- Sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong vài thế kỷ qua đã biến chất lượng môi trường từ chổ được coi là một loại hàng hóa không có giá tự do sử dụng trở nên ngày càng khan hiếm hơn.. N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trường Đại Học Nông Lâm
KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
(Tài liệu môn học)
Đặng Thanh Hà
2004
Trang 2CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
I GIỚI THIỆU VỀ MÔN HỌC KTTNMT
I.1 Khái niệm
Kinh tế học là môn học nghiên cứu những lưạ chọn của cá nhân và xã hội về cách thức sử dụng
các nguồn tài nguyên có giới hạn
- Mục đích của việc lựa chọn là để có thể thỏa mãn cao nhất nhu cầu trong hiện tại và trong tương lai của cá nhân và xã hội
- Những lựa chọn của cá nhân và xã hội được biểu hiện thành những hiện tượng và những hoạt động kinh tế Kinh tế học nghiên cứu các hiện tượng và các hoạt động này trên hai góc độ: một là góc độ bộ phận cuả nền kinh tế và thứ hai là góc độ của toàn bộ nền kinh tế
- Kinh tế vi mô nghiên cứu các bộ phận hợp thành của nền kinh tế như người tiêu dùng, người sản xuất, một doanh nghiệp, một nghành, một thị trường
- Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế như là một tổng thể bao gồm tất cả các bộ phận hợp thành cuả nó Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế và sự hoạt động cuả nền kinh tế
- Kinh tế học nghiên cứu các khiá cạnh của cuộc sống kinh tế để trả lời các câu hỏi:
- Sản xuất cái gì?
- Sản xuất như thế nào?
- Sản xuất cho ai?
Kinh tế tài nguyên môi trường là một bộ phận cuả kinh tế học nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa môi trường và phát triển Tập trung vào vấn đề các hoạt động phát triển kinh tế và tác động của chúng đến môi trường
- Con người đã nhận thấy môi trường bao gồm những tài nguyên khan hiếm và có thể bị cạn kiệt
- Cần nghiên cứu kinh tế về việc phân phối các nguồn tài nguyên khan hiếm đó cho các mục đích sử dụng khác nhau và cạnh tranh với nhau
- Khan hiếm: khi cầu lớn hơn cung tại giá khác không
- Sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong vài thế kỷ qua đã biến chất lượng môi trường từ chổ được coi là một loại hàng hóa không có giá (tự do sử dụng) trở nên ngày càng khan hiếm hơn
- Đầu thế kỷ: không khí,nước sạch… có cung lớn hơn cầu, giá bằng (o) Ngày nay do con người ngày càng tàn phá môi trường, chúng càng trở nên khan hiếm cả ở các nước phát triển và đang phát triển, cả trong nền kinh tế tư bản và XHCN
- Mối quan hệ cung cầu về chất lượng môi trường đã thay đổi Nhu cầu về chất lượng môi trường ngày càng tăng nhanh trong khi đó cung lại giảm nhanh chóng (do chất lượng môi trường đang bị giảm sút)
- Sản phẩm phụ của quá trính tăng trưởng và phát triển kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các chất gây ô nhiễm dẫn đến việc tăng nhanh nhu cầu về chất lượng môi trường Khi thu nhập
Trang 3và mức sống tăng lên, người ta cũng sẵn lòng trả nhiều tiền hơn cho một môi trường sống tốt hơn
- Về mặt cung: tăng trưởng và phát triển kinh tế cùng với sự gia tăng dân số và đô thị hóa làm giảm lượng cung về không khí, nước sạch và khả năng hấp thụ chất thải cuả môi trường Do đó tăng trưởng kinh tế đã làm cho loại hàng hóa chất lượng môi trường trở thành một loại hàng hóa khan hiếm
- Để giải quyết vấn đề này, kinh tế có một vai trò hết sức quan trọng Do chất lượng môi trường trở nên khan hiếm, xã hội chỉ có thể có nhiều loại hàng hóa này hơn bằng cách giảm
đi một phần lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mong muốn khác
- Có sự hy sinh (được cái này và mất cái kia) giữa chất lượng môi trường và các sản phẩm hàng hóa , dịch vụ Ở đây có tồn tại một loại chi phí cơ hội (chi phí cơ hội của việc có chất lượng môi trường cao hơn bằng giá trị sản phẩn, dịch vụ mất đi)
- Chất lượng môi trường cũng là một sản phẩm hàng hóa và do đó vấn đề môi trường cũng phải được coi là một vấn đề kinh tế
- KTTNMT tập trung vào nghiên cứu vấn đề: làm thế nào và tại sao con người làm các quyết điinh có tác động ảnh hưởng đến môi trường và tài nguyên
- KTTNMT sử dụng các công cụ phân tích của kinh tế vi mô để nghiên cứu các vấn đề: Tại sao môi trường và tài nguyên trở nên suy thoái? Những nguyên nhân gây nên sự suy thoái của môi trường Hậu quả của sự suy thoái này là gì? Cần làm gì để cải thiện sự suy thoái này?
I.2 Phạm vi của môn kinh tế TNTNMT
- Phân tích kinh tế các vấn đề môi trương giúp chúng ta hiểu rõ những mối quan hệ phức tạp của hệ thống kinh tế
- Tương tác giữa kinh tế và môi trường là tương tác đa bao gồm nhiều lĩnh vực giữa kinh tế phúc lợi và thuyết tăng trưởng
Trang 4Kinh tế phúc
lợi và phân tích
chi phí lợi ích
Các công cụ chính sách chi tiêu của chính phủ và mối liên hệ đối với môi trường
Tác động về phân phối của các công cụ chính sách
Tăng trưởng kinh tế và cân bằng môi trường
Tác động môi
trường trong
kinh tế thị
trường và kinh
tế kiểm soát
KINH TẾ MÔI TRƯỜNG (ENVIRONMENTAL ECONOMICS)
Chi phí kiểm soát ô nhiễm và ảnh hưởng đến môi trường
Kinh tế sử dụng
Hình 1 Các khía cạnh nghiên cứu của kinh tế TNMT
Về lý thuyết,
- KTTNMT có nền tảng từ kinh tế phúc lợi (welfare economics)
- Về mặt lý thuyết, phạm vi nghiên cứu cuả KTTNMT baogồm cả lý thuyết về yếu tố ngoại vi, lý thuyết hàng hóa công cộng, và lý thuyết tăng trưởng và phát triển
- Do ô nhiễm là một hiện tượng ngoại vi (externality) làm ngăn cản sự hoạt động có hiệu quả của thị trường (tạo ra những sự sai lệch so với tối ưu), KTMT bắt đầu với lý thuyết về yếu tố ngoại vi Kinh tế môi trường liên quan đến vấn đề ô nhiễm trở thành một nhánh đặc biệt cuả kinh tế phúc lợi
- Tất nhiên ngoài vấn đề ô nhiễm, KTMT cũng nghiên cứu về các nguồn tài nguyên khác, nhất là vấn đề bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.KTMT cũng bao gồm các mô hình sử dung tối
ưu tài nguyên và các phương pháp bảo tồn tài nguyên
- Khía cạch lý thuyết thứ ba trong kinh tế môi trường liên quan đến việc phân tích vấn đề: Liệu tăng trưởng/phát triển kinh tế có trên cơ sở hy sinh (chi phí) môi trường hay không? Tốc độ phát triển kinh tế cần ởø mức nào? Có thể cắt giảm ô nhiễm xuống ở mức bằng không hay không?
Trang 5Về mặt thực tiễn:
- Kinh tế TNMT quan tâm đến các biện pháp, chính sách sử dụng bền vững TNTNMT, các công cụ kinh tế như thuế, trợ giá, quỹ môi trường, giấy phép xả thải có thể mua bán được… có thể sử dụng để kiểm soát ô nhiễm
- Nghiên cứu tác động của các hệ thống kinh tế (tư bản, XHCN) đến môi trường
- Kinh tế môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tác động môi trường, nhất là trong phân tích chi phí lợi ích các dự án
- Ngoài ra vấn đề bình đẳng cũng là vấn đề quan trọng được quan tâm trong kinh tế môi trường Trong phân tích chi phí lợi ích, phân tích các chiến lược kiểm soát ô nhiễm và huỷ hoạïi môi trường, vấn đề tác động đến phân phối cũng cần phải được nghiên cứu Câu hỏi đặt
ra là ai nhận được lợi ích và ai phải gánh chịu chi phí? Ai là người có quyền: người gây ô nhiễm hay người bị ô nhiễm? Hiệu quả (efficiency) và bình đẳng (equity) là hai chỉ số về kết quả cuả hoạt động kinh tế
II LỊCH SỬ CUỘC TRANH LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG
Mối lo ngại về môi trường trước năm 1973
- Trong những năm 60 và 70 đã có mối lo ngại thực sự về môi trường
- Nền kinh tế thế giới bùng nổ phát triển cho đến khi nổ ra cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973
- Quan điểm phổ biến cho răng tăng trưởng kinh tế sẽ tiếp tục
- Mối lo ngại về môi trường thời kỳ cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 chủ yếu xuất phát từ các nhà sinh thái học và các nhà khoa học về môi trường
- Họ lo ngại về những xu hướng sử dụng các nguồn lực môi trường cuả hành tinh và sợ răng hệ sinh thái sẽ không thể hỗ trợ được cho dân cư trên thế giới được nữa
- Họ không tin rằng có thể phối hợp tăng trưởng kinh tế với việc bảo vệ môi trường, và cho rằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường phải đánh đổi cái này lấy cái kia
Hội nghị “Môi trường sống 72” tại Xtochom (Thụy Điển)
- Năm 1972, hội nghị của liên hiệp quốc về môi trường của con người với tiêu đề “Môi trường sống 72” được tổ chức tại Thụy Điển
- Hội nghị tập trung vào những nhu cầu của con người ở các nước đang phát triển, thảo luận về mức an ninh lương thực cần thiết, nhà ở vững chắc, nước an toàn, và kế hoạch hoá gia đình (vì tăng dân số được coi là vấn đề lớn)
- Hội nghị nói chung không tranh luận về bảo vệ môi trường
Câu lạc bộ Roma
- Đã thu thập dữ liệu và sử dụng các mô hình trên máy điện toán để làm cơ sở cho lập luận cuả họ
- Cho rằng nếu như quá trình tăng trưởng cuả nền kinh tế thế giới cứ tiếp tục như nó đã
Trang 6- Đã chỉ ra những hậu quả cuả tăng trưởng kinh tế liên tục và lập luận rằng có tồn tại những giới hạn đối với tăng trưởng vì dân cư trên thế giới sẽ không thể khắc phục được các hậu quả
- Kết luận rằng cần phải có sự thay đổi cơ bản trong thái độ cuả xã hội
- Dự đoán một viễn cảnh chung bi quan: nhìn thấy sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
- Người ta lo ngại vì suy thoái kinh tế và ít quan tâm hơn đến môi trường
Trong những năm 80, môi trường một lần nữa thu hút được sự quan tâm lớn trong chương trình nghị sự Đã diễn ra một số thay đổi:
- Mối lo ngại về môi trường được đặt ra dưới ánh sáng cuả các bằng chứng khoa học Giờ dây, nó không còn đơn giản là mối lo ngại về con người (tăng dân số), mà sự lo ngại về môi trường đã được nhìn rộng hơn và ngày càng được coi như một vấn đề khoa học Ví dụ: rừng đang bị mất dần, tầng Ôzôn đang trở nên ngày càng mỏng và dự báo về sự thay đổi khí hậu toàn cầu
- Người ta thừa nhận rằng suy thoái môi trường là một vấn đề đối với toàn thể dân cư trên thế giới
