1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu Ôn thi vào lớp 10 môn Văn

14 424 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 166,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trớc sự nhũng nhiễu hoành hành, mẹ của Phạm Đình Hổ là bà Cung Nhân phải sai ngời nhà chặt cây lê “ cao vài mơi trợng, lúc nở hoa, trắng xoá thơm lừng” đây là chi tiết rất sống, rất thực

Trang 1

Ôn luyện vào 10

Đề 4: Em hãy phân tích tác phẩm “ Chuyện ngời con gái Nam xơng” – Rút trong t/p “ Truyền kì mạn

lục” – của T/giả Nguyễn Dữ

yêu cầu cần đạt.

A – Phần mở bài

- “ Chuyện ngời con gái Nam xơng” – Rút trong t/p “ Truyền kì mạn lục” – là áng văn xuôi viết bằng chữ Hán của T/giả Nguyễn Dữ trong thế kỉ XVI, một kiệt tác văn chơng cổ đợc ca ngợi là “ Thiên

cổ tuỳ bút

- Truyện kể về một câu chuyện truyền kì có nhiều yếu tố hoang đờng lu truyền trong nhân gian

về bi kịch một gia đình ở Nam Xơng cạnh dòng sông Hoàng Giang vào cuối thế kỉ XIV, đầu thế kỉ XV, một thời loạn lạc đầy biến động Nhân vật chính của chuyện là Vũ Nơng – ngời con gái bạc mệnh

đáng thơng – có bao phẩm chất tốt đẹp tiêu biểu cho đức hạnh của ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xa

B – Phần thân bài.

1 – Tên của nàng là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xơng, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam ngày nay.Xuất thân trong một gia đình “ kẻ khó”, nhng Vũ Nơng vừa có nhan sắc vừa có đức hạnh: “ tính đã thuỳ mị,

nết na, lại thêm có t dung tốt đẹp” Nàng là một cô gái danh giá nên Trơng Sinh, con nhà hào phú “ mến vì dung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cới về

- Trong đạo vợ chồng, Vũ Nơng là một ngời phụ nữ thông minh, đôn hậu, biết chồng có tính “

đa nghi”, nàng đã “ giữ gìn khuân phép” không để vợ chồng phải xảy ra cảnh “ bất hoà”

- Sống giữa thời loạn lạc, Trơng Sinh phải tòng quân đi chinh chiến ở biên ải xa xôi Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nơng đã rót chén rợu đầy chúc chồng đợc hai chữ “ bình yên”, nàng chẳng mong chồng đợc đeo ấn hầu phong, mặc áo gấm trở về quê cũ…Ước mong của nàng thật bình dị, vì nàng

đã coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm ở đời những năm tháng xa cách, Vũ

Nơng thơng chồng thơng xiết kể: “… mỗi khi thấy bớm lợn đầy vờn, mây che kín núi, thì nõi buồn chân trời góc bể không thể nào găn cản đợc”.

- Tâm trạng nhớ thơng đau buồn ấy của Vũ Nơng cũng là tâm trạng chung của những ngời chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xa nay - trong chinh phụ ngâm - Đoàn Thị Điểm cũng đã từng viết:

… “ Nhớ chàng đằng đẵng đờng lên bằng trời, Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…”.

( “ Chinh phụ ngâm”- Đoàn Thị Điểm-)

 Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thôngvới nỗi đau khổ của Vũ Nơng, vừa ca ngợi tấm lòng thuỷ chungthơng nhớ đợi chờ chồng của nàng

- Vũ Nơng là một phụ nữ đảm đang, giàu tình thơng Chồng ra trận mới đợc một tuần thì nàng sinh ra một đứa con trai đặt tên là Đản Mẹ chồng già yếu, ốm đau, nàng “ hết sức thuốc thang”, “ ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” Vừa phụng dỡng mẹ già, vừa nuôi dạy con thơ Lúc mẹ chồng qua

đời, nàng đã “ hết lời thơng xót”, việc ma chay tế lễ đợc lo liệu, tổ chức rất chu đáo “ nh đối với cha mẹ

đẻ của mình”

 Qua đó, ta thấy trong con ngời Vũ Nơng cùng xuất hiện 3 con ngời tốt đẹp: nàng dâu hiếu

thảo, ngời vợ đảm đang thuỷ chung, ngời mẹ hiền đôn hậu Đó là hình ảnh ngời phụ nữ lí

tởng trong xã hội phong kiến ngày xa

2 – Sau ba năm, “ việc quân kết thúc”, Trơng Sinh từ miền chinh chiến xa trở về Thế nhng, Vũ Nơng không đợc hởng hạnh phúc trong cảnh vợ chồng xum họp Chỉ vì chiếc bóng qua miệng đứa con thơ mới tập nói, mà Trơng Sinh “ đinh ninh là vợ h”, đã “ mắng nhiếc” và “ đánh đuổi đi” Vốn là kẻ vô học lại hồ đồ vũ phu, Trơng Sinh đã bỏ ngoài tai mọi lời “ bày tỏ” của vợ, mọi sự “ biện bạch” của

họ hàng làng xóm Vũ Nơng đã bị chồng đẩy vào bi kịch, bị vu oan là ngời vợ “ mất nết h thân” Vũ

N-ơng phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử để tỏ rõ là ngời phụ nữ “ đoan trang giữ tiết, trinh bạch

gìn lòng ”, mãi mãi soi tỏ với đời “ vào nớc xin làm ngọc Mị Nơng, cỏ Ngu Mĩ”

=> Bi kịch Vũ Nơng là bi kịch, nhng nguyên nhân sâu xa là do chiến tranh loạn lạc gây ra

- Chỉ một thời gian ngắn, sau khi Vũ Nơng tự tử, một đêm khuya dới ngọn đèn, chợt đứa con chỉ lên vách nói rằng: “ Cha Đản lại đến kia kìa!” Lúc bấy giờ Trơng Sinh “ mới tỉnh ngộ thấu nỗi oan của

vợ, nhng việc chót đã qua rồi!”.

=> Ngời đọc xa nay chỉ biết thở dài, cùng Nguyễn Dữ thơng xót cho ngời con gái Nam

X-ơng và bao phụ nữ bạc mệnh khác trong cõi đời

3 – Phần cuối của truyện mang đậm tính chất hoang đờng Nào là Phan Lang nằm mộng thấy ngời con gái áo xanh đến xin tha mạng,…hình ảnh Vũ Nơng ngồi kiệu hoa, phía sau có 50 chiếc xe

có cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện…Nhng đã tô đậm thêm nỗi đau của ngời phụ nữ “ bạc mệnh…duyên phận hẩm hiu”, và có giá trị tố cáo lễ giáo vô nhân đạo Câu nói của Vũ Nơng sau khi chết ở giữa dòng sông vọng vào: “ Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian đợc

nữa” đã làm cho giá trị nhân đạo của truyện càng trở nên bi thiết Nõi oan tình của Vũ Nơng đã đợc minh oan và giải toả, nhng âm – dơng đã đôi đờng cách trở, nàng chẳng thể trở lại dơng gian, chẳng bao giờ còn đợc làm mẹ, làm vợ nữa Bé Đản mãi mãi là đứa con mồ côi mẹ

C – Phần kết bài.

Trang 2

Ôn luyện vào 10

- Tóm lại, Vũ Nơng là ngời con gái dung hạnh mà bạc mệnh Nguyễn Dữ đã kể lại cuộc đời oan khổ của nàng với bao tình xót thơng sâu sắc

- Tuy mang yếu tố hoang đờng , nhng tác phẩm “ Chuyện ngời con gái Nam Xơng” giàu giá trị nhân đạo Vũ Nơng là một điển hình cho bi kịch của ngời phụ nữ trong gia đình và xã hội

************************@**************************

Đề 5: Em hãy phân tích tác phẩm “ Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh” , trích “ Vũ trung tuỳ bút” của tác

giả Phạm Đình Hổ

yêu cầu cần đạt.

