Như vậy có thể thấy chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS là một bước tiến mới phản ánh một nền tố tụng dân chủ, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự
Trang 1MỞ ĐẦU
Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) là một trong những chế định pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS Chế định pháp lý này ghi nhận về biện pháp tố tụng tương đối đặc biệt, được tòa án sử dụng kết hợp với các biện pháp tố tụng khác như chứng minh hòa giải nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân
sự Như vậy có thể thấy chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS là một bước tiến mới phản ánh một nền tố tụng dân chủ, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ Vì vậy có thể thấy hiểu các quy định của pháp luật về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của tòa
án cấp sơ thẩm, phúc thẩm có ý nghĩa rất lớn đến việc giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
NỘI DUNG
I.BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI-MỘT CHẾ ĐỊNH QUAN TRỌNG TRONG PHÁP LUẬT TTDS
1 Khái niệm, ý nghĩa của chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS
a Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong quá trình giải quyết một vụ án dân sự nói chung, phía nguyên đơn (cá nhân, tổ chức) có quyền yêu cầu tòa án, nơi đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp gọi là “biện pháp khẩn cấp tạm thời” – theo thủ tục, trình tự mà BLTTDS đã quy định để giải quyết tạm thời yêu cầu cấp bách của mình, bảo vệ chứng cứ, bảo vệ tình trạng hiện có của đối tượng đang tranh chấp, tránh việc có thể gây ra những thiệt hại không đáng có và không thể khắc phục được hoặc bảo đảm cho việc thi hành án khi phiên tòa xét xử kết thúc xét xử Thậm chí, trong trường hợp
do tình thế khẩn cấp cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, nguyên đơn có quyền nộp đơn yêu cầu tòa án ra quyết định áp dụng ngay BPKCTT đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện Giải thích một cách cụ thể hơn, chế định BPKCTT trong PLTTDS ghi nhận cách thức giải quyết tạm thời của tòa án khi vụ việc dân sự có tính khẩn cấp, theo đó tòa án sẽ nhanh chóng quyết định áp dụng ngay giải pháp trước mắt theo quy định của pháp luật trên cơ sở có yêu cầu khẩn cấp của chủ thể có quyền, lợi ích theo pháp luật hoặc do chính tòa án xét
Trang 2thấy cần thiết để tạm thời giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, để bảo vệ ngay bằng chứng, tài sản, bảo đảm cho việc bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự Quyết định áp dụng BPKCTT không phải là quyết định cuối cùng giải quyết về nội dung vụ việc dân sự mà chỉ nhằm quyết định tạm thời cho tình trạng khẩn cấp của vụ việc dân sự Quyết định này sẽ hết hiệu lực pháp luật khi tòa án ra bản án, quyết định chính thức giải quyết nội dung vụ việc dân sự BPKCTT có những đặc điểm khác với các biện pháp khác mà tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án đó là:
- BPKCTT có thể được áp dụng trước khi thụ lý vụ việc dân sự, còn tất cả các biện pháp, quyết định khác chỉ có thể được áp dụng sau khi tòa án đã thụ lý
- BPKCTT luôn mang trong nó hai tính chất, đó là tính khẩn cấp và tính tạm thời Tính khẩn cấp của biện pháp này thể hiện ở chỗ tòa án phải ra quyết định áp dụng ngay BPKCTT và được thực hiện ngay sau khi tòa án ra quyết định áp dụng, nếu không sẽ không còn ý nghĩa trên thực tế Tính tạm thời của biện pháp này thể hiện ở chỗ: nó không phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự, nó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định Sau khi ra quyết định áp dụng BPKCTT, nếu có lý do của việc áp dụng không còn nữa thì tòa án có thể hủy bỏ quyết định này ngay trong quá trình chuẩn bị xét xử, hoặc khi tòa án ra quyết định cuối cùng sẽ phải có phán quyết về BPKCTT mà tòa án đã áp dụng
Vì vậy có thể định nghĩa BPKCTT là biện pháp tòa án quyết định áp dụng trước khi thụ lý hoặc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tranh chấp, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án Việc áp dụng BPKCTT có thể gây ra thiệt hại về quyền và lợi ích cho bên bị áp dụng và người khác Do đó, khi áp dụng BPKCTT phải rất thận trọng, phải thực hiện đúng quy định của pháp luật
b Ý nghĩa và vai trò của chế định BPKCTT