- Người ta quan tâm đến phương thức phát triển kinh tế mà các nước đang phát triển sẽ theo đuổi (đặc biệt là bằng cách nghiên cứu các nước công nghiệp mới ở Đông Nam á)
Phát triển bền vững
- Những mối lo ngại nói trên đã dẫn đến việc thành lập Uûy ban thế giới về môi trường và phát triển, còn gọi là Uûy ban Brundland
- Bản báo cáo có tên gọi là “Báo cáo Brundland” năm 1987 của Uûy ban thế giới về môi trường và phát triển đã phổ cập thuật ngữ “phát triển bền vững”
- Bản báo cáo của Pearce cũng đóng một vai trò quantrọng trong những cố gắng nhằm xác định phát triển bền vững có thể có ý nghĩa gì trên thực tế
- Lần này các cố gắng đã được đưa ra nhằm phối hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường Nhiều nhà kinh tế môi trường đã trở nên tích cực trong cuộc tranh luận
Những điểm chính cuả hai báo cáo:
Báo cáo Brundland:
- Phát triển kinh tế và phát triển môi trường là không thể tách rời
- Phổ cập thuật ngữ “phát triển bền vững”
- Xen xét phân chia Bắc-nam
- Nói chung lạc quan
Trang 7Báo cáo cuả Pearce:
- Lập luận rằng hiểu biết kinh tế học là cần thiết để hiểu được lhái niệm phát triển bền vững
- Cố chứng minh rằng phát triển bền vững là việc khả thi, thực tiễn và có thể đạt được
- Bảo vệ sinh thái là việc làm tốt đối với nền kinh tế: bảo vệ môi trường sẽ tạo thêm việc làm và những thị trường mới
- Cho rằng vấn đề chủ yếu là nguồn lực môi trường không được quý trọng và không được đánh giá một cách rõ ràng trong nền kinh tế, lập luận rằng cần phải đưa mối quan tâm về môi trường vào các quyết định kinh tế
- Áp dụng quan điểm phòng ngưà trong quản lý môi trường
- Tin vào khả năng và hiệu quả cuả quản lý trong việc giải quyết các vấn đề môi trường, nếu như quản lý được thực hiện một cách đúng đắn
- Lập luận rằng nền kinh tế cần bao hàm cả môi trường, ở đây không có sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
“Hội nghị cấp cao trái đất” tại Rio
- Sức ép từ phía các nhóm công dân quan tâm đến môi trường trên khắp thế giới tăng lên trong những năm gần đây đã dẫn đến sự thừa nhận ở những cấp chính trị cao nhất về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa môi trường và phát triển
- Sự thưà nhận này được chính thức hoá tại hội nghị cuả liên hiệp quốc về môi trường và phát triển (UNCED) tại Rio de Janeiro tháng 6 năm 1992
- Tại cuộc hội nghị được gọi là “Hội nghị cấp cao trái đất” này, các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ quốc tế đã nhất trí Chương trình ngị sự 21 và tuyên bố Rio về môi trường và phát triển và cam kết đưa tiêu chuẩn môi trường vào các chính sách, các quy trình và hoạt động phát triển cuả họ
- Đây là một điểm khởi đầu nổi bật trong suốt quá trình lâu dài và vẫn đang tiếp diễn nhằm bảo vệ môi trường toàn cầu
III VAI TRÒ CUẢ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN MÔI TRƯỜNG TRONG NỀN KINH TẾ
1 Mô hình kinh tế cổ điển:
Trang 83 Mô hình nền kinh tế tuần hoàn
• Thêm yếu tố tài nguyên thiên nhiên (R) vào ta có mô hình đầy dủ hơn ( tuy nhiên vẫn thiếu)
R P C
- Mô hình có thêm R (tài nguyên thiênnhiên), và đã đề cập đến chức năng đầu tiên của tài nguyên môi trường đó là chức năng cung cấp đầu vào (input) cho hệ thống sản xuất
- Mô hình này vẫn chưa đầy đủ, vẫn còn thiếu về vấn đề các sản phẩm chất thải sinh ra
Tiếp tục mở rộng mô hình:
- Ta có chất thải (W) bao gồm: chất thải sinh ra trong quá trình sản xuất (Wp), sinh ra trong tiêu dùng (Wc), và ngay cả tài nguyên thiên nhiên cũng sinh ra lượng chất thải (Wr)
- Mở rông mô hình ta có:
R P C
Wr Wp Wc
• Mối quan hệ giưã tài nguyên thiên nhiên và tổng các chất thải tại một thời điểm:
- Bỏ qua yếu tố K ta có: Tổng lượng chất thải (W) trong mỗi thời kỳ bằng lượng tài nguyên thiên nhiên dược sử dụng
R = W = Wr + Wp + Wc
- Đó là theo định luật nhiệt động học- định luật thứ nhất: Vật chất và năng lượng không tự mất
đi mà chỉ biến đổi từ dạng này sang sạng khác
- Định luật này cho thấy ta không thể tạo nên hay làm biến đi vật chất hay năng lượng Ta sử dụng bất cứ tài nguyên nào thì nó sẻ kết thúc ở đâu đó trong hệ thống môi trường (ở một dạng khác), chúng không bị triệt tiêu đi Chúng chỉ bị hao mòn hay bị chuyển đổi sang dạng khác
- Ví dụ Coal than đá->đốt ->sinh ra nhiệt, so2
• Trên đây vẫn chỉ là dạng tuyến tính Mô hình chuyển sang hệ thống tuần hoàn khi ta thêm yếu tố tái sử dụng (r )
W
r Môi trường là nơi nhận chất thải
Tại sao không thể thu hồi tất cả các chất thải?
- Định luật thứ hai động nhiệt học: không thể thu hồi 100% vật chất và năng lượng sau khi chế biến và biến đổi
- Theo địng luật này: không thể thu hồi 100% chất thaỉ (W) để quay lại chu trình
- Phần chất thải không thể thu hồi được sẽ đi đâu? Chúng đi vào trong môi trường
Trang 9- Môi trường có khả năng tiếp nhận chất thải và chuyển đổi chúng trở lại dạng sphẩm không có hại hay hữu ích về mặt sinh thái Đây là khả năng hấp thụ của môi trường- là một chức năng thứ hai của môi trường thiên nhiên
- Khả năng hấp thụ chất thải của môi trường không phải là vô hạn, mà có giới hạn nhất định Nếu ta thải chất thải vượt quá mức gây thiệt haị cho khả năng hấp thụ của môi trường thì chức năng tiếp nhận chất thải của môi trường sẽ bị giảm sút Nếu giữ mức thải ở đúng mức, MT sẽ tiếp nhận chất thải và chuyển đổi chất thải trở lại hệ thống kinh tế
- Tài nguyên thiên nhiên (R) có hai dạng:
- Tài nguyên có thể bị can kiệt: tài nguyên này bản thân nó không tự tái tạo (Ví dụ: than đá, dầu lửa, khoáng sản…)
- Tài nguyên tái tạo đưọc: là tài nguyên tự bản thân nó có thể tái tạo lại được (ví dụ rừng, thuỷ sản…) Muốn sử dụng bền vững loại tài nguyên này cần sử dụng/khai thác ở mức không vượt quá khả năng tái tạo của chúng
Gọi: h=tốc độ thu hoạch/khai thác; y= năng xuất cuả tài nguyên Nếu h<y , vốn tài nguyên sẽ phát triển tăng lên (+) Nếu h>y vốn tài nguyên sẽ suy giảm (-)
Tổng thể mô hình nền kinh tế tuần hoàn sẽ là:
(+)
ER RR
(-) (-) (+)
h>y h>y h<y
tn cạn kiệt tn tái tạo được
(+)
r W (-)
(-)
A (+)
W<A W>A
Luồng vật chất/năng lượng
Luồng hữu dụng (utility)
• W = Waste (lượng chất thải)
• A = Assimilative capacity (khả năng hập thụ chất thải)
• r = recycling (tái sử dụng/tái chế)
• R = Resource (lượng tài nguyên)
• RR = Renewable Resource (tài nguyên có khảnăng tái sinh)
Trang 10• y = yield (năng xuất tăng thêm)
• h = harvest (sản lượng thu hoạch)
• (+) = tăng
• (-) = giảm
- Mô hình này còn được gọi là mô hình cân bằng vật chất (material balance model)
- Qua mô hình cho ta thấy 3 chức năng của tài nguyên môi trường:
- Cung cấp tài nguyên cho sxuất
- Hấp thụ chất thải
- Cung cấp sự hữu dụng trực tiêp ch con gnười
- Đó là những chức năng kinh tế và có giá trị kinh tế Nếu ta mua, bán trên thị trường chúng cũng cần phải có giá lớn hơn 0 (dương)
- Mối nguy hiểm gây nên sự đối sử sai lầm môi trường thiên nhiên là ở chỗ chúng ta không nhận thấy giá (giá trị) cuả các chức năng đó cuả môi trường
- KTTNMT cần chỉ ra các giá trị đó cuả TNTNMT
IV NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG
Các nhà kinh tế giải thích sự huỷ hoại TNTNMT thông qua khái niệm sai lầm trong chính sách và sai sót của thị trường
1 Sai sót cuả thị trường (market failure) hay sự không hoàn thiện của thị trường (market imperfection)
Thị trường tự do:
- Thị trường tự do là những thị trường trong đó không có sự can thiệp cuả chính phủ Các cá nhân trên thị trường tự do tự do theo đuổi những lợi ích riêng của họ và cố gắng làm những điều tốt nhất cho bản thân mà họ có thể làm được trong điều kiện không có bất kỳ sự hỗ trợ hoặc sự can thiệp nào cuả chính phủ
- Ý tưởng cho rằng hệ thống như vậy có thể giải quyết đượïc tất cả các vấn đề: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai là một trong những chủ đề lâu đời nhất cuả kinh tế học, có nghuồn gốc từ Adam Smith, một nhà kinh tế học–nhà triết học nổi tiếng người Xcốtlen mà tác phẩm cuả ông: cuốn sách “Sự giàu có cuả các dân tộc (1776) đến nay vẫn được coi là kinh điển
- Smith lập luận rằng các cá nhân trong khi theo đuổi những lợi ích riêng của họ sẽ bị dẫn dắt
“dường như bởi một bàn tay vô hình” tới chỗ làm những điều có lợi cho toàn thể xã hội
Trang 11Thị trường hoạt động như thế nào:
- Thị trường là tập hợp những cơ chế mà qua đó những người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi các hàng hóa và dịch vụ
- Thị trường định ra những mức giá đảm bảo sao cho lượng hàng mà người ta muốn mua bằng với lượng hàng mà người ta muốn bán Giá cả và sản lượng không thể xem xét tách rời nhau
- Cơ chế cơ bản của thị trường là tự điều tiết Thay đổi diễn ra thông qua sự thay đổi giá cả
- Để hiểu quá trình này một cách đầy đủ hơn, ta có thể sử dụng một mô hình thị trường điển hình trong đó cầu thể hiện hành vi người mua và cung thể hiện hành vi người bán Thông qua nghiên cứu tác động qua lại giữa cung và cầu ta có thể thấy được thị trường hoạt động như thế nào trên thực tế
D S
Px
Qx
Sơ đồ cung và cầu cơ bản
- Cầu: là lượng hàng hoá mà người mua muốn mua tại mỗi mức giá Trong những điều kiện như nhau, giá càng thấp thì lượng cầu càng lớn Mối quan hệ giữa giá và lượng cầu thể hiện trên đồ thị qua đường cầu Đường cầu có đặc tính dốc xuống
- Cung: là lượng hàng hoá mà người bán muốn bán tại mỗi mức giá Trong những điều kiện như nhau, giá càng cao thì lượng cung càng lớn Trên đồ thị, đường cung thể hiện mối quan hệ giưã giá và lượng cung Đường cung dốc lên
- Thị trường cung vừa đủ cầu (hay thị trường ở trạng thái cân bằng) khi mức giá trên thị trường khiến lượng cung bằng cầu
- Tại những mức giá thấp hơn so với mức cân bằng, cầu sẽ cao quá mức (cung thiếu hụt), và tình trạng này tự nó sẽ làm tăng giá Tại những mức giá cao hơn so với mức cân bằng, cung sẽ
dư thừa và tình trạng này tự nó sẽ làm giảm giá
- Trên thị trường tự do những sai lệch cuả giá so với mức cân bằng có xu hướng tự điều chỉnh
Vì sao thị trường thất bại trong việc bảo vệ TNTNMT?