A – Phần mở bài.

- Phạm Đình Hổ (1768 – 1839), là ngời có bút pháp nghệ thuật tinh tế tài hoa, một phong thái

th nhàn cao nhã, ông tiêu biểu cho cốt cách kẻ sĩ Bắc Hà cuối thời Lê – Trịnh và thời kì đầu nhà Nguyễn

- “ Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” là một trang tuỳ bút đặc sắc, rút trong “ Vũ trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ Tác phẩm tập trung đi sâu vào phản ánh cảnh ăn chơi xa hoa của Chúa Trịnh Sâm, cảnh bán hàng của bọn nội thần nội thị, cảnh tấu nhạc của bọn nhạc công cung đình tại chùa Trấn Quốc nơi Hồ Tây giữa TK XVIII, sự nhũng nhiễu của bọn hoạn quan khắp chốn dân gian…

B – Phần thân bài.

- “ Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” đã sảy ra vào 2 năm Giáp Ngọ – ất mùi (1774 – 1775), đó

là lúc Đàng Ngoài “vô sự”, là những năm tháng hoàng kim của Chúa Trịnh Sâm – Khi Đặng Thị Huệ

đ-ợc Chúa sùng ái trở thành nguyên phi – Trịnh Sâm sống xa hoa “ thích đi chơi ngắm cảnh đẹp,

thờng ngự ở các li cung trên Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thuý…”

- Cảnh đón tiếp với các nghi lễ thật tng bừng độc đáo Có “ binh lính dàn hầu vòng quanh bốn

mặt hồ ” Có tổ chức hội chợ, do quan nội thần cải trang “ đầu bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hoá chung quanh hồ để bán” Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hô tụng đại thần tuỳ ý nghé vài bờ để

mua bán các thứ… Gác chuông chùa Trấn Quốc trở thành nơi hoà nhạc của bọn nhạc công cung

đình Đền đài cung điện đợc xây dựng “ liên tục” nhằm thoả mãn cuộc sống ăn chơi của bọn vua chúa

và bọn quan lại Bao nhiêu tiền của, vàng bạc, châu báu, nớc mắt, mồ hôi của nhân dân bị bòn vét

đến kiệt cùng

=> Phạm Đình Hổ đã đợc mắt thấy, tai nghe những “ Chuyện cũ trong phủ chúa

Trịnh” nên cách kể , cách tả của ông ở đây hết sức sống động.

- Để đợc sống trong xa hoa, hởng lạc cuộc đời vàng son đế vơng, từ Chúa đến quan đều trở thành bọn cớp ngày ra sức hoành hành, trấn lột khắp chốn cùng quê Chúa thì “ sức thu lấy” những “

loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn nhân gian …, không thiếu một thứ gì” có những cây cảnh “ cành lá rờm rà…nh cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài tr-ợng ” ở bên bắc “phải dùng dến một cơ binh mới mang về nổi” cũng đợc chúa trở qua sông đem về.

Trong phủ chúa “ điểm xuyết” bao núi non bộ trông lạ mắt nh “ bến bể đầu non” Vờn ngự uyển trong những đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vợn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm “ ồn ào nh trận

ma xa, bão táp, vỡ tổ tan đàn”.

- Bọn hoạn quan trong phủ Chúa vừa trắng trợn vừa xảo quyệt, nh dân gian đã khinh bỉ chửi vào mặt “ Cớp đêm là giặc, cớp ngày là quan” Chúng dùng thủ đoạn “ nhờ gió bẻ măng, ra ngoài

doạ dẫm ” Chỉ bằng hai chữ “ phụng thủ” biên ngay vào chậu hoa cây cảnh, chim tốt khiếu haycủa bất

cứ nhà nào là chúng cớp đợc Chúng còn lập mu “đêm đến” cho tay chân sai lính lẻn vào “ lấy phăng

đi, rồi buộc tội đem dấu vật cung phụng để doạ dẫm lấy tiền” Chúng ngang ngợc “ phá nhà, huỷ t-ờng” của dân để khiêng hòn đá hoặc cây cối gì mà chúng cớp đợc Đối với nhà giàu thì chúng lập mu

vu cho là “dấu vật cung phụng”để hành hạ, để làm tiền, nhiều ngời phải “ bỏ của ra kêu van chí chết”,

có gia đình “ phải đập bỏ núi non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ”.

- Gia đình tác giả thuộc hàng quan lại, quý tộc thời Lê – Trịnh Trớc sự nhũng nhiễu hoành hành, mẹ của Phạm Đình Hổ là bà Cung Nhân phải sai ngời nhà chặt cây lê “ cao vài mơi trợng, lúc

nở hoa, trắng xoá thơm lừng” đây là chi tiết rất sống, rất thực là chuyện có thực của chính gia đình tác

giả => tạo niềm tin cho ngời đọc, vừa phê phán bộ mặt tham lam, ghê tởm của bọn quan lại thời Lê – Trịnh, vạch trần sự thối tha trong phủ Chúa

=> Cuộc sống cực kì xa hoa và tàn ác ấy chính là nguyên nhân cho sự sụp đổ ngai vàng sảy ra đối với nhà Chúa Lê – Trịnh sau này - Đó là vào năm 1782, Trịnh Sâm qua đời, loạn kiêu binh bùng nổ, kinh thành Thăng Lonh bị đốt phá tan hoang => 1786 , Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc

Hà lần thứ nhất, cơ nghiệp họ Trịnh đã tan trong nháy mắt Đó là quy luật cuộc đời vô cùng cay nghiệt nhng cũng hết sức sòng phẳng nh Nguyễn Du đã từng nói trong tác phẩm “Văn chiêu hồn”

“ Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh.

Nghìn vàng không đổi đợc mình Lầu ca viện hát, tan tành còn đâu? ”.

C – Phần kết bài.

- Trang tuỳ bút “ Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh” của Phạm Đình Hổ là tác phẩm có giá trị lịch sử sâu sắc, nó đã làm hiện lên cảnh vật và con ngời, cuộc sống ăn chơi xa hoa của vua chúa, hành động ăn cớp, làm tiền trắng trợn của bọn quan lại trong phủ Chúa

Trang 3

Ôn luyện vào 10

- Tác phẩm thể hiện một ngòi bút rất trầm tĩnh và hết sức sâu sắc Mọi cảm hứng, suy nghĩ của tác giả về nhân tình thế sự đã đợc gửi gắm qua những chi tiết, tình tiết, mẩu chuyện rất sống, rất chọn lọc, đậm đà và sâu sắc

***************************@****************************

đề 6 : Em hãy phân tích và trình bày suy nghĩ của bản thân về “Hồi thứ XIV” – Trích trong tác

phẩm “ Hoàng Lê nhất thống chí” – của Ngô gia văn phái để làm nổi bật lên hình tợng ngời anh

hùng Nguyễn Huệ.

yêu cầu cần đạt.

A – phần mở bài.

- Cho đến nay, trong lịch sử VHVN cha có tác phẩm văn học nào tái hiện lại một cách chân thực và sinh động một giai đoạn lịch sử nớc nhà nh cuốn tiểu thuyết lịch sử “Hoàng Lê nhất thống

chí” – của Ngô gia văn phái Tác phẩm đã khái quát lại một giai đoạn lịch sử với bao biến cố dữ dội,

đẫm máu từ khi Trịnh Sâm lên ngôi Chúa đến khi Gia Long chiếm Bắc Hà ( 1868 – 1802) nh: loạn kiêu binh, triều Lê – Trịnh sụp đổ, Nguyễn Huệ đại phá quânThanh, Gia Long lật đổ triều đại Tây Sơn,

- Sự sụp đổ không thể cỡng nổi của triều đại Lê – Trịnh và khí thế sấm sét của phong trào nông dân Tây Sơn là hai nội dung lớn đợc phản ánh qua “Hoàng Lê nhất thống chí” Đặc biệt là “Hồi

thứ XIV” đã thể hiện một cách hào hùng sức mạnh quật khởi của dân tộc trớc thù trong giặc ngoài và

khắc hoạ hình tợng Nguyễn Huệ – ngời anh hùng dân tộc - đã làm nên chiến công Đống Đa bất tử

B – phần thân bài.

1 - Mở đầu tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống chí” tác giả Ngô gia văn phái đã viết:

“ Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận,

Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài ”.

=> Hai câu thơ trên đã đa ngời đọc trở lại những giờ phút khó khăn nhng cũng rất hào hùng của dân tộc vào cuối năm Mậu Thân ( 1788), đầu năm Kỉ Dậu ( 1789) khi Lê Chiêu Thống r ớc

29 vạn quân Thanh sang xâm lợc nớc ta Vị cứu tinh của dân tộc thủa ấy là Nguyễn Huệ – ngời anh hùng áo vải Tây Sơn – Trong đoạn trích, hình tợng Nguyễn Huệ hiện lên với những phẩm chất tốt đẹp của ngời anh hùng nh:

+ Hành động mạnh mẽ, quyết đoán

Trong mọi tình huống, Nguyễn Huệ luôn luôn thhể hiện là một con ngời hành động một cách xông xáo, nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long, chiếm cả một vùng đất đai rộng lớn, Nguyễn Huệ vẫn không hề nao núng, “định thân

chinh cầm quân đi ngay” Rồi sau đó, chỉ trong vòng một tháng ( từ 24/11 -> 30/chạp), Nguyễn

Huệ đã làm đợc bao nhiêu việc lớn : “ tế cáo trời đất” lên ngôi Hoàng đế, “đốc xuất đại binh” ra bắc, gặp gỡ “ngời cống sĩ ở huyện La Sơn” Nguyễn Thiếp, tuyển mộ quân lính và mở cuộc duyệt binh ở Nghệ An, phủ dụ tớng sĩ, định kế hoạch hành quân, đánh giặc và lên kế hoạch đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng

+ Trí tuệ sáng suốt, sâu sắc và nhạy bén

- > Trí tuệ ấy đợc biểu hiện trong việc xét đoán và dùng ngời Khi đến Tam Điệp, gặp Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân “đều mang gơm trên lng và xin chịu tội”, Nguyễn Huệ đã xử trí vừa có lí vừa có tình Ông rất hiểu sở trờng , sở đoản của các tớng sĩ, khen chê đều đúng ngời, đúng việc

- > Trí tuệ ấy còn đợc biểu hiện trong việc phân tích tình hình thời cuộc và tơng quan ta - địch Trong lời phủ dụ quân lính ở Nghệ An, vua Quang Trung khẳng định chủ quyền dân tộc của ta và hành động xâm lăng phi nghĩa, trái đạo trời của giặc; nêu bật dã tâm của giặc “bụng dạ ắt khác… giết hại nhân dân, vơ vét của cải”; nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta từ xa; kêu

gọi quân lính “đồng tâm hiệp lực”; ra kỉ luật nghiêm minh;… Lời phủ dụ nh một bài hịch nhắn gọn mà

ý tứ thật phong phú, sâu xa, có tác dụng kích thích lòng yêu nớc và truyền thống quật cờng của dân tộc

+ ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa, trông rộng.

Mới khởi binh đánh giặc, cha giành lại một tấc đất nào, vậy mà Quang Trung vẫn tuyên

bố chắc nh đinh đóng cột “phơng lợc tiến đánh đã có tính sẵn”, lại còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau khi chiến thắng với một nớc “lớn gấp mời nớc mình” để có thể “ dẹp chuyện binh đao”,

“cho ta đợc yên ổn để nuôi dỡng lực lợng”.

+ Tài dụng binh nh thần

Đến tận hôm nay, chúng ta vẫn còn kinh ngạc vì cuộc hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn do Quang Trung chỉ huy Ngày 25 tháng chạp bắt đầu xuất quân ở Phú Xuân ( Huế), ngày 29 đã tới Nghệ An, vợt khoảng 350km qua núi, qua đèo Đến Nghệ An, vừa tuyển quân, tổ chức đội ngũ, vừa duyệt binh, chỉ trong vòng một ngày Hôm sau, tiến quân ra Tam Điệp ( cách khoảng 150km) và đêm 30 tháng chạp đã “lập tức lên đờng”, tiến quân ra Thăng Long Mà tất cả

đều là đi bộ (Có sách nói vua Quang Trung còn dùng cả võng khiêng, cứ hai ngời khiêng

thì một ngời đợc nằm nghỉ, luân phiên nhau suốt đêm ngày).

Mặt khác, từ Tam Điệp ra Thăng Long (khoảng hơn 150km), vừa hành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung chỉ định trong vòng 7 ngày, (mồng 7 tháng giêng) sẽ vào ăn tết ở Thăng Long Nhng trên thực tế, đã thực hiện sớm 2 ngày – tra mồng 5 đã vào Thăng Long –

Trang 4

Ôn luyện vào 10

Hành quân liên tục nh vậy, thờng quân đội sẽ mệt mỏi, rã rời, nhng nghĩa quân Tây Sơn thì cơ nào đội ấy vẫn chỉnh tề đó là do tài tổ chức của ngời cầm quân: hơn một van quân mới tuyển đặt

ở trung quân và quân tinh nhuệ từ đất Thuận Quảng đã bao bọc ở bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu

+ Lẫm liệt trong chiến trận

Hoàng đế Quang Trung thân chinh cầm quân không chỉ trên danh nghĩa, Ông là tổng chỉ huy chiến dịch thực sự: hoạch dịnh phơng lợc tiến đánh, tổ chức quân sĩ, tự mình thống lĩnh một mũi tiến công, cỡi voi đi đốc thúc, xông pha tên dạn, bày mu tính kế…Mặt khác, đội quân của vua Quang Trung không phải là toàn lính thiện chiến, lại vừa trải qua những ngày hành quân cấp tốc, không có thì giờ nghỉ ngơi, thế nhng dới sự lãnh đạo tài tình của vua Quang Trung, đội quân ấy đã

đánh những trận thật hào hùng, thắng áp đảo kẻ thù ( bắt hết quân do thám của địch ở Phú

Xuyên, giữ dợc bí mật để tạo thế bất ngờ, vây kín làng Hà Hồi, “quân lính luân phiên nhau rạ ran” làm cho lính trong đồn “ai nấy rụng rời sợ hãi” xin hàng; công phá đồn Ngọc Hồi, lấy

ván ghép phủ rơm dấp nớc để làm mộc che, dàn trận tiến đánh, khi giáp la cà thì “quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa, những ngời cầm binh khí theo sau nhất tề xông tới”…) Khí thế của đội quân này làm cho kẻ thù phải khiếp vía, thật là “ tớng ở trên trời rơi xuống, quân ở dới đất chui lên” Hình ảnh ngời anh hùng cũng dợc khắc hoạ một cách lẫm liệt, đặc biệt là trong trận đánh đồn Ngọc Hồi, giữa cảnh “khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì”, nổi bật lên là hình ảnh nhà vua “ cỡi voi đi đốc thúc” (Có sách ghi khi Quang Trung vào đến Thăng

Long, tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen khói súng).

2 – Nghệ thuật:

- Cách trần thuật của đoạn văn thật đặc sắc, không chỉ nhằm ghi lại những sự kiện lịch sử diễn biến gấp gáp, khẩn chơng qua từng mốc thời gian,mà còn chú ý miêu tả cụ thể từng hành động, lời nói của nhân vật chính, từng trận đánh và những mu lợc tính toán, thế đối lập giữa hai đội quân ( một bên thì xộc xệch, trễ nải, nhát gan, một bên thì xông xáo dũng mãnh, tổ chức nghiêm minh) Qua đó, hình ảnh ngời anh hùng đợc khắc hoạ khá đậm nét, có tính cách quả cảm, mạnh mẽ, có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, có tài dụng binh nh thần,là ngời tổ chức và là linh hồn của những chiến công

vĩ đại

- Dờng nh có sự mâu thuẫn giữa nhan đế tác phẩm với nội dung tác phẩm Nhan đề mang ý nghĩa ca ngợi nhà Lê, nhng nội dungtác phẩm lại vạch rõ sự thối nát, mục ruỗng của triều đình nhà

Lê, và ca ngợi ngời anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ Điều đó nói lên quan điểm phản ánh hiện

thực của các tác giả là tôn trọng sự thực lịch sử và ý thức dân tộc dù có cảm tình với nhà Lê, họ

không thể bỏ qua sự thực một ông vua nhà Lê hèn yếu đã cõng rắn cắn gà nhà Dù không theo Tây Sơn, họ không thể không thấy chiến công lừng lẫy của vua Quang Trunglà niềm tự hào lớn lao của dân tộc Bởi thế mà hình tợng ngời anh hùng áo vải Nguyễn Huệ hiện lên một cách oai phong lẫm liệt

và hết sức chân thực trong tác phẩm

C – Phần kết bài.

- Tóm lại, với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, cá tác giả “Hoàng Lê

nhất thống chí” đã tái hiện chân thực, sinh động hình ảnh ngời anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua những chiến công thần tốc đại phá quân Thanh và tự hào hơn về truyền thống yêu nớc của dân tộc

ta, đồng thời càng hiểu thấu tim đen của quân xâm lợc phơng Bắc và âm mu của Thiên triều cũng nh

bộ mặt dơ bẩn của bọn Việt gian bán nớc

- Học sinh nêu bài học cho bản thân

************************@************************

đề 7 1- Câu 1: Hãy tóm tắt và nêu giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Truyện Kiều –

Nguyễn Du

2- Câu 2: Em hãy phân tích đoạn trích:

a- Cảnh ngày xuân.

yêu cầu cần đạt.

I – Câu I:

a – Tóm tắt

* Gặp gỡ và đính ớc.

Dới thời Gia Tĩnh Triều Minh, ông bà Vơng Viên ngoại ở Bắc Kinh sinh đợc 3 ngời con , 2 gái, 1 trai

“Một con trai thứ rốt lòng, Vơng Quan là chữ nối dòng nho gia.

Đầu lòng hai ả tố nga, Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân”.

Hai chị em Kiều có nhan sắc “mỗi ngời một vẻ mời phân vẹn mời”, và đã đến “tuần cập kê” Mùa xuân năm ấy 3 chị em đi thanh minh (tảo mộ) Lúc ra về khi bóng chiều đã ngả, họ gặp chàng văn nhân Kim Trọng “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” Sau cuộc kì ngộ ấy, Kiều và Kim Trọng yêu nhau, hai ngời thề nguyền “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xơng” Kim Trọng nhận

đ-ợc th nhà, chàng phải vội về Liễu Dơng “hộ tang” chú

* Gia biến và lu lạc.

Trang 5

Ôn luyện vào 10

Sau đó, gia đình Kiều gặp tai biến, bị thằng bán tơ vu oan Cha và em Kiều bị bắt , bị tra tấn rã man Bọn sai nha, lũ đầu trâu mặt ngựa ập đến đập phá nhà cửa tan hoang, cớp bóc tài sản “sạch

sành sanh vét cho đầy túi tham” Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để đút lót cho bọn quan lại

để cứu cha và em Nàng đã trao duyên cho Thuý Vân Mã Giám Sinh đa nàng về Lâm Tri Kiều biết mình bị đẩy vào lầu xanh bèn rút dao tự vẫn nhng không chết Nàng đợc Đạm Tiên báo mộng là phải

đến sông Tiền Đờng sau này mới hết kiếp đoạn trờng Mụ Tú Bà dỗ dành Kiều ra ở lầu Ngng Bích,

mụ thuê Sở Khanh đánh lừa Kiều, đa Kiều đi trốn Kiều bị Tú Bà đánh đập, ép nàng phải sống cuộc

đời ô nhục Tại lầu xanh Kiều gặp Thúc Sinh, một khách làng chơi giàu có Thúc Sinh chuộc Kiều ra

và lấy Kiều làm lẽ Hoạn Th, Vợ cả Thúc Sinh lập mu bắt cóc Kiều đa về Vô Tích để đánh ghen

Kiều bỏ trồn , nơng tựa cửa chùa Giác Duyên… Kiều lại rơi vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh, bị đẩy vào lầu xanh lần thứ hai Kiều gặp Từ Hải (ngời anh hùng nổi dậy chống lại triều đình), Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh và cới nàng làm vợ “Phỉ nguyền sánh phợng, đẹp duyên cỡi rồng” Một năm sau, Từ Hải đã có mời vạn tinh binh, rạch đôi sơn hà, lập nên một triều đình “ Năm năm hùng cứ một phơng hải tần” và đã giúp kiều báo ân báo oán.

* Đoàn viên.

Sau nửa năm về Liễu Dơng hộ tang chú, Kim Trọng trở lại Bắc Kinh, tìm đến vờn Thuý Kim Trọng kết duyên với Thuý Vân Kim Trọng và Vơng Quan thi đỗ, đợc bổ đi làm quan Cả gia đình đến sông Tiền Đờng lập đàn giải oan cho Kiều Bất ngờ vãi Giác Duyên đi qua và cho biết Kiều còn sống,

đang tu ở chùa

Kiều gặp lại cha mẹ, hai em và chàng Kim sau 15 năm trời lu lạc Trong bữa tiệc đoàn viên, cả nhà ép Kiều phải lấy Kim Trọng, nhng rồi hai ngơiù đã đem tình vợ chồng đổi thành tình bạn bè:

“Duyên đôi lứa cũng là duyên ban bầy”.

2 – Giá trị.

Nguyễn Du đã dựa vào tác phẩm “Kim Vân Kiều truyện” để tạo nên “Đoạn trờng tân thanh” – Truyện Kiều – kiệt tác số một của thi ca cổ điển Việt Nam

a – Nội dung.

- Giá trị hiện thực:

+ Bức tranh về XHPK bất công, tàn bạo trà đạp lên quyền sống của con ngời

+ Số phận bất hạnh của ngời con gái đức hạnh, tài hoa trong xã hội cũ

- Giá trị nhân đạo:

+ Lên án chế độ phong kiến vô nhân đạo

+ Cảm thơng trớc số phận của con ngời

+ Khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm ,ớc mơ và khát vọng chân chính của con ngời Hoặc nh Hoài Thanh đã từng đánh giá “ Đó là một bản án, một tiếng kêu th ơng, một ớc mơ và một cái nhìn bế tắc ”

b – Giá trị nghệ thuật.

“Truyện Kiều” đạt đến đỉnh cao “mẫu mực cổ điển” Chất tự sự và trữ tình kết hợp hài hoà.

