđáy bể Nước đã lắng trong được thu vào máng vòng bố trí xung quanh thành bể vàđược đưa sang bể lọc
bể lắng ngang, tiết kiệm diện tích đất xây dựng và khối lượng xây dựng công trình
Tuy nhiên do phải đặc nhiều bản vách ngăn song song ở vùng lắng, nên việclắp ráp phức tạp và tốn vật liệu làm vách ngăn Mặt khác do bể có chế độ làm việc ổnđịnh, nên đòi hỏi nước đã hòa trộn chất phản ứng cho vào bể phải co chất lượngtương đối ổn định
Vì vậy, trước mắt nên xử dụng bể lắng lớp mỏng cho những trạm xử lý có côngsuất không lớn, khi xây mới, hoặc có thể sử dụng khi cần cải tạo bể lắng ngang cũ đểnâng công suất trong điều kiện diện tích không cho phép xây dựng thêm công trìnhmới
Theo chiều của dòng chảy, bể lắng lớp mỏng được chia làm 3 loại: bể lắng lớpmỏng với dòng chảy ngang; bể lắng lớp mỏng với dòng chảy nghiêng cùng chiều; bểlắng lớp mỏng với dòng chảy ngược chiều
Bể lắng trong có lớp cặn lơ lửng
Nước cần xử lí sau khi đã trộn đều với chất phản ứng ở bể trộn ( không qua bểphản ứng) đi theo đường ống dẫn nước vào, qua hệ thống phân phối với tốc độ thíchhợp vào ngăn lắng
Trang 14Khi đi qua lớp cặn ở trạng thái lơ lửng, các hạt cặn tự nhiên có trong nước sẽ
va chạm và kết dính với các hạt cặn lơ lửng và được giữ lại Kết quả nước được làmtrong
Thông thường ở lắng trong, tầng cặn lơ lửng gồm 2 ngăn: ngăn lắng và ngănchứa nén cặn Lớp nước ở phía trên tầng cặn lơ lửng gọi là tầng bảo vệ Nếu không
có tầng bảo vệ, lớp cặn lơ lửng sẽ bị cuốn theo dòng nước qua máng tràn làm giảmhiệu quả lắng cặn
Mặc khác để bể lắng trong làm việc được tốt, nước đưa vào bể phải có lưulượng và nhiệt độ ổn định
Ngoài ra nước trước khi đưa vào bể lắng trong phải qua ngăn tách khí Nếukhông trong quá trình chuyển động từ dưới lên trên, các bọt khí sẽ kéo theo các hạtcặn tràn vào máng thu nước trong làm giảm chất lượng nước sau lắng
Bể lắng trong có ưu điểm là không cần xây dựng bể phản ứng, bởi vì quá trìnhphản ứng và tạo bông kết tủa xảy ra trong điều kiện keo tụ tiếp xúc, ngay trong lớpcặn lơ lửng của bể lắng
Hiệu quả xử lý cao hơn các bể lắng khác và tốn diện tích xây dựng hơn.Nhưng bể lắng trong có kết cấu phức tạp, chế độ quản lí chặc chẽ, đòi hỏi công trìnhlàm việc liên tục suốt ngày đêm và rất nhạy cảm với dao động lưu lượng và nhiệt độcủa nước
Bể lắng trong chỉ sử dụng cho các trạm xử lý có công suất đến 3000
Bể lắng li tâm là loại trung gian giữ bể lắng ngang và bể lắng đứng Nước từvùng lắng chuyển động từ trong ra ngoài và từ dưới lên trên So với một số kiểu bểGVHD:Mai Quang Tuấn
14 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 15lắng khác, bể lắng li tâm có một số ưu điểm sau: nhờ có thiết bị gạt bùn, nên đáy bể