Việc áp dụng BPKCTT với mục đích giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản, bảo vệ bằng chứng để đảm bảo việc thi hành án Do đó, việc áp dụng BPKCTT có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ kịp thời các quyền
và lợi ích hợp pháp và nhu cầu cấp bách của đương sự, tạo điều kiện cho đương sự sớm ổn định được cuộc sống của bản thân cũng như những người sống phụ thuộc vào họ
Mặt khác, do những xung đột về lợi ích nên có những vụ việc đương sự đã tẩu tán tài sản, hủy hoại chứng cứ nhằm gây khó khăn cho phía đương sự bên kia trong
Trang 3việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời tạo ra các trở ngại cho tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Vì thế việc áp dụng BPKCTT trong trường hợp này góp phần ngăn chặn các hành vi sai trái, bảo vệ chứng cứ, giữ nguyên được giá trị chứng minh của chứng cứ, giúp cho việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác Khi lý do áp dụng BPKCTT không còn thì tòa án có quyền hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT, nó thể hiện sự linh hoạt trong tố tụng sẽ góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của công dân
Các pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự kinh tế, lao động chỉ cho phép tòa án áp dụng BPKCTT sau khi đã thụ lý vụ án BLTTDS đã có những quy định mới cho phép tòa án áp dụng BPKCTT trước khi thụ lý vụ việc dân sự Sự đổi mới này trong công tác lập pháp tạo điều kiện cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích của đương
sự được kịp thời, có hiệu quả hơn, phù hợp với yêu cầu của thực tế cuộc sống
2 Các BPKCTT cụ thể được quy định trong pháp luật TTDS
Điều 102 BLTTDS năm 2004 quy định cụ thể 12 biện pháp khẩn cấp tạm thời mà tòa án được áp dụng, bao gồm:
- Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục: Đây là trường hợp nếu vụ việc giải quyết vụ án có liên
quan đến người chưa thành niên chưa có người giám hộ
- Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng: Nếu giải quyết vụ án có
liên quan đến yêu cấu cấp dưỡng và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và nếu không thực hiện trước ngay một phần nghĩa vụ cấp dưỡng, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của người cấp dưỡng
- Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng , sức khỏe bị xâm phạm: Được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu
cầu đòi bồi thường thiệc hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm và xét thấy yêu cầu
đó là có căn cứ và cần thiết
- Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động: Được áp dụng
nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu trả tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và cần thiết
-Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao động: Được áp dụng nếu
việc giải quyết vụ án có liên quan đến việc sa thải người lao động và xét thấy quyết định sa thải của người lao động là trái pháp luật hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người lao động
Trang 4- Kê biên tài sản đang tranh chấp: Được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ
án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản Tài sản bị kê biên có thể được thu giữ, bảo quản tại cơ quan thi hành án hoặc lập biên bản bàn giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi
có quyết định của tòa án Một điều cần lưu ý là, biện pháp này chỉ áp dụng cho tài sản đang tranh chấp chứ không phải là tài sản không liên quan
- Cấm dịch chuyển về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp: Được áp dụng nếu
trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch về tài sản đang tranh chấp cho người khác
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp: Được áp dụng nếu trong quá
trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng them hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó
- Cho thu hoạch, cho bán rau màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác: được áp dụng
nếu trong quá trình giải quyết vụ án có tài sản đang tranh chấp hoặc có liên quan đến tranh chấp mà có hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác ở thời kỳ thu hoạch hoặc không thể bảo quản lâu dài được
- Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ: Việc phong tỏa tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín
dụng khác, kho bạc nhà nước được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án, có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước và biện pháp áp dụng này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho việc thi hành án Còn việc phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng nếu trong trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người
có nghĩa vụ có tài sản đang gửi giữ và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho việc thi hành án
- Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ: Được áp dụng nếu trong quá trình giải
quyết vụ án có căn cứ cho thấy đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho việc thi hành án
- Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định: Được áp dụng nếu trong
quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án mà tòa đang được tòa án giải quyết
Trang 5Ngoài ra thì tại khoản 13, điều 102, BLTTDS còn có quy định: “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật quy định”, đây là một quy định mở của pháp luật, nhằm tạo điều kiện để có thể hoàn thiện được pháp luật
II CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VỀ ÁP DỤNG, THAY ĐỔI, HỦY BỎ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM
1 Ở TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM
1.1 - Về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
a Đối tượng có quyền yêu cầu và điều kiện áp dụng BPKCTT
Đối tượng có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT được quy định tại khoản 1 điều 99 BLTTDS và được hướng dẫn cụ thể tại nghị quyết 02/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC thì những chủ thể này bao gồm đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự; cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em; hội liên hiệp phụ nữ khởi kiện vụ án
về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định; công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tập thể người lao động do Bộ luật lao động và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan quy định Việc mở rộng hơn các chủ thể
có quyền yêu cầu toà án áp dụng BPKCTT đã góp phần bảo vệ kịp thời, đầy đủ hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Theo quy định tại Điều 99 BLTTDS, toà án chỉ xem xét để ra quyết định áp dụng BPKCTT nếu các chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT đề đạt yêu cầu đó với toà án Vì thế thông thường toà án sẽ không tự mình chủ động ra quyết định áp dụng BPKCTT Toà án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT trong 5 trường hợp quy định tại Điều 119 BLTTDS Đây cũng là một quy định mới của BLTTDS bởi theo các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước đây, toà án chủ động tự mình áp dụng tất cả các biện pháp mà pháp luật có quy định Chính quy định này của Pháp lệnh đã hạn chế quyền yêu cầu của đương sự, hạn chế sự nỗ lực của họ trong việc bảo vệ quyền lợi của mình BLTTDS quy định toà án ra quyết định áp dụng BPKCTT nếu
có yêu cầu và toà án chỉ chủ động ra quyết định áp dụng BPKCTT trong một số trường hợp cần thiết đã khắc phục được những hạn chế đó
b Về điều kiện áp dụng
- Theo quy định tại nghị quyết số 02/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC thì chỉ khi có đầy đủ các điều kiện sau đây, đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện (đơn khởi kiện phải được làm theo đúng quy định tại Điều 164 của BLTTDS), thì cá nhân, cơ quan, tổ chức mới có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT quy định tại Điều 102 của BLTTDS: Do tình thế khẩn cấp, tức là cần phải
Trang 6được giải quyết ngay, không chậm trễ; cần phải bảo vệ ngay bằng chứng trong trường hợp nguồn chứng cứ đang bị tiêu huỷ, có nguy cơ bị tiêu huỷ hoặc sau này khó
có thể thu thập được; ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra (có thể là hậu quả về vật chất hoặc phi vật chất)
- Toà án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng một BPKCTT cụ thể khi có đầy đủ các điều kiện do BLTTDS quy định đối với BPKCTT đó
Ví dụ: Toà án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT "Buộc thực hiện trước
