1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng

77 200 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 218,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thống kê tỷ lệ nợ xấu tại 8 ngân hàng thương mại niêm yết trong gia đoạn 2010 đến 2014 cho số liệu như sau: Nguồn: Tổng hợp của tác giả Tại ngân hàng Vietcombank – Chi nhánh Quảng Ngãi c

Trang 1

Chương 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nợ xấu tại các ngân hàng thương mại luôn là vấn đề có tác động mạnh mẽ đếnnhiều đối tượng với những góc độ khác nhau Nợ xấu sẽ làm giảm lợi nhuận, tác động xấuđến khả năng thanh khoản, từ đó làm giảm uy tín của ngân hàng thương mại Bên cạnh

đó, khi nợ xấu phát sinh sẽ làm hạn chế khả năng khai thác và đáp ứng vốn của nền kinh

tế, từ đó kéo theo nhiều hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế

Trong những năm gần đây, mặt dù không thể thống kê một cách chính xác về con

số nợ xấu tại tất cả các ngân hàng thương mại là bao nhiêu nhưng nhìn chung nợ xấu tạicác ngân hàng thương mại trong nước giai đoạn 2010 đến 2014 có xu hướng tăng mộtcách đáng kể Thống kê tỷ lệ nợ xấu tại 8 ngân hàng thương mại niêm yết trong gia đoạn

2010 đến 2014 cho số liệu như sau:

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Tại ngân hàng Vietcombank – Chi nhánh Quảng Ngãi cũng nằm trong xu thế đó,thời gian qua tỷ lệ nợ xấu cũng liên tục tăng, tuy không quá cao so với nhiều NHTM khácnhưng cũng đáng lo ngại.Cụ thể như sau:

Nguồn: Phòng tín dụng Vietcombank – Chi nhánh Quảng Ngãi

Nợ xấu sẽ có những ảnh hưởng vô cùng to lớn đến lợi nhuận, khả năng kinh doanhcủa ngân hàng trong hiện tại và tương lai Do đó, việc tìm ra những nhân tố tác động làmgia tăng hay sụt giảm tỷ lệ nợ xấu là hết sức cần thiết để các nhà quản trị của ngân hàng

có thể có thêm những thông tin hữu ích trong việc đề ra những giải pháp xử lý nợ xấu tại

Trang 2

ngân hàng mình Điều đó càng cần thiết hơn đối với Vietcombank – Chi nhánh QuảngNgãi trong giai đoạn này khi tỷ lệ nợ xấu ngày một tăng mạnh Xuất phát từ thực tế đó tôi

quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấu tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ngãi” làm luận văn tốt

nghiệp thạc sỹ của mình, cũng là đề có thể cung cấp những thông tin hữu ích cho lãnh đạongân hàng trong vấn đề đưa ra các giải pháp xử lý nợ xấu một cách hiệu quả

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với các mục tiêu sau:

‒ Xác định các nhân tố tác động đến nợ xấu tại Vietcombank – Chi nhánh Quảng Ngãi;

‒ Mức độ tác động của từng nhân tố đó đến nợ xấu của chi nhánh;

‒ Đề xuất một số giải pháp trong việc hạn chế sự gia tăng nợ xấu tại Vietcombank – Chinhánh Quảng Ngãi trong thời gian đến

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để có thể đạt được những mục tiêu trên thì đề tài phải trả lời được những câu hỏisau:

1 Các nhân tố nào sẽ tác động đến nợ xấu tại Vietcombank – Chi nhánh Quảng Ngãi?

2 Mức độ tác động của từng nhân tố đó đến nợ xấu tại Vietcombank – Chi nhánh QuảngNgãi?

3 Những giải pháp nào cho vấn đề hạn chế sự gia tăng nợ xấu tại Vietcombank – Chinhánh Quảng Ngãi trong thời gian đến?

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

a Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Vietcombank – Chi nhánh Quảng Ngãi, dữ liệu sơcấp được thu thập từ đầu tháng 11 năm 2014 đến hết tháng 12 năm 2014 Những đốitượng tham gia khảo sát trong nghiên cứu này là những nhân viên phòng tín dụng, phònggiao dịch, phòng quản lý nợ xấu và một số quản lý của chi nhánh Bên cạnh đó, tác giảcũng tham khảo những dữ liệu thứ cấp về nợ xấu tại chi nhánh trong giai đoạn 2010 đến2014

b Đối tượng nghiên cứu

Trang 3

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố tác động đến nợ xấu tạiVietcombank – Chi nhánh Quảng Ngãi.