có độ dốc nhỏ hơn so với bể lắng đứng ( 5 ÷ 8%), do đó chiều cao công tác bể nhỏ(1,5 ÷ 3,5 m) nên thích hợp xây dựng ở những khu vực có mực nước ngầm cao
Bể vừa làm việc vừa xả cặn liên tục nên khi xả cặn bể vẫn làm việc bìnhthường Nhưng bể lắng li tâm có kết quả lắng cặn kém hơn so với các bể lắng khác do
bể có đường kính lớn, tốc độ dòng nước chuyển động chậm dần từ trong ra ngoài, ởvùng trong do tốc độ lớn, cặn khó lắng đôi khi xuất hiện chuyển động khối
Mặc khác nước trong chỉ có thể thu vào bằng hệ thống máng vong xung quanh
bể nên thu nước khó đều Ngoài ra hệ thống gạt bùn cấu tạo phức tạp và làm việctrong điều kiện ẩm ướt nên chống bị hư hỏng
Loc nước
Quá trình lọc nước là cho nước đi qua lớp vật liệu lọc với một chiều dày nhấtđịnh đủ để giữ lại trên bề mặt hoặc giữ lại trên bề mặt hoặc giữa các khe hở của lớpvật liệu lọc các hạt cặn và vi trùng có trong nước
Trong dây chuyền xử lý nước ăn uống sinh hoạt, lọc là giai đoạn cuối cùng đểlàm trong nước triệt để Hàm lượng cặn còn lại trong nước sau khi qua bể lọc phải đạttiêu chuẩn cho phép
Sau một thời gian làm việc, lớp vật liệu lọc bị chít lại làm tốc độ lọc giảm dần
Để khôi phục lại khả năng làm việc của lọc, phải thổi rửa bể lọc bằng nước hoặc gió,nước kết hợp để loại bỏ cặn bẩn ra khỏi lớp vật liệu lọc Bể lọc luôn luôn phải hoànnguyên Chính vì vậy quá trình lọc nước được đặc trưng ởi hai thông số cơ bản là: tốc
Trang 16Nước từ máng phân phối di vào bể qua lớp cát lọc vận tốc rất nhỏ ( 0.1 - 0.5m/h) Lớp cát lọc được đỏ trên lớp sỏi đỡ, dưới lớp sỏi đỡ là hệ thống thu nước đã lọcđưa sang bể chứa.
Bể lọc chậm có dạng hình chữ nhật hoặc vuông, bề rộng mỗi ngăn của bểkhông được lớn hơn 6m và bề dày không lớn hơn 60m
Số bể lọc không được ít hơn 2
Bể lọc chậm có thể xây bằng gạch hoặc làm bằng bê tông cốt thép Đáy bểthường có độ đốc 5% về phía xả đáy
Trước khi cho bể vào làm việc phải đưa nước vào bể qua ống thu nước ở phíadưới và dân dần lên, nhầm dồn hết không khí ra khỏi lớp cát lọc Khi mực nước dânglên trên mặt lớp cát lọc từ 20 ÷ 30 cm thìu ngừng lại và mở van cho nước nguồn vào
bể đến ngang cao độ thiết kế
Mở van điều chỉnh tốc độ lọc và điều chỉnh cho bể lọc làm việc đúng tốc độtính toán Trong quá trình làm việc, tổn thất qua bể lọc tăng dần lên, hàng ngày phảiđiều chỉnh van thu nước một vài lần để đảm bảo tốc độ lọc ổn định Khi tổn thất áplực đạt đến trị số giới hạn ( 1÷2m) thì ngừng vận hành để rửa lọc
• Bể lọc nhanh
Theo nguyên tắc cấu tạo và hoạt động, bể lọc nhanh bbao gồm bể lọc mộtchiều và bể lọ 2 chiều Trong bể lọc một chiều gồm 1 lớp vật liệu lọc hoặc hai haynhiều lớp vật liệu lọc
