Khác với Thuế suất thực - Thuế mà các DN thực tế phải chi dựa trên tất cả thu nhập hợp nhất trên phạm vi toàn cầu, sau khi đã tính đến những khác biệt giữa các quốc gia và tất cả các kho
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
“Tối nay, tôi đang đề xuất các đảng viên Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa về việc đơn giản hóa hệ thống thuế Loại đi các thủ thuật lách thuế Bình đẳng sân chơi Và dùng tiết kiệm để giảm thuế suất TNDN lần đầu tiên trong 25 năm – mà không làm tăng thêm thâm hụt ngân sách Điều đó có thể thực hiện được” – Tổng thống Barack Obama, Thông điệp liên bang ngày 25/11/2011.
Nước Mỹ đã từng tranh cãi về thuế suất thu nhập doanh nghiệp trong nhiều năm
Đó là một vấn đề nổi bật trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2008, và nó vẫn còn tiếp tục là chủ đề tranh cãi trong những năm sau đó
I TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI MỸ
1 Thuế suất luật định (statutory tax rates)
Thuế suất luật định là thuế mà các DN bắt buộc phải trả theo luật Khác với Thuế suất thực - Thuế mà các DN thực tế phải chi dựa trên tất cả thu nhập hợp nhất trên phạm
vi toàn cầu, sau khi đã tính đến những khác biệt giữa các quốc gia và tất cả các khoản khấu trừ thuế Vào năm 2010, nước Mỹ có tỷ suất thuế cao hàng đầu thế giới Trong các nước OECD – 31 quốc gia công nghiệp hóa lớn nhất thế giới – tỷ suất thuế của Mỹ là 39,2%, đứng thứ 2 sau Nhật, 39,5% Tỷ suất thuế trung bình các quốc gia OECD ngoài
Mỹ là 25,5% Tỷ suất thuế Mỹ tiếp tục được tin rằng đang là trở ngại đối với việc đầu tư tại Mỹ, đối với cả DN nước ngoài hoặc DN Mỹ
Trang 3Trước đây, tỷ suất thuế không như thế này tỷ suất thuế kết hợp liên bang và trung ương Mỹ thấp hơn hầu hết các nước công nghiệp trong suốt thập kỷ 1980 Nhưng sau khi
có luật thuế Tax Reform Act thì tỷ suất thuế Mỹ không thay đổi trong thời gian dài 25 năm Còn các nước công nghiệp còn lại trên thế giới vẫn tiếp tục cắt giảm thuế để cố gắng thu hút đầu tư nước ngoài
2 Chế độ thuế và Trì hoãn thuế (tax deferral):
Các quốc gia đánh thuế dựa trên lợi nhuận chủ động (active earnings – là những
lợi nhuận tạo ra từ sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ, còn lợi nhuận bị động –
passive earnings – là lợi nhuận từ quyền sở hữu tài sản, quyền kinh doanh, hoặc quyền
sở hữu công nghệ) dựa trên 2 hướng tiếp cận cơ bản: hệ thống thuế vùng (territorial
system) hoặc hệ thống thuế toàn cầu (worldwide system) Theo hệ thống thuế vùng, thuế
phải trả chỉ dựa trên thu nhập tại nơi mà DN tạo ra – vùng hoặc quốc gia, nghĩa là miễn
trừ tất cả thuế cho các nguồn thu nhập từ nước ngoài Nhưng theo hệ thống thuế toàn
cầu, DN bị tính thuế phần lợi nhuận trên toàn cầu, không cần biết nơi mà DN tạo ra lợi
nhuận Trong các nước OECD, chỉ có 6 nước bao gồm Mỹ là đánh thuế theo hệ thống thuế toàn cầu, các nước còn lại đều đã chuyển sang kiểu đánh thuế hệ thống thuế vùng.
Nước Mỹ không đánh thuế trên lợi nhuận chủ động ở ngoài nước Mỹ cho đến khi
chúng được chuyển về nước Đây là sự trì hoãn thuế trên thu nhập nguồn gốc từ bên
Trang 4ngoài quốc gia Một hệ thống thuế toàn cầu sẽ tính thuế trên tất cả lợi nhuận ở mọi nơi
mà nó phát sinh, không cần biết khi nào khoản thu nhập này được chuyển về nước Điều này có nghĩa là các DN Mỹ có thể việc trả thuế cho nước Mỹ bằng cách không chuyển lợi nhuận về nước Nếu họ tiếp tục sử dụng nguồn lợi nhuận này để tái đầu tư cho hoạt động của các công ty con ở nước ngoài Các công ty chỉ nộp thuế bổ sung khi họ chuyển nguồn lợi nhuận về nước Một ví dụ điển hình như GE ước tính khoản thuế được trì hoãn lên
đến 75 tỷ $ trên lợi nhuận chủ động ở nước ngoài trong thập kỷ qua khi không chuyển
thu nhập về nước
Mức thuế suất tương đối cao ở Mỹ, khi kết hợp với việc thu thuế trên toàn cầu, đã
gây ra một vấn đề quan trọng đối với Mỹ hiện nay Ví dụ, nếu một công ty con của một công ty của Mỹ kiếm được $100 lợi nhuận ở Anh, họ phải trả tiền thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp theo Vương quốc Anh là 21% (là $21) Khi lợi nhuận này được đưa trở lại Hoa Kỳ, IRS sẽ thu một khoản thuế bổ sung bằng chênh lệch giữa thuế suất của Hoa Kỳ
là 35% và thuế suất doanh nghiệp Vương quốc Anh là 21% (nghĩa là $14 trong trường hợp này) Điều này cho thấy các công ty Hoa Kỳ sẽ phải trả tổng cộng $35 (hay 35%) cho phần lợi nhuận ở nước ngoài của mình Trong những năm trước đây, khi mà khoản chênh lệch thuế này không lớn, động lực để giữ LN ở nước ngoài ít hơn Điều đó gây ra tranh cãi ở Mỹ trong việc xem xét cắt giảm thuế suất TNDN tại Mỹ
Trang 53 Thuế suất thực (effective tax rates):
“Có những công ty lớn xem bộ phận nghiệp vụ thuế của họ như là trung tâm lợi nhuận”- National Public Radio, 29/1/2011.
Có một sự khác biệt lớn giữa Thuế suất luật định và mức thuế mà một công ty thực sự chi trả sau khi tính đến tất cả các khoản ưu đãi thuế, khấu trừ thuế, và sự khác biệt về môi trường thuế giữa các nước Bởi vì các chính phủ đều cố gắng điều chỉnh các hoạt động và đầu tư DN hướng tới mục tiêu chính sách công cụ thể, từ đó dẫn đến sự khác biệt về ưu đãi và khấu trừ thuế trên toàn cầu
Nhiều công ty đa quốc gia, ví dụ, General Electric (Hoa Kỳ), nổi bật trong việc tận dụng những cơ hội trong chính sách giảm thuế để làm giảm khoản thuế suất thực mà họ phải trả
Họ kiếm tiền bằng cách di chuyển thu nhập hoặc các loại hoạt động khác ra nước ngoài hoặc điều chỉnh hạch toán theo cách có thể trả ít thuế hơn so với các đối thủ thủ cạnh tranh – theo Martin Sullivan, chuyên gia thuế, đã chứng minh trước Hạ viện Mỹ, ngày 20/01/2011.
Exhibit 3 liệt kê một số công ty đa quốc gia Mỹ, dưới cái nhìn của một chuyên gia thuế về những công ty được hưởng thuế suất thấp nhất (winner) và công ty bị tính thuế suất thực cao nhất (loser) trong những năm gần đây Theo như những dẫn chứng khoa học của chuyên gia trước Quốc hội Hoa Kỳ, Martin Sullivan liệt kê một vài công ty như General Electric, rõ ràng đã trả một mức thuế suất rất thấp trong một khoảng thời gian 3 năm (GE trả một mức thuế suất thực bình quân chỉ 3,6%) Điều đáng chú ý ở đây là không một công ty nào trong số cả những công ty bị tính thuế suất thực cao nhất (loser) trả mức thuế thực cao như mức thuế suất luật định
Trang 6“Tôi đang đề xuất Quốc hội bỏ việc giảm thuế cho các công ty dầu mỏ Ví dụ, trong những năm qua, hàng loạt cuộc vận động hành lang đã tạo ra các điều luật thuế giúp các công ty và các ngành công nghiệp đặc biệt hưởng lợi Những điều luật này cùng với các kế toán viên và luật sư đã giúp các công ty và ngành công nghiệp này không phải trả bất kì khoản thuế nào cả Nhưng tất cả các công ty và ngành công nghiệp còn lại thì lại phải chịu một trong những mức thuế suất TNDN cao nhất thế giới Điều này thật vô lý
và nó cần phải thay đổi” – Tổng thống Barack Obama, trích từ Thông điệp liên bang tháng 01/2011.
Exihibit 3 chỉ phân tích về các công ty đa quốc gia của Mỹ Ta xem xét bài báo của Business Week trình bày trong Exihibit 4, cho thấy khi nhìn vào một loạt các công ty
đa quốc gia theo cùng ngành công nghiệp trên toàn cầu, sự khác biệt về thuế suất thực của các công ty này là không đáng kể Tuy nhiên, rõ ràng là các công ty đa quốc gia trong
nhóm ngành công nghiệp đặc thù trả tỷ suất thuế cao hơn so với các ngành công nghiệp
khác
Nhưng không phải là các công ty năng lượng hoặc dầu khí được trả mức thuế thực thấp nhất Thực sự các công ty này đang phải trả mức thuế thực cao nhất Khu vực được trả thuế thấp nhất chính là ngành dược, dịch vụ tài chính và một vài công ty công nghiệp nặng đang hưởng mức thuế suất thấp hơn
Các nhà bán lẻ, như Gap và Home Depot, cũng đang phải trả tỷ suất thuế tương đối cao Thực tế, trong số 30 doanh nghiệp tại Exihibit 4, chỉ có hai công ty phải trả cao hơn mức thuế suất luật định 39,2% là ExxonMobil và Chevron, hai công ty dầu mỏ Mỹ lớn nhất
Trang 7Dĩ nhiên, những gì không có trong các cuộc tranh luận và các số liệu minh họa chính là việc các công ty đa quốc gia suy xét và lựa chọn nơi mà nó tạo ra lợi nhuận Một công ty, theo kết quả từ chiến lược và lịch sử kinh doanh của họ, đang ngày càng tìm kiếm nhiều hơn nữa lợi nhuận hợp nhất trong một môi trường thuế thấp - ví dụ như ở Ireland (12,5%), Iceland (15%) hoặc Chile (17%).
Các công ty cũng lựa chọn linh hoạt nơi môi trường thuế phù hợp với ngành nghề của họ Nếu là một công ty về khai thác đồng, thì Chile là nơi thích hợp Nếu là một công
ty về khai thác đồng, thì Chile là nơi thích hợp Đối với ngành nghề dịch vụ mua sắm tại quốc gia nằm ở khu vực trung tâm dịch vụ Châu Âu thì Ireland sẽ là một nơi rất hấp dẫn
về thuế
II TÌNH HÌNH ĐÓNG THUẾ CỦA CÁC MNE TẠI MỸ TỪ 1992 ĐẾN 2010 Doanh thu thuế của Mỹ:
Theo quan điểm của chính phủ Mỹ, Mỹ thu thuế ngày càng ít hơn từ các công ty
đa quốc gia Mỹ Chúng ta xem các số liệu thống kê của các công ty đa quốc gia sau:
• Thuế TNDN của MNE Mỹ thu về giảm từ 6%/GDP trong thập kỷ 1950 chỉ còn 2,1% vào năm 2008
• Thuế TNDN của MNE Mỹ hiện nay chỉ chiếm 12% trên tổng doanh thu thuế của Mỹ
• Một nghiên cứu của GAO năm 2004 cho thấy mức thuế suất thực trung bình trên thu nhập nội địa của các công ty lớn là 25,2%
• Nghiên cứu GAO cũng cho thấy mức thuế suất thực trung bình đối với thu nhập từ nước ngoài của các công ty lớn là khoảng 4% Tỷ suất thuế này thấp là
do Mỹ chỉ đánh thuế trên khoản thu nhập từ nước ngoài (lợi nhuận chủ động)
chỉ khi nào nó được chuyển về nước
Thu nhập chịu thuế và tiền thuế mà các MNE ở Mỹ phải nộp đã tăng trưởng khoảng 250% trong 18 năm:
Theo sự phát triển của kinh tế toàn cầu, nguồn thu nhập và tiền thuế của các MNE ngày càng to lớn Hình 1 cho thấy nguồn thu nhập và tiền thuế phải trả của các MNE tại
Mỹ từ năm 1992 đến 2010
Trang 8 Qua 18 năm, thu nhập chịu thuế tăng 248% và số tiền nộp thuế tăng 265%.
Thuế suất thực đánh vào nguồn thu nhập từ nước ngoài giữ ở mức ổn định trong 2 thập kỷ:
Trong khi nguồn thu nhập và nguồn thuế nộp của các MNE tăng trưởng mạnh, thì thuế suất đánh trên nguồn thu nhập này có xu hướng rất ổn định Mức thuế trung bình từ
1992 đến 2010 là 26,4%, thuế suất từng năm không bao giờ đi quá xa mức trung bình này Mức thấp nhất là 24,9% năm 1999, mức cao nhất là 29,3% vào năm 2008
Trang 9Hơn 60% thu nhập nước ngoài của các MNE là ở châu Âu và châu Á:
Các MNE tại Mỹ kinH doanh khắp mọi nơi trên thế giới Tuy nhiên, hầu hết thu nhập của họ tập trung ở 2 khu vực là châu Âu và châu Á, trong đó châu Âu chiếm tỷ trọng lớn nhất
Trong năm 2010, các MNE có 206.8 tỷ $ thu nhập chịu thuế và nộp thuế 63.6 tỷ $
ở Châu Âu, con số này chiếm 44% thu nhập và 50% tiền thuế Châu Á là nơi tập trung lớn thứ 2, với 83.4 tỷ $ thu nhập và 21.6 tỷ $ tiền thuế Tổng hợp 2 khu vực này đã chiếm tới 62% thu nhập và 67% nguồn thuế so với các khu vực khác
Một phần năm của tất cả các nguồn thu nhập và tiền thuế chỉ tập trung ở 3 nước:
Một phần năm nguồn thu nhập và trả thuế chỉ đến từ 3 quốc gia Trong đó Hà Lan chiếm nhiều nhất với 35.5 tỷ $ thu nhập và 12.3 tỷ $ tiền thuế Lần lượt Vương quốc Anh chiếm 33.5 tỷ $ và 11.9 tỷ $, Canada chiếm 31.3 tỷ $ và 9.2 tỷ $
Trang 10Hai nước được xem như tiêu biểu cho thiên đường thuế là Bermuda and the Cayman Islands nằm trong top 15 nước được các MNE báo cáo có nguồn thu nhập chịu thuế Các MNE báo cáo có 23 tỷ $ ở Bermuda và 12 tỷ $ ở Cayman Islands Hai nước này không có nguồn thu từ thuế TNDN, nhưng các MNE vẫn báo cáo có tiền thuế phải trả Đó gọi là thuế “ảo” Trong báo cáo thì số thuế này là 2.6 tỷ $ ở Bermuda và 4 tỷ $ ở Cayman Islands.
Các mức thuế khác nhau đáng kể theo quốc gia và khu vực:
Trang 11Hình trên cho thấy mức thuế suất của năm 2010 theo khu vực Không chỉ khác theo khu vực, mà thuế suất còn rất khác nhau ở mỗi quốc gia Có những nước thuế suất rất thấp, ví dụ như dưới 10% bao gồm Singapore (6.92 %), Bahamas (5.5 %), và British Virgin Islands (4.5 %) Chiều ngược lại, các quốc gia dầu mỏ có mức thuế suất rất cao như Na Uy (66 %), Nigeria (77.4 %), and Saudi Arabia (59.7 %).
Hầu hết các MNE có thu nhập chịu thuế ở nước ngoài đều bị đánh thuế suất trên 20%:
Ai cũng biết rằng các MNE chịu mức thuế suất rất thấp ở một số quốc gia, nhưng các báo cáo cho thấy phần lớn họ bị đánh thuế từ 20% đến 30%
Trang 12Phát sinh thu nhập và đóng thuế ở nước ngoài phần lớn là các MNE trong lĩnh vực sản xuất và gia công:
Trang 13III QUY ĐỊNH THUẾ VỀ VIỆC CHUYỂN GIÁ
Các quy định về giá chuyển giao đã trở thành một phần trong luật thuế của Mỹ kể
từ thời chiến tranh thế giới lần thứ nhất Khởi đầu là phần 482 của Luật Thu nội địa (IRC) ban hành năm 1968 Tháng 10/1988, Cơ quan Thuế nội địa Mỹ (IRS) đề nghị hai phương pháp nhằm thiết lập tiêu chuẩn cân xứng với thu nhập Thứ nhất, dựa trên phân tích các giao dịch có thể so sánh Thứ hai, dựa trên việc tách lợi nhuận giữa các bên có liên kết Tháng 1/1992, IRS ban hành quy định giới thiệu ba phương pháp định giá mới, tất cả dựa trên việc đối chiếu các tài liệu về kết quả giao dịch Tháng 1/1993, IRS ban hành quy định tạm thời Ngày 1/7/1994, quy định chính thức được ban hành, có hiệu lực từ ngày 8/7/1994 cho đến nay Mỹ rất quan tâm đến vấn đề kiểm soát chuyển giá của các công ty
đa quốc gia Điều này thể hiện trên các góc độ sau:
Một là, Mỹ quan tâm đến khung pháp lý điều chỉnh định giá chuyển nhượng trong
nội bộ tập đoàn Điều đó thể hiện rõ nét trong Bộ luật thu nội địa của Mỹ và các văn bản hướng dẫn của Cục Thu nội địa điển hình các văn bản đó có tên gọi là “Sách Trắng”
“Sách Trắng” hướng dẫn các phương pháp định giá chuyển nhượng căn bản dựa trên
phương pháp lợi nhuận Phương pháp này xem xét giới hạn lợi nhuận ròng trong mối
quan hệ với các chỉ tiêu: giá, phí, doanh số bán hàng, lợi nhuận mà đối tượng nộp thuế thực hiện từ hoạt động chuyển giao kiểm soát được
Trang 14Hai là, đi đôi với việc xây dựng khuôn khổ pháp lý, IRS cũng đã xác định rõ đối
tượng áp dụng điều chỉnh chuyển giá là các công ty liên kết tham gia kinh doanh quốc tế Các đối tượng đó là:
• Các doanh nghiệp (DN) Mỹ nắm giữ và kiểm soát một cách trực tiếp hoặc gián tiếp một DN ở nước ngoài;
• Các DN Mỹ dưới sự nắm giữ và kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp của một DN nước ngoài;
• DN cùng với một hoặc nhiều DN nước ngoài cùng chịu sự kiểm soát chung của một DN hay một tập đoàn nước ngoài
Tác dụng của việc xác định đối tượng là nhằm giới hạn phân vùng các DN trong quá trình xem xét điều tra và đồng thời được coi là biện pháp để chống lại hình thức chuyển giá với mục đích giảm nghĩa vụ thuế
Ba là, sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp điều chỉnh giá chuyển nhượng
Những phương pháp mà Mỹ thường sử dụng là:
• Phương pháp so sánh giá thị trường tự do;
• Phương pháp dựa vào giá bán ra;
• Phương pháp cộng chi phí vào giá vốn;
• Phương pháp phân chia lợi nhuận;
• Phương pháp so sánh lợi nhuận
Bốn là, thực hiện bắt buộc xuất trình các tài liệu minh chứng Điểm nổi bật ở Mỹ
trong những năm qua trong quá trình triển khai là ban hành các quy tắc điều chỉnh hoạt động nghiệp vụ của các bên liên kết Theo đó, các quy tắc này đòi hỏi công ty phải xuất trình các tài liệu minh chứng cần thiết để xác định kết quả các nghiệp vụ chuyển giao giữa các công ty liên kết
Năm là, coi trọng các biện pháp xử lý khi có bằng chứng vi phạm Khi cơ quan
thuế chứng minh được có sự vi phạm trong việc định giá chuyển giao nhằm trốn thuế thì
cơ quan thuế có quyền điều chỉnh lại thu nhập của đối tượng nộp thuế và áp dụng mức phạt từ 20-40% số thuế khai thiếu bị phát hiện do gian lận qua định giá chuyển giao