một phần nghĩa vụ cấp dưỡng" quy định tại Điều 104 của BLTTDS khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng; xét thấy yêu cầu cấp dưỡng đó là có căn cứ; nếu không buộc thực hiện trước ngay một phần nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống của người được cấp dưỡng; đương sự, người thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự chưa có điều kiện thực hiện được quyền yêu cầu Toà án áp dụng BPKCTT Khi tự mình ra quyết định áp dụng một BPKCTT cụ thể, ngoài việc thực hiện đúng quy định tại điều luật tương ứng của BLTTDS, Toà án cần phải căn cứ vào các quy định của pháp luật liên quan để có quyết định đúng
Tóm lại: Điều kiện để áp dụng BPKCTT chính là do tình thế khẩn cấp, cấp bách cần
phải được giải quyết ngay, nếu không chậm chễ sẽ không đáp ứng được các yêu cầu,
các “đối tượng” cần được bảo vệ nói trên
c – Thời điểm và thẩm quyền áp dụng BPKCTT
Việc toà án áp dụng BPKCTT có tác dụng giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống, bảo vệ được bằng chứng, bảo vệ được tài sản…Vì vậy, việc xác định thời điểm toà án được áp dụng BPKCTT là rất quan trọng Theo quy định tại Điều 99 BLTTDS, BPKCTT có thể được áp dụng trong suốt quá trình toà án giải quyết vụ việc dân sự Điều này có nghĩa toà án có thể áp dụng BPKCTT vào bất cứ thời điểm nào trước và trong khi xét xử Thậm chí, theo quy định tại khoản 2 Điều 99, trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, cá nhân, cơ quan, tổ chức
có quyền yêu cầu toà án áp dụng ngay BPKCTT vào cùng thời điểm nộp đơn khởi kiện Quy định này của BLTTDS đã tạo ra sự năng động, kịp thời trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự, đồng thời khắc phục được hạn chế của pháp luật tố tụng trước đây chỉ cho phép áp dụng các BPKCTT vào thời điểm trước khi xét xử
Thẩm quyền áp dụng: Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT là tòa
án có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết vụ án theo quy định tại các điều
33, 34,35 và 36 BLTTDS Trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
Trang 7BPKCTT do một thẩm phán xem xét quyết định Tại phiên tòa do Hội đồng xét xử xem xét quyết định
d Thủ tục áp dụng BPKCTT
Người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải làm đơn gửi đến tòa án giải quyết vụ án dân
sự Đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT phải có các nội dung được quy định tại khoản 1 điều 117 BLTTDS Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu còn phải cung cấp cho tòa
án các chứng cứ, tài liệu chứng minh cho sợ cần thiết phải áp dụng BPKCTT đó Chính quy định này sẽ hạn chế tình trạng đưa ra yêu cầu không có căn cứ từ phía những người có quyền yêu cầu áp dụng các BPKCTT Đồng thời quy định này cũng giúp toà án có cơ sở rõ ràng để nhanh chóng ra được quyết định về việc áp dụng BPKCTT
Đối với yêu cầu áp dụng BPKCTT trước phiên tòa, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét quyết định trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận đơn, nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm Trong trường hợp người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm thì ngay sau khi người đó thực hiện biện pháp bảo đảm, thẩm phán phải ra quyết định áp dụng BPKCTT
Đối với yêu cầu áp dụng BPKCTT tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử xem xét quyết định áp dụng BPKCTT ngay khi nhận được yêu cầu nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc sau khi người yêu cầu thực hiện xong biện pháp bảo đảm
Đối với yêu cầu áp dụng BPKCTT thực hiện cùng với khởi kiện thì sau khi nhận đơn Chánh án tòa án chỉ định ngay một thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng BPKCTT.Trong trường hợp tòa án quyết định áp dụng BPKCTT
là phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước, phong tỏa tài khoản ở nơi gửi giữ, phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ thì tài khoản, tài sản được phong tỏa phải có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng BPKCTT có nghĩa vụ phải thực hiện
Đối với những trường hợp thẩm phán không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT thì phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết và trong đó phải nêu rõ lý do của việc không chấp nhận Như vậy, so với các quy định trước đây, thủ tục áp dụng các BPKCTT trong BLTTDS đã được quy định cụ thể và phù hợp hơn Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của đương sự