Khi lọc: nước được được dẫn từ bể lắng sang, qua máng phân phối vào bể lọc,qua lớp vật liệu ọc, lớp sỏi đỡ vào hệ thống thu nước trong và được đưa vào bể chứanước sạch
Khi rửa: Nước rửa do bơm hoặc đài nước cung cấp, qua hệ thống phân phốinước rửa lọc, qua lớp sỏi đỡ , lớp vật liệu lọc và kéo theo cặn bẩn tràn vào máng thunước rửa, thu về máng tập trung, rồi được xả ra ngoaig theo mương thoát nước
Sau khi rửa, nước được đưa vào bể đến mực nước thiết kế, rồi cho bể làm việc
Do cát mới rửa chưa được sắp xếp lại, độ rỗng lớn, nên chất lượng nước lọc ngay saukhi rửa chưa đảm bảo, phải xả lọc đầu, không đưa ngay vào bể chứa
Hiệu quả làm việc của bể lọc phụ thuộc vào chu kì công tác của bể lọc, tức làphụ thuộc vào khoảng thời gian giữa 2 lần rửa bể Chu kì công tác của bể lọc dài hayngắn phụ thuộc vào bể chứa Thời gian xả nước lọc đàu quy định là 10 phút
GVHD:Mai Quang Tuấn
16 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 17• Bể lọc nhanh 2 lớp
Bể lọc nhanh 2 lớp, có nguyên tắc làm việc, cấu tạo và tính toán hoàn toàngiống bể lọc nhanh phổ thông Bể này chỉ khác bể lọc nhanh phổ thông là có 2 lớp vậtliệu lọc: lớp phía dưới là cát thạch anh, lớp phía trên là lớp than Angtraxit
Nhờ có lớp vật liệu lọc phía trên có cỡ hạt lớn hơn nên độ rỗng lớn hơn Do đósức chứa cặn bẩn của bể lắng lên từ 2 ÷ 2,5 lần so với bể lọc nhanh phổ thông Vì vậy
có thể tăng tốc độ lọc của bể và kéo dài chu kì làm việc của bể
Tuy nhiên khi rửa bể lọc 2 lớp vật liệu lọc thì cát và than rất dễ xáo trộn lẫnnhau Do đó chỉ dùng biện pháp rửa nước thuần túy để rửa bể lọc nhanh 2 lớp vật liệulọc
• Bể lọc sơ bộ
Bể lọc sơ bộ còn được gọi là bể lọc phá được sử dụng để làm sạch nước sơ bộtrước khi làm sạch triệt để trong bể lọc chậm
Bể lọc sơ bộ có nguyên tắc làm việc giống như bể lọc nhanh phỏ thông
Số bể lọc sơ bộ trong 1 trạm không được nhỏ hơn 2
Do bể làm việc dưới áp lực, nên nước cần xử lý được đưa trực tiếp từ trạmbơm cấp I vào bể, rồi đưa trực tiếp vào mạng lưới không cần trạm bơm cấp II
Bể lọc áp lực có thể chế tạo sẵn trong xưởng Khi không có điều kiện chế tạosẵn có thể dùng thép tấm hàn, ống thép … để chế tạo bể
Nước được đưa vào bể qua 1 phễu bố trí ở đỉnh bể, qua lớp cát lọc, lớp đỡ vào
hệ thống thu nước trong, đi vào đáy bể và phát vào mạng lưới Khi rửa bể, nước từđường ống áp lực chảy ngược từ dưới lên trên qua lớp cát lọc và qua phễu thu, chảytheo ống thoát nước rửa xuống mương thoát nước dưới sàn
• Bể lọc tiếp xúc
Trang 18Bể chứa
Bể hòa tan thứ cấp
Mạng lưới
Nước Sông Đồng Nai
Trạm bơm cấp 1 Ngăn tiếp nhận Bể hòa tan
Bể lọc tiếp xúc được sử dụng trong dây truyền công nghệ xử lí nước mặt códùng chất phản ứng đối với nguồn nước có hàm lượng cặn đến 150 mg/l, độ màu đến