Với 3254 câu thơ lục bát toàn bích; lời thơ đẹp, hình tợng thơ mĩ lệ, nhạc điệu, vần điệu trau chuốt, tinh luyện, mợt mà Nghệ thuật tả cảnh, tả ngời, tả tình rất biến hoá, đa dạng, phong phú, lúc thì bằng bút pháp ớc lệ tợng trng, lúc thì bằng bút pháp hiện thực Ngoại hình và tâm

lí nhân vật đợc khắc hoạ một cách sâu sắc, tinh tế, cá thể hoá cao độ Thi liệu, văn liệu Trung Hoa, thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam đợc vận dụng rất linh hoạt tài tình => “Truyện

Kiều” đã trở thành “tếng thơng”, “lời ru của mẹ hiền”, vô cùng thân thiết với con ngời Việt Nam

chúng ta

***********************@*********************

II- Câu II.

A – Câu 1 Cảnh ngày xuân.

yêu cầu cần đạt.

* Phần mở bài

- Nêu vài nét về giá trị Nghệ thuật ( Phần 2b – Câu I).

- Trang thơ của Nguyễn Du đang mở rộng trớc mắt chúng ta Sau bức chân dung giai nhân là bức hoạ về cảnh xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của trai tài gái sắc, của chị em Thuý Kiều Đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” gồm có 18 câu, trích trong tác phẩm “ Truyện Kiều” là một đoạn trích tiêu biểu cho bút pháp tả cảnh và tả tình của Đại thi hào Nguyễn Du

* Phần thân bài.

1 – Bốn câu thơ đầu:

Mở ra một không gian nghệ thuật hữu sắc, hữu hơng,hữu tình và hết sức nên thơ

- Giữa không gian bao la mênh mông là những cánh én bay qua bay lại nh “đa thoi” Hai chữ

“đa thoi” rất gợi hình, gợi cảm Cánh én nh con thoi vút qua vút lại , chao liệng.

=> Câu thơ gợi ta nhớ tới hai câu tục ngữ, thành ngữ trong kho tàng ca dao – dân ca “ thời

gian thấm thoắt thoi đa, nh ngựa chạy, nh nớc chảy qua cầu

=> Bớc đi của thời gian, của mùa xuân

Trang 6

Ôn luyện vào 10

- Sau cánh én “đa thoi” là ánh xuân, là “thiều quang” khi “chín chục đã ngoài sáu mơi” Cách

tính thời gian và miêu tả cảnh đẹp mùa xuân của Nguyễn Du thật hay và đầy thi vị (cái hay, cái ý vị

ấy nó là nét chung của các thi nhân xa và nay VD: - Xuân hớng lão, trong thơ của Nguyễn Trãi; - Xuân hồng ,trong thơ Xuân Diệu …) Mặc dù mùa xuân đã sang tháng ba, nhng cái ấm áp

của khí xuân, ánh xuân, cái mênh mông bao la của đất trời vẫn hiện lên một cách ý vị, lạ kì (“thiều quang”- > gợi lên màu hồng).

- Tiếp theo là sắc “xanh” mơn mởn, ngọt ngào của cỏ non trải dài, trải rộng nh tấm thảm đến

“tận chân trời” Là sắc “trắng” tinh khôi, thanh khiết của hoa lê mới hé lộ, khoe sắc khoe hơng của

“một vài bông hoa”.

=> Nguyễn Du đã vận dụng một cách sáng tạo cổ thi Trung Hoa “Phơng thảo liên thiên

bích – Lê chi sổ điểm hoa” vào trong thơ của mình:

=> Hai chữ “trắng điểm” là nhãn tự , là cách chấm phá điểm xuyết của thi pháp cổ gợi lên vẻ

đẹp thanh xuân trinh trắng của thiên nhiên cỏ hoa

=> Đoạn thơ đã thể hiện một bút pháp nghệ thuật phối sắc tài tình: trên cái nền “xanh” của

cỏ non là một vài bông lê “trắng điểm”.Giữa điểm và diện: giữa nền xanh và sắc trắng của cảnh vật mùa xuân là những cánh én “đa thoi”, Là màu hồng của ánh thiều quang, là khát vọng mùa xuân ngây ngất, đắm say lòng ngời

=> “Cảnh ngày xuân” là bức tranh xuân hoa lệ, là vần thơ tuyệt bút của Nguyễn Du để lại cho đời, điểm tô cho cuộc sống của mỗi chúng ta

2 – Tám câu thơ tiếp theo.

Tác giả tập trung vào tả cảnh trẩy hội mùa xuân “Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh” trong tiết tháng ba Điệp ngữ “lễ là …hội là…” -> gợi lên những cảnh lễ hội dân gian cứ liên tiếp diễn ra bao đời nay; -> cảnh trẩy hội đông vui, tng bừng, náo nhiệt

- Các từ ngữ “ nô nức”, “dập dìu” và các ẩn dụ so sánh “ nh nớc”, “nh nêm”-> đã gợi tả lễ hội mùa xuân tng bừng náo nhiệt

- Trong đám tài tử, giai nhân “gần xa” ấy, có 3 chị em Kiều Câu thơ “Chị em sắm sửa bộ hành

chơi xuân” mới đọc qua tởng nh chỉ là thông báo Nhng sâu xa hơn, nó ẩn chứa bao nỗi niềm chờ trông mong đợi Có bao bóng hồng xuất hiện trong đám tài tử, giai nhân ấy -> một bức tranh ru xuân tng bừng, tơi trẻ

- Thơ là nghệ thuật của ngôn từ Các từ ghép: “yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, ngựa xe, áo

quần, (danh từ); gần xa, nô nức, sắm sửa, dập dìu (tính từ, động từ) đợc thi hào Nguyễn Du sử dụng

chọn lọc tinh tế, làm sống dậy không khí lễ hội mùa xuân – một nét đẹp lâu đời của nền văn hoá

ph-ơng Đông cũng nh nếp sống phong lu của chị em Thuý Kiều

- Đời sống tâm linh, phong tục dân gian cổ truyền trong lễ tảo mộ, đợc Nguyễn Du nói đến với nhiều cảm thông chia sẻ

“Ngổn ngang……

………giấy bay”.

=> Cõi âm và cõi dơng, ngời đang sống và kẻ đã khuất, hiện tại và quá khứ đang cùng hiện lên trên những gò đống “ngổn ngang” trong lễ tảo mộ Cái tâm thánh thiện, niềm tin dân gian phác thực đầy ắp nghĩa tình Các tài tử, giai nhân và 3 chị em Thuý Kiều không chỉ nguyện cầu cho những vong linh mà còn gửi gắm bao niềm tin, bao mơ ớc về tơng lai hạnh phúc cho tuổi xuân khi mùa xuân về => Đây chính là giá trị nhân bản sâu sắc của Nguyên Du trong những vần thơ này

3 – Sáu câu thơ cuối.

Ghi lại cảnhchị em Kiều đi tảo mộ đang dần bớc trở về nhà Nhịp thơ châm rãi => nhịp sống

nh ngừng trôi Một cái nhìn man mác bâng khuâng

- Tất cả mọi cảnh vật đều nhỏ bé => gợi lên cảm giácvề một không gian êm đềm vắng lặng Tâm tình của chị em Kiều nh lắng lại trong bóng tà dơng

- Các từ láy tợng hình: “thanh thanh, nao nao, nho nhỏ” gợi lên sự nhạt nhoà của cảnh vật

và sự rung động của tâm hồn giai nhân khi hội tan, ngày tàn Nỗi niềm man mác, bâng khuâng của cảnh vật nh thấm sâu, lan toả nh thấm sâu trong tâm hồn giai nhân đa tình, đa cảm

- Cảnh vật và thời gian đợc miêu tả bằng bút pháp ớc lệ tợng trng nhng rất sống động, gần gũi, thân quen Đó chính là màu sắc của đồng quê, của phong cảnh quê hơng đất nớc.=> Tính dân tộc đâm đà trong thơ Nguyễn Du

* Phần kết bài.