• Một nền kinh tế thành đạt phụ thộc vào một thị trường hoạt động hoàn hảo trong đó thị trường đưa ra các tín hiệu về sự khan hiếm tương đối của các loại tài nguyên thiên nhiên khác nhau thông qua giá cả cuả chúng trên thị trường và phân phối chúng vào nơi có giá trị sử dụng cao nhất
• Nếu môi trường bị tiêu dùng quá nhiều (Vdụ-rừng bị chặt phá quá nhiều, có quá nhiều cá bị đánh bắt, có quá nhiều chất thải được thải suống sông hồ…) Thì đây chính là dấu hiệu cho
Trang 12thấy thị trường đang sai sót trong việc đưa ra các tín hiệu (giá cả) về sự khan hiếm đang ngày càng tăng cuả các tài nguyên thiên nhiên môi trường đó
• Nhìn về phiá cầu thì ta thấy sự sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên &MT
• Nhìm về phiá cung: rõ ràng ta cũng thấy có dấu hiệu cuả sự sai sót cuả thị trường Con người
ít hoặc không đầu tư vào việc bảo vẹ tnguyên thnhiêMT (Vd: vào đầu tư trồng rừng, bảo vệ thú vật hoang dã, cá, làm sạch nguồn nước sông hồ…) Với nhiều nguyên nhân, thị trường đã không khuyến khích vào việc đầu tư và bảo vệ TN TNMT
• Sự sai sót cuả thi trường có thể do nhiều yếu tố gây nên Nhiều sai lầm trong quản lý và sử dụng TN TNMT vì lý do:
- Thị trường hoạt động sai sót
- Thị trường bị bóp méo
- Sự vắng bóng cuả thị trường (không có thị trường cho sản phẩm, hàng hoá đó)
• Giá cả do các thị trường này tạo nên đã không phản ánh đúng chi phí và lợi ích xã hội thực sự cuả việc sử dụng các nguồn TN TNMT này
• Giá cả đã đưa ra thông tin sai lệch về mức độ khan hiếm và đã không tạo nên động lực đầu đủ cho việc quản lý và sử dụng có hiệu quả cung như việc bảo vệ TN TNMT
• Những nguyên nhân gây nên sai sót cuả thị trường gồm có:
- Yếu tố ngoại vi ( externalities)
- TN TNMT không được định giá và vắng bóng thị trường cho chúng
- Chi phí dao dịch (transaction cost)
- Quyền sở hữu (property rights)
- Sụ sao nhãng và không chắc chắn ( ignorance & uncertainty)
- Tầm nhìn ngắn hạn (short-sightedness)
- Tính không đảo ngược (irreversibility)
a Yếu tố ngoại vi ( externalities)
• Aûnh hường ngoại vi là những ảnh hưởng do hoạt động của một thực thể (đơn vị, cá nhân) gây nên một cách không ý thức đối với một hay nhiều thực thể khác (các cá nhân, xí nghiệp khác ) Aûnh hưởng ngoại vi xuất hiện khi một quyết định sản xuất hay tiêu dùng của một một thực thể (đơn vị, cá nhân) tác động trực tiếp tới việc sản xuất hay tiêu dùng cuả một hay nhiều thực thể khác (các cá nhân, xí nghiệp khác ) mà không bằng giá cả thị trường
• VD một xí nghiệp thải chất thải phát sinh trong quá trình sxuất của mình ra một khúc sông đang được dùng lấy nước sinh hoạt,hay sử dụng cho các mục đích khác gây nên những ảnh hưởng phụ làm giảm sức khoẻ, lợi ích hay tăng phí tổn cho những người này
Chất thải, tiếng ồn, nhạc, vườn hoa (ảnh hưởng ngoại vi có ích và có hại)
• Gọi Uj là hàm hữu dụng cuả cá nhân j ta có thể định nghĩa ảnh hưởng ngoại vi như sau: Aûnh hưởng ngoại vi xuất hiện (tồn tại) khi mà phúc lợi (welfare) của một/một số cá nhân (j) không những chỉ bị tác động bởi những hoạt động (Xnj) do chính họ kiểm soát, mà còn bị ảnh hưởng bởi một số các hoạt động (Xmk) do những người khác (k) kiểm soát
Uj = Uj ( X1j , X2j , … Xnj , Xmk ) j ≠ k
( Hoạt động cuả cá nhân j ) (Hoạt động của cá nhân k)
Trang 13• Ảnh hưởng ngoại vi có liên quan (a relevant externality)
Một ảnh hưởng ngoại vi được goị là có liên quan (relevant) khi mà người bị ảnh hưởng không bàng quan đối với nó Aûnh hưởng ngoại vi có liên quan xuất hiện khi mà người bị ảnh hưởng (cá nhân thứ 1) bị ảnh hưởng bởi hoạt động cuả người khác (cá nhân thứ 2) và cá nhân thứ nhất muốn cá nhân thứ 2 thay đổi hoạt động cuả anh ta
• Ảnh hưởng ngoại vi có liên quan Pareto (a Pareto-relevant externality): tồn tại khi mà có thể thay đổi hoạt động Xmk cuả cá nhân k bằng các nào đó làm cho phúc lợi cuả người bị ảnh hưởng (cá nhân j) được cải thiện hơn mà không làm cho phúc lợi cuả người gây ra (cá nhân k)
bị thiệt hại đi
Aûnh hưởng ngoại vi có liên quan Pareto chỉ có thể tồn tại khi nền kinh tế vẫn chưa đạt đến mức có hiệu quả tối ưu Pareto (Pareto efficient) Tức là vẫn có tiềm năng để cải thiện Pareto
• Aûnh ưởng ngoâi vi không kinh tế (không mong muốn ): tồn tại khi mà người bị tác động (cá nhân j) bị thiệt hại bởi hoạt động (Xmk) cuả cá nhân k và có mong muốn làm giảm mức độ cuả hoạt động này
• Ảnh hưởng ngoại vi có kinh tế (mong muốn): là ảnh hưởng ngoại vi trong đó cá nhân j bị ảnh hưởng có lợi (được cải thiện hơn) do có hoạt động Xmk cuả cá nhân k và do đó mong muốn tăng mức độ cuả hoạt động này cuả cá nhân k lên
• Ta có thể thấy có các loại ảnh hưởng ngoại vi xuất hiện trong trong tiêu dùng, trong sản suất, và có thể có cả trong sản xuất lẫn tiêu dùng
• Trong kinh tế học, điều này có nghiã làcác yếu tố nghoại vi xuất hiện khi chi phí (lợi ích) cá nhân khác với chi phí (lợi ích ) xã hội cuả tất cả các bên bị ảnh hưởng
• Chi phí cá nhân + yếu tố ngoại vi (chi phí ngoại vi) = chi phi xã hội (tất cả các chi phí mà xã hôi phải gánh chịu do sản xuất gây ra)
• Lợi ích cá nhân + yếu tố ngoại vi (lợi ích ngoại vi) = lợi ích xã hội (toàn bô lợi ích mà xã hội có được)
• Yếu tố ngoại vi là một khái niệm hữu ích giúp ta hiểu được vấn đề bảo vệ môi trường Nhiều hành hoá, dịch vụ môi trường có thể được mô tả là yếu tố ngoại ứng
Vấn đề ở đây là do ta đã không có hệ thống giá cả hoạt động hiệu quả
• Thị trường đã không đưa ra được các tín hiệu về phí tổn cuả các ảnh hưởng ngoại vi này và đã không đưa dược ngược trở lại cho người đã gây ra nó và buộc họ phải gánh chịu Tức là đã không tạo được động lực làn cho người gây ra ảnh hưởng ngoại vi này buộc họ phải làm giảm các ảnh hưởng ngoại vi đó
• Taị sao ta không có hệ thống gía cả hoạt động hiệu quả? Do thiếu quyền sở hữu đầy đủ, do đó không có thị trường hoàn thiện hoặc thị trường không tồn tại và không có hệ thống giá cả có hiệu quả Điều này dẫn đến kết quả là không đạt được mức tối ưu mà xã hội mong muốn
• Nhiệm vụ của các nhà làm chính sách la øcần có gắng nội hóa các ảnh hưởng ngoại vi
Trang 14các phí tổn do hoạt động cuả họ gây ra đối với người khác (nguyên tắc người gây ra ô nhiễn phải trả)
• Hai cách có thể nội hóa các ảnh hưởng ngoại vi:
- Buộc người gây ra ảnh hưởng ngoại vi phải trả trực tiếp phí tổn
- Buộc người gây ra ảnh hưởng ngoại vi phải xây dựng/lắp đặt các thiết bị để kiển soát các ảnh hưởng ngoại vi mà họ gây ra
b TN TNMT không được định giá và vắng bóng thị trường cho chúng
• Một nguyên nhân khác gây nên sai sót cuả thị trường là do vấn đề nhiều tài nguyên TNMT đã không định được giá và do đó chúng không được mua bán trên thị trường, không tồn tại thị trường cho chất lượng môi trường (ví dụ không có thị trường cho chức năng hấp thụ các chất thải cuả sông hồ, vùng đất ngập ướt, chức năng lọc, hấp thụ các chất khí gây hiệu ứng nhà kính cuả rừng, một quá trình gây nên hiện tương khí hậu toàn cầu nóng dần lên, …)
• Nhiều TN TNMT được xã hội đánh giá cao như không khí trong lành, cảnh quan đẹp, hấp dẫn, sự đa dạng phong phú cuả nguồn tai nguyên động thực vật… đã không được mua và bán trên thị trường
• Nếu không có biện pháp hạn chế thì các cá nhân sẽ không có động lực để giảm mức sử dụng các tài nguyên TNMT đó và cũng không đầu tư vào việc bảo tồn và phát triển chúng
Nhiều tài nguyên TNMT không định được giá do tính chất tài sản công cộng cuả chúng, do tính không độc chiếm trong sử dụng hoăïc do tính không loại trừ trong tiêu dùng
Tính chất tài sản công cộng cuả một số tài nguyên:
• Trong một số trường hợp, các tài nguyên thiên nhiên không định được giá do chúng là các tài sản công cộng và việc buộc chi lệ phí sử dụng chúng rất khó khăn hoặêc không thể làm được
• Tài sản công cộng là loại tài sản sẵn sàng cho mọi người sử dụng và không thể ngăn cản bất cứ ai không được sử dụng chúng Kết quả là không thể nào đánh lệ phí sử dụng loại tài sản này được Điều này dẫn đến là sẽ không có lời nếu một cá nhân nào đầu tư vào việc bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên công cộng này do không thể nào bù lại chi phí đầu tư từ việc thu lệ phí sử dụng chúng Và cũng không có động lực nào ngăn việc mọi người sử dụng chúng
Tính không độc chiếm trong sử dụng :
Rất nhiều loại hàng hoá tài nguyên có đặc tính này
• Tại sao tính không độc chiếm trong sử dụng lại gây nên sự không hiệu quả trong sử dụng? Đây là tình trạng không ai có thể ngăn cản người khác sử dụng tài nguyên đó mà không phải trả tiền Khi mà không độc chiếm và loại trừ người khác không được sử dụng, thì không thể thu tiền cho việc sử dụng tài nguyên đó, dẫn đến tình trạng là tài nguyên đó không có giá và
do đó không có tác dụng khuyến khích việc quyết định về phân phối sử dụng tài nguyên một cách tối ưu
• Trong tường hợp hàng hoá TN TNMT thuộc loại hàng hoá có đặc tính không độc chiếm, không thể loại trừ ngưới khác sử dụng thì thông thường việc phân phối sử dụng tài nguyên đó sẽ dẫn đến kết quả là:
Trang 15- Mức cung sẽ quá thấp so với mức tối ưu yêu cầu (do không ai muốn đầu tư vào sản suất chúng
- Khai thác và sử dụng quá mứ so với mức sử dụng tối ưu
- Đầu tư quá thấp vào việc bảo tồn và quản lý tài nguyên TNMT
• Vậy nếu ta đã biết là tính không loại trừ (độc chiếm) dẫn đến việc sử dụng không có hiệu quả nguồn TN TNMT thì tại sao chúng ta vẫn để cho tình trạng này sảy ra?