150o (thường là nước hồ) với công suất bất kì hoặc khử sắt trong nước ngầm cho trạm
xử lí có công suất đến 10.000 m3/ngàyđêm
Khi dùng bể lọc tiếp xúc, dây chuyền công nghệ xử lý nước mặt sẽ không cần
có bể phản ứng và bể lắng
Hỗn hợp nước phèn sau khi qua bể trộn vào thẳng bể lọc tiếp xúc, còn dâychuyền khử sắt sẽ không cần co bể lắng tiếp xúc, nước ngầm sau khi qua dàn mưahoặc thung quạt gió vào thảng bể lọc tiếp xúc
Trong bể lọc tiếp xúc, quá trình lọc xảy ra theo chiều từ dưới lên trên Nước đãpha phèn theo ống dẫn nước vào bể qua hệ thống phân phối nước lọc, qua lớp cát lọcrồi tràn vào máng thu nước và theo đường ống dẫn nước sạch sang bể chứa
Bể lọc tiếp xúc có thể làm việc với tốc độ không đổi trong suốt một chu kì làmviệc hoặc với tốc độ lọc thay đổi giảm dần đến cuối chu kì sao cho tốc độ lọc trungbình phải bằng tốc độ lọc tính toán
Ưu điểm của bể lọc tiếp xúc: Khả năng chứa cặn cao, chu kì làm việc kéo dài.Đơn giản hóa dây truyền công nghệ xử lí
Nhược điểm: tốc độ lọc bị hạn chế nên diện tích bể lọc lớn Hệ thống phânphối hay bị tắt, nhất lad trường hợp nước chứa nhiều sinh vật và phù du rong tảo
1.4 MỘT SỐ DÂY CHUYỀN XỬ LÝ NƯỚC MẶT HIỆN CÓ TẠI VIỆT NAM
Nhà máy xử lý nước BOO Thủ Đức
GVHD:Mai Quang Tuấn
18 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 19Trạm bơm cấp 2 Mạng
lưới
Nhà máy xử lý nước Tam Hiệp
CHƯƠNG II LỰA CHỌN DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ
2.1 CHẤT LƯỢNG NƯỚC NGUỒN VÀ SO SÁNH QCVN, TCXD
- Nguồn nước: Nước mặt
- Công suất: Q = 60000 m3/ngđ = 0.69 m3/s
- Bảng số liệu
STT Thông số Đơn vị Giá trị 33 - 2006 TCXD
QCVN 02:2009/B YT
QCVN 08:2009/
BTNMT
Đánh giá
6,0 –8,5 6,0 – 8,5
http://nuithanh.gov.vn/
Trang 20Phèn , vôi vôi clo
2.2 ĐỀ XUẤT DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ
Căn cứ vào chất lượng nước nguồn, có thể đưa ra 2 phương án lựa chọn sơ đồdây chuyền công nghệ cho việc thiết kế trạm xử lý nước như sau:
Phương án 1:
Phương án 2:
GVHD:Mai Quang Tuấn
20 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 21Phân tích ưu nhược điểm: 2 phương án
Ưu điểm Bể phản ứng có lớp cặn lơ
lửng :được chia thành nhiều ngăn
dọc, đáy có tiết diện hình phễuvới các vách ngăn ngang, nhằmmục đích tạo dòng nước đi lênđều, để giữ cho lớp cặn lơ lửngđược ổn định
- cấu tạo đơn giản, không cầnmáy móc cơ khí, không tốn chiềucao xây dựng
Bể lắng ngang
-Được sử dụng trong các trạm xử
lí có công suất >3000 m3/ngàyđêm đối với trường hợp xử línước có dùng phèn
-Bể lắng ngang thu nước đều trên
bề mặt thường kết hợp với bểphản ứng có lớp cặn lơ lửng
Bể phản ứng vách ngăn