- Đoạn thơ rất thành công trong nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên.=> Nguyễn Du không những là một nhà thơ lỗi lạc mà còn là một hoạ sĩ tài tình Bức tranh xuân ít màu nhng rất linh hoạt => Bức tranh nh có linh hồn, làm rung cảm ngời đọc một cách nhẹ nhàng

************************@**************************

Đề 9: Phân tích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của tác giả Phạm Tiến Duật.

yêu cầu cần đạt.

A Phần mở bài.

- Là một trong những nhàthơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm tháng chống Mĩ

“Xẻ dọc Trờng Sơn đi cứu nớc.

Trang 7

Ôn luyện vào 10

Mà lòng phơi phới dậy tơng lai ”.

(Tố Hữu).

Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính, khoẻ, dạt dào sức sống, tinh nghịch, vui tơi, giàu suy tởng

- “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (nằm trong chùm thơ Phạm Tiến Duật đợc tặng giải nhất

cuộc thi thơ báo văn nghệ năm 1969 – 1970 Sau đợc in trong “Vâng trăng quầng lửa” – 1970) Bài thơ ghi lại những nét ngang tàng, dũng cảm và lạc quan của ngời chiến sĩ lái xe trong binh đoàn vận tải quân sự, qua đó ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đánh Mĩ

B – Phần thân bài.

- Bài thơ làm hiện lên chiếc xe không kính đang vợt qua bom đạn tiến ra tiền phơng Đây là một hình tợng hết sức độc đáo, vì nó là chiếc xe mang sức mạnh thần kì của một dân tộc đang chiến

đấu vì một quyết tâm sắt đá “Xẻ dọc Trờng Sơn đi chiến đấu” Mặt khác, nó còn thể hiện cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, dữ dội diễn ra trên mặt trân giao thông vận tải, trên con đờng chiến lợc Trờng Sơn

1 – Bốn khổ thơ đầu.

+ Hai câu thơ đầu nói rõ vì sao xe “không có kính”

Không có kính không phải vì xe không có kính, Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.

=> Cấu trúc câu thơ đợc thể hiện dới hình thức hỏi đáp Ba chữ “không” đi liền nhau, hai nốt nhấn “bom giật, bom rung” biểu lộ chất lính trong cách nói phóng túng hồn nhiên Câu thơ

đậm chất văn xuôi, nhng đọc lên nghe vẫn rất thú vị

+ Mời bốn câu thơ tiếp theo khắc hoạ hình ảnh ngời chiến sĩ lái xe trên tuyến đờng Trờng Sơn qua một loạt hình ảnh hoán dụ: “con mắt, mái tóc,tim, mặt, nụ cời,…”

=> Một t thế ngồi lái “ung dung” tuyệt đẹp: thong thả, khoan thai Những cái nhìn khoáng đạt, dũng mãnh, hiên ngang: “ ung dung… nhìn thẳng” Hai chữ “ta ngồi” với điệp từ “nhìn” láy lại 3 lần, giọng thơ, nhịp thơ mạnh mẽ, đĩnh đạc

* Phạm Tiến Duật đã dành trọn một khổ thơ để nói lên những gì ngời chiến sĩ “nhìn thấy”.

Những câu thơ nối tiếp xuất hiện vói rất nhiều hình ảnh gây ấn tợng mạnh mẽ “ Nhìn thấy… buồng

lái ”.

=> Có gió thối, có cánh chim chiều và cả ánh sao đêm Gió đợc nhân hoá và chuyển

đổi cảm giác đầy ấn tợng: “gió vào xoa mắt đắng” Xe chạy thâu đêm, xe lại không có kính nên mới

có cảm giác “đắng” nh thế Con đờng phía trớc là con đờng chiến lợc cụ thể, nó còn mang hàm nghĩa

“chạy thẳng vào tim” => đó là con đờng chiến đấu vì chính nghĩa, vì lẽ sống, vì tình thơng, vì độc lập

tự do của đất nớc và của dân tộc Các từ “nhìn thấy…”/ “nhìn thấy…”/ “ thấy…” với các chữ “sa”,

“ùa” góp phần đặc tả tốc độ phi thờng của chiếc xe quân sự đang bay đi, đang lớt nhanh trong bom

đạn

* Nếu khổ thơ trên nói đến “gió” thì khổ thơ tiếp theo nói đến “bụi” Gió bụi tợng trng cho gian khổ, thử thách ở đời “Không có… cời ha ha”

=> Chữ “ừ” vang lên nh một thách thức, một chấp nhận nhng chủ động của ngời chiến sĩ lái xe

=> Với bao chi tiết hiện thực đầy ắp trong từng vần thơ.Mái tóc xanh qua mấy dặm trờng có sự thay đổi đáng sợ “Bụi phun tóc trắng nh ngời già” => một hình ảnh so sánh hóm hỉnh,

độc đáo! Một kiểu hút thuốc cũng rất lính “phì phèo” Một nụ cời lạc quan yêu đời và rất hồn nhiên

“ha ha” cất lên từ một khuân “mặt lấm” khi đồng đội gặp nhau.

* Sau “bụi” nói đến “ma”: “Không có kính… Ma tuôn ma xối nh ngoài trời… khô mau

thôi ”.

=> Thế là ngời lính nếm đủ mọi gian khổ: gió bụi, ma rừng Khổ thơ thể hiện một tinh

thần phơi phới, lạc quan nhng cũng hết sức ngang tàng của ngời chiến sĩ trên tuyến đờng máu lửa Tr-ờng Sơn

=> Nhiệt tình cách mạng của ngời lính không còn trừu tợng nữa, nó đợc tính bằng

những “cung đờng lái trăm cây số nữa” Cung đờng ấy trong bom đạn, ma rừng phải trả giá bằng bao mồ hôi, xơng máu! Câu thơ cuối khổ 7 từ mà có đến 6 thanh bằng => Nó diễn tả cái phơi phới,

đầy nghị lực, bất chấp gian khổ của ngời lính.

2 - Hai khổ thơ thứ 5 và 6 ghi lại hình ảnh tiểu đội xe không kính và cuộc trú quân giữa rừng

“Những chiếc xe… trời xanh thêm”.

=> Sau những chặng đờng gian khổ, những tháng ngày ma gió, bụi đờng… và bom

đạn cũng nh những mất mát hi sinh, họ lại gặp nhau…Cái bắt tay cũng vô cùng độc đáo “Bắt tay

qua cửa kính vỡ rồi ”

=> Có bữa cơm hội ngộ Tình đồng đội cũng là tình anh em gia đình ruột thịt Có cảnh mắc võng dã chiến “ chông chênh” bên đờng Rồi đoàn xe “lại đi, lại đi”, nối tiếp nhau ra tiền

ph-ơng Trên đầu họ, trong tâm hồn họ “trời xanh thêm”, chứa chan hi vọng, lạc quan

3 - Khổ cuối bài thơ “Không có kính… có một trái tim” => 3 cái

“không có” và chỉ một cái “có” càng tô đậm thêm sự khốc liệt của chiến tranh.