Tính không loại trừ trong tiêu dùng
• Có những loại hàng hoá một khi đã sản xuất ra thì có cho mọi người sử dụng mà không có sự loại trừ trong tiêu dùng Sự tiêu dùng cuả một cá nhân không làm ảnh hưởng đế việc tiêu dùng hàng hoá đó cuả một cá nhân khác Do đó nhiều cá nhân vầ có thể tiêu dùng hàng hoá này mà không phải trả tiềân và người khác vẫn có thể hưởng thụ sau khi cá nhân khác đã tiêu dùng hàng hoá này
• Vdụ: xem cảnh qua đẹp, thăm một điạ điểm hấp dẫn
• Với hàng hoá không có cạnh tranh trong tiêu dùng thì chi phí cận biên cho sự tăng thêm một cá nhân người tiêu dùng nưã là bằng không Do đó khó áp dụng nguyên tắc tối ưu để quản lý và sử dụng chúng và do đó không khuyến khích các cá nhân đầu tư để bảo vệ và phát triển
c Quyền sở hữu (property rights)
• Để hoạt động hoàn hảo, thị trường cần phải được trợ giúp bằng các thể chế, đặc biệt là quyền sở hữu
• Nói chung, khi mà quyền sở hữu có đặc tính rõ ràng (clear), loại trừ (exclusive), bảo đảm (secure), thực thi (enforcable), và chuyển giao được (transferable) thì người sở hữu chúng mới có động cơ để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cuả họ
• Nếu một số các điều kiện trên bị thiếu mất đi thì động cơ này sẻ bị mất đi
d Sự sao nhãng và không chắc chắn (ignorance and uncertainty)
• Sự sao nhãng và không chắc chắn cũng làm cản trờ chức năng hoạt động cuả thị trường
• Chức năng cuả thị trường là đưa ra những thông tin báo hiệu về sự khan hiếm cuả TN TNMT
• Vấn đề là do các quá trình môi trường đã không được hiểu biết một cách đầy đủ và các thay đổi theo thời gian cuả môi trường có thể cũng không được nhận biết đấy đủ để định giá cho
Trang 16e Tầm nhìn ngắn hạn (short-sightedness)
• Tầm nhìn ngắn hạn làm trầm trọng thêm vấn đề huỷ hoại TN TNMT
• Đa số các cá nhân có tầm nhìn kế hoạch ngắn hạn theo nghiã họ chú ý nhiều đến vấn đề tài chính và mức sống xảy ra trong tương lai gần hơn là trong tương lai xa
• Chính quyền có khả năng có tầm nhìn dài hạn hơn nhưng nhiều khi cũng bị ảnh hưởng do nhiều yếu tố khác
• Kết quả cuả cách nhìn ngắn hạn là chi phí và cả lợi ích dài hạn thường bị triết khấu với mức triết khấu cao và các dự án về môi trường thường bị đánh giá thiên lệch
f Tính không thể đảo ngược (irreverible)
• Thị trường cũng sai sót khi các quá trình MTrường có tính không đảo ngược
• Khi tương lai không chắc chắn thì giá trị cuả việc để lại các phương án phát triển trong tương lai còn không rõ ràng
• Vdụ Xây đập thủy điện sẽ phá mất địa điểm có tính lịch sử, kiến trúc, cảnh quan sẽ bị mất- ->
do đó mất đi phương án sử dụng chúng trong trương lai Một khi đã xây dựng đập thủy điện thì điều này không đảo ngược lại được
• Thị trường đã sao nhãng giá trị lưạ chọn (option value) của TNTNMT khi đối với quyết định xây đập thuỷ điện
• XH càng phát triển thì giá trị lựa chọn (giá trị cho việc gìn giữ TN TNMT cho việc sử dụng trong tương lai) càng cao
2 SAI LẦM CUẢ CHÍNH PHỦ (hay CHÍNH PHỦ THẤT BẠI TRONG
VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NHƯ THẾ NÀO)
Tại sao chính phủ can thiệp:
• Những sai sót cuả thị trường cho thấy không thể dưạ hoàn toàn vào thị trường tự do để baỏ vệ TNTNMT Thị trường đã thất bại trong nhiều trường hợp do: không có thị trường tồn tại, không có hệ thống giá cả có hiệu quả cho các dịch vụ, hàng hoá TNTNMT, do ảnh hưởng ngoại tác, tự do tiếp cận đối với TN TNMT, …
• Do đó cần có sự can thiệp cuả chính phủ vào thị trường để bảo vệ những nạn nhân chịu ảnh hưởng ngoại tác này và để sưả chữa những sai sót của thị trường
• Chính quyền cũng cần can thiệp trong trường hợp TN TNMT bị tàn phá, huỷ hoại do không có ai là chủ thực sự TN TNMT này
• Chính phủ cần can thiệp để quản lý TN TNMT, đưa ra các quy định, định chế không cho phép sả chất thải vượt quá mức cho phép, không khai thác TN TNMT quá mức…
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp chính quyền cũng thất bại khi can thiệp do:
1 Ở một số quốc gia, chính quyền có thể chuyên chế và chỉ quan tâm đến quyền lợi cuả một nhóm người trong xã hội
2 Chính quyền không có đủ thông tin
Trang 173 Bộ máy chính quyền quan liêu, có ít động cơ rõ rệt để hành động vì lợi ích cuả cộng đồng
• Tại nhiều quốc gia, bản thân chính quyền chưa phải là người bảo vệ hoàn hảo lợi ích xã hội và nhiều trường hợp chính quyền có những tác động vào thị trường và còn làm cho vấn đề thêm trầm trọng
• Sai lầm không chỉ do sai lầm trong quá trình điều chỉnh những lệch lạc, thiên lệch cuả thị trường mà còn do việc đưa ra các chính sách, biện pháp mới, thay vì cải thiện những sai lệch cuả thị trường thì những biện pháp, chính sách này lại gây nên những lệch lạc mới trên thị trường hoặc làm cho trầm trọng thêm những lệch lạc hiện có
• Một số ví dụ về sai lầm trong chính sách:
- Thuỷ lợi phí quá thấp
- Trợ giá năng lượng
- Trợ giá thuốc BVTV
- Thuế khuyến khích & trợ cấp tín dụng cho phát triển ngành chăn thả gia súc
- Tệ quan liêu trong cấp quyền sử dụng đất
- Cải cách ruộng đất nưả vời, tạo nên sự không an toàn , chắc chắn về quyền sở hữu đất
- Thuế khai thác gổ thấp
- Quốc hữu hoá rừng mà không có biện pháp quản lý tốt
V KHÁI NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
• Phát triển bền vững: là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng cuả các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng những nhu cầu của họ
• Khi cuốn Tài nguyên chung của chúng ta do ủy ban Brundland xuất bản năm 1987, khái niệm phát triển bền vững trở thành tiêu điểm cho các cuộc thảo luận về môi trường và phát triển Khái niệm này đã được hiệp hội quốc tế về bảo tồn thiên nhiên đưa ra năm 1980 nhưng còn hạn bị giới hạn trong lãnh vực cuả các nhà bảo tồn thiên nhiên va do đó chỉ có ảnh hưởng rất hạn chế đến cách suy nghĩ cuả các chính quyền và các cơ quan tài trợ
• Khái niệm này xuất hiện khi vấn đề môi trường trở thành vấn đề hàng đầu cuả các cuộc bàn luận về chính trị
• Môi trường và phát triển kinh tế là hai mục tiêu có khả năng hoà hợp hay hỗ trợ cho nhau thông qua phát triển bền vững
• Có mối nguy hiểm là khái niệm phát triển bền vững có thể bị hiểu sai lệch Tuy nhiên, việc khẳng định có mối quan hệ tương hỗ giữa môi trường và phát triển kinh tế, ít nhất buộc các nhà làm chính sách phải tìm kiếm giải pháp hoà hợp thông qua việc thiết kế các dự án phát
Trang 18Phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế
• Chúng ta cần phân biệt rõ hai khái niệm này Phát triển có thể hiểu là một sự thay đổi/chuyển đổi dẫn đến một sự cải thiện hay tiến bộ Rõ ràng nó đòi hỏi phải có mội sự thay đổi hay chuyển đổi
• Một nền kinh tế làm tăng mức thu nhập (thực sự) trên một đầu người theo thời gian mà không trải qua quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và xã hội cuả nó thường khó được coi là đang phát triển
• Phát triển kinh tế nhằm đạt được một loạt các mục tiêu xã hội Do các mục tiêu này thay đổi theo thới gian, phát triển kinh tế cần phải hiểu là một quá trình Một xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thường trải qua những thay đổi sau:
• Tiến bộ trong hưởng thụ (Cải thiện trong thoả mãn, phúc lợi cuả các cá nhân trong xã hội) Một yết tố chính để cải thiện phúc lợi là cải thiện tăng thu nhập trên một đầu người Yếu tố khác cũng quan trọng trong việc cải thiện phúc lợi là chất lượng môi trường Phúc lợi cuả nhóm, khu vực bất lợi nhất trong xã hội cần phải được chú trong nhiều hơn trong xã hội dang phát triển Nếu phúc lợi chung cuả xã hội dược cải thiện nhưng trong khi đó phúc lợi cuả nhóm bị bất lợi nhất trong xã hội đó bị thiệt hại/giảm sút đi thì có thể nói là xã hội đó chưa phát triển
• Thay đổi tiến bộ trong đào tạo, sức khỏe và chất lượng sống nói chung Phát triển kinh tế bao gồm sự tiến bộ về kỹ năng, kiến thức, khả năng và sự lưạ chọn
• Tự tin và tự trọng và tăng tính độc lập
• Phát triển kinh tế bao hàm nghiã rộng hơn là tăng trưởng kinh tế
• Tăng trương kinh tế thường được coi là tăng thu nhập quốc dân trên đầu người (hay có khi là tăng mức tiêu dùng trên đầu người)
• Sự phân biệt giữa tăng trưởng và phát triển rất quan trọng để hiểu rõ sự khác biệt giưã phát triền kinh tế bền vững và tăng trưởng kinh tế bền vững Tất nhiên giưã chúng có mối liên hệ với nhau Một xã hội nếu không duy trì và cải thiện thu nhập trên đầu người thì khó có thể phát triển được Tuy nhiên nếu như nó đạt tăng trưởng kinh tế dưạ trên chi phí/phí tổn của các bộ phận chính trị , tầng lớp khác trong xã hội thì sự phát triển này đang gây nên tổn hại
Môi trường và phát triển
• Chất lượng môi trường và dịch vụ do môi trường thiên nhiên cung cấp rất quan trọng cho quản lý kinh tế vá kế hoạch phát triển Cần hiểu đầy đủ các chức năng của tài nguyên thiên nhiên và môi trường
• Các chức năng đó bao gồm:
• Aûnh hưởng trực tiếp làm tăng chât lượng cuộc sống (hưởng thụ cảnh quan đẹp, hoạt động giải trí…)
• Aûnh hưởng gián tiếp đối với chất lượng cuộc sống: ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn làm giản phúc lợi, ảnh hưởng đến sức khoẻ, giảm khả năng lao động và do đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế
• Aûnh hưởng trực tiếp vào thu nhập quốc dân: Chi phí bảo vệ môi trường,
Trang 19• Aûnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh tế: Cung cấp nguyên vật liệu, năng lượng sử dụng trong quá trình sản xuất – ví dụ than đá, dầu lưả, khí, khoáng sản, gỗ,…, hấp thụ chất thải
• Duy trì hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống cuả con người: chức năng bảo vệ nguồn nước, lọc sạch nước, tầng ô zôn bảo vệ con người khỏi tác hại cuả tia cực tím…
• Tóm lại, tài nguyên thiên nhiên môi trường có ba chức năng kinh tế chính: nó cung cấp sự hữu dụng trực tiếp cho con người, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho quá trình hoạt động kinh tế, và nó cung cấp dịch vụ hỗ trợ duy trì cuộc sống Ba chức năng này liên quan trực tiếp đến phát triển bền vững
Phát triển bền vững và vấn đề bình đẳng
• Vấn đề bình đẳng (trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ) cũng là vấn đề quan trọng cần giải quyết để đạt được phát triển bền vững
• Bình đẳng trong cùng một thế hệ: Bình đẳng giưã các cá nhân, nhóm trong một quốc gia, giưã các quốc gia trong môt thời điểm
• Bình đẳng giưã các thế hệ (liên thế hệ): Thoả mãn nhu cầu cuả thế hệ hiện tại mà không được làm mất đi khả năng cuả thế hệ mai sau nhằm thoả mãn nhu cầu cuả họ
- Phát triển bền vững cũng cần phân biệt khác với phát triển tối ưu Phát triển bền vững là một quá trình phát triển làm tăng một cách liên tục (hay ít nhất là duy trì) phúc lợi cuả con người theo thời gian
- Ta cũng cần hiểu thêm về khái niệm duy trì (survivability) là sự duy trì tồn tại mức sống tối thiểu tức mức dưới đó xã hội không tồn tại được
- Đường phát triển tối ưu có thể không phải là đường phát triển bền vững hoặc đường duy trì mức sống tối thiểu và đường phát triển bền vững cũng có thể không phải là dường tối ưu
- Minh hoạ: Đường phát triển tối ưu, bền vững, và duy trì
Phúc lợi xã hội
W
Wmin
0 Thời gian (t)
Trang 20a) Đường phát triển có thể là tối ưu nhưng không bền vững và không duy trì
Phúc lợi xã hội
W
Wmin
0 Thời gian (t)
b) Đường phát triển có thể tối ưu nhưng không bền vững măc dầu nó có thể duy trì.cuộc sống
Phúc lợi xã hội
W
Wmin
0 Thời gian (t)
c) Đường phát triển có thể không tối ưu nhưng bền vững và duy trì cuộc sống
• Đền bù giưã các thế hệ:
• Đền bù giưã các thế hệ như thế nào?
• Có thể có hai cách: tạo nên quỹ liên thế hệ và bảo tồn lượng tư bản không suy giảm
• Quỹ liên thế hệ: Để đảm bảo thế hệ trong tương lai không bị thiệt hại/kém đi cần phải có một cơ chế cho việc chuyển giao tài nguyên cho thế hệ tương lai Một cơ chế chuyển dịch có thể là bằng tiền mặt Có thể dùng trong phân tích chi phí lợi ích trong các dự án trong đó mỗi dự án phải tính thêm phần tiền để dền bù cho thế hệ trong tương lai Tuy nhiên do sự không chắc chắn trong vấn đề ảnh hưởng liên thế hệ nên cách này ít có ý nghiã trong thực tế
• Bảo tồn lượng tư bản không suy giảm:
Chúng ta có nhiều loại tư bản như:
- Tư bản nhân tạo (Km): Máy móc thiết bị, nhà xưởng, xí nghiệp, dường xá, cơ sở hạ tầng…
Trang 21- Tư bản nhân lực (Kh): vốn kiến thức, kỹ năng cuả con người
- Tư bản tự nhiêm (Kn): tài nguyên đất, rừng, nước, thuỷ sản, khóang sản, khả năng hấp thụ chất thải cuả môi trường…
- Do đó tổng vốn tư bản (K) sẽ là:
K = Km + Kh + Kn (để đơn giản, có thể gộp Km và Kh)
Ngay tư bản tự nhiên cũng có thể phân ra nhiềi loại
K = (Km + Kh) + Kn + Kn*
Kn* : lại tư bản tự nhiên thiết yếu cho cuộc sống cuả con người, rất khó hoăïc không thể thay thế bằng tư bản nhân tạo đươdc
Kn: loại tư bản tự nhiên có thể thay thế bằng tư bản nhân tạo
- Sự bền vững thấp: để lại cho thế hệ mai sau tổng lượng tư bản không ít hơn lượng
tư bản hiện có nhưng bằng cách bồi hoàn những giảm sút về tài nguyên TNMT bằng tư bản nhân tạo (dực trên giả thiết cứng nhắc là có khả năng thay thế hoàn toàn giữa các dạng tư bản) Thay tư bản tự nhiên mất đi bằng tư bản nhân tạo tăng thêm Ví dụ diện tích rừng ít đi, môi trường xấu hơn, thay vào đó bằng hệ thống đường xá, công trình kiến trúc, máy móc công nghệ… tăng thêm)
- Sự bền vững cao: không chấp nhận giả thiết là có khả năng thay thế hoàn toàn giữa các dạng tư bản Một số chức năng và dịch vụ cuả hệ sinh thái rất thiết yếu đối với sự sinh tồn của con người do đó không thể thay thế bằng tư bản nhân tạo được Ví dụ môi trường nước, không khí, tầng Oâzôn… Quy luật bền vững cao đòi hỏi ohải bảo vệ chúng
Nhìn chung khái niệm phát triển bền vững bao hàm 3 quan điểm chính về kinh tế, xã hội và sinh thái
- Theo từng cách tiếp cận riêng rẽ ta có:
- Kinh tế: cách tiếp cận kinh tế về bền vững dựa trên cơ sở khái niệm cuả Hicks-Linhda về tối đa luồng thu nhập có thể tạo ra được trong khi vẫn đảm bảo ít nhất là giữ nguyên trữ lượng tư bản (tự nhiên và nhân tạo) cần đề tạo nên những thu nhập đó
- Sinh thái: quan điểm sinh thái về phát triên bền vững tập trung vào sự bền vững của hệ thống sinh học và vật chất
- Văn hóa xã hội: khái niệm bền vững về văn hóa xã hội là tìm kiếm và duy trì sự bền vững cuả các hệ thống xã hội và văn hóa, kể cả việc giảm và loại trừ các mâu thuẫn Chú trọng cả hai vấn đề: bình đẳng trong cùng một thế hệ (nhất là loại trừ nghèo đói) và bình đẳng giưã các thế hệ (bao gồm quyền cuả các thế hệ tương lai)
- Để đạt được phát triển bền vững cần phải có sự cân bằng giưã môi trường, xã hội, phát triển kinh tế, cũng như các lợi ích cuả thế hệ hiện tại và tương lai
Trang 22Để đạt được phát triển bền vững cần phải kết hợp 3 mục tiêu chính trên:
Mục tiêu kinh tế (hiệu quả/tăng trưởng kinh tế)
- phân phối thu nhập - đánh giá tác động môi trường
- tạo việc làm - Định giá môi trường
- trợ giúp các nhóm mục tiêu - Nội hóa ảnh hưởng ngoại vi
Mục tiêu xã hội - sự tham gia cuả cộng đồng Mục tiêu sinh thái
(nghèo đói/bình đẳng) - tư vấn MT (bảo vệ TNTNMT)
- đa thành phần trong quản lý TNTNMT
Những nguyên tắc hoạt động cho sự phát triển bền vững:
a Điều chỉnh những sai sót cuả thị trường và những thất bại do sự can thiệp cuả chính quyền liên quan đến giá cuả tài nguyên thiên nhiên và quyền sỡ hữu
b Duy trì năng lực tái sinh cuả tái nguyên thiên nhiên có khả năng tái sinh, tránh ô nhiễm quá mức làm đe dọa khả năng hấp thụ chất thải của môi trường và các hệ thống TNTN bảo vệ cuộc sống của con người
c Điều phối, khuyến khích thay đổi côngnghệ theo hướng từ sử dụng các tài nguyên không tái sinh sang sử dụng tài nguyên có thể tái sinh, gia tăng hiệu quảcuả các công nghệ chế biến
d Khai thác tài nguyên có thể tái sinh ở mức bằng với tốc độ tái tạo hay thay thế cuả nguồn tài nguyên đó
e Tổng quy mô các hoạt động kinh tế phải nằm trong giới hạn mà tài nguyên thiên nhiên MT có thể gánh vác được
Trang 23CHƯƠNG II MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ KINH TẾ PHÚC LỢI
1 Khái niệm về tối ưu Pareto
1.1 Hiệu quả và phúc lợi kinh tế: (Tại sao lại quan tâm đến Tối ưu Pareto)
Mục đích của kinh tế phúc lợi là đánh giá sự mong muốn cuả xã hội đối với các trạng thái kinh tế khác nhau Một trạng thái kinh tế thể hiện một sự xắp xếp các hoạt động kinh tế và phân phối tài nguyên trong nền kinh tế Mỗi trạng thái được đặc trưng bởi một sự phân phối tài nguyên khác nhau và một sự phân phối các mức lợi khác nhau đối với các hoạt động kinh tế
Các biện pháp chính sách thường được áp dụng để thay đổi các trạng thái kinh tế (hay hiện trạng kinh tế) Vấn đề quan trọng la øcần phải biết rõ là trong các trường hợp này, liệu sự thay đổi đó là mong muốn đối với xã hội hay không
Phúc lợi cuả một xã hội nói chung phụ thuộc vào các mức độ thỏa mãn cuả người tiêu dùng Tuy nhiên đa số các biện pháp, chính sách áp dụng sẽ có những ảnh hưởng có lợi đối với một số cá nhân, nhóm cá nhân trong xã hội nhưng cũng gây ra những ảnh hưởng bất lợi đối với một số cá nhân, nhóm cá nhân khác
Để giúp cho sự lựa chọn các biện pháp, chính sách một các có hiệu quả và có được sự thay đổi mong muốn, cần thiết phải xây dựng các chỉ tiêu thông qua đó để đánh giá hiện trạng và đánh giá các giải pháp được đưa ra để thay đổi
Rõ ràng là cần có khái niệm rõ ràng về thế nào là tốt (hay trạng thái tốt) để có thể xác định được cái gì chưa tốt và cái gì là một sự cải thiện thật sự Do đó người ta đưa ra khái niệm tối ưu Pareto (Pareto efficiency)
1.2 Thế nào là tối ưu Pareto
Trong kinh tế, một sự phân phối thể hiện thông qua các mức tiêu dùng cuả mỗi cá nhân trong xã hội và các mức sản lượng cuả mỗi người sản xuất
Tối ưu Pareto cho ta một định nghiã về hiệu quả kinh tế cuả việc phân phối tài nguyên một cách có hiệu quả trong xã hội và là cơ sở cuả kinh tế phúc lợi (Wefare economics)
Một sự phân bố được gọi là tối ưu Pareto nếu không thể nào có thể xắp xếp lại sản xuất và tiêu dùng để có thể làm tăng mức hữu dụng cuả một hay nhiều cá nhân trong xã hội mà không hề làm giảm mức hữu dụng cuả bất kỳ một cá nhân nào khác
Do đó nếu một sự phân phối nào đó trong xã hội vẫn có thể được thay đổi để có thể làm tăng mức hữu dụng (hay phúc lợi) cuả bất kỳ một cá nhân nào đó thì sự phân bố đó được coi là chưa tối ưu Pareto
Cần lưu ý là chỉ tiêu tối ưu Pareto cũng có mặt hạn chế là: Phúc lợi cuả xã hội là một khái niệm tổng hợp Tối ưu Pareto thể hiện tích hiệu quả, bao gồm hiệu quả trong
Trang 24sản xuất, trong thương mại và tiêu dùng Chỉ riêng chỉ tiêu hiệu quả kinh tế không thôi vẫn chưa đủ để đảm bảo tối đa hoá phúc lợi cuả xã hội do khái niệm hiệu quả kinh tế chưa thể hiện được vấn đề trong phân phối lợi ích của các hoạt động kinh tế đó là vấn đề ai nhận được cái gì
2 Các điều kiện để đạt được tối ưu Pareto
2.1 Tối ưu Pareto trong sản xuất (Pareto efficiency in production)
Giả sử :
- Có hai loại sản phẩm q1, q2 (ví dụ luá và bắp) sẽ được sản xuất thông qua sử dụng hai loại vật tư là lao động (L) và vốn (K)
- Lượng đầu vào L và K là cố định: L=L0 ; K=K0
- Mỗi sản phẩm này được sản xuất với công nghệ sản xuất riêng thể hiện qua hàm sản xuất cuả q1 và q2 (hàm sản xuất luá và bắp)
- Tương ứng với hàm sản xuất ta có các bản đồ đồng lượng (iso maps) từ các đường đồng lượng (Iso quant)
Đường đồng luợng (Iso quant): là đường biểu thị tất cả những cách thức kết hợp các yếu tố đầu vào để sản xuất ra cùng một lượng sản phẩm đầu ra
- Để sản xuất ra cùng một mức sản lượng q1 cố định ta có thể kết hợp các yếu tố sản xuất L và K bằng nhiều cách thức khác nhau (ví dụ LA,KA ; LB,KB ) Ngoài ra còn có vô số các tổ hợp khác nhau giữa L và K để sản xuất ra cùng một lượng sản phẩm q1
- Đường cong nối tất cả các điểm thể hiện các tổ hợp này gọi là đường cong đồng lượng (Isoquant)
K
Trang 25Bản đồ đồng lượng:
- Tập hợp tất cả các đường cong đồng lượng (các đường cong đồng lượng, mỗi cái thể hiện các cách thức kết hợp các yếu tố sản xuất để sản xuất một mức sản lượng nào đó) cho ta một bản đồ đồng lượng
Tạo lập khung Edgeworth:
- Trước hết ta xây dựng một bản đồ đồng lượng cho luá và một cho ngô Sau đó lấy bản đồ đồng lượng cho ngô và xoay nó 1800 sao cho điểm gốc đồ thị nằmphía trên
- Với số lượng lao động (L) và vốn (K) cố định, nếu muốn sản xuất nhiều lúa hơn thì lượng ngô sản xuất ra sẽ bị giảm đi Trong hình: khi di chuyển lên hướng Đông Bắc (phía phải lên trên) trong ô, lượng luá sản xuất tăng trong khi đó lượng ngô giảm
đi Ngược lại nếu chuyển dịch xuống phía Tây Nam (phía phải bên dưới) thì lượng ngô sản xuất ra tăng lên và luá giảm đi
- Trong hình có vô số các đường đồng lượng cuả luá và ngô và các đường đồng lượng cuả luá và ngô có những điểm tiếp giáp với nhau
Hình 3 khung Edgeworth trong sản xuất
Đường cong thể hiện hiệu quả trong sản xuất (production efficiency locus)
Trang 26- Đường sản xuất hiệu quả là đường tập hợp tất cả các điểm thể hiện mọi phương thức kết hợp giữa các vật tư đầu vào (L và K) để sản xuất một cách có hiệu quả sản phẩm đầu ra q1 (Lúa) và q2 (ngô) Đó chính là tập hợp toàn bộ các điểm tiếp giáp cuả các đường đồng lượng cuả lúa và ngô Tại mỗi điểm tiếp giáp giữa các đường đồng lượng này, độ dốc cuả đường đồng lượng của luá phải bằng độ dốc cuả đường đồng lượng cuả ngô Độ dốc này chính bằng hệ số thay thế cận biên cuả lao động (L) và vốn (K)
- Tại mỗi điểm trên đường cong này (đường thể hiện phương thức sản xuất có hiệïu quả), ta có:
Hệ số thay thế cận biên (Marginal Rate of Substitution - MRS) cuả L và K phải bằng nhau trong sản xuất mỗi sản phẩm q1 (Luá) và q2 (ngô)
2.2 Tối ưu Pareto trong tiêu dùng
Rõ ràng là không thể đánh giá đầy đủ về tính hiệu quả chung nếu chỉ dựa vào những thông tin trong sản xuất mà còn cần có thông tin về hiệu quả trong tiêu dùng Một sự phân phối hàng hoá trong tiêu dùng được gọi là tối ưu Pareto nếu như không thể có cách nào khác để phân phối lại hàng hoá tiêu dùng này để làm tăng mức hữu dụng (phúc lợi) một hay nhiều cá nhân mà không hề làm giảm phúc lợi cuả ít nhất là một cá nhân khác (Hay nói cách khác một sự phân phối hàng hoá trong tiêu dùng được gọi là tối ưu Pareto nếu như tất cả mọi cách nào khác nhằm phân phối lại hàng hoá tiêu dùng để làm tăng mức hữu dụng (phúc lợi) cho một hay nhiều cá nhân sẽ làm giảm phúc lợi cuả ít nhất là một cá nhân khác
Mỗi một điểm trên dường cong sản xuất hiệu quả (production efficient locus) cũng đồng thời xác định các mức sản lượng tối ưu giữa lúa và ngô tương ứng được sản xuất
ra, do đó từ đường này ta có thể chuyển đổi thành mối tương quan giữa các sản phẩm đầu ra.Từ đường cong thể hiện tập hợp các điểm sản xuất có hiệu quả (Production efficient locus) ta có thể xây dựng một đường cong thể hiện tập hợp các mức sản lượng hiệu quả có thể có (Efficient production possibility curve)
Luá
d
qd 1
Đường cong các mức sản xuất hiệu quả có thể có được
Trang 27Điển d trên đường cong này cho biết tập hợp các mức sản lượng qd
1,qd
2 là mức sản lượng đượcsản xuất hiệu quả
Giả sử có hai cá nhân A và B lựa chọn tiêu dùng mức sản lượng qd
1,qd
2 cố định này Các cá nhân này có các bản đồ đường bàng quan (Indiferent map) khác nhau:
Đường bàng quan (indifferent curve):
Đường này thể hiện những tập hợp khác nhau giữa hai loại hàng hoá mà người tiêu dùng bàng quan
Hình 5 Đường cong bàng quan
- Người tiêu dùng bàng quan đối với các tập hợp (qd
Bản đồ bàng quan: Tập hợp tất cả các đường bàng quan cuả một cá nhân ta có bản đồ
bàng quan cuả cá nhân đó
Trang 28Tạo lập khung Edgeworth cho tiêu dùng:
Hai cá nhân A và B lựa chọn tiêu dùng mức sản lượng cố định: qd
1,qd
2 Từ các bản đồ đường bàng quan (Indiferent map) cuả hai cá nhân này và mức sản lượng cố định
qd
1,qd
2 ta có thể xây dựng khung Edgeworth bằng cách cho bản đồ bàng quan cuả cá nhân B quay 1800 lên phí trên Khung này có dạng hình chữ nhật và được giới hạn bởi mức sản lượng cố định trên
Ngô (cá nhân B) 0 (Cá nhân B)
qd 1
Đường cong hiệu quả trong tiêu dùng (hoặc đường hợp đồng)
Cá nhân A Cá nhân B
Mỗi một điểm trong khung này thể hiện một mức phân bổ Lúa và Ngô cho hai cá nhân A và B và mức hữu dụng mà hai cá nhân này có được
Trong hình có vô số các đường bàng quan đối với cá nhân A và B và có các đường bàng quan tiếp giáp với nhau
Đường cong thể hiện hiệu quả trong tiêu dùng (Consumption efficiency locus)
Còn gọi là đường hợp đồng (Contract curve)
Đường cong hiệu quả trong tiêu dùng là đường nối tất cả các điểm tiếp tuyến giữa đường cong bàng quan cuả cá nhân A và đường cong bàng quan cuả cá nhân B Đường cong hiệu quả trong tiêu dùng là tập hợp tất cả các điểm thể hiện mọi cách phân phối sản phẩm (v.d Lúa và Ngô) một cách có hiệu quả trong tiêu dùng
Nếu chọn ngẫu nhiên bất kỳ một cách phân phối sản phẩn tiêu dùng từ một điểm trên đường cong này thì dường cong hiệu quả trong tiêu dùng thể hiện tập hợp các cách phân bố sản phẩm tiêu dùng có tiềm năng hiệu quả
Tại mỗi điểm tiếp giáp giữa các đường bàng quan này, độ dốc cuả đường cong bàng quan cuả cá nhân A phải bằng độ dốc cuả đường cong bàng quan của cá nhân B
Độ dốc này chính bằng hệ số thay thế cận biên giữa hai sản phẩm tiêu dùng (MRCS -
Marginal Rate of Commodity substitution), trong ví dụ là giữa Lúa và Ngô
Trang 29Tại mỗi điểm trên đường cong này ta có: Hệ số thay thế cận biên giữa hai sản phẩm (Lúa Và Ngô) đối với cá nhân A và đối với cá nhân B phải bằng nhau
Đường cong các mức hữu dụng có thể đạt được (Utility possibility curve)
Từ đường cong hiệu quả trong tiêu dùng (Consumption efficiency locus) hay còn gọi là đường hợp đồng (Contract curve) ta có thể xác định được các mức hữu dụng đối với cá nhân A và B (tương ứng với các mức cuả đường cong bàng quan và từ các mức hữu dụng này ta có thể xây dựng đường cong thể hiện các mức hữu dụng có thể đạt được trong tiêu dùng (thể hiện sự tiêu dùng có hiệu quả) đối với cá nhân A và B
U B B
Đường cong các mức hữu
dụng có thể đạt được (thể hiện tiêu dùng có hiệu quả)
Mức hữu dụng của cá nhân B
0 Mức hữu dụng của cá nhân A U A
Hình 8 Đường cong các mức hữu dụng có thể đạt được
Mọi sự chuyển dịch dọc theo đường cong này sẽ bao gồm một sự gia tăng mức hữu dụng đối với một cá nhân này nhưng lại là phí tổn đối với cá nhân kia (do mức hữu dụng có được cuả anh ta bị giảm đi)
Đường biên các mức hữu dụng lớn nhất (Grand utility frontier)
Đối với mỗi một tập hợp các sản phẩm (q1, q2) từ đường cong thể hiện hiệu quả trong sản xuất có thể có được (efficient production possibility curve-hình 4) ta sẽ có một đường cong thể hiện tập hợp các mức tiêu dùng có hiệu quả (như hình 7) và xây dựng được một đường cong các mức hữu dụng có thể đạt được - Utility possibility curve (như hình 8)
Nếu lấy tất cả các tập hợp (các điểm) nằm trên đường cong thể hiện các mức sản xuất có thể hiệu quả (hình 4) và xây dựng các đường cong thể hiện các mức hữu dụng có thể đạt được ta sẽ có vô số các đường cong thể hiện các mức hữu dụng có thể đạt được
Trang 30Nếu nối tất cả các đoạn nằm ngoài cùng cuả tất cả các đường đường cong thể hiện các mức hữu dụng có thể đạt được đó lại, ta sẽ có một đường biên bên ngoài tất cả các
đường cong hữu dụng đó Đường cong này gọi là đường biên các mức hữu dụng lớn
nhất (Grand utility frontier)
Tại bất kỳ một điểm nào trên đường biên các mức hữu dụng lớn nhất (Grand utility frontier) - giả sử điểm này thể hiện một trạng thái cuả một nền kinh tế - ta thấy có đặc tính sau: Không thể có cách nào để có thể điều chỉnh nền kinh tế (dạng đơn giản này) để làm cho một cá nhân được cải thiện (tốt hơn/tăng mức hữu dụng lên) mà đồng thời lại không làm cho bất kỳ một cá nhân nào khác bị kém đi (mức hữu dụng giảm đi) - tức là đã đạt được tối ưu Pareto
U B B
Đường biên các mức hữu dụng
lớn nhất (Grand utility frontier)
Mức hữu dụng của cá nhân B
Các đường cong các mức hữu dụng có thể đạt được
0 Mức hữu dụng của cá nhân A U A
Hình 9 Đường biên các mức hữu dụng lớn nhất
Tất cả mọi điểm trên đường biên các mức hữu dụng lớn nhất (Grand utility frontier) đều có đặc tính là đạt được mức tối ưu Pareto
3 Các điều kiện cần thiết để đạt tối ưu Pareto
Có ba điều kiện cần thiết để đạt đượctối ưu Pareto, đó là phải đạt được:
- Phân bố tài nguyên trong sản xuât có hiệu quả
- Chọn tỷ lệ sản phẩm sản xuất có hiệu quả
- Tiêu dùng sản phẩm có hiệu quả
3.1 Phân bố tài nguyên trong sản xuât có hiệu quả
(Efficient in Resource Allocation)
Để đạt được hiệu quả trong phân bố tài nguyên (vật tư) trong sản xuất đòi hỏi các
tài nguyên phải được phân bố sao cho hệ số thay thế kỹ thuật cận biên (Marginal Rate
of Technical Substitution) cuả bất kỳ hai loại vật tư đầu vào phải bằng nhau đối với tất
Trang 31cả các xí nghiệp trong việc sản xuất các sản phẩm có sử dụng các loại vật tư đó và phải bằng tỷ lệ giá cuả các loại vật tư này
- Giả sử: với một lượng lao động (L) và vốn (K) cố định dùng để sàn xuất lúa và ngô
L: Lao động K: Vốn
q1: Lượng lúa sản xuất
q2: Lượng ngô sản xuất
PL: Giá lao động (tiền công)
PK: Giá cuả K (lãi xuất) MRTSq1
LK: Hệ số thay thế kỹ thuật cận biên giữa L và K trong sản xuất lúa
3.1.1 Chọn tỷ lệ sản phẩm sản xuất có hiệu quả (Efficient Product Mix)
Tỷ lệ sản phẩm sản suất phải được xác định sao cho hệ số biến đổi cận biên giữa các sản phẩm (Marginal Rate of Product transformation) của bất kỳ hai loại sản phẩm nào đó phải bằng nhau đối với mổi xí nghiệp sản xuất sản phẩm đó và phải bằng tỷ lệ giá cuả hai sản phẩm này
- Ví dụ: hai xí nghiệp 1 và 2 sản xuất hai loại sản phẩm q1, q2
q1: Lượng lúa được sản xuất
q2: Lượng ngô được sản xuất
Plúa: Giá lúa
Pngô: Giá ngô MRPTxínghiệp1
q1,q2: Hệ số biến đổi cận biên giữa sản phẩm q1 và q2
3.3 Tiêu dùng sản phẩm có hiệu quả
Để đạt được hiệu quả trong tiêu dùng cần phân phối các sản phẩm tiêu dùng cho các cá nhân sao cho hệ số thay thế cận biên sản phẩm tiêu dùng (Marginal Rate of commodity Substitution) đối với bất kỳ hai loại sản phẩm nào đó phải bằng nhau đối với mỗi người tiêu dùng và phải bằng tỷ lệ giá cuả hai sản phẩm này
- Ví dụ: q1: Lượng lúa; q2: Lượng ngô
Được phân phối tiêu dùng cho cá nhân A và B
Trang 32q1,q2: Hệ số hệ số thay thế cận biên giữa sản phẩm tiêu dùng
q1 và q2 (lúavà ngô) đối với cá nhân A
MRCSB
q1,q2: Hệ số hệ số thay thế cận biên giữa sản phẩm tiêu dùng
q1 và q2 (lúavà ngô) đối với cá nhân B
Lượng sản phẩm q1 và q2 cần được phân phối trongtiêu dùng sao cho:
MRCSA
q1,q2 = … = MRPTxínghiệp1
q1,q2 = … = (P1/P2â)
P1, p2 : giá của sản phẩm q1 và q2
4 Cải thiện Pareto (Pareto improvement)
Chỉ tiêu cải thiện Pareto (còn gọi là an toàn Pareto - Pareto safety) là một sự cải thiện trong đó bất kỳ một sự thay đổi nào làm tăng phúc lợi (hay thu nhập) cuả ít nhất là một cá nhân mà không làm cho phúc lợi (hay thu nhập) của bất kỳ một cá nhân nào khác bị giảm đi
- Ví dụ một nền kinh tế đơn giản đang ở vị trí điểm A là điểm chưa đạt được hiệu quả tối ưu Pareto
U B B a'
I Đường biên các mức hữu dụng
lớn nhất (Grand utility frontier)
Mức hữu dụng Vùng cải thiện Pareto của cá nhân B
A a''
_C
0 Mức hữu dụng của cá nhân A U A
Hình 10 Vùng cải thiện Pareto
Trang 33Bất kỳ chính sách/giải pháp nào có tác động làm chuyển dịch nền kinh tế này từ
điểm A đến bất kỳ một điểm nào nằm trên đoạn cung a'a'' sẽ tạo ra một sự cải thiện
Pareto (Pareto improvement) Những chính sách làm chuyển dịch nền kinh tế này đến
một điểm nằm ngoài đoạn cung a'a'' này đều không cho được một sự cải thiện Pareto
Ví dụ nếu chuyển dịch đến điểm B, phúc lợi cuả cá nhân A tăng lên nhưng phúc lợi cuả cá nhân B sẽ bị giảm đi Nếu đến điểm B, phúc lợi cuả cá nhân B tăng thêm nhưng phúc lợi của cá nhân A giảm đi
5 Cải thiện Pareto tiềm năng (potential Pareto improvement)
Một số nhà kinh tế cho rằng nếu áp dụng tiêu chuẩn cải thiện Pareto (Pareto improvement) thì sẽ có rất ít các dự án, chính sách có thể thoả mãn được tiêu chuẩn này Họ đề nghị mở rộng tiêu chuẩn này thông qua đền bù Ý tưởng là áp dụng nguyên tắc đền bù sẽ tạo ra cải thiện Pareto tiềm năng
Cải thiện Pareto tiềm năng (Potential Pareto Improvement): Bắt đầu từ trạng
thái A, ta có thể áp dụng một chính sách làm thay đổi từ trạng thái A sang trạng thái A''' sao cho những cá nhân có lợi thu được (do sự thay đổi này) có khả năng đền bù cho những người bị thiệt hại mà vẫn còn lại một phần lợi Sự thay đổi từ trạng thái A sang A''' gọi là cải thiện Pareto tiềm năng
Nếu như có sự đền bù thực sự diễn ra, ta có một sự cải thiện Pareto thực sự
(Actual Pareto Improvement) Nếu không có sự đền bù diễn ra, tiêu chuẩn cải thiện
Pareto tiềm năng sẽ là tổng lợi ích thu được phải lớn hơn tổng số thiệt hại gây ra Điều này đạt được nếu tổng lợi ích (Bi) lớn hơn tổng chi phí (Ci):
(Bi Ci)
i
− >
Do các chi phí và lợi ích xảy ra tại các thời điển khác nhau, trong phân tích lợi
ích chi phí, tất cả các chi phí và lợi ích đều được tính chiết khấu (discount) theo thời
gian làm cho chúng tương thích với nhau Đây chính là cơ sở cuả các phân tích lợi ích chi phí được áp dụng trong các phân tích kinh tế
6 Hàm phúc lợi xã hội (Social welfare function)
Để xác định mức phân bổ tài nguyên tối ưu đối với xã hội, một số nhà kinh tế đã đưa ra mội loại hàm phúc lợi xã hội như sau:
W = W (U1, U2, U3, Un)
W = mức phúc lợi của xã hội,
U1, U2, U3, Un = Mức hữu dụng của các cá nhân trong xã hội
Trang 34cách tổng the,å
2 Responsiveness to individual preferences -Thể hiện tính phản hồi đối với sở thích của các cá nhân trong xã hội,
3 Nonimposition - có tính không nghịch đảo,
4 Nondictatorship - có tính không áp đặt,
5 Independence of irrelevant alternatives - tính độc lập của các lựa chọn Tuy nhiên không có một hàm phúc lợi xã hội nào thoả mãn các tiên đề trên
Trang 35
CHƯƠNG III PHÂN TÍCH CHI PHÍ LỢI ÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ TNTNMT
I PHÂN TÍCH CHI PHÍ LỢI ÍCH VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
1 Quá trình ra quyết định và cân nhắc về môi trường
Trong các phân tích kinh tế cũ, giá trị các tư bản tự nhiên và chi phí thiệt hại môi trường thường không được đánh giá một cách đầy đủ Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, chúng ta cầân phải kết hợp các mối quan tâm về môi trường vào trong phân tích kinh tế Việc đánh giá các giá trị kinh tế cuả tài nguyên thiên nhiên và tác độn g môi trường sẽ giúp chúng ta đưa những mối quan tâm về tài nguyên thiên nhiên môi trường vào trong quá trình ra các quyết định kinh tế thông thường
Về mặt lý tưởng, phân tích và đánh giá giá trị tài nguyên thiên nhiên môi trường cần phải được lồng ghép vào trong quá trình lập kế hoạch và quá trình đề xuất quyết định ở tất cả các cấp (mức độ dự án, mức độ nghành, vùng, quốc gia và cảø mức độ quốc tế) Tuy nhiên mức độ cơ bản nhất để lồng ghép những cân nhắc về tài
nguyên thiên nhiên môi trường vào trong các quyết định về kinh tế là mức độ dự án Việc ước lượng chính xác hơn giá trị kinh tế cuả sự huỷ hoại TNTNMT sẽ giúp cho việc đề xuất các quyết định, thiết kế các dự án, xây dựng các chính sách được tốt hơn nhằm đạt được những quyết định đầu tư đúng đắn, ít có hại cho môi trường và nền kinh tế nói chung
Bằng cách sử dụng giá phản ánh chi phí cơ hội cuả việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm và thông qua sử dụng phương pháp đánh giá giá trị kinh tế các tác động đối với môi trường (kể cả chi phí và lợi ích), vấn đề môi trường có thể được đưa vào trong các phân tích chi phí lợi ích (Benefit Cost Analysis – BCA) Điều này giúp cho việc thiết kế xây dựng các dự án nhằm giảm tác động xấu đến môi trường vàthúc đẩy quá trình phát triển theo hướng bền vững hơn Trong quá trình xây dựng và phân tích các chính sách, những tác động trực tiếp và gián tiếp cuả các chính sách đối với môi trường cũng cần được xác định và định lượng
2 Khái niệm về phân tích chi phí lợi ích (BCA)
Con người thường đưa ra các quyết định trên cơ sở cân nhắc giữa chi phí (thiệt hại) phải chịu và lợi ích thu được
Phân tích chi phí lợi ích được áp dụng rộng rãi trong các quyết định về dự án đầu tư, đánh giá các chính sách, lựa chọn các quyết định Phân tích chi phí lợi ích là một phương pháp có hệ thống để xác định và đo các lợi ích kinh tế và các chi phí của một quyết định trong đời sống kinh tế, các dự án, chương trình, chính sách Nó là một công cụ để đề xuất các quyết định, cân nhắc các dự án, chính sách… trên cơ sở so sánh giữa các chi phí và lợi ích
Trang 36Cơ sở lý thuyết cuả phân tích chi phí lợi ích: dựa trên cơ sở khái niệm cải thiện
Pareto tiềm năng (Potential Pareto Improvement)
Khái niệm cải thiện Pareto: Cải thiện Pareto là một sự cải thiện trong đó bất
kỳ sự thay đổi nào cũng sẽ làm tăng thu nhập (phúc lợi) của ít nhất là một cá nhân trong xã hội mà không hề làm giảm (mất đi) thu nhập hay phúc lợi của bất kỳ một cá nhân nào khác
Một số nhà kinh tế cho rằng nếu áp dụng tiêu chuẩn cải thiện Pareto (Pareto improvement) thì sẽ có rất ít các dự án, chính sách thoả mãn được tiêu chuẩn này Họ đề nghị mở rộng tiêu chuẩn này thông qua đền bù Ý tưởng là áp dụng nguyên tắc đền bù sẽ tạo ra cải thiện Pareto tiềm năng
Cải thiện Pareto tiềm năng (Potential Pareto Improvement): Bắt đầu từ trạng thái A, ta có thể áp dụng một chính sách làm thay đổi từ trạng thái A sang trạng thái A’ sao cho những cá nhân có lợi thu được (do sự thay đổi này) có khả năng đền bù cho những người bị thiệt hại mà vẫn còn lại một phần lợi Sự thay đổi từ trạng thái A sang
Á gọi là cải thiện Pareto tiềm năng