Nguyên lí cấu tạo cơ bản của bể là dùngcác vách ngăn để tạo ra sự đổi chiều liêntục của dòng nước Bể có ưu điểm là đơngiản trong xây dựng và quản lí vận hành
Bể lắng ly tâm
-Bể lắng dùng lực ly tâm tác dụng lên hạtcặn, tốc độ chuyển động của các hạt cặntheo hướng từ tâm quay ra ngoài sẽ lớnhơn rất nhiều so với vận tốc lắng tự do củahạt cặn trong khối nước tĩnh, do đó các hạtcặn có thể tách ra khỏi nước bằng các thiết
bị ly tâm hay xiclon thủy lực
-có hiệu quả lắng cao
-Bể lắng ly tâm
cấu tạo phức tạp, quản lý khó khăn
Trang 22=> Trên cơ sở so sánh trên ta chọn sơ đồ công nghệ dùng bể phản ứng có lớpcặn lơ lửng và bể lắng ngang để đơn giản trong quá trình vận hành nhưng hiệu quả xử
lý của 2 công nghệ tương đương nhau
2.3 THUYẾT MINH DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ
- Nước được bơm lên trạm bơm cấp 1, đi qua song chắn rác để cản lại nhữngvật trôi nổi trong nước Sau đó nước được bơm lên bể trộn đứng
- Tại bể trộn nước sẽ tiếp xúc với hóa chất phèn để tạo kết tủa Nhờ có bể trộn
mà hóa chất được phân phối nhanh và đều trong nước, nhằm đạt hiệu quả xử
lý cao nhất
- Sau khi nước được tạo bông cặn ở bể trộn sẽ được dẫn đến bể phản ứng Tạiđây các bông cặn tạo thành các bông cặn lớn hơn Sau đó các bông cặn sẽđược lắng ở bể lắng ngang
- Tiếp theo nước được đưa vào bể lọc nhanh Những hạt cặn còn sót lại sau quátrình lắng sẽ được giữ lại trong lớp vật liệu lọc, còn nước sẽ được đưa sangcác công trình xử lý tiếp theo
- Nước rửa lọc được đưa vào bể lắng nước rửa lọc, tại đây các cặn lắng đượclắng và đưa sang bể nén bùn, phần nước được đưa vào hệ thống thoát nướcchung của khu vực
- Nước sau khi làm sạch cặn lắng thì được khử trùng bằng clo để làm tiêu diệt
vi khuẩn và vi trùng trước khi đưa vào sử dụng
- Sau khi khử trùng nước được đưa vào bể chứa Sau đó nước được cung cấp ramạng lưới sử dụng nước qua trạm bơm cấp 2 để đáp ứng nhu cầu của ngườidân
2.4 TÍNH TOÁN CÁC CÔNG TRÌNH ĐƠN VỊ
2.4.1 Song chắn rác
a Song chắn rác
Song chắn rác gồm các thanh thép có tiết diện tròn đường kính d = 10mm đặtsong song nhau tại cửa thu nước của bể thu, cách nhau một khoảng a= 40 - 50 mm,GVHD:Mai Quang Tuấn
22 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 23chọn 40mm Song chắn rác được nâng lên hạ xuống nhờ ròng rọc máy Hai bên song
có thanh trượt để thuận tiện cho quản lý và sử dụng
Hình dạng song chắn rác cần phù hợp với hình dạng cửa thu nước Hình dạngcủa song chắn rác có thể là hình chữ nhật, hình vuông hoặc hình tròn
Diện tích công tác của song chắn rác được xác định theo công thức:
3 2
K n v
Q
×
= ω
(TCVN 33-1985) + Q: lưu lượng tính toán của công trình (m3/s) Q=0.69 (m3/s)
+ v: vận tốc nước chảy qua song chắn (m/s)