=> Sau cái “thùng xe có xớc”, ngời chiến sĩ lái xe tự hào khẳng định “Chỉ cần trong

xe có một trái tim ” “Có trái tim” ấy là sẽ có tất cả “Trái tim”- Là hình ảnh hoán dụ thể hiện sức

Trang 8

Ôn luyện vào 10

mạnh chiến đấu, ý chí kiên cờng của ngời chiến sĩ lái xe vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thân yêu, vì sự nghiệp thống nhất đất nớc

=> “Trái tim” ấy là trái tim yêu thơng, trái tim sục sôi căm giận Phải chăng câu thơ của Pham Tiến Duật đợc khơi nguồn cảm hứng từ câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của dân tộc: “Miền Nam luôn luôn trong trái tim tôi”

C

– Phần kết bài.

- “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật là một bài thơ hay, đặc sắc nó tiêu biểu cho phong cách thơ của tác giả

- Với chất giọng trẻ, chất lính sâu sắc, từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh, sự linh hoạt của nhạc điệu, sự kết hợp hài hoà giữa chất hiện thực hào hùng với cảm hứng lãng mạn cách mạng => Bài thơ đã làm sống lại một thời gian khổ, oanh liệt của anh bộ đội Cụ Hồ, đồng thời khắc hoạ, tôn vinh vẻ đẹp phẩm giá của con ngời trong chiến tranh

**************************@***************************

Đề 10: Phân tích bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ” – Nguyễn Khoa Điềm.

yêu cầu cần đạt.

A - Phần mở bài

- Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ” đợc Nguyễn Khoa Điềm sáng tác năm

1971, khi đang công tác ở chiến khu miền tây Thừa Thiên Sau đợc in trong tập “Đất nớc và khát vọng” (1984)

- Bài thơ ra đời vào những năm tháng quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ Giai đoạn này, cuộc sống của cán bộ và nhân dân ta trên các chiến khu rất gian nan, thiếu thốn, vừa phải bám

đất, bám rẫy tăng gia sản xuất, vừa chiến đấu bảo vệ căn cứ Tác phẩm tập trung thể hiện tình yêu con và ớc vọng của ngời mẹ Tà-ôi => Bày tỏ lòng yêu quê hơng đất nớc và khát vọng tự do của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mĩ

B – Phần thân bài

Bà mẹ đợc nói đến trong tác phẩm là bà mẹ ngời Tà-ôi, một ngời có tình thơng mênh mông:

th-ơng con, thth-ơng làng đói,thth-ơng bộ đội, thth-ơng đất nớc Bài thơ có 3 khúc ca đợc sáng tạo theo âm điệu dân ca, điệu ru con của đồng bào Tà-ôi trên miền núi Trị Thiên Mở đầu mỗi khúc ca là một điệp khúc ngọt ngào tha thiết

“Em cu tai ngủ trên lng mẹ ơi!

Em ngủ cho ngoan đờng rời lng mẹ…”

Có lúc nh vỗ về yêu thơng

“Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi…”

1- Khúc ca thứ nhất là tiếng ru khi mẹ địu con giã gạo

- Hàng loạt hình ảnh hoàn dụ “mồ hôi, má, vai, lng, tim” đợc sử dụng rất “đắt” để thể hiện trái tim yêu thơng mênh mông của ngời mẹ nghèo Lng mẹ là chiếc nôi để con lớn lên, tiếng ru con “nghiêng” theo nhịp chày làm cho giấc ngủ của em Cu-Tai cũng “nghiêng” theo Con nh đang chia sẻ sự vất vả cùng mẹ

2 Khúc ca thứ 2 là tiếng ru khi mẹ tỉa bắp trên núi Ka-li Ngời mẹ cần cù và đảm đang vừa địu con , vừa làm dẫy So sánh “lng núi” với “ lng mẹ’’ nhằm khẳng định đức tính kiên nhẫn , chịu đựng gian khổ của ngời mẹ nghèo :

“Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka –li

Lng nùi thì to mà lng mẹ nhỏ’’

“Mặt trời’’trong thơ NKĐ là một hình ảnh ẩn dụ nói lên tình thơng, niềm tự hào của mẹ đồi với cu tai , vì em là nguồn sống , nguồn hạnh phúc của mẹ :

“ Mặt trời của mẹ , em nằm trên lng’’

Mẹ nhân hậu , lòng mẹ bao la mang nặng tình nhà nghĩa xóm :

Thời kháng chiến “hạt gạo cắn đôi ,hạt muối chia đều’’ là thế

3 Khùc ca thứ 3 , nhịp điệu vang lên dồn dập Đó là lúc “thằng mĩ đuổi ta phải dồi con suối’’ dồn

đồng bào Tà -ôi vào chỗ chết , mẹ địu con khi đang “chuyển lán’’và “đạp rừng’’ Cả gia đình mẹ cùng

ra trận , mang tầm vóc anh hùng :

Khúc ca thứ 3 là khúc ca chiến đấu “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh’’là truyền thống AH của

ng-ời VN.ở đây , ngng-ời mẹ địu con ra trận ,đi tiếp tế tải đạn vì sự nghiệp giải phóng miền nam , thống nhất

đất nớc’’

4 Trong bài thơ NKĐ 3lần nói lên giấc mơ đẹp của bé thơ.Đó là giấc mơ tình thơng, giấc mơ về

no ấm,hạnh phúc ,giấc mơ về chiến thắng

C Phần kết bài

Bài thơ “KHRNEBLTLM’’xứng đáng là bài ca lòng mẹ Việt nam Mọi đứa trẻ chỉ có thể lớn lên bằng dòng sữa ,bằng lời du , tình thơngcủa mẹ Bài thơ của NKĐ là tợng đài tráng lệ về bà mẹ VN”Anh hùng , bất khuất , trung hậu đảm đang’’ nó nhắc nhở mỗi chúng ta ghi sâu trong lòng tình cảm kính yêu và lòng biết ơn ngời mẹ hiền của mỗi chúng ta, tự hào về bà mẹ Việt Nam

************************@**************************

đề 11: Phân tích bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” – T/giả Huy Cận.

yêu cầu cần đạt

Trang 9

Ôn luyện vào 10

A – Phần mở bài: “Đoàn thuyền đánh cá” đợc tác giả Huy Cận sáng tác năm 1958, tại vùng biển Quảng Ninh, T/ phẩm phản ánh không khí lao động sôi nổi của nhân dân miền Bắc trong công cuộc xây dựng hoà bình

B – Phần thân bài

1 – Hai khổ thơ đầu: Nói về cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá Bằng việc sử dụng những biện pháp tu từ so sánh ẩn dụ( hòn lửa, cài then), tác giả đã tạo nên những vần thơ đẹp, gây cho ngời đọc nhiều ấn tợng “mặt trời… cùng gió khơi”

- Đó là cảnh biển tráng lệ lúc hoàng hôn Bầu trời và mặt biển bao la trong khoảnh khắc đã phủ bóng tối mịt mùng “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi” -> Đó chính là biểu hiện của cuộc đời mới

đầy sức mạnh đang dần đổi thay

- Chữ “lại” trong ý thơ “lại ra khơi” chính là sự khẳng định nhịp sống lao động của ngời dân chài đã dần đi vào ổn định, đi vào nề nếp

- “Tiếng hát, gió khơi, căng buồm” là 3 chi tiết nghệ thuật mang tính chất tợng trng diễn tả tinh thần phấn khởi, hăng say và khí thế ra khơi của ng dân vùng biển

Khổ thơ tiếp theo nói rõ hơn về câu hát để làm nổi bật lên một nét tâm hồn của ngời đi biển Đó

là tiếng hat cầu mong gặp nhiều may mắn “Hát rằng,… đoàn cá ơi”

- Chuyện làm ăn thờng có nhiều may rủi, ra khơi đánh cá, họ chỉ cầu mong biển lặng, sóng

êm, gặp luồng ca, đánh bắt đợc nhiều -> ớc mong ấy phản ánh tấm lònh hồn hậu của ngờing dân

đãtừng trải qua nhiều nắng, gió, bão tố trên biển

- Giọng điệu thơ ngọt ngào, ngân dài và vang xa kết hợp với những hình ảnh so sánh ẩn dụ rất sáng tạo “Cá bạc, đoàn thoi, dệt biển, luồng sáng, dệt lới” Đã đem đến cho ngời đọc bao liên tởng thú vị về cuộc sống lao động cử ngời dân đi biển

2 – Bốn khổ thơ tiếp theo

Nói về cảnh đánh cá trong một đêm trăng trên vịnh Hạ Long Mỗi khổ thơ là một nét vẽ về biển trời trăng sao, trong đó con ngời hiện lên trong dáng vẻ khoẻ mạnh, trẻ trung và yêu đời

- Đoàn thuyền có gió làm lái, có trăng làm buồm phóng nh bay trên mặt biển Cuộc đánh cá thực sự là một trận đánh , mỗi thủy thủ là một chiến sĩ -> Thiên nhiên cùng góp sức với con ngời trên con đờng lao động và khám phá

- Đặc sắc nhất vẫn là những câu thơ tả về đàn cá Vận dụng sáng tạo cách nói của dân gian

“Chim, thu, nhụ, đé” Tác giả đã tạo lên đợc những nét vẽ tài hoa -> Thể hiện một ngồi bút phối sắc tài tình làm cho vần thơ đẹp nh một bức tranh sơn mài rực rỡ => Phải là ngời có một tình yêu biển sâu nặng mới viết lên đợc những vần thơ tuyệt bút đến nh vậy

- Biển hào phóng cho ta nhiều hải sản vật, biển nh lòng mẹ đã nuôi sống nhân dân từ bao đời nay So sánh biển với lòng mẹ, tác giả đã nói lên đợc niềm tự hào của dân chài đối với biển quê hơng

Trang 10

Ôn luyện vào 10

đề 7 1- Câu 1: Hãy tóm tắt và nêu giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Truyện Kiều –

Nguyễn Du

2- Câu 2: Em hãy phân tích đoạn trích:

a- Cảnh ngày xuân.

b- Kiều ở lầu Ngng Bích.

c- Mã Giám Sinh mua Kiều.

d- Thuý Kiều báo ân báo oán.

( Trích: “Truyện Kiều” – Nguyễn Du).

yêu cầu cần đạt.

I – Câu I:

a – Tóm tắt

* Gặp gỡ và đính ớc.

Dới thời Gia Tĩnh Triều Minh, ông bà Vơng Viên ngoại ở Bắc Kinh sinh đợc 3 ngời con , 2 gái, 1 trai

“Một con trai thứ rốt lòng, Vơng Quan là chữ nối dòng nho gia.

Đầu lòng hai ả tố nga, Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân”.

Hai chị em Kiều có nhan sắc “mỗi ngời một vẻ mời phân vẹn mời”, và đã đến “tuần cập kê” Mùa xuân năm ấy 3 chị em đi thanh minh (tảo mộ) Lúc ra về khi bóng chiều đã ngả, họ gặp chàng văn nhân Kim Trọng “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” Sau cuộc kì ngộ ấy, Kiều và Kim Trọng yêu nhau, hai ngời thề nguyền “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xơng” Kim Trọng nhận

đ-ợc th nhà, chàng phải vội về Liễu Dơng “hộ tang” chú

* Gia biến và lu lạc.

Sau đó, gia đình Kiều gặp tai biến, bị thằng bán tơ vu oan Cha và em Kiều bị bắt , bị tra tấn rã man Bọn sai nha, lũ đầu trâu mặt ngựa ập đến đập phá nhà cửa tan hoang, cớp bóc tài sản “sạch

sành sanh vét cho đầy túi tham” Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để đút lót cho bọn quan lại

để cứu cha và em Nàng đã trao duyên cho Thuý Vân Mã Giám Sinh đa nàng về Lâm Tri Kiều biết mình bị đẩy vào lầu xanh bèn rút dao tự vẫn nhng không chết Nàng đợc Đạm Tiên báo mộng là phải

đến sông Tiền Đờng sau này mới hết kiếp đoạn trờng Mụ Tú Bà dỗ dành Kiều ra ở lầu Ngng Bích,

mụ thuê Sở Khanh đánh lừa Kiều, đa Kiều đi trốn Kiều bị Tú Bà đánh đập, ép nàng phải sống cuộc

đời ô nhục Tại lầu xanh Kiều gặp Thúc Sinh, một khách làng chơi giàu có Thúc Sinh chuộc Kiều ra

và lấy Kiều làm lẽ Hoạn Th, Vợ cả Thúc Sinh lập mu bắt cóc Kiều đa về Vô Tích để đánh ghen

Kiều bỏ trồn , nơng tựa cửa chùa Giác Duyên… Kiều lại rơi vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh, bị đẩy vào lầu xanh lần thứ hai Kiều gặp Từ Hải (ngời anh hùng nổi dậy chống lại triều đình), Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh và cới nàng làm vợ “Phỉ nguyền sánh phợng, đẹp duyên cỡi rồng” Một năm sau, Từ Hải đã có mời vạn tinh binh, rạch đôi sơn hà, lập nên một triều đình “ Năm năm hùng cứ một phơng hải tần” và đã giúp kiều báo ân báo oán

* Đoàn viên.

Sau nửa năm về Liễu Dơng hộ tang chú, Kim Trọng trở lại Bắc Kinh, tìm đến vờn Thuý Kim Trọng kết duyên với Thuý Vân Kim Trọng và Vơng Quan thi đỗ, đợc bổ đi làm quan Cả gia đình đến sông Tiền Đờng lập đàn giải oan cho Kiều Bất ngờ vãi Giác Duyên đi qua và cho biết Kiều còn sống,

đang tu ở chùa

Kiều gặp lại cha mẹ, hai em và chàng Kim sau 15 năm trời lu lạc Trong bữa tiệc đoàn viên, cả nhà ép Kiều phải lấy Kim Trọng, nhng rồi hai ngơiù đã đem tình vợ chồng đổi thành tình bạn bè:

“Duyên đôi lứa cũng là duyên ban bầy”.

2 – Giá trị.

Nguyễn Du đã dựa vào tác phẩm “Kim Vân Kiều truyện” để tạo nên “Đoạn trờng tân thanh” – Truyện Kiều – kiệt tác số một của thi ca cổ điển Việt Nam

a – Nội dung.

- Giá trị hiện thực:

+ Bức tranh về XHPK bất công, tàn bạo trà đạp lên quyền sống của con ngời

+ Số phận bất hạnh của ngời con gái đức hạnh, tài hoa trong xã hội cũ

- Giá trị nhân đạo:

+ Lên án chế độ phong kiến vô nhân đạo

+ Cảm thơng trớc số phận của con ngời

+ Khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm ,ớc mơ và khát vọng chân chính của con ngời Hoặc nh Hoài Thanh đã từng đánh giá “ Đó là một bản án, một tiếng kêu th ơng, một ớc mơ và một cái nhìn bế tắc ”

b – Giá trị nghệ thuật.

“Truyện Kiều” đạt đến đỉnh cao “mẫu mực cổ điển” Chất tự sự và trữ tình kết hợp hài hoà.

Với 3254 câu thơ lục bát toàn bích; lời thơ đẹp, hình tợng thơ mĩ lệ, nhạc điệu, vần điệu trau chuốt, tinh luyện, mợt mà Nghệ thuật tả cảnh, tả ngời, tả tình rất biến hoá, đa dạng, phong

Ngày đăng: 03/05/2016, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w