1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

học kì tố tụng dân sự

9 333 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 109 KB
File đính kèm học kì tố tụng dân sự.rar (18 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do ngày càng mở rộng các quyền chủ quan của các chủ thể pháp luật; việc bảo vệ, kiểm tra pháp luật hiện nay so với giai đoạn trước đây đã chuyển sang một bước mới về chất. Bất kỳ hoạt động có mục đích nào muốn đạt được kết quả đòi hỏi những người tham gia hoạt động phải xác định được các nguyên tắc hoạt động và tuân thủ triệt để nó. Hoạt động tố tụng dân sự là một dạng của hoạt động thực tiễn có tính khoa học, do vậy cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam là nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Do ngày càng mở rộng các quyền chủ quan của các chủ thể pháp luật; việc bảo

vệ, kiểm tra pháp luật hiện nay so với giai đoạn trước đây đã chuyển sang một bước mới về chất Bất kỳ hoạt động có mục đích nào muốn đạt được kết quả đòi hỏi những người tham gia hoạt động phải xác định được các nguyên tắc hoạt động và tuân thủ triệt để nó Hoạt động tố tụng dân sự là một dạng của hoạt động thực tiễn có tính khoa học, do vậy cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam là nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

NỘI DUNG

I – Một vài vấn đề lí luận về nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.

1 Sự cần thiết phải ban hành nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.

 Đối với thực tiễn:

Đặc thù của tố tụng dân sự là những người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng cùng nhau lập lại bức tranh toàn cảnh về vụ án một cách trung thực, khách quan, toàn diện Vì vậy, việc xác định sự thật khách quan về vụ án về bản chất là một quá trình nhận thức và tư duy của các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự trên

cơ sở xem xét đánh giá các chứng cứ, tài liệu, tình tiết khác nhau của vụ án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Để có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật khách quan về vụ án thì các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự phải cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quan một cách chính xác, khách quan, vô tư và đầy đủ để giải quyết vụ án Sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng chính là yếu tố công bằng nhất để tiếp cận đến chân lý khách quan của vụ án

Trang 2

 Đối với hệ thống pháp luật:

Là một nguyên tắc của luật tố tụng dân sự, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là những tư tưởng pháp lí, chỉ đạo Trong xây dựng pháp luật tố tụng dân sự, phải dựa vào nguyên tắc để xây dựng các quy phạm pháp luật cụ thể, phù hợp, tránh được sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy phạm pháp luật hoặc thiếu sự nhất quán giữa các văn bản pháp luật Ngoài ra, dựa vào các nguyên tắc của luật tố tụng dân sự cũng có thể tìm ra những mâu thuẫn, khiếm khuyết của các quy phạm pháp luật đã ban hành để sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện các quy phạm pháp luật đó Việc thực hiện đúng nguyên tắc tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự được thuận lợi, ngăn chặn được những tiêu cực nảy sinh trong quá trình tố tụng, bảo đảm cho các đương sự có thể bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước tòa án Nguyên tắc này còn giúp cho Tòa

án áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật trong khi giải quyết các vụ việc cụ thể cũng như tạo điều kiện để kiểm tra tính đúng đắn trong các phán quyết của mình, xác định được phương hướng giải quyết các vụ việc cụ thể trên thực tế Tuy trong pháp luật tố tụng không quy định cụ thể nhưng căn cứ vào nội dung các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) thì việc vi phạm các nguyên tắc được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và dẫn đến hậu quả vụ việc dân sự phải được xét lại, kể

cả khi bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

2 Nội dung của nguyên tắc.

Theo nghĩa chung, nguyên tắc được hiểu là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”(1) Nguyên tắc của luật tố tụng dân sự Việt Nam là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật

tố tụng dân sự và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là một trong những nguyên tắc xây dựng, mang tính định hướng của ngành luật tố tụng dân sự Việt

1 Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2003.

Trang 3

Nam Do vậy, việc xác định rõ nội dung của nguyên tắc có ý nghĩa vô cùng quan trọng

 Về chủ thể thực hiện nguyên tắc:

• Người tiến hành tố tụng dân sự là người thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự Theo Điều 16 BLTTDS năm 2004, người tiến hành tố tụng dân sự là chủ thể của nguyên tắc bao gồm Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư kí tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên

• Người tham gia tố tụng dân sự tham gia vào việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác hoặc

hỗ trợ tòa án, cơ quan thi hành án trong việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự Theo Điều 16 BLTTDS, người tham gia tố tụng dân sự là chủ thể của nguyên tắc gồm người phiên dịch, người giám định Theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS người tham gia tố tụng là chủ thể của nguyên tắc này còn bao gồm cả thành viên Hội đồng định giá

Việc quy định các chủ thể trên phải tuân thủ nguyên tắc đảm bảo sự vô tư là cần thiết trong quá trình tiến hành tố tụng bởi những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng giúp Tòa án làm rõ các vấn đề của vụ việc dân sự, có trách nhiệm thực thi công lý; nếu họ không vô tư trong việc tiến hành tố tụng hoặc tham gia

tố tụng thì việc giải quyết vụ việc dân sự sẽ bị thiên lệch

 Về nội dung của nguyên tắc

Các vấn đề liên quan đến nguyên tắc này trước đây cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng như Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự ban hành kèm theo thông tư số 96/NCPL ngày 8/2/1977 của Tòa án nhân dân tối cao, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (Điều 17)…Tuy nhiên các quy định này còn chưa có tính hệ thống

Hiện nay, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham

gia tố tụng được quy định tại Điều 16 BLTTDS “Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội

thẩm nhân dân, Thư kí Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Người phiên

Trang 4

dịch, Người giám định không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của

điều luật đã thể hiện được một phần nội dung cơ bản của nguyên tắc như phải tiến hành những biện pháp cần thiết để đảm bảo sự vô tư trong việc tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng; trường hợp có căn cứ cho thấy người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ thì phải thay đổi

Không chỉ tuân thủ các quy phạm pháp luật nêu trên; người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải áp dụng nguyên tắc đó trong thực tiễn Bản thân các chủ thể quy định tại Điều 16 BLTTDS phải tiến hành các hoạt động chuyên môn một cách

vô tư khách quan, không bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế…, không thiên vị bất cứ ai

3 Ý nghĩa của nguyên tắc.

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng góp phần giải quyết đúng đắn vụ án dân sự, xét xử hợp lý, đúng người, đúng tội; làm cho các quá trình, giai đoạn tố tụng diễn ra thật minh bạch, khách quan, toàn diện

và đầy đủ; làm trong sạch ngành tư pháp nói chung, nâng cao chất lượng tố tụng, thanh lọc những cá nhân không có phẩm chất, đạo đức Nguyên tắc này cũng có mối liên hệ ảnh hưởng lẫn nhau với các nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật tố tụng dân sự; là cơ sở, yếu tố bảo đảm việc thực hiện các nguyên tắc cơ bản khác như Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự (Điều 8), Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự (Điều 13), Nguyên tắc thẩm phán

và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (điều 12)…

II – Biểu hiện của Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng qua các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn

áp dụng.

1 Biểu hiện của nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng qua các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự.

2 Từ điển Tiếng việt

Trang 5

Từ nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng nhà lập pháp đã tiến hành xây dựng nên các quy phạm pháp luật chuyên biệt nhằm cụ thể hóa nội dung nguyên tắc trên các lĩnh vực cụ thể của tố tụng dân sự, bảo đảm cho nguyên tắc được thực hiện trên thực tế

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng được thể hiện qua một số các quy phạm tố tụng dân sự:

- Điều 46 Bộ luật tố tụng dân sự: Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng;

- Điều 47 BLTTDS: Thay đổi Thẩm phán,Hội thẩm nhân dân;

- Điều 48 BLTTDS: Thay đổi Kiểm sát viên;

- Điều 49 BLTTDS: Thay đổi Thư ký Tòa án;

- Khoản 3 Điều 68 BLTTDS: Quy định những trường hợp Người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi

- Khoản 3 Điều 70 BLTTDS: Quy định những trường hợp Người phiên dịch phải từ chối hoặc bị thay đổi

Theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS, Khoản 3 Điều 90 được sửa

đổi, bổ sung dựa trên nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tham gia tố tụng “Trong

trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại Người đã thực hiện việc giám định trước đó không được thực hiện giám định lại Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại các khoản 1,2 và 3 Điều 46 của Bộ luật này không được thực hiện việc giám định.”

Luật sửa đổi bổ sung đã bổ sung vào Khoản 2 Điều 92 BLTTDS“Người đã tiến

hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 46 của Bộ luật này không được tham gia Hội đồng định giá”.

Những trường hợp cho rằng người tiến hành tố tụng có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ được hướng dẫn cụ thể tại Khoản 2 Mục 2 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31 tháng 3 năm 2005

Trang 6

Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “ Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004

Như vậy, có thể thấy các quy phạm pháp luật nêu trên là sự cụ thể hóa, dựa trên tinh thần của nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Sự không vô tư đó được biểu hiện trong những trường hợp cụ thể mà pháp luật dự liệu như người tiến hành tố tụng đồng thời là đương sự (Khoản 1 Điều 46); Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là người thân thích (Khoản 2 Điều 47)…

2 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.

Mục tiêu cao nhất của hoạt động xét xử là đúng pháp luật, không oan sai, không

bỏ lọt tội phạm, ngành Tòa án nói riêng và các cơ quan tư pháp nói chung trong hơn

60 năm qua đã nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu ấy, nhưng vẫn luôn còn một tỷ lệ không nhỏ án oan sai Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi giữ cương vị Chủ tịch Quốc hội từng nhấn mạnh: Không thể nói đến một nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân nếu vẫn còn nhiều người dân phải chịu oan ức, bất công, hoặc tính mạng, tài sản và danh dự của họ bị xâm hại bởi những quyết định không công bằng, trái luật của cơ quan tư pháp, trong đó có các bản án, quyết định của Tòa án (3) Vậy vì sao mà còn oan sai? Có nhiều nguyên nhân, nhưng chắc chắn có một nguyên nhân không nhỏ, đó là do người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng không chí công, vô tư trong suốt quá trình tố tụng Khi những người có chức năng làm sáng tỏ các vấn đề của vụ việc dân sự, những người giữ quyền phán xử mà không còn công tâm, đã bị lợi ích vật chất nào đó chi phối thì không thể có bản án khách quan, công bằng và đúng pháp luật Trong một bài phỏng vấn mới đây, Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình trăn trở: “Bên cạnh những kết quả đã đạt được, ngành Tòa án chúng tôi vẫn còn những thiếu sót, khuyết điểm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm Đặc biệt, một số cán bộ công chức của ngành có biểu hiện sa sút về phẩm chất đạo đức, vi phạm kỷ luật của ngành, thậm chí có trường hợp bị xử lý hình sự” (4)

3, 4 Báo Công lý – congly.com.vn

Trang 7

III – Việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trên thực tiễn.

Các nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với thực tiễn lập pháp, áp dụng và nâng cao ý thức pháp luật Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các nguyên tắc trên lĩnh vực hoạt động nêu trên

Hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc trên trong thực tiễn phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan nhất định Trước hết phụ thuộc vào mức độ cụ thể hóa của nguyên tắc đó trong các quy phạm của pháp luật tố tụng; vào mức độ giải thích, làm sáng tỏ các nguyên tắc đó về mặt lý luận cũng như thực tiễn Để có thể tuân thủ

và áp dụng đúng nguyên tắc cần nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết về nguyên tắc cũng như pháp luật tố tụng dân sự nói chung (về nội dung, mục đích, ý nghĩa, vai trò, yêu cầu của nguyên tắc); ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa; khả năng áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn nói chung và trong từng vụ án cụ thể nói riêng, nghiệp

vụ chuyên môn và kinh nghiệm của chủ thể tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 16 BLTTDS

Cần xây dựng những cơ chế pháp lý tạo điều kiện cho những người tiến hành tố tụng của Viện kiểm sát có thể thực hiện tốt chức năng kiểm sát, giám sát các hoạt động của các cá nhân, cơ quan tham gia quá trình tố tụng Sự giám sát này sẽ phần nào đảm bảo tính đúng đắn trong giải quyết các vụ việc dân sự, bảo đảm được sự vô tư, khách quan của các chủ thể của nguyên tắc theo Điều 16 BLTTDS Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 đã mở rộng phạm vi tham gia

tố tụng dân sự của Viện kiểm sát, Điều 21 BLTTDS đã được sửa đổi bổ sung quyền hạn của Viện kiểm sát, cụ thể: Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người

có nhược điểm về thể chất, tâm thần (Khoản 2); Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm (Khoản 3)

Trang 8

Cần xây dựng cơ chế pháp lý về khen thưởng, kỷ luật đối với chủ thể của nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Việc áp dụng hình thức kỷ luật phải thật hiệu quả, minh bạch và bình đẳng Bên cạnh

đó, đối với những chủ thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình cần khen thưởng để tạo tiền đề, động lực cho họ tiếp tục đóng góp công sức xây dựng và phát triển ngành tư pháp

Các Tòa án cần tổ chức những cuộc họp tổng kết chuyên đề, triển khai các lớp tập huấn để nâng cao trình độ và xây dựng phương châm làm việc chính xác, khoa học, loại bỏ những trì trệ, quan liêu, bao cấp trong đội ngũ những người làm công tác xét xử, kiên quyết xử lý thích đáng đối với cán bộ Thẩm phán vi phạm kỷ luật hoặc có biểu hiện tham nhũng, tiêu cực trong quá trình thi hành nhiệm vụ được giao Cần bổ sung Thẩm phán cho đủ biên chế để giải quyết kịp thời, khách quan và góp phần nâng cao chất lượng xét xử, tránh tình trạng vì Thẩm phán ít mà phải xét xử lại nhiều lần làm cho chất lượng xét xử không bảo đảm

Nhà nước cần quy định về việc người tiến hành tố tụng nói chung và người tiến hành tố tụng dân sự nói riêng được pháp luật bảo vệ bằng một số điều khoản về việc giữ bí mật danh tính, địa chỉ nhà riêng…và khi gặp rủi ro, phải được hưởng chế độ như chế độ dành cho lực lượng vũ trang

Trong lĩnh vực giám định và định giá tài sản, cần phải tiếp tục hoàn thiện bổ sung chế định này theo hướng quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng định giá, nguyên tắc xác định giá

LỜI KẾT

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là một trong những nguyên tắc quan trọng, chủ đạo trong luật tố tụng dân sự Việc nghiên cứu về nguyên tắc này góp phần quan trọng trong việc giải quyết vụ án được thuận lợi, ngăn chặn được những tiêu cực nảy sinh trong quá trình tố tụng, bảo đảm cho đương sự có thể bảo vệ được quyền, lợi ích của họ trước Tòa án

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb.CAND Hà

Nội, 2009

2 Học viện tư pháp, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb.CAND, Hà Nội, 2007.

3 Đinh Trung Dũng “Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam”,

Tạp chí TAND, đặc san chuyên đề về BLTTDS, số 8/2004

4 Nguyễn Ngọc Khánh “Những nguyên tắc tố tụng đặc trưng trong BLTTDS”, Tạp

chí kiểm sát, số 1/2005

5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004

6 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 01/2005 ngày

31 tháng 3 năm 2005 Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “ Những quy định chung” của BLTTDS năm 2005

7 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011

8 Trang web: www.thuvienphapluat.vn

www.congly.com.vn

www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com

Ngày đăng: 04/05/2016, 23:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w