Nếu có sự đền bù thực sự diễn ra, ta có một sự cải thiện Pareto thực sự (Actual Pareto Improvement) Nếu không có sự đền bù diễn ra, tiêu chuẩn cải thiện Pareto tiềm năng sẽ là tổng lợi ích thu được phải lớn hơn tổng số thiệt hại gây ra Điều này đạt được nếu tổng lợi ích (Bi) lớn hơn tổng chi phí (Ci):
3 Phương pháp phân tích chi phí lợi ích (Benefit Cost Analysis)
- Xác định tất cả các chi phí và lợi ích liên quan
- Trước hết xác định phạm vi (khu vực) để đánh giá chi phí lợi ích
- Xác định rõ ràng cái gì thuộc về chi phí, cái gì thuộc về lợi ích, nhất là các loại chi phí và lợi ích liên quan đến việc sử dụng TNTNMT
- Xác định trường hợp có và không có dự án, chính sách (With and Without)
- Phân biệt rõ ràng giữa chi phí, lợi ích thực sự và những ảnh hưởng chỉ có tính chất chuyên đổi
- Thể hiện tất cả các chi phí và lợi ích trên cùng một thước đo (đó là giá trị bằng tiền tệ) Có ba khả năng xảy ra:
a Giá cả thị trường có tồn tại cho các sản phẩm đầu ra (outputs) và đầu vào (inputs) và giá này phản ánh chính xác giá trị cuả xã hội hiện tại
b Giá cả thị trường có tồn tại nhưng lại không phản ánh đúng giá trị hiện tại cuả xã hội (VD do trợ giá, thuế…) Giá này cần được điều chỉnh qua giá mờ (shadow price) để phản ánh đúng giá trị xã hội
c Trường hợp không có thị trường tồn tại, không có giá cả (nhất là các chi phí và lợi ích do thay đổi TNTNMT) Trong trường hợp này có thể xác định giá trị đại
Trang 37diện cho vật tư đầu vào và sản phẩm đầu ra bàng cách sử dụng phương pháp đánh giá giá trị kinh tế không trên cơ sở thị trường (non-market valuation method)
- Tính chiết khấu cho các chi phí và lợi ích
- Tính toán các chỉ tiêu kinh tế
4 Một số chỉ tiêu quyết định
a Lợi ích ròng hiện tại – Net Present Value (NPV):
Giá trị hiện tại cuả lợi ích ròng (B-C) được xác định bằng cách tính chiết khấu theo xuất chiết khấu (r) toàn bộ lợi ích (Bt) và chi phí (Ct) tại năm (t) trở về trở về giá trị hiện tại (năm đầu)
NPV thể hiện giá trị hôm nay cuả luồng lợi ích ròng (B-C) trong tương lai
Công thức tích:
Trong đó t= thời gian (năm); r= suất chiết khấu
Hoặc NPV = Tổng lợi ích chiết khấu – Tổng chi phí chiết khấu
Đối với những quyết địng có liên quan đến môi trường, ta có thêm chi phí
và lợi ích môi trường Do đó tổng chi phí sẽ bao gồm chi phí thông thường và chi phí môi trường Gọi (Et) là chi phí môi trường ta có:
Nếu: * NPV>0 cho thấy dự án/chính sách được coi là mong muốn về mặt
kinh tế (có hiệu quả)
* NPV<0, dự án không có hiệu quả kinh tế
r
t t
n
t t
n
++
0
0
BCR = Tổng lợi ích chiết khấu
Tổng chi phí chiết khấu Nếu: * BCR>1 cho thấy dự án/chính sách được coi là mong muốn về mặt
kinh tế (có hiệu quả)
* BCR<1, dự án không có hiệu quả kinh tế
c Tỷ xuất nội hoàn (Internal Rate of Return-IRR):
Trang 38Là tỷ xuất từ một đầu tư làm cho tổng giá trị lợi ích thu được (quy về giá trị hiện tại) bằng với tổng chi phí (quy về giá trị hiện tại)
Nếu: * IRR>suất chiết khấu/lãi xuất => cho thấy dự án/chính sách được coi là
mong muốn về mặt kinh tế (có hiệu quả)
* IRR<suất chiết khấu/lãi xuất => dự án không có hiệu quả kinh tế
Ý tưởng ở đây là có nhiều thứ có giá trị đối với chúng ta ngày hôm nay hơn là ngày mai, do đó trong phân tích chi phí lợi ích, tương lai cần được chiết khấu và các chi phí và lợi ích trong tương lai không thể có sức nặng bằng những chi phí và lợi ích xảy ra gần với hiện tại hơn trong quá trình ra quyết định
Hai lý do để tính chiết khấu:
1 Sự ưa thích về mặt thời gian:
- Sự ưa thích thời gian ở góc độ cá nhân (private time preference): thường người
ta thích được thỏa mãn ngay tại thời điểm hiện tại hơn là trong tương lai, trừ phi họ nhận được sự đền bù nào đó Chính phủ có khả năng có tầm nhìn dài hạn hơn các cá nhân, song thậm chí ngay cả chính phủ cũng có xu hướng thích giá trị trong thời điểm hiện tại hơn là trong tương lai kể cá khi ta đã loại bỏ các yếu tố bất trắc và lạm phát ra khỏi phần tính toán
- Sự ưa thích thời gian ở góc độ xã hội (social time preference): phản ảnh những nhận định cuả xã hội cho răng xã hội nói chung sẽ ngày càng giàu có hơn Khi càng giàu có hơn thì mỗi đơn vị giàu có bổ xung thêm sẽ có ý nghĩa giảm dần
Do đó, khi xã hội trở nên giàu có hơn, những tài sản có thêm trong tương lai sẽ được xã hội định giá thấp đi và những giá trị này cần phải được chiết khấu
2 Chi phí cơ hội cuả vốn:
Vốn trong một dự án cũng có thể được sử dụng cho mục đích khác Giá trị đó thể hiện chi phí cơ hội cuả việc sử dụng số vốn có trong tay này cuả dự án chứ không sử dụng cho mục đích khác (ví dụ bỏ vốn để đầu tư dự án khác hay bỏ vốn vào ngân hàng để thu lãi xuất cho vay) Thời gian vốn nằm lại trong dự án càng dài thì chi phí cơ hội càng tăng Nguyên tắc “thời gian là tiền bạc” là một nhân tố quan trọng trong quá trình ra quyết định hợp lý
Trang 39Tại sao một số nhà môi trường lại quan tâm đến chiết khấu?
Họ quan tâm vì tính chiết khấu cao sẽ định giá tương lai thấp hơn nhiều
so với hiện tại Theo khái niệm phát triển bền vững:”Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng cuả các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng những nhu cầu của họ”, một số nhà môi trường sợ rằng chiết khấu sẽ làm hại đến khả năng các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu cuả họ
Tỷ lệ chiết khấu càng cao, chúng ta càng chiết khấu nhiều đối với thế hệ tương lai Quá trình chiết khấu sẽ tính chiết khấu các chi phí (lợi ích) tương lai so với lợi ích cuả ngày hôm nay, nó không quan tâm đến thế hệ tương lai một cách công bằng
Những lập luận trên không có nghiã là chúng ta không áp dụng tính chiết khấu, tuy nhiên, mọi kết quả cuả phân tích chi phí lợi ích cần phải được phân tích cẩn thận và điểm cơ bản là phải xem xét kỹ nên chọn tỷ lệ chiết khấu nào
6 Quy trình về phân tích kinh tế cuả một dự án có chú ý đến tác động môi
trường
Xác định ảnh hưởng cuả các sản phẩm đầu
ra và cuả các chất tồn
dư đối với môi trường và các tác nhân bị hại.
Xác định rõ các loại đầu vào (inputs), đầu
ra (outputs) trực tiếp từ dự án và các chất tồn dư trong môi trường
- Xác định rõ các
hoạt động cuả dự án
- Xác định rõ phạm vi
phân tích
Lượng hoá và quy về giá trị tiền tệ các sản phẩm đầu ra và vật tư đầu vào
Đánh giá các ảnh hưởng bằng giá trị tiền tệ
Tiến hành phân tích chi phí lợi ích cuả dự án (bao gồm tác động trực tiếp và gián tiếp)
Lượng hoá các ảnh hưởng
Trang 40I ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN MÔI
TRƯỜNG (ĐỊNH GIÁ TNTNMT)
1 Định giá môi trường:
- Là việc thưà nhận giá trị kinh tế cuả TNTNMT thông qua các chức năng của nó như cung cấp nguyên liệu thô, hấp thụ chất thải, cân bằng sinh thái, hỗ trợ cuộc sống con người, nuôi sống các loài,…
- Ý tưởng ở đây là gán một giá trị được lượng hoá bằng tiền tệ cho các hàng hóa và dịch vụ mà TNTNMT cung cấp cho các quá trình kinh tế và đây là việc làm có ý nghiã
2 Tại sao chúng ta cần phải định giá TNTNMT?
- Đây là một cách nhắc nhở chúng ta rằng TNTNMT không phải là “cho không” mặc dù thường không có loại thị trường theo kiểu thông thường đối với các chức năng dịch vụ cuả TNTNMT Nguyên tắc chi phí cơ hội nhấn mạnh rằng không có bất cứ thứ gì, kể cả TNTNMT là miễn phí Thông qua việc định giá, ta có thể đánh giá được tốc độ sử dụng nguồn TNTNMT và đưa ra những báo hiệu cho những đối tượng sử dụng những nguồn TNTNMT đó về mức độ khan hiếm ngày càng gia tăng
- Việc định giá giúp cho việc phân tích so sánh chi phí và lợi ích giữa những ảnh hưởng có thể lượng hoá được và không thể lượng hoá được hoặc giữa các giá trị đo được bằng tiền tệ và phi tiền tệ Đối với nhiều dạng quyết định dựa trên các chỉ tiêu tài chính hay kinh tế thì các kết quả có thể lượng hoá được thường sẽ tạo ra được ấn tượng mạnh hơn trong suy nghĩ cuả người ra quyết định Do vậy, để đi đến một quyết định tốt hơn và công bằng hơn, việc xác định những ảnh hưởng tiềm năng và định giá những ảnh hưởng đó đóng một vai trò quan trọng
- Trong các phân tích chi phí lợi ích để ra quyết định thì định giá được càng nhiều các ảnh hưởng tác động đối với TNTNMT thì càng tốt vì như vậy sẽ giúp cho việc hạn chế phạm
vi các quyết định chỉ dưạ trên cơ sở nhận định/suy luận thuần tuý do không có đủ thông tin để phân tích và đánh giá
- Việc định giá TNTNMT cũng cho ta các chỉ số đúng hơn và thực sự hơn về kết quả các hoạt động cuả nền kinh tế quốc dân
- Định giá TNTNMT giúp cung cấp thông tin cho việc xác lập các chính sách nhằm sử dụng đúng và tốt hơn TNTNMT Việc tiến hành định giá một cách cẩn thận cùng với việc nhận thức được những hạn chế cuả nó có thể cung cấp cho ta cơ sở vững chắc hơn để xây dựng
40