Theo TCVN 33-85 vận tốc này nên lấy trong khoảng 0.4÷0.8 m/s Khi sôngnước đục và thu nước dùng ống tự chảy nên chọn vận tốc này nhỏ Chọn v = 0.4m/s
+ K1: Hệ số co hẹp do các thanh thép, tính theo công thức: a
d a
K = +
1
+ a: Khoảng cách giữa các thanh thép chọn a = 40mm
+ d: Đường kính thanh thép Chọn d= 10
+ K2: Hệ số co hẹp do rác bám vào song Thường lấy K2 = 1.25
+ K3: Hệ số kể đến ảnh hưởng hình dạng của thanh thép, tiết diện tròn lấy K3 =1.1; tiết diện hcn lấy K3 = 1.25
+ n: số cửa thu nước n = 2
25 1 40
10 40
a
d a K
) ( 48 1 1 1 25 1 25 1 2 4 0
69
b Tổn thất cục bộ qua song chắn rác
k g
ξ: Hệ số tổn thất cục bộ qua song chắn được xác định bởi công thức :
44 0 40
10 25 1
4 / 3 4
/ 3
- β: Hệ số hình dạng β = 1,25
- k : Hệ số dự trữ, k = 3
Trang 24- vậy
01 0 3 81 9 2
4 0 44 0 2
2 2
Kích thước song chắn rác:
Chọn chiều cao song chắn rác có H = 0.9 m
Chiều rộng B =1.48 / 0.9 1.64 m
Bảng: các kích thước thiết kế song chắn rác
Diện tích song chắn rác 1.48 m2
2.4.2 Tính toán ngăn thu- ngăn hút
Trong ngăn thu bố trí song chắn rác, thang lên xuống, thiết bị tẩy rửa
Trong ngăn hút bố trí lưới chắn rác, ống hút của máy bơm cấp 1, thang lênxuống, thiết bị tẩy rửa
a Tính toán ngăn thu
Chiều rộng ngăn thu xác định theo công thức:
Trang 25Df : đường kính phễu thu, D
4 69 0 2
D
Q v
π
(m/s)
=> Df = 1.3 x 0.55 = 0.715m Chọn đường kính phễu Df = 0.72 m
=> Bh 3x 0.72 = 2.16 (m)
Do Bh, Bt tính toán chênh lệch nhau không nhiều, để đảm bảo chế độ dòng chảy
và thuận tiện cho thi công ta lấy: Bh = Bt = B =2 (m)
Chiều dài ngăn hút:
Lh = Lt = 2.5(m)
Khoảng cách từ mép dưới cửa thu nước đến đáy sông: h = 0.7m
Khoảng cách từ mép dưới đặt lưới đến đáy công trình thu: h = 0.5m
Khoảng cách từ mực nước thấp nhất đến mép trên cửa thu: h = 0.5m
Bảng các kích thước thiết kế ngăn thu – ngăn hút Thông số Ngăn thu Số lượng Ngăn hút Đơn vị
Trang 26Độ màu của nước là 10 ta có liều lượng phèn cần để khử độ màu là:
PAl = 4 M = 4 10 = 12,65( mg/l) (6.11 trang 30-TCXD 2006)
10000
= 10000 10 1
50 7 2500
- Q: Lưu lượng nước xử lý (m3/h) Q = 60000 m3/ngđ = 2500 m3/h
- PAl: Liều lượng hoá chất dự tính cho vào nước (g/m3)
- n: Số giờ giữa 2 lần hoà tan, đối với trạm công suất >50.000 m3/ngày; n = 6 8giờ , chọn n = 7 h
bh: Nồng độ dung dịch hoá chất trong thùng hoà trộn tính bằng % (theoTCXD 33- 2006 là 10 – 17 % chọn 10%)
- γ: Khối lượng riêng của dung dịch lấy bằng 1T/m3
75 8 4 4
60 tan 2
2 0 4 1 2
60 tan 2
- Chiều cao dự trữ : Hdt = 0,3m (qui phạm 0,3 – 0,4m )
- Tổng chiều cao bể hòa tan : H = Ht + Hdt + Hch = 5.7 + 0,3 + 1 = 7.0 (m)
- Thể tích xây dựng của bể:
GVHD:Mai Quang Tuấn
26 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai