Tác giả Nguyễn Đăng Na trong bài nghiên cứu Hồ Xuân Hương với văn học dân gian lại chỉ ra mối liên hệ giữa thơ Hồ Xuân Hương với văn hoá dângian và hẹp hơn là văn học dân gian trong cách
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của cô Vũ Thị Thịnh em đã thực hiện đề tài khóa luận:
Yếu tố dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
Để hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô
Vũ Thị Thịnh đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Giáo dục Trung học
cơ sở trường Cao đẳng sư phạm Bắc Ninh đã tận tình truyền đạt kiến thức trongnhững năm em học tập Vốn kiến thức tiếp thu trong quá trình học không chỉ lànền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để
em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Em xin cảm ơn thây cô trong Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Sư phạmBắc Ninh đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em có thể viết và hoàn thànhkhóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành khóa luận một cách hoànchỉnh nhất nhưng do còn hạn chế về kiến thức lẫn kinh nghiệm nên em khôngthể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Em rấtmong nhận được sự góp ý của quý thầy giáo, cô giáo để khóa luận được hoànchỉnh hơn
Em xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sựnghiệp cao quý!
Bắc Ninh, ngày tháng năm 2016 Sinh viên thực hiện
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN……… 1
MỤC LỤC 2
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 8
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 8
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
7.CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Khái niệm yếu tố dân gian 10
1.1.1 Khái niệm văn hóa dân gian 10
1.1.2 Khái niệm văn học dân gian 10
1.2 Yếu tố dân gian về phương diện nội dung và hình thức 11
1.2.1 Yếu tố dân gian về phương diện nội dung………… ………11
1.2.2 Yếu tố dân gian về phương diện hình thức 11
1.3 Khảo sát thơ Nôm Hồ Xuân Hương 11
CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ NGHỆ THUẬT 13
ĐẬM CHẤT DÂN GIAN TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG 13
2.1 Đề tài dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương 13
2.1.1 Đề tài người "có học" 13
2.1.2 Đề tài về nhà chùa 16
2.1.3 Đề tài người phụ nữ 18
2.1.4 Đề tài về phong tục, sinh hoạt dân gian 24
2.2 Hình tượng mang đậm chất dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương .27
Trang 32.2.1 Mô típ hình tượng từ văn học dân gian, văn hoá dân gian 31
2.2.2 Mô típ hình tượng mang tính phồn thực 38
2.3 Ngôn ngữ văn hóa dân gian trong thơ Nôms Hồ Xuân Hương 42
2.3.2 Ngôn ngữ đời sống 47
2.3.2.1 Cách nói lái 47
2.3.2.2 Từ tục, tiếng chửi 49
2.3.2.3 Khẩu ngữ 50
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 4có thể nhớ và thuộc thơ bà một cách dễ dàng Phải chăng thơ của bà giản dị, gầngũi với đời sống hay do có một mạch ngầm từ thơ ca dân gian đã thấm vào từngvần thơ của tác giả Có lẽ là do cả hai Chính điều này đã gợi ý cho tôi chọn đềtài:
Yếu tố dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên thi đàn, Hồ Xuân Hương có một vị trí đặc biệt quan trọng bởi thơ bàthể hiện được sự đổi mới, cách tân trên nhiều phương diện Trước hết về nộidung Bà đã đưa vào thơ những đề tài bình dị, dân dã, cũng như cách cảm, cáchnghĩ của dân gian Đề cập tới vấn đề này nhà nghiên cứu Tam Vị trong bài viết
Tinh thần phục hưng trong thơ Hồ Xuân Hương cho rằng: "Hồ Xuân Hương đã
làm sống lại trong văn học thành văn cả một truyền thống văn hoá phồn thựchùng hậu Văn hoá này được hình thành từ rất lâu và sống rất bền vững trongđời sống dân gian." Đề cập tới tinh thần phục hưng trong thơ Hồ Xuân Hươngchính là việc tác giả tiến hành chứng minh và khẳng định: Hồ Xuân Hương đãđem vào văn học cả tinh thần, thế giới quan của văn hoá dân gian
Trang 5Tác giả Nguyễn Đăng Na trong bài nghiên cứu Hồ Xuân Hương với văn học dân gian lại chỉ ra mối liên hệ giữa thơ Hồ Xuân Hương với văn hoá dân
gian và hẹp hơn là văn học dân gian trong cách cảm, cách nghĩ, từ đó tìm thấy
sự kế thừa cũng như nét độc đáo riêng của nữ sĩ Tác giả khảo sát thơ Hồ Xuân
Hương trên ba hệ thống đề tài: Đề tài về loại người có học; đề tài về nhà chùa và
đề tài về người phụ nữ rồi đi tới khẳng định: "Hồ Xuân Hương tiếp thu dân giannhưng không lặp lại dân gian; bà chỉ tiếp thu cái hay, cái đẹp, cái đúng; cái gì
Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về một số vấn đề trong thơ Hồ Xuân Hương,
giáo sư Lê Trí Viễn trong bài Đôi điều về thơ Hồ Xuân Hương đã đề cập đến cái
tục trong thơ bà và lí giải nó dưới nhãn quan văn hoá dân gian Tác giả cho rằng:
"Hồ Xuân Hương đã tiếp nhận từ những sinh hoạt hội hè mang đậm nét dân gianmột ảnh hưởng thật sâu sắc Thơ Hồ Xuân Hương phần đó (ý nói phần chứađựng yếu tố tục) là sự đột nhập của nền văn hoá dân gian Việt Nam thời trung cổkhông được thừa nhận vào lĩnh vực nghệ thuật thơ ca cao cấp Như vậy thìkhông có cái gì gọi là tục như ta quan niệm nữa Nó chính là sự sống gốc nguồn
và cuộc sống trần tục Nhìn thân thể người phụ nữ mà thành "đèo Ba Dội", nhìn
Trang 6cái riêng của phụ nữ thành "cái quạt", "cái giếng", "hang Cắc Cớ" thì đó là "vậtchất xác thịt được khuyếch đại đến mức khổng lồ" tựa thần thoại về nòi giốngnhư Ông Đùng Bà Đà, Tứ Tượng, Nữ Oa mà thôi, bởi đó là hình ảnh của tập thểnhân dân luôn luôn phát triển và luôn luôn đổi mới." [5, tr.31].
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố dân gian in đậmtrong nội dung thơ Hồ Xuân Hương Nhưng quan trọng hơn là họ đã phát hiện ra
sự kế thừa và sáng tạo độc đáo riêng của nữ sĩ trong quá trình tiếp thu và pháttriển Chính điều này đã làm nên phong cách nghệ thuật của Bà Chúa thơ Nôm
Nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương đã được rất nhiều nhà nghiên cứu dàycông tìm hiểu Trong quá trình đó họ đều thừa nhận nghệ thuật thơ bà thấm đẫmchất dân gian Điều này được thể hiện ở cách dùng từ, ở hệ thống thành ngữ, tụcngữ, ca dao được bà vận dụng một cách hết sức tự nhiên và sáng tạo
Trong bài "Tinh thần phục hưng trong thơ Hồ Xuân Hương" bên cạnh
việc chỉ ra tinh thần, thế giới quan của văn hoá dân gian trong nội dung thơXuân Hương, tác giả Tam Vị còn khẳng định nghệ thuật thơ của nữ sĩ họ Hồcũng như được tắm trong cái nôi văn hoá dân gian Ông viết: "Hồ Xuân Hương
đã đưa vào văn học cả một vỉa ngôn ngữ trào lộng, suồng sã, dân gian " [11, tr
361] Các phương tiện ngôn ngữ mà tác giả đề cập tới ở đây chính là: các trò nói
lái, nói lỡm, đố tục giảng thanh, thậm chí cả trò nói tục, nói ngoa, chửi thề, sỉmắng, nguyền rủa Chính những yếu tố hình thức này đã tạo nên trong thơ bàmột "tiếng cười lưỡng trị" vừa chôn vùi, vừa tái sinh của văn học Phục hưng.Bên cạnh đó, nó như đưa người đọc trở về với những sinh hoạt văn hoá dân gian
- nơi những ngôn ngữ như thế được sử dụng Và chính nó cũng tạo nên sự hấpdẫn trong thơ Xuân Hương, làm cho thơ bà đi ngược lại với cái phương hướngđang ngày càng trở nên chủ đạo và tuyệt đối hoá trong văn học thành văn là rasức noi theo, thậm chí bắt chước những mẫu mực văn học lớn phương Bắc
Đi tìm phong cách độc đáo của Hồ Xuân Hương tác giả Nguyễn Lộc
Trang 7trong bài: "Hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương" khẳng định Hồ Xuân Hương thuộc
phong cách bình dân nhưng nhà thơ không tan biến trong phong cách chung ấy
mà sắc thái cá nhân rất đậm nét
Về ngôn ngữ, ông cho rằng trong văn học cổ không ai giản dị, dễ hiểu vàmộc mạc như Xuân Hương Ngôn ngữ của Xuân Hương không khác gì ngônngữ của ca dao, tục ngữ Đó là một ngôn ngữ thuần tuý Việt Nam Trong kiếntrúc chung của câu thơ Xuân Hương, những yếu tố ca dao, tục ngữ được đặtđúng chỗ nên rất tự nhiên Nó nhuyễn vào những từ, những câu khác làm thànhmột thể hữu cơ thống nhất Đặc biệt "Xuân Hương vận dụng ngôn ngữ khôngcâu nệ ở hình thức, bà có thể đưa vào thơ một loạt từ ngữ "đầu đường xó chợ"miễn là những từ ấy nói đúng được đời sống tình cảm" [11, tr 188]
Như vậy "ngôn ngữ thơ của Xuân Hương là ngôn ngữ đời sống được sử
dụng một cách có nghệ thuật" [11, tr 188]
Trong chuyên mục nghiên cứu về thơ Nôm Đường luật, tác giả Lã NhâmThìn đã có phần nghiên cứu về ngôn ngữ văn học dân gian Bằng thống kê, tácgiả nhận thấy rằng thành ngữ, tục ngữ, ca dao được thể hiện trong thơ Hồ XuânHương có mật độ rất cao: tỉ lệ câu thơ, bài thơ có sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca
dao là 1/28,6 câu thơ Trong khi đó ở Quốc âm thi tập tỉ lệ là 1/79,5 ; Bạch Vân quốc ngữ thi tập: 1/47,2 ; ở Tú Xương là 1/57,7 ; ở Nguyễn Khuyến là 1/54,4.
Thơ Bà Huyện Thanh Quan thì hoàn toàn không có dấu vết nào của văn học dângian
Như vậy trong các tác giả thơ Nôm Đường luật, "Hồ Xuân Hương làngười sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao với tỉ lệ cao nhất Hồ Xuân Hươngđúng là thi sĩ của dân gian"
Ở Hồ Xuân Hương, ngôn ngữ văn học dân gian không chỉ góp phần biểuđạt tư duy, trí tuệ Việt Nam mà còn góp phần biểu đạt tình cảm, tâm hồn dân
Trang 8tộc Hồ Xuân Hương cũng đã "tâm trạng hoá" thành ngữ, làm cho thành ngữ inđậm dấu ấn của bà.
Qua hàng loạt các công trình nghiên cứu công phu hay những bài viết đầytính phát hiện, các tác giả đã cho chúng ta thấy thơ Hồ Xuân Hương không chỉmang đậm tinh thần, thế giới quan của văn hoá dân gian mà hình thức thể hiện
nó cũng giản dị, dân dã như ca dao, tục ngữ Hồ Xuân Hương được phong tặngdanh hiệu "Bà chúa thơ Nôm" hay" Nữ sĩ bình dân" chính bởi ở những bài thơgiản dị và gần gũi với quảng đại quần chúng như thế
3 Mục đích nghiên cứu
Tôi cố gắng chỉ ra yếu tố dân gian trong sáng tác của tác giả trên nhữngphương diện cụ thể: đề tài, ngôn ngữ, hình tượng từ đó thấy được sự kế thừa,sáng tạo trong việc tiếp thu văn hoá dân gian, văn học dân gian của Hồ XuânHương
Chúng tôi nhận thấy những bài thơ của Hồ Xuân Hương được lựa chọngiảng dạy ở nhà trường các cấp đều có yếu tố dân gian khá đậm Thực hiện đềtài sẽ giúp chúng tôi có thêm kiến thức và cái nhìn sâu sắc về tác giả này từ đógiúp chúng tôi giảng dạy tốt hơn những bài thơ của nữ sĩ trong chương trìnhNgữ văn THCS
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nhằm hướng tới nghiên cứu các yếu tố dân gian trong thơ Nôm HồXuân Hương, chỉ ra sự độc đáo của tác giả trong việc kế thừa, tiếp thu văn hoádân gian và quy luật ảnh hưởng chung của sự ảnh hưởng qua lại giữa văn họcdân gian và văn học viết
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương
Trang 9- Phạm vi nghiên cứu: Những yếu tố dân gian thuộc về hình thức nghệthuật trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương với các phương diện: đề tài, hình tượng,ngôn ngữ nghệ thuật.
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hoá dân gian - văn học dân gian
- văn học viết
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn gồm hai chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Các yếu tố nghệ thuật đậm chất dân gian trong thơ Hồ XuânHương
Trang 10PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Khái niệm yếu tố dân gian
1.1.1 Khái niệm văn hóa dân gian
Từ điển văn hóa dân gian đưa ra định nghĩa về văn hóa dân gian như sau:
"Theo đúng nghĩa văn hoá dân gian là nền văn hoá của dân chúng Văn hoá nàybao gồm cả văn hoá về vật chất và văn hoá về tinh thần Thuật ngữ quốc tếchính xác nhất mang nghĩa văn hoá dân gian là “folklore” Văn hoá dân gian lànền tảng của văn hoá dân tộc
Như vậy theo định nghĩa trên, văn hoá dân gian bao gồm cả văn hoá vậtthể và phi vật thể được quần chúng nhân dân sáng tác và lưu truyền
1.1.2 Khái niệm văn học dân gian
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả định nghĩa: "Văn học
dân gian còn gọi là văn chương (hay văn học) bình dân, văn chương truyềnmiệng hay truyền khẩu là toàn bộ những sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân
dân."
Văn học dân gian có nhiều đặc điểm và thuộc tính quan trọng, đáng chú ýnhư tính truyền miệng, tính nguyên hợp, tính tập thể, tính vô danh trong đótính truyền miệng được coi là thuộc tính quan trọng nhất, có quan hệ nhiều nhấtvới các thuộc tính và đặc điểm khác của văn học dân gian
Văn học dân gian cùng với văn học viết đã góp phần tạo thành nền vănhọc của dân tộc Có mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian vàvăn học viết
Trang 111.2 Yếu tố dân gian về phương diện nội dung và hình thức
1.2.1 Yếu tố dân gian về phương diện nội dung
Nội dung tác phẩm văn học là một thể thống nhất giữa khách quan và chủquan, trong đó vừa có phần nhà văn khái quát, tái hiện đời sống khách quan vừa
có phần bắt nguồn từ cảm xúc, huyết mạch, lí tưởng của tác giả
Yếu tố dân gian về phương diện nội dung chính là những yếu tố thuộc về
đề tài, chủ đề, sự lí giải chủ đề hay cách cảm, cách nghĩ, cách nhìn nhận, đánhgiá của tác giả mang đậm chất dân gian
1.2.2 Yếu tố dân gian về phương diện hình thức
Hình thức là sự biểu hiện của nội dung, là cách thể hiện nội dung Nhữngyếu tố dân gian về phương diện hình thức chính là những yếu tố thuộc về thểloại, ngôn ngữ, chi tiết, hình tượng, nhân vật, kết cấu có dấu ấn của chất dângian
1.3 Khảo sát thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Khảo sát 48 bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, có thể liệt kê những tácphẩm về đề tài dân gian bao gồm:
Trang 13CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ NGHỆ THUẬT ĐẬM CHẤT DÂN GIAN TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
2.1 Đề tài dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Đề tài là "yếu tố cơ bản của tác phẩm văn học" (Từ điển văn học), là một
phạm vi nhất định của cuộc sống được nghệ sĩ nhận thức và biểu hiện trong tácphẩm của mình Trong quá trình sáng tác mỗi nhà văn đều lựa chọn cho mìnhnhững mảng, loại đề tài riêng, qua đó chúng ta có thể hiểu được phong cách, cá
tính sáng tạo của nhà văn
Đề tài trong thơ Hồ Xuân Hương rất phong phú và đa dạng Bà viết vềthiên nhiên, về con người, về hiện thực cuộc sống với một niềm say mê, vớinhững phát hiện, tiếng nói mới mẻ Đằng sau mỗi hiện tượng được bà lựa chọnphản ánh luôn chứa đựng những bức tranh tâm trạng, những gửi gắm riêng tưcủa nữ sĩ Trong giới hạn của luận văn, tôi chỉ tìm hiểu những đề tài chứa đựngyếu tố dân gian Như trên đã thống kê, có bốn loại đề tài mà ở đó ta thấy có sựtiếp nối mạch cảm hứng của văn học và văn hoá dân gian: Đề tài về người phụ
nữ (8/48 bài = 17%); đề tài về phong tục, sinh hoạt dân gian: (4/48 bài = 8%); đềtài về nhà chùa: (5/48 bài= 10,4%); đề tài về người "có học": (2/48 bài= 4%)
2.1.1 Đề tài người "có học"
Dân tộc ta là một dân tộc có truyền thống ngàn năm văn hiến và rất hiếuhọc Người có học luôn được xã hội trọng vọng và ca ngợi Vậy có mâu thuẫnkhông khi trong thơ mình Xuân Hương lớn tiếng đả kích và bôi nhọ nhữngngười "có học"? Mới nghe qua, tưởng vô lí nhưng kì thực lại hoàn toàn có lí bởichữ có học ở đây đã được đặt trong ngoặc kép Đó chính là những con người kìthực dốt nát, vô đạo đức nhưng bên ngoài thì luôn tỏ ra huênh hoang, khoe mẽ.Dân gian ghét cay, ghét đắng những loại người hợm hĩnh, ngu si và dốt nát đó.Xuân Hương đã tiếp nối truyền thống ấy, bà dựng lên trong thơ mình chân dung
Trang 14những kẻ sĩ, hiền nhân quân tử thật đáng cười với những bộ mặt xấu xa, nhơ
nhuốc Bà gọi bọn chúng là: lũ ngẩn ngơ, phường lòi tói Chính tên gọi ấy đã
đưa những kẻ đang kiêu căng từ trên chín tầng mây xuống dưới bùn đen:
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dạy làm thơ Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa.
(Lũ ngẩn ngơ)
Bà như một người chị kiêu hãnh đứng xa nhìn lũ ngẩn ngơ đang múa máy
thơ phú mà không khỏi tức cười Chữ chị đã phân biệt vị thế giữa nữ sĩ với lũ ngẩn ngơ kia Dạy làm thơ tức là dạy cho chữ nghĩa, vì bọn chúng tuy tỏ ra là
những kẻ hay chữ nhưng nào có chữ gì trong bụng Chỉ là một lũ khoe khoang
ngựa non háu đá, giống như ong non ngứa nọc và dê cỏn buồn sừng mà thôi.
Nối tiếp mạch cảm hứng này, trong bài Phường lòi tói bà một lần nữa
phanh phui những dốt nát của bọn hay chữ lỏng:
Dắt díu nhau lên đến cửa chiền Cũng đòi học nói, nói không nên
Ai về nhắn bảo phường lòi tói Muốn sống đem vôi quét trả
Trong bức tranh này bọn chúng thật nhếch nhác Người có học gì mà phảidắt díu nhau, phải học nói, rồi muốn nói nhưng chẳng lên lời, cứ ấp a, ấp únggiống như một đàn thằng ngọng đứng xem chuông Dốt nát lại còn muốn khoe
chữ Thật đáng nực cười! Xuân Hương đã lớn tiếng bảo với bọn chúng: Muốn sống đem vôi quét trả đền
Chỉ bằng hai bài thơ với những chân dung tiêu biểu, bộ mặt của những kẻ
tự xưng là kẻ sĩ, người có học đã hiện ra rõ nét Ở đây cũng cần hiểu rằng HồXuân Hương không có ý định chê bai người học dốt mà bà chỉ giễu cợt những kẻ
Trang 15đã dốt nát nhưng lại không chịu học hỏi, hay khoe mẽ mà thôi.
Chân dung của những học trò thì như thế, còn "hiền nhân quân tử" thì
sao? Bằng hai câu kết trong bài thơ Thiếu nữ ngủ ngày bà đã chụp được cái
khoảnh khắc thể hiện rõ nét nhất bản chất của kẻ quân tử:
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở ở không xong.
Quân tử là người học sách thánh hiền, tâm hồn và cốt cách thanh cao, vậy
mà trước sự hớ hênh của người con gái với đôi gò Bồng đảo, một lạch Đào
nguyên đã mất hết tư cách, lén lút như một kẻ ăn trộm Dùng dằng nửa muốn đi cho khỏi hổ thẹn với cái danh quân tử mà mình đang mang, nửa muốn ở lại vì
bức tranh thân thể quá đẹp và sống động Đi thì tiếc mà ở thì ngại đâm ra luống
cuống, sợ sệt Xuân Hương thật tài tình, với cái sự dùng dằng đó, bà đã phơi bày
rõ bộ mặt thật của quân tử, bôi nhọ vào cái danh hão ấy Thực chất bà không phêphán việc quân tử kia ngắm nhìn, chiêm ngưỡng cái đẹp (dù cho đó là thân thểcon người), bà chỉ cười cái hành vi lén lút, gợi cho ta nghĩ đến những chuyện xấu
xa của quân tử mà thôi
Chân dung của những hiền nhân quân tử còn được Xuân Hương nhắc đến
trong bài Đèo Ba Dội trước vẻ đẹp của đèo (đèo là biểu tượng của âm vật) quân
tử đã không cầm lòng cho được:
Hiền nhân quân tử ai là chẳng Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo
Bài thơ lấp lửng hai nghĩa, nói chuyện đèo nhưng đồng thời cũng ám chỉ
về "cái ấy" Và nếu hiểu theo nghĩa ngầm như cách chúng ta vẫn hiểu về nhiềubài thơ của Xuân Hương thì hình ảnh của kẻ hiền nhân quân tử thật đáng buồncười Mà hiền nhân quân tử thì "ai là chẳng" tức là cùng một giuộc hết Chínhđiều này hạ thấp thanh danh của cả một lớp người tự xưng là quân tử Nhưng dùsao, với những lũ quân tử mê sắc dục này Xuân Hương còn đỡ bực mình hơn cáibọn đạo đức giả, trong bụng thì thèm muốn nhưng bên ngoài lại lên giọng cao
Trang 16ngạo không thèm như ca dao đã tổng kết lại một câu rất sâu sắc: Ban ngày quan lớn như thần Ban đêm quan lớn tần mần như ma
Như vậy, khi viết về người "có học", Xuân Hương tỏ rõ thái độ coithường, chế giễu Đó giống như cái nhìn, cách đánh giá của dân gian Nhưng đốivới bọn người này, bà chỉ bực mình mà phê phán, mỉa mai chứ không căm ghét
và có thái độ phủ định như với lũ sư sãi - kẻ khoác trên mình tấm áo cà sa, lớntiếng rêu rao là ăn chay niệm Phật nhưng rồi cuối cùng tu lại chẳng trót đời
2.1.2 Đề tài về nhà chùa
Như trên đã nói, Xuân Hương thực sự căm ghét sư sãi, vì chúng đã lớntiếng tuyên bố cái chân lí phản lại tự nhiên, trái với bản chất của con người Conngười vốn đẹp hồn nhiên và cởi mở, sống chan hoà trong những niềm vui củacuộc đời Phải sống với cuộc đời trần tục, vui với những niềm vui trần tục HồXuân Hương là nhà thơ của tình yêu và sự sống với tất cả những gì tự nhiên vàthuần khiết nhất nên bà cực lực phản đối những gì trái với tự nhiên Cảnh tuhành "ăn chay niệm Phật" là trái với tự nhiên rồi Hơn thế nữa, bà nhìn thấy bảnchất của những kẻ tu hành này chẳng qua cũng chỉ là một lũ đạo đức giả Họmặc áo cà sa, nhưng lại đi đêm, ăn thịt chó Chính vì thế dù không ưa, không tánthành việc xuất giá đi tu nhưng Xuân Hương cũng như các tác giả dân giankhông đả kích nhà chùa, sư tăng một cách chung chung, bà chỉ hướng mũi nhọnchâm biếm vào những kẻ buôn thần bán thánh, mượn danh sư để làm điều xằngbậy Thử điểm qua những bài thơ mà Xuân Hương viết về sư sãi, nhà chùa:
Nào nón tu lờ, nào mũ thâm
Đi đâu chẳng đội để ong châm Đầu sư há phải gì bà cốt
Bá ngọ con ong bé cái nhầm.
(Sư bị ong châm)
Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Trang 17Vị gì một chút tẻo tèo teo Buồm từ cũng muốn về Tây Trúc Trái gió cho nên phải lộn lèo.
(Cái kiếp tu hành)
Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta Đầu thì trọc lốc, áo không tà Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm Vãi nấp sau lưng sáu bẩy bà
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha
Tu lâu có lẽ lên sư cụ Ngất nghểu toà sen nọ đó mà.
Chỉ cần một vài bức chân dung như vậy cũng đủ thấy hiện lên lố nhố một
lũ sư hổ mang, chẳng ra ta mà cũng chẳng ra Tàu Xuân Hương lên án bọnngười này vì những trò hết sức lố lăng của chúng Đi tu tưởng đã thoát tục vậy
mà còn "tục" hơn những người bình thường Sư gì mà vãi nấp sau lưng sáu bảy
bà để Khi cảnh khi tiu khi chũm choẹ Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha Hoá ra nhà chùa chỉ là một nơi để hành lạc, để cho bọn sư sãi đếm lại đeo Từ hình dáng đầu thì trọc lốc áo không tà đến bản chất đều lố lăng, đáng căm ghét Xuân Hương thật độc đáo và sâu cay khi đánh đồng đầu sư với gì bà cốt Chỉ bằng
một hình ảnh, mà căn nguyên là do sự nhầm lẫn của con ong, Xuân Hương đã hạ
bệ tên sư nọ, làm cho người đọc thấy hả hê, sung sướng Bà ném ra những cái
nhìn coi thường và khinh bỉ: sư cụ chỉ là kẻ tu lâu, giỏi hành lạc, quen đi đáo
Trang 18nơi neo, còn lũ tiểu, vãi thì cũng cùng một giuộc là nguyên nhân để làm trái gió lộn lèo đi tất cả Xuân Hương không ngần ngại đưa vào thơ mình những động từ mạnh: đáo, đấm, đeo, khua tang, móc kẽ, sáng banh, trưa trật nó giúp gợi lên
sự lờm lợm về cái xã hội nhà chùa kia
Nếu quân tử chỉ khiến bà mỉa mai thì sư sãi khiến bà khinh ghét Bà đã tiếpnối mạch cảm hứng của các tác giả dân gian khi viết về loại người này:
Ác tăng đội lốt thầy tu
Thấy cô gái đẹp bỏ chùa đi theo.
Dưới ống kính của tác giả dân gian những kẻ đội lốt thầy tu thật đáng lên
án Xuân Hương đã "cảm cách cảm dân gian, nghĩ cách nghĩ dân gian" (ý củanhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na) để rồi từ đó dựng lên trong thơ mình nhữnghình tượng trào phúng đặc sắc, đem lại cho người đọc những tiếng cười hả hê
Xuân Hương không chỉ viết về những đối tượng đáng cười với những thói
hư tật xấu của họ mà bà còn có những vần thơ sâu lắng về người phụ nữ - nhânvật mà nhà thơ luôn yêu thương và bảo vệ
2.1.3 Đề tài người phụ nữ
Thơ ca dân gian đã dành một vị trí quan trọng để viết về người phụ nữ.Xuân Hương cũng vậy Như trên đã thống kê, những bài thơ viết về đề tài nàychiếm một tỉ lệ khá cao: (8/48 bài chiếm gần 17%) Điều này đủ nói lên thái độ
Trang 19và tình cảm mà Xuân Hương dành cho những nhân vật phụ nữ Có khi XuânHương viết về mình, cũng có khi viết về người nhưng bao giờ cũng toát lên mộttinh thần lạc quan, vui tươi, khoẻ khoắn Bà tiếp thu đề tài này từ dân giannhưng cách bà nhìn nhận, đánh giá về những nhân vật của mình thì khác với cáctác giả dân gian Ví như khi viết về những người phụ nữ phải chịu cảnh thiệtthòi lấy chồng chung thơ ca dân gian thường lớn tiếng phê phán người vợ cả:
Cũng một đôi khi trách móc người vợ lẽ:
Gió đưa bụi chuối sau hè Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Xuân Hương thì khác, bà không phê phán một đối tượng nào mà thươngcảm cho thân phận của những người chịu cảnh chung chồng Từ những éo letrong cuộc sống tình duyên, bà thấu hiểu nỗi khổ không chỉ của người vợ lẽ màcòn của cả người vợ cả Tình yêu vốn là một thứ tình cảm ích kỉ, nên nếu đemchia sẻ thì dù có được ở vị thế cao hơn thì cũng không thể tránh khỏi những thiệtthòi Vì vậy mà Xuân Hương cảm thông sâu sắc Bà khái quát lại tình cảnh củahọ:
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Trang 20Năm thì mười hoạ hay chăng chớ Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm Cầm bằng làm mướn, mướn không công Thân này ví biết dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong
(Làm lẽ)
Đưa ra hai bức tranh đối lập: Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng, Xuân
Hương so sánh để thấy được nghịch cảnh cay đắng Từ đó bật lên tiếng chửi
đổng: Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Tiếng chửi không chỉ nhằm giải toả
những bức xúc của người trong cuộc mà dường như nó hướng về phía cái xã hộibất công là nguyên nhân đưa đến những cảnh ngộ dở khóc, dở cười ấy Bất công
vì nó cho phép trai được năm thê bẩy thiếp còn gái chính chuyên chỉ có mộtchồng Chính vì dư luận xã hội, vì những hủ tục lạc hậu mà người phụ nữkhông thể tìm được hạnh phúc trọn vẹn cho bản thân mình Xuân Hương kể lại
những nỗi bất hạnh mà người chung chồng phải chịu: Nào là năm thì mười họa được hay chớ, nào là một tháng chỉ được quan tâm đôi lần, nào là phải làm mướn không công biết bao nhọc nhằn đè nặng lên vai, biết bao tủi hổ mang
nặng trong lòng Họ chỉ còn biết than vãn và mơ ước:
Thân này ví biết dường này nhỉ Thà trước thôi đành ở vậy xong
Nói vậy nhưng người phụ nữ nào lại không mơ ước có một mái ấm giađình, một người chồng và những đứa con Nên dù biết sẽ khổ, họ vẫn cam chịu vàchấp nhận Nói lên sự thực nghịch lí này dụng ý của Xuân Hương muốn chĩa mũinhọn vào cái xã hội phong kiến cổ hủ và lạc hậu mà thôi
Cảnh chồng chung đã khổ nhưng cảnh không chồng mà chửa còn tủi hổ
và đau đớn hơn bởi trong hoàn cảnh này người phụ nữ phải chịu những áp lực
và hình phạt nặng nề Xuân Hương rất đồng cảm với những cô gái vì cả nể đểrồi bị rơi vào hoàn cảnh phải cắt tóc, cạo trọc đầu, bôi vôi đó Bà như một
Trang 21người chị mở lòng ra chia sẻ, an ủi, đồng thời cũng như một trạng sư bào chữacho lỗi lầm của họ:
Cả nể cho nên sự dở dang Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng?
Như vậy nguyên nhân đâu phải do người phụ nữ này lăng loàn, hư hỏng
mà chỉ là do cái tính cả nể mà thôi Cả nể tức là quá yêu, quá thương Và nhưvậy thì có gì đáng trách lắm đâu? Có trách thì chỉ nên trách người quân tử mà lạigiống như Sở Khanh "rẽ dây cương lối nào" Đứng về phía người phụ nữ, cũng
là đứng về phía sự sống, Hồ Xuân Hương khẳng định:
Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Không có, nhưng mà có mới ngoan
Hai câu thơ đã tiếp thu mặt tiến bộ, tiếp thu chủ nghĩa nhân đạo tronggian:
Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian sự thường
Từ ngoan trong câu thơ của Xuân Hương cũng như trong ca dao không
chỉ bao hàm ý khẳng định mà còn hàm cả một chút trách móc Trách móc mộtchút, vì người con gái cũng có lỗi là đã quá tin yêu kẻ Sở Khanh đến nỗi quên đi
cả phép tắc Nhưng chủ yếu là Xuân Hương khẳng định quyền làm mẹ giúp chongười phụ nữ lỡ làng vượt lên được miệng thế lời chênh lệch, vững tin hơn vàothiên chức của mình
Người phụ nữ trong thơ Xuân Hương không chỉ khổ vì bị bỏ rơi, tủi hổkhi lấy chồng chung mà hơn thế nữa đôi khi còn phải chịu cảnh goá bụa Có rất
nhiều bài thơ Xuân Hương viết về tình cảnh đáng thương này Như Dỗ người đàn bà khóc chồng; Bỡn bà lang khóc chồng; Khóc Tổng Cóc; Khóc ông phủ Vĩnh Tường Nhưng đọc lên ta không thấy buồn, bởi Xuân Hương không muốn
than thở bi luỵ Cuộc sống thật tươi vui, thay vì than khóc hãy tìm những niềmvui, những ý nghĩa của cuộc đời Chính vì vậy mà trong thơ Xuân Hương ta luôn
Trang 22thấy dào lên một sức sống, ngay cả khi nhân vật của bà rơi vào hoàn cảnh buồnthương nhất.
Cảm thông với những nỗi bất hạnh của người phụ nữ, ca ngợi những đứctính tốt đẹp của họ, Xuân Hương đã viết về người phụ nữ bằng tất cả tấm lòng.Tiếp thu mạch cảm hứng của thơ ca dân gian nhưng “cái tôi” Xuân Hương vẫnthể hiện rõ trong từng trang thơ Nếu như trong ca dao, tác giả dân gian thường
để cho nhân vật hạ mình xuống bằng cách xưng hô khiêm nhường:
- Thân em như dải lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
- Thân em như miếng cau khô Người thanh ham mỏng, người thô ham dày.
-Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra luống cày.
Có cái gì đó thật tội nghiệp trong những câu ca về thân phận con người.Người phụ nữ ở vị trí khiêm nhường như vậy là vì họ không thể tự quyết địnhđược số phận và hạnh phúc của mình Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào ngườichồng của họ Xuân Hương thì khác Bản lĩnh và cá tính của Xuân Hương đãgiúp bà hiểu được vai trò, vị thế của người phụ nữ Họ không để cho người taphải thương hại ngay cả khi rơi vào tình cảnh bi đát nhất là không chồng màchửa hay chồng chết Trong thơ bà những nhân vật phụ nữ bộc lộ rõ cái tôi cánhân của mình Điều này hoàn toàn mới mẻ so với ca dao Ví như trong bài thơ
Mời trầu bà viết:
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Không phải là "em" hay "thiếp" mà là cách xưng tên riêng thật độc đáo
Có cái gì đó thật mạnh mẽ, táo bạo nhưng cũng thật tinh tế, dịu dàng trong hai
tiếng Xuân Hương Người được mời chắc sẽ không thể không ấn tượng với cách
Trang 23mời và sự tự tin đó Dù cho miếng trầu của nàng chỉ là miếng trầu hôi với một quả cau nho nhỏ Không chỉ dũng cảm xưng tên mình, có khi Xuân Hương còn
xưng chị với lũ người "có học" :
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dậy làm thơ
(Lũ ngẩn ngơ)
Chỉ bằng một đại từ xưng hô chị đã cho thấy sự khác nhau về vị trí, trình
độ và thế đứng Xuân Hương đứng trên cao mà nhìn xuống lũ học trò ngẩn ngơ.Xưng hô như thế là ý thức hết được tài năng và bản lĩnh của mình Bà gọi chúng
là lũ, là phường khiến cho chúng trở nên đáng khinh, đáng ghét hơn Không chỉ
kiêu hãnh khi đứng trước lũ học trò hay phường lòi tói, mà trước quan lại hayhiền nhân quân tử Xuân Hương cũng xưng hô một cách rất thoải mái:
Ví đây đổ phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu
Như vậy, Xuân Hương đã tiếp thu văn học dân gian trong việc dựngnhững chân dung phụ nữ với những nỗi éo le, bất hạnh nhưng khác với dân gian,Xuân Hương tìm thấy bản lĩnh, cá tính mạnh mẽ của những người phụ nữ ấy.Xuân Hương đề cao và trân trọng những người vốn dĩ "thấp cổ bé họng" đó, cho
Trang 24thấy lòng yêu thương và tin yêu con người sâu sắc của bà Giản dị, gần gũi màđộc đáo, riêng biệt; "rất dân gian mà cũng rất Xuân Hương".
2.1.4 Đề tài về phong tục, sinh hoạt dân gian
Xuân Hương đi đây đó nhiều, lại sống hoà mình vào cuộc sống thôn quê
nên bà rất am hiểu về phong tục cũng như những sinh hoạt dân gian Chính đờisống phong phú, sinh động của người dân đã gợi cho bà cảm hứng để sáng tácnhững bài thơ rộn ràng âm thanh, sắc màu cuộc sống Điều này khác hẳn với nữ
sĩ cùng thời Bà Huyện Thanh Quan Nếu như Bà Huyện Thanh Quan chỉ ưa viết
về những cảnh thiên nhiên tĩnh lặng hay những kinh thành mang đầy vẻ hoài cổthì Xuân Hương lại thích viết về cuộc sống vui tươi với những sinh hoạt hội hè
Bà nhìn thấy trong cảnh lao động hay vui chơi một sức sống căng tràn, một niềmvui phơi phới Cách nhìn này rất giống với cách nhìn của tác giả dân gian Vínhư cảnh đánh đu ngày Tết được Xuân Hương khắc hoạ lại:
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng Người thì lên đánh kẻ ngồi trông Trai du gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới Đôi hàng chân ngọc duỗi song song Chơi xuân có biết xuân chăng tá Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không?
(Đánh đu)
Quả là một bức tranh sống động tuyệt mĩ Nó gợi ra trước mắt người đọckhông khí hội hè với những trò chơi dân gian hết sức hấp dẫn của người dânvùng đồng bằng Bắc Bộ Trên một bãi đất rộng người ta nô nức chơi đu và xem
đu Sắc màu vui nhộn, trẻ trung từ những bộ trang phục rực rỡ của những namthanh nữ tú làm cho ngày xuân thêm tươi tắn Không gian thật khoáng đạt Đất
trời dào dạt sức xuân, lòng người phơi phới tình xuân Trai thì du gối hạc, gái thì
Trang 25uốn lưng ong cùng hoà nhịp vào nhau đẩy cho cây đu lên cao mãi Xuân Hương
đã khắc hoạ một trò chơi dân gian sống động, với những con người độ tuổithanh xuân dạt dào sức trẻ Ta như được trở về những lễ hội dân gian từ nhữngvần thơ của nữ sĩ
Nhân dân Việt Nam ta từ xưa đã có tục ăn trầu Miếng trầu đề cao tìnhnghĩa anh em vợ chồng keo sơn, gắn bó Đó chính là một nét văn hóa riêng biệt
và tiêu biều Xuân Hương đã gợi lại nét văn hoá ấy trong bài thơ Mời trầu :
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá bạc như vôi
Đang cơn nắng cực chửa mưa tè
Rủ chị em đi tát nước khe Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm Lênh đênh một ruộng bốn bờ be (Tát nước)
Hay là cảnh dệt cửi của những cô gái nơi thôn dã:
Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau Con cò mấp máy suốt đêm thâu Hai chân đạp xuống năng năng nhắc Một suốt đâm ngang thích thích mau
Trang 26
(Dệt cửi)
Có những lớp nghĩa ngầm ở những bài thơ này Nhưng trước hết nó vẫn lànhững bức tranh về cảnh lao động tự nhiên và quen thuộc Xuân Hương gợi tảthật chính xác, sinh động Nó giúp ta như được trở về với làng quê, với nhữngcon người chân chất, giản dị, cùng tình yêu, niềm say mê cuộc sống của họ.Tinh thần lạc quan là điểm hấp dẫn trong thơ nữ sĩ
Đề tài trong thơ Hồ Xuân Hương thật bình dị Không phải là tùng, cúc,trúc, mai hay những gì cao quý mà là những con người, cuộc sống quanh bà Qua
đó Xuân Hương thể hiện thái độ khen, chê rõ rệt Bà yêu thương, nâng niu nhữngcon người bất hạnh, đặc biệt là người phụ nữ; bà chế giễu và căm ghét những kẻhiền nhân quân tử, sư sãi với thói đạo đức giả và sự ngu dốt Bà vui say với nhữngsinh hoạt của người dân cũng như những trò chơi lễ hội vui nhộn của họ Có sựgặp gỡ giữa Hồ Xuân Hương với các tác giả dân gian trong cách nhìn, cách cảm,cách đánh giá Nhưng cũng có sự khác biệt đó là nơi cá tính và phong cách nhàthơ được thể hiện rõ nhất
Trang 27mang đậm tính xã hội để vạch mặt, tố cáo Thơ của bà là thứ vũ khí sắc bén, làlưỡi dao lách vào tim gan của những kẻ xấu xa, bỉ ổi đó.
Chọn những đề tài đậm chất dân gian, bà đứng trên lập trường của nhândân để phán xét, kết luận Điều này giúp cho thơ bà gần gũi với dân chúng, aiđọc cũng hiểu và thích thú Nó giải thích tại sao có hiện tượng dân gian hoátrong thơ Hồ Xuân Hương
Khơi vào nguồn đề tài của thơ ca dân gian; nhìn, cảm nhận bằng con mắtdân gian, nhà thơ đắm mình trong mạch nguồn của văn hoá dân gian Tiếp thunhưng bà không lặp lại, bà có những sáng tạo riêng của mình Ví như khi HồXuân Hương viết về người phụ nữ, bên cạnh vẻ đẹp, những cô gái của XuânHương còn có bản lĩnh và cá tính mạnh mẽ Họ dũng cảm bày tỏ cảm xúc củamình, dám làm, dám chịu Đó là những nét riêng mà những cô gái trong ca daokhông có Điều này là do nhà thơ có cá tính, phong cách riêng đậm nét
Là một nhà thơ nữ, Xuân Hương ít nhiều có sự mềm mỏng và tế nhị, hơnthế thời đại Xuân Hương xã hội chưa đến mức nhố nhăng với đầy rẫy những tròkệch kỡm vây nên đối tượng ở Hồ Xuân Hương mới chỉ là một số,thái độ chủyếu là sự cười cợt chế giễu chứ chưa đến mức chửi rủa
Tóm lại, xét về mặt đề tài Hồ Xuân Hương đã tiếp thu, kế thừa mạch cảmhứng, nguồn đề tài của thơ ca dân gian, nhưng bà đã có những sáng tạo riêngđộc đáo Đó chính là dấu ấn của cá tính, của phong cách, giúp cho thơ bà gần cadao mà không lẫn với ca dao
2.2 Hình tượng mang đậm chất dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương
* Mô típ hình tượng từ văn học dân gian, văn hoá dân gian
- Hình tượng người phụ nữ
+ Đẹp về hình thể:
Trang 28Thân em vừa trắng lại vừa tròn
(Bánh trôi nước)
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi qúa giấc nồng
Lược trúc biếng cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm
Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông
(Thiếu nữ ngủ ngày) Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Hai đứa như in tờ giấy trắng
Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh
Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Không có, nhưng mà có, mới ngoan
(Không chồng mà chửa)
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
( Làm lẽ)