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợpgiữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Cụ thể như sau:

‒ Nghiên cứu định tính được thực hiện gồm 02 bước thảo luận nhóm tập trung với 02 nhómđối tượng như sau:

+ Nhóm 1 gồm 25 chuyên viên có kinh nghiệm của 05 ngân hàng tại tỉnh Quảng Ngãi(Agribank, Techcombank, Donga Bank, Saccombank, BIDV, mỗi ngân hàng 5 người) đểkhám phá những nhân tố tác động đến nợ xấu của các ngân hàng tại tỉnh Quảng Ngãi;+ Nhóm 2 gồm 10 người là quản lý của 05 ngân hàng trên (mỗi ngân hàng 02 người) nhằmvừa để khám phá và vừa để khẳng định những nhân tố tác động đến nợ xấu của các ngânhàng thương mại tại tỉnh Quảng Ngãi

‒ Nghiên cứu định lượng được thực hiện nhằm khám phá các nhân tố ảnh hưởng và kiểmđịnh mô hình lý thuyết các nhân tố tác động đến nợ xấu tại Vietcombank – Chi nhánhQuảng Ngãi

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

nợ xấu tại đây

1.7 Kết cấu đề tài

Đề tài được trình bày gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về nợ

Trang 4

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Một số đề xuất nhằm hạn chế sự gia tăng nợ xấu tại Vietcombank – Chinhánh Quảng Ngãi

1.8 Thực trạng nợ xấu tại Vietcombank – Chi nhánh Quảng Ngãi

1.8.1 Tổng quan về tình hình hoạt động của Vietcombank – Chi nhánh Quảng Ngãi

Trong những năm qua, hoạt động Ngân hàng diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thếgiới diễn biến phức tạp, kinh tế trong nước phát triển chưa ổn định và chịu những tácđộng của các yếu tố bên ngoài Để thực hiện tốt các chương trình hành động củaVietcombank Hội sở chính đề ra, Vietcombank – Quảng Ngãi đã triển khai tích cực cácmặt hoạt động đóng góp vào các kết quả chung của toàn hệ thống Các hoạt động kinhdoanh chủ yếu qua 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014 được thể hiện trên các mặt sau:

Về hoạt động huy động vốn

Trong những năm qua, Vietcombank – QuảngNgãi đã chủ độngtăngtrưởng nguồnvốn để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh, xác định duy trì và ổn định nguồn vốn là mụctiêu quan trọng của chi nhánh, Chi nhánh đã luôn cố gắng đảm bảo nguồn vốn phục vụkinh doanh nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ các quy định của NHNN và Vietcombank – Hội

sở chính Chi nhánh đã đề ra các giải pháp huy động vốn, đa dạng hoá khách hàng tiềngửi bằng cách tăng cường tiếp thị, đa dạng hoá dịch vụ, áp dụng lãi suất cạnh tranh, tậndụng lợi thế về công nghệ để khai thác các nhóm khách hàng tiềm năng, nhanh chóngthực hiện các định hướng của Nhà nước trong thanh toán không dùng tiền mặt và phải mởrộng địa bàn hoạt động… Vậy nên, nguồn vốn huy động có xu hướng tăng, ổn định vàbền vững hơn, đặc biệt là nguồn vốn nội tệ Năm 2010, Vietcombank– Quảng Ngãi chỉmới huy động được gần 1.174 tỷ đồng thì đến tháng 12/2014, nguồn vốn huy động VNĐ

đã đạt 2.811 tỷ đồng, tăng 2,39 lần Nhờ đó, tổng số dư huy động vốn của Vietcombank –Quảng Ngãi hiện chiếm 10% tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn

Với những nỗ lực trên, tình hình huy động vốn của chi nhánh giai đoạn 2010 –

2014 đã đạt được những kết quả được như sau:

Bảng 1.1: Tình hình huy động vốn của chi nhánh giai đoan 2010 - 2014

Trang 5

Đơn vị tính: Triệu đồng, triệu USD

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh Vietcombank – Quảng Ngãi)

Tỷ trọng tiền gửi thanh toán chiếm khá cao trong tổng số dư huy động vốn qua cácnăm nên góp phần tăng hiệu quả kinh doanh của Vietcombank – Quảng Ngãi Tuy nhiên,nguồn vốn này có tính chất không ổn định và chưa cân đối với cơ cấu cho vay, đặc biệt là

sự không ổn định do cuộc chạy đua khốc liệt về lãi suất và các chính sách ưu đãi của cácNHTM trên địa bàn, đây chính là thách thức lớn của Vietcombank – Quảng Ngãi trongthời gian tới

Về hoạt động tín dụng

Hoạt động tín dụng của chi nhánh chủ yếu là hoạt động cho vay và bảo lãnh đốivới nền kinh tế Các nghiệp vụ mua - bán vốn trên thị trường liên ngân hàng, đầu tư, kinhdoanh ngoại tệ đều được tập trung về cơ quan Hội sở Vietcombank – Quảng Ngãi quiđịnh việc quản lý vốn tập trung trên toàn hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cũng

Trang 6

như điều tiết vốn, đảm bảo khả năng thanh khoản và hiệu quả kinh doanh vốn Theo đó,vốn để đáp ứng nhu cầu của hoạt động tín dụng sẽ là vốn đi mua lại của Hội sở với mứcchênh lệch giữa lãi suất bán và mua được qui định theo từng thời kỳ khác nhau cho từng

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh Vietcombank – Quảng Ngãi)