1.2 – Việc thay đổi, hủy bỏ BPKCTT
Trước đây do các văn bản pháp luật tố tụng dân sự chưa quy định việc thay đổi, hủy
bỏ BPKCTT nên trong thực tiễn áp dụng đã có những trường hợp toà án áp dụng
Trang 8BPKCTT sai, không phù hợp, làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của bên đương sự bị áp dụng nhưng vẫn không thay đổi, hủy bỏ được BPKCTT đó Hiện nay, BLTTDS đã quy định việc thay đổi, hủy bỏ BPKCTT mà toà án áp dụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự Thẩm quyền xem xét để ra quyết định thay đổi, hủy bỏ BPKCTT được quy định cụ thể tại Điều 100 BLTTDS Theo điều luật này nếu yêu cầu thay đổi hoặc hủy bỏ BPKCTT được đưa ra vào thời điểm trước khi mở phiên toà thì thẩm quyền quyết định sẽ do một thẩm phán thực hiện Nếu yêu cầu đó đưa ra vào thời điểm tại phiên toà thì thẩm quyền xem xét, quyết định sẽ do hội đồng xét xử Các quyết định này có hiệu lực thi hành ngay, toà án phải thông báo quyết định này tới các chủ thể liên quan
a Về thay đổi
Theo quy định tại điều 121 BLTTDS và theo mục 10 Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao thì thủ tục thay đổi BPKCTT cũng tương tự như thủ tục áp dụng BPKCTT đã nêu ở trên ( trong Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao là các mục 5,6,7) tuy nhiên cần lưu ý:
- Trong trường hợp người yêu cầu áp dụng BPKCTT có đơn yêu cầu tòa án thay đổi BPKCTT có lợi cho bị đơn thì tòa án cần chấp nhận ngay đơn yêu cầu của họ Trong trường hợp này nếu xét thấy yêu cầu áp dụng BPKCTT của họ là đúng không gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba thì khi quyết định thay đổi BPKCTT tòa án quyết định cho họ được nhận lại một phần hoặc toàn bộ kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá hoặc số tiền đảm bảo mà họ đã gửi giữ tại ngân hàng theo quyết định của tòa án ( đối với trường hợp khi thay đổi BPKCTT họ phải thực hiện biện pháp bảo đảm ít hơn biện pháp bảo đảm mà họ đã thực hiện )
- Trong trường hợp người yêu cầu áp dụng BPKCTT có đơn xin thay đổi BPKCTT
mà việc thay đổi đó không có lợi cho bị đơn hoặc có đơn xin tòa án áp dụng bổ sung BPKCTT khác, thì tòa án yêu cầu họ phải trình bày rõ trong đơn lý do xin thay đổi hoặc áp dụng bổ sung BPKCTT khác và cũng phải cung cấp các tài liệu cần thiết chứng minh cho yêu cầu của mình là chính đáng
b Về hủy bỏ ( điều 122)
- Người yêu cầu áp dụng BPKCTT có đơn đề nghị tòa án hủy bỏ
- Người phải thi hành quyết định áp dụng BPKCTT nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện BPBĐ thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu
- Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của BLDS
Khi thi hành quy định tại điều 122 của BLTTDS cần lưu ý:
Trang 9- Trong trường hợp bên yêu cầu áp dụng BPKCTT có đơn yêu cầu tòa án hủy bỏ BPKCTT thì tòa án phải chấp nhận ngay đơn yêu cầu của họ Trong trường hợp này, nếu xét thấy yêu cầu áp dụng BPKCTT của họ là đúng thì khi quyết định hủy bỏ BPKCTT tòa án quyết định cho họ được nhận lại toàn bộ số tiền bảo đảm mà họ đã gửi giữ tại ngân hàng theo quyết định của tòa án
- Trong trường hợp người yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT, cho người thứ ba nhưng người bị thiệt hại không có yêu cầu bồi thường thì tòa án quyết định cho người yêu cầu được lấy lại toàn bộ số tiền bảo đảm mà họ gửi giữ tại ngân hàng theo quyết định của tòa án
- Trong trường hợp người yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng, có gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba mà người bị gây thiệt hại có đơn yêu cầu bồi thường với số tiền thấp hơn số tiền bảo đảm được gửi giữ tại ngân hàng theo quyết định của tòa án thì tòa án quyết định cho người yêu cầu được lấy lại
số tiền vượt quá mức người bị gây thiệt hại yêu cầu bồi thường
Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT có hiệu lực thi hành ngay Khi ban hành quyết định này, tòa án gửi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và viện kiểm sát cùng cấp Cơ quan thi hành án chịu trách nhiệm thi hành quyết định này
2 - Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT ở tòa án cấp phúc thẩm
Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT ở tòa án cấp phúc thẩm được quy định tại
điều 261 BLTTDS như sau: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Chương VIII của Bộ luật này”.
Về cơ bản các quy định tại chương VIII BLTTDS là những quy định nhằm áp dụng cho các giai đoạn xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Do đó trong giai đoạn chuẩn
bị xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên toà phúc thẩm nếu có yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT thì việc xem xét, giải quyết được thực hiện theo quy định tại các điều tương ứng của chương VIII “các BPKCTT” của BLTTDS
và hướng dẫn tại nghị quyết 02/2005 của HĐTP TANDTC như đã được trình bày ở trên
Trong trường hợp đương sự kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm mà trong đơn kháng cáo hoặc kèm theo đơn kháng cáo, đương sự khiếu nại quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT của tòa án sơ thẩm thì tòa án phúc thẩm thông báo ngay cho họ biết là tòa án phúc thẩm không có quyền giải quyết khiếu nại và giải thích cho
họ biết họ có quyền yêu cầu tòa án phúc thẩm thay đổi, áp dụng bổ sung BPKCTT,
Trang 10hủy bỏ BPKCTT đa được áp dụng hoặc ra quyết định áp dụng BPKCTT theo quy định chung của BLTTDS và hướng dẫn tại nghị quyết nêu trên
III.THỰC TIỀN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG, THAY ĐỔI, HỦY
BỎ BIỆN PHÁP PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI Ở TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM,
SƠ THẨM
1 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM
Như đã phân tích ở trên thì có thể thấy được rõ vai trò to lớn của chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc giải quyết vụ án cũng như bảo vệ được quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự Thông kê cho thấy những năm vừa qua, từ khi BLTTDS năm 2004 chính thức có hiệu lực thì việc thực hiện áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm đã phát huy được những giá trị và ý nghĩa của nó Nhiều vụ án dân sự mà khi thực hiện chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời một cách hợp lý đã giúp cho thẩm phán cũng như hội đồng xét xử làm đúng chức năng và bổn phẩn của mình, việc thực thi pháp luật cũng có hiệu quả, và hơn ai hết đương sự được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì thực tiễn áp dụng chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng có những hạn chế nhất định, xuất phát từ những mặt hạn chế của pháp luật và cũng có một phần từ những người thực thi pháp luật Có nhiều trường hợp mà việc thực hiện chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời gặp nhiều khó khăn do quy định của pháp luật còn chưa chặt chẽ, gây ra những ảnh hưởng nhất định đến việc giải quyết vụ án Mặt khác, do sai lầm chủ quan của một số thẩm phán và hội đồng xét xử mà việc thực hiện chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa phát huy được hết những ý nghĩa của nó, cá biệt còn có trường hợp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Chính vì vậy mà việc hoàn thiện
hệ thống pháp luật về vấn đề này cũng như nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ thực thi pháp luật là một đòi hỏi tất yếu và cấp bách hiện nay
2 Hướng hoàn thiện của pháp luật về việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT ở tòa
án cấp sơ thẩm, phúc thẩm
BPKCTT là công cụ quan trọng của tòa án giải quyết các vụ việc dân sự, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức So với các quy định trước đây, BPKCTT thời trong BLTTDS 2004 đã bổ sung nhiều biện pháp mới;
mở rộng chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng, thời điểm áp dụng, trình tự thủ tục áp dụng, Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì các quy định về BPKCTT đã nảy sinh nhiều bất cập, không phù hợp dẫn đến việc giải quyết không hiệu quả các vụ