Hoạt động cho vay có sự tăng trưởng qua các năm, tuy nhiên tốc độ tăng trưởngtrung dài hạn qua các năm có xu hướng giảm, tỷ trọng dư nợ trung dài hạn giảm Nguyênnhân chủ yếu là do cơ cấu nguồn vốn huy động chủ yếu là nguồn ngắn hạn để đảm bảo antoàn thanh khoản thì hạn chế cho vay trung và dài hạn, NHNN khống chế tỷ lệ nguồn vốnngắn hạn để cho vay trung dài hạn tối đa 30%, và do đối tượng đầu tư của Vietcombank –Quảng Ngãi là hộ sản xuất kinh doanh ngắn hạn chu kỳ sản suất kinh doanh chủ yếu làngắn hạn

Hoạt động bảo lãnh của chi nhánh trong giai đoạn 2010 – 2014 cũng có những tăngtrưởng đáng kể

Bảng 1.3: Kết quả hoạt động bảo lãnh giai đoạn 2010 – 2014

Đơn vị tính: Triệu đồng

Tổng GT bảo lãnh 2010 2011 2012 2013 2014

1 Bảo lãnh

dự thầu

4.128 7.354 9.120 10.75

517.643

Trang 7

2 Bảo lãnh

TH HĐ

20.145

27.333

37.988

42.64251.070

3 Bảo lãnhT.toán

13.457

19.876

28.240

40.348

170.310

4 Bảo lãnhkhác 1.296 1.817 2.672 5.441 4.007

TC (1+2+3+4)

39.02 6

55.38 0

78.02 0

99.18 6

243.03 0 Thu phí bảo

(Nguồn: Cân đối ngoại bảng của Vietcombank – Quảng Ngãi)

Nhìn chung, hoạt động bảo lãnh của chi nhánh phát triển tương đối tốt và làm giatăng đáng kể doanh thu từ những hoạt động ngoài cho vay của chi nhánh theo đúng mụctiêu của NHTM hiện đại, song so với yêu cầu và thực tế thì chưa đạt

1.8.2 Tình hình nợ xấu tại Vietcombank – Chi nhánh Quảng Ngãi trong những năm gần đây

Nợ xấu tại Vietcombank Quảng Ngãi giai đoạn 2010 – 2014 có nhiều biến động,

cả về tổng dư nợ cũng như tỷ trọng giữa các nhóm nợ, trước tiên ta xem xét thực trạng nợxấu của chi nhánh dưới góc độ là các khoản nợ đang được theo dõi tại nội bảng

Bảng 1.4: Cơ cấu nợ ngoại bảng theo nhóm nợ

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 2014

DN nhóm1

2.236

Trang 8

(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ và trích lập DPRR - Phòng TD các năm 2010 – 2014)

Theo số liệu thống kê tại bảng 2.4 cho thấy dư nợcủa doanh nghiệp nhóm 1tại chi nhánh tăng qua các năm và tổng dư nợ cũng tăng qua các năm Điều này cho thấygiá trị cho vay của chi nhánh có sự tăng trưởng chủ yếu ở doanh nghiệp nhóm 1, doanhnghiệp nhóm 2 có tăng nhưng không đáng kể Ở các doanh nghiệp nhóm 3, 4, 5 có biếnđộng nhưng không đáng kể

(Nguồn: Báo cáo chất lượng tín dụng - Phòng TD các năm 2010 – 2014)

Năm 2010 tổng dư nợ xấu(nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5) là 93 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ3,8% trên tổng dư nợ, năm 2011 là 103 tỷ đồng, năm 2012 là 113 tỷ đồng, tỷ lệ 4,9% tổng

dư nợ nội bảng, năm 2013 là 155 tỷ, tỷ lệ 5,1%, năm 2014 còn 101 tỷ, tỷ lệ 1,92% thấphơn nhiều so mặt bằng chung của các tín dụng trên địa bàn Quảng Ngãi năm 2014 (2,7%),điều này phản ánh chất lượng tín dụng của Vietcombank – Quảng Ngãi đã có chuyển biếntốt hơn Trong 3 nhóm nợ 3,4,5 nhóm 5 có tỷ trọng cao nhất là do khách hàng có nhiềukhoản vay thì chỉ cần 1 khoản vay ở nhóm 5 là các khoản khác cũng tự động chuyểnnhóm năm và năm 2013 có nợ xấu cao nhất, lý do là năm 2013 do khủng hoảng kinh tế

Trang 9

thế giới, kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề, các khoản vay ký hợp đồng với lãi suất

cố định, khi mặt bằng lãi suất thay đổi và khả năng cung ứng tín dụng bị siết chặt nhiềukhách hàng chấp nhận để quá hạn để có vốn kinh doanh và lãi suất quá hạn (bằng 150%lãi suất thông thường) vẫn thấp hơn lãi suất vay mới

Mặc dù nợ xấu được theo dõi tại nội bảng năm 2014 giảm nhiều, tỷ lệ nợ xấu thấp,tuy nhiên tỷ trọng nợ xấu nhóm 5 vẫn cao và có nguy cơ tăng do tình hình kinh tế nhữngtháng đầu năm 2014 có nhiều biến động Tuy nhiên, con số dư nợ xấu tại nội bảng giảmxuống không đồng nghĩa với việc chất lượng của các khoản nợ phải thu từ phía kháchhàng được nâng lên Vì vậy, để đánh giá một cách toàn diện về tình hình nợ xấu tạiVietcombank –Quảng Ngãi ta cần xem xét đến các khoản nợ được theo dõi tại ngoạibảng

Bảng 1.6: Cơ cấu nợ ngoại bảng

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 2014

Dư nợ ngoại bảng 88 101 144 158 194

(Nguồn: Cân đối ngoại bảng 2010 – 2014)

Nợ ngoại bảng đã được xử lý bằng quỹ DPRR đến cuối năm 2010 là 88 tỷđồng, năm 2011 là 101, năm 2012 là 144 tỷ đồng, năm 2013 là 158 tỷ đồng, năm

2014 là 194 tỷ, tăng 22,7% so với năm 2013 trong đó nợ khó không thể thu là 178 tỷđồng, bao gồm:

‒ Nợ Công ty Sản xuất Gỗ xuất khẩu Nam Phong giải thể chuyển sang là 29 tỷ đồng,đây là khoản nợ không có đủ cơ sở pháp lý do hồ sơ, thủ tục bảo đảm tiền vay khônghợp lệ, hợp pháp để phát mại, thu hồi hoặc khách hàng không nhân nợ nên thiếu căn

cứ đòi nợ

‒ Nợ không còn con nợ hoặc không có tài sản đảm bảo để xử lý thu hồi nợ, tổng số 56 tỷ đồng,

cụ thể Công ty Vetex Quảng Ngãi 10,8 tỷ đồng, Công ty CP Lê An 8 tỷ đồng, Công tyTNHH Minh Phượng 6,4 tỷ đồng, Công ty TNHH Hồng Hải Bình 6 tỷ đồng, Công ty TNHHPhúc Hưng 5,6 tỷ đồng, Công ty TNHH Phúc Thịnh 4,2 tỷ đồng và một số khách hàng là cá

Trang 10

‒ Nợ phát sinh tại Vietcombank – Quảng Ngãi là 93 tỷ đồng, chủ yếu các khách hàng là doanhnghiệp nhà nước, vay không có tài sản bảo đảm, đang cơ cấu lại do chuyển đổi mô hình,chuyển đổi chủ sở hữu, giải thể hoặc phá sản

Tổng nợ xấu của chi nhánh đã có xu hướng giảm xuống, đây là một tín hiệu đángmừng nhất là trong tình hình nền kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp nói riêng giai đoạn 2010 – 2014 vẫn còn gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên,các khoản nợ ít có khả năng thu hồi lại có xu hướng tăng cao, buộc ngân hàng phải bù đắpbằng quỹ dự phòng rủi ro, điều này sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh củangân hàng Ngoài ra, nợ xấu đã xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro không có dấu hiệu giảmxuống cho thấy công tác quản lý nợ xấu của Chi nhánh còn chứa đựng nhiều bất cập

1.8.3 Đánh giá tình hình nợ xấu tại Vietcombank – Quảng Ngãi

Qua phân tích các số liệu kế toán cũng như tình hình thực tế tại Vietcombank –Quảng Ngãi ta thấy tình hình hoạt động chung của chi nhánh nhìn chung vẫn trong tìnhtrạng bình thường, thậm chí khá tốt so với các NHTM nói chung và trên địa bàn tỉnhQuảng Ngãi nói riêng Tuy nhiên, tình hình nợ xấu tại chi nhánh trong thời gian qua có xuhướng tăng đáng kể (2010 – 2014) và dự báo có thể tăng trong thời gian đến Chính vìvậy, lãnh đạo chi nhánh cần tìm ra nguyên nhân, các nhân tố tác động đến nợ xấu tại chinhánh mình để có những quyết định quản lý, xử lý một cách thích hợp Từ đó mới có thểcải thiện hiệu quả hoạt động tại chi nhánh Vấn đề quản lý nợ xấu tại chi nhánh cũng cầnchú ý ở nhiều khía cạnh như nợ nội bảng, ngoại bảng, thời gian phát sinh nợ xấu, …

Trang 11

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU

2.1 Tổng quan về nợ xấu tại các ngân hàng thương mại

2.1.1 Khái niệm nợ xấu

Nợ xấu thường được nhắc đến với các thuật ngữ như “bad debt”, “non-performingloan”, “doubtful debt”, … thông thường nợ xấu được hiểu là những khoản nợ dưới chuẩn,

có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ,điều này thường xảy ra khi người đi vay đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản Tuynhiên, hiện nay cũng đang tồn tại nhiều khái niệm về nợ xấu khác nhau tùy theo quanđiểm của từng nhà nghiên cứu Có thể nhắc tới một số khái niệm tương đối phổ biến sauđây:

Khái niệm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG) (Friedrich Ebert

Stiftung, 2013): nhóm chuyên gia tư vấn AEG của liên hiệp quốc cho rằng định nghĩa về

nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho cácngân hàng AEG thống nhất định nghĩa như sau: Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quáhạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đãđược nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanhtoán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoảnvay sẽ được thanh toán đầy đủ” Nói cách khác, nợ xấu được căn cứ vào hai tiêu chí làquá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ bị nghi ngờ

Theo ngân hàng trung ương liên minh châu Âu: Nợ xấu bao gồm các khoản sau:

+ Khoản nợ không thể thu hồi được: Khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc không có căn cứ để đòibồi thường, người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ;khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìmđược người mắc nợ; khoản nợ mà người đi vay đã chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh

lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ

+ Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng: Là những khoản nợ không có tàisản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ; những khoản nợ mà lãi hoặc gốc còn

Trang 12

thời hạn thanh toán nhưng người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả nợ, hoặchoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ không thể thu hồi được đầy đủ.

Theo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) (Friedrich Ebert Stiftung, 2013):

BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về cácthông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định việc khoản

nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảyra: (1) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưathực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi, (2) người vay đã quá hạn trả nợ đến quá 90ngày

Theo Basel II, các ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội

bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng Với mỗi kỳ hạn xác định tổn thất có thể ướctính được tính toán dựa trên công thức như sau:

(1)

(Trong đó, PD – Xác suất khách hàng không trả được nợ, LGD – Tỷ trọng tổn thấtước tính, EAD – Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ,

EI – Tổn thất có thể ước tính)

Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (Friedrich Ebert Stiftung, 2013): Trong hướng dẫn để tính

toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia thì đã đưa ra định nghĩa về nợ xấu:

“một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn;khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trìhoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhậnthấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả đầy đủ Sau khi khoảnvay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất kỳ khoản vay thay thế nào cũng nênđược xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi vàgốc của khoản vay thay thế”

Theo quan điểm của Việt Nam: Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn nhưng ở cấp độ

nghiêm trọng hơn, do đó được gọi là nợ xấu Nợ xấu có thể gây ảnh hưởng nặng nề đếnhoạt động kinh doanh của ngân hàng nên nó cần được theo dõi, quản lý chặt chẽ (NguyễnĐăng Dờn, 2012) Theo quy định phân loại nợ xấu (NHNN, 2007), trích lập và sử dụng

dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD và quyết định của

Trang 13

NHNN số 18/2007/QĐ – NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điềucủa quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 của thống đốc NHNN chorằng:

+ “Nợ” bao gồm các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; các khoảnchiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, các khoản bao thanh toán,các hình thức tín dụng khác

+ “Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.+ “Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,,4,5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghingờ, nợ có khả năng mất vốn Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượngtín dụng của TCTD

Nợ xấu làm ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản và kế hoạch kinh doanh của ngânhàng Do hiện tại hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại là huy động tiền gửi

và cho vay Khi các ngân hàng cho vay gặp rủi ro, thu hồi nợ khó khăn hoặc không thuhồi đủ nợ vốn và lãi Trong khi đó ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn cáckhoản tiền gửi Sự mất cân đối trên ảnh hưởng rất lớn tới tình hình thanh khoản cũng như

kế hoạch kinh doanh của ngân hàng

Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng Do hoạt động kinh doanh chủ yếu bằngtiền của người khác nên tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cao tức là chất lượng tín dụng củangân hàng thấp Ngân hàng gặp vấn đề thiếu thanh khoản, làm mất lòng tin đối với ngườigửi tiền, gây áp lực cho việc thu hút thêm khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ,

Trang 14

làm giảm đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân hàng, gây áp lực nặng nề lên nguồn vốnhuy động để cho vay Đối với NHTM có niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoánthì với tỷ lệ nợ xấu cao sẽ ảnh hưởng đến giá trị tài sản của ngân hàng trên thị trường, ảnhhưởng đến tâm lý của nhà đầu tư Nếu tỷ lệ nợ xấu cao thì uy tín của ngân hàng giảm sút,

là bất lợi trong cạnh tranh, trong quá trình hội nhập và phát triển

2.1.2.2 Đối với nền kinh tế

NHTM là doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế, hoạt động của nó nói chungcũng như nợ xấu nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế Nợ xấu tăng có tác độnggián tiếp đến nền kinh tế thông qua mối quan hệ hữu cơ ngân hàng – khách hàng – nềnkinh tế Khi nợ xấu phát sinh sẽ làm hạn chế khả năng khai thác và đáp ứng vốn, dịch vụcủa ngân hàng cho nền kinh tế Mặt khác nếu nợ xấu phát sinh do khách hàng hoặc doanhnghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế vì nguồnvốn bị ứ đọng và việc sản xuất bị đình truệ, gây ra những tác động xã hội như việc làm,thất nghiệp gia tăng Ngoài ra, kinh phí để xử lý nợ xấu cũng gây ra gánh nặng cho ngânsách Nợ xấu tăng cao đến mức tự bản thân ngân hàng không thể xử lý và phải trông cậyvào ngân sách sẽ dẫn đến bội chi ngân sách làm xuất hiện rủi ro lạm phát và gây bất ổnnền kinh tế

2.2 Các nhân tố tác động đến nợ xấu tại ngân hàng thương mại

2.2.1 Giới thiệu một số nghiên cứu về nợ xấu ở các nước

(1) Keeton & Morris (1987): Nghiên cứu xem xét các nhân tố gây tổn thất trong

hoạt động cho vay Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên xem xét vấn đề này.Trong bài báo cáo nghiên cứu, hai tác giả đã đánh giá thiệt hại của 2470 NHTM trongthời gian 1979 – 1985 tại Mỹ theo phương pháp hồi quy Tác giả đã đưa ra các nguyênnhân chính là điều kiện kinh tế địa phương cùng với sự yếu kém của quản lý là nhân tốgây ra thiệt hại, rủi ro lớn trong các ngân hàng thương mại

(2) Berger, A., N and Young, R., D (1997): Sử dụng phương pháp quan hệ nhân quả

Granger kiểm tra bốn biến liên quan đến mối quan hệ giữa chất lượng cho vay, hiệu quảchi phí và vốn ngân hàng Tác giả đưa ra 04 biến tác động là rủi ro không kiểm soát được,rủi ro xảy ra do hoạt động của ngân hàng – hoạt động quản lý yếu kém, kiểm soát tín

Trang 15

dụng nội bộ của các ngân hàng và rủi ro đạo đức Kết quả cho thấy các nhân tố rủi ro xảy

ra do hoạt động của ngân hàng – hoạt động quản lý yếu kém, kiểm soát tín dụng nội bộcủa ngân hàng và rủi ro đạo đức là có tác động đến chất lượng cho vay của ngân hàng.Chất lượng cho vay của ngân hàng là nguyên nhân cơ bản tác động đến hiệu quả chi phí

và vốn ngân hàng

(3) Keeton, William R (1999): Phân tích dữ liệu từ 260 NHTM tại Hoa Kỳ để tìm ra

mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và rủi ro các khoản vay Nghiên cứu chỉ ra rằng sựgia tăng trong tăng trưởng tín dụng có khả năng dẫn đến tổn thất cho vay cao do các ngânhàng giảm bớt các tiêu chuẩn tín dụng để có thể cho khách hàng vay Chính điều này lànguyên nhân xuất hiện con số nợ xấu sau này

(4).Ranjan & Dhal (2003): Sử dụng phân tích hồi quy với dữ liệu bảng cho rằng điều

kiện kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng GDP) và điều kiện kinh tế vi mô (điều khoản tíndụng, quy mô ngân hàng, chính sách tín dụng và lãi suất cho vay) tác động rất lớn đến tỷ

lệ nợ xấu của NHTM ở Ấn Độ

(5) Fofack, Hippolyte (2005): Sử dụng quan hệ nhân quả Granger và mô hình dữ liệu

bảng tìm hiểu những nhân tố gây ra nợ xấu trong vùng Sahara Châu Phi trong những năm

1990 Kết quả tăng trưởng kinh tế, tỷ giá hối đoái thực, lãi suất thực, tỷ lệ lợi nhuận lãithuần, tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lãi từ các khoản vay liên ngân hàng là yếu tốquyết định quan trọng của nợ xấu tại các nước này

(6) Hu, Jin – Li, Yang Li & Yung – Ho, Chiu (2006): Phân tích mối quan hệ giữa nợ

xấu và cơ cấu sở hữu của 40 ngân hàng thương mại tại Đài Loan với một bộ dữ liệu bảngtrong giai đoạn 1996 – 1999 Nghiên cứu cho thấy các ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nhànước cao hơn thì tỷ lệ nợ xấu thấp hơn Hu và cộng sự cũng cho thấy quy mô của ngânhàng ảnh hưởng tiêu cực đến nợ xấu

(7) Abhiman Das & Saibal Ghosh (2007): Sử dụng phương pháp ước lượng GMM

(Generalized Method of Moments) để kiểm tra các biến kinh tế vĩ mô và biến kinh tế vi

mô ảnh hưởng đến các khoản vay có vấn đề của các ngân hàng Ấn Độ trong giai đoạn

1994 – 2005 Kết quả cho thấy cả yếu tố vĩ mô và yếu tố vi mô đều có ảnh hưởng đến cáckhoản vay có vấn đề

Trang 16

Ở cấp độ vĩ mô là khủng hoảng tài chính làm nền kinh tế chậm phát triển, do đóảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Khi nền kinh tế sụt giảm, thu nhập của doanh nghiệp và hộgia đình giảm nên họ khó khăn trong việc hoàn trả nợ vay cho ngân hàng Kinh tế sụtgiảm thể hiện qua sự sụt giảm của GDP.

Ở cấp độ vi mô thể hiện qua những khía cạnh sau:

‒ Kinh nghiệm và khả năng xử lý của cán bộ tín dụng từ những vụ vỡ nợ trong quákhứ:Nghĩa là nhân viên càng có kinh nghiệm họ sẽ càng có năng lực trong việc nhận biếtrủi ro đối với cấp tín dụng cho khách hàng

‒ Tài sản thế chấp: Sự tăng giá nhanh chóng của tài sản thế chấp làm tăng khoản cấp tíndụng của ngân hàng dựa trên giá trị tài sản Khi giá trị tài sản thế chấp suy giảm đột ngộttrong thời kỳ khủng hoảng thì ngân hàng nếu có xử lý tài sản vẫn không thể thu đủ khoảntín dụng đã cấp cho khách hàng, do đó nợ xấu xảy ra

‒ Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng: Cạnh tranh đòi hỏi các nhà quản trị phải thay đổi cáchthức kinh doanh, lựa chọn khách hàng dễ dàng hơn với những điều kiện thiếu chặt chẽhơn và tiềm ẩn rủi ro tín dụng trong tương lai Một số nhà quản trị vẫn chọn một số dự án

có NPV âm để cho vay vì mục đích thu nhập mang lại trong ngắn hạn và kết quả là phátsinh những khoản nợ có vấn đề trong tương lai

(8) Dimitrios, Angelos, Vasilios (2010): Sử dụng phương pháp hồi quy để xác định mức

độ tác động của các nhân tố đến nợ xấu trong các NHTM tại Hy Lạp Dữ liệu được thuthập từ 9 NHTM lớn nhất của Hy Lạp Kết quả nghiên cứu cho thấy có 02 nhóm nhân tốchính tác động đến nợ xấu tại các NHTM theo mức độ ảnh hưởng giảm dần như sau:

Nhân tố nội tại của ngân hàng thương mại: Đề cập đến một số khía cạnh như khả năng

quản lý yếu kém, trình độ chuyên môn của nhân viên chưa cao, đạo đức nghề nghiệp củanhân viên ngân hàng, chính sách quản lý và cho vay, …

Nhân tố vĩ mô: Đề cập đến một số khía cạnh như lãi suất, tổng sản phẩm, tình trạng thất

nghiệp, thu nhập của người dân địa phương, …

(9) Irum Saba, Rehana Kouser & Muhammad Azeem (2012): Sử dụng mô hình hồi

quy tuyến tính đa biến để đánh giá các nhân tố tác động đến nợ xấu của các ngân hàng

Mỹ giai đoạn từ 1985 – 2010 Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố vĩ mô như lãi suất, GDP

có mối liên hệ với nợ xấu

Trang 17

(10) Roberto Blanco & Ricardo Gimeno (2012): Sử dụng dữ liệu bảng của 50 tỉnh ở

Tây Ban Nha giai đoạn 1984 – 2009 Tác giả đã phân tích các yếu tố quyết định khả năngtrả nợ của các hộ gia đình ở Tây Ban Nha Các yếu tố được xem xét là giá trị của khoảnvay, số hộ gia đình vay vốn, hình thức vay (có bảo đảm hoặc không có bảo đảm), mụcđích vay vốn, tài sản thế chấp và các yếu tố vĩ mô khác: tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ thấtnghiệp, lãi suất

(11) Muhammad Farhan & ctg (2012): Nghiên cứu này cung cấp nhận thức của các

ngân hàng Pakistan liên quan đến các yếu tố tác động đến nợ xấu trong lĩnh vực ngânhàng Pakistan từ năm 2006 Tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để phân tíchcác tác động của các biến độc lập được lựa chọn (lãi suất, khủng hoảng năng lượng, thấtnghiệp, lạm phát, tăng trưởng GDP và tỷ giá) lên nợ xấu của ngành ngân hàng Pakistan.Theo kết quả phân tích thì các ngân hàng Pakisttan nhận thấy rằng lãi suất, khủng hoảngnăng lượng, thất nghiệp, lạm phát và tỷ giá có mối quan hệ tích cực với nợ xấu của ngànhngân hàng Pakistan Nghiên cứu này cũng thảo luận về cách các khoản vay tốt đang trởthành khoản nợ xấu do thiên tai trong khu vực năng lượng của Pakistan

(12) Messai & Jouini (2013): Sử dụng phương pháp dữ liệu bảng để phát hiện các yếu tố

quyết định nợ xấu với số liệu của 85 ngân hàng tại 03 quốc gia là Italy, Hi Lạp và TâyBan Nha giai đoạn 2004 – 2008 Kết quả là nợ xấu có mối quan hệ ngược chiều với tốc độtăng trưởng GDP và khả năng sinh lời của tài sản ngân hàng, nợ xấu có mối quan hệ cùngchiều với tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ nợ xấu trên tổng nợ và lãi suất thực

2.2.2 Giới thiệu một số nghiên cứu về nợ xấu tại Việt Nam

(1) Phạm Phú Nhân (2011): Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng của các NHTM tại

Vĩnh Long, với phương pháp hỗn hợp vừa định tính khám phá những nguyên nhân chủyếu và định lượng để kiểm định lại các nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từngnguyên nhân trong mô hình nghiên cứu đề xuất Dữ liệu thu thập tại 20 ngân hàng trênđịa bàn tỉnh Vĩnh Long

Qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra 5 nguyên nhân chính là áp dụng chỉ tiêu, quyđịnh quản lý tài sản tại địa phương, khách hàng chưa hợp tác và phê duyệt, kiểm soátthiếu chặt chẽ, ảnh hưởng môi trường kinh tế vĩ mô, chính sách cho vay thiếu khoa học

Trang 18

(2) Huỳnh Thị Thu Hiền (2012): Những nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các chi

nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, luận văn thạc sỹ kinh tế

Luận văn nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấu tại các NHTM trên địa bàntỉnh Vĩnh Long Đề tài đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến để ước lượng mức độ ảnhhưởng của những nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu Tác giả đưa ra 08 nhân tố chính tácđộng đến nợ xấu là lãi suất, số tiền vay, giá trị tài sản bảo đảm cho số tiền vay, kinhnghiệm của người quản lý doanh nghiệp, trình độ học vấn của khách hàng, mức độ ổnđịnh của thị trường, lợi nhuận, khả năng vốn tự có tham gia Qua đó phân tích dữ liệu kếtquả cho thấy có 02 nhóm nhân tố chính là nhân tố từ phía khách hàng đi vay, nhân tố từphía ngân hàng cho vay tác động đến nợ xấu của các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnhVĩnh Long

(3) Lý Thị Ngọc Quyên (2012): Phân tích những nhân tố tác động đến nợ xấu tại các

NHTM Việt Nam trên địa bàn TP HCM, luận văn thạc sỹ kinh tế

Luận văn nghiên cứu về những nhân tố tác động đến nợ xấu tại các NHTM ViệtNam trên địa bàn TP HCM Tác giả phân tích, đánh giá thực trạng nợ xấu tại các NHTMViệt Nam trên địa bàn TP HCM giai đoạn từ 2007 đến quý I năm 2012 Kết quả phântích nhân tố khám phá (EFA) với phần mềm SPSS 20.0 đã chỉ ra 05 nhân tố tác động đến

nợ xấu của các NHTM Việt Nam trên địa bàn TP HCM là nhân tố tự bản thân ngân hàng,nhân tố từ phía khách hàng đi vay, nhân tố môi trường kinh doanh và chính sách nhànước, nhân tố ngân hàng hậu tăng trưởng nóng Qua đó tác giả cũng đề ra một số giảipháp khắc phục tình trạng gia tăng nợ xấu tại các NHTM Việt Nam trên địa bàn TP.HCM

2.2.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấu tại ngân hàng thương mại

Dựa trên cơ sở một số lý thuyết liên quan về nợ xấu tại các NHTM, các nghiên cứutrên thế giới và trong nước về vấn đề nợ xấu tại các ngân hàng thương mại, tác giả đề xuất

mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấu tại NHTMCP Ngoại thương ViệtNam – Chi nhánh Quảng Ngãi dựa theo nghiên cứu của Dimitrios, Angelos, Vasilios(2010) gồm 02 nhân tố là nhân tố từ phía ngân hàng và nhân tố vĩ mô Bên cạnh đó, bổ

Trang 19

Nợ xấu tại Vietcombank – Quảng Ngãi

sung nhân tố từ phía khách hàng của Huỳnh Thị Thu Hiền (2012), Lý Thị Ngọc Quyên

(2012) Mô hình nghiên cứu đề xuất như sau:

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trong đó:

Nợ xấu tại NHTM

Được định nghĩa dựa theo khái niệm nợ xấu (theo quan điểm của ngân hàng trung

ương liên minh châu Âu, đã được nêu ở mục 2.1.1) Theo đó, nợ xấu bao gồm các khoản

sau Thứ nhất, khoản nợ không thể thu hồi được Đó là, khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc

không có căn cứ để đòi bồi thường, người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài

sản để thanh toán nợ; khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ

hoặc không thể tìm được người mắc nợ; khoản nợ mà người đi vay đã chấm dứt hoạt

động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ

để trả nợ Thứ hai, nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng Đó là, những

khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ; những khoản

nợ mà lãi hoặc gốc còn thời hạn thanh toán nhưng người mắc nợ không liên lạc với ngân

hàng để trả nợ, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ không thể thu hồi được đầy đủ

Nhân tố từ phía ngân hàng

Nhân tố từ phía ngân hàng được đánh giá trên một số nội dung sau:

Trang 20

Thiếu sự kiểm tra, giám sát sau khi cho vay: Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trước,

trong và sau khi cho vay, làm cho ngân hàng không phát hiện kịp thời dù vốn đã bị sửdụng sai mục đích (Nguyễn Đăng Dờn, 2012)

Thông thường việc kiểm tra tình hình sử dụng vốn của khách hàng rất quan trọngngay cả trước, trong và sau cho vay Nếu khách hàng sử dụng đúng với mục đích nhưcam kết sẽ hạn chế được phát sinh nợ quá hạn do đánh giá nguồn trả nợ ngay từ ban đầu.Khi đó, ngân hàng sẽ xem xét tăng mức cấp tín dụng cho khách hàng để đáp ứng nhucầu vốn lưu động thiếu hụt hoặc nhu cầu đầu tư Nếu khách hàng không sử dụngđúng mục đích mà không thông thạo thì dễ bị thua lỗ và không thanh toán được khoản

nợ khi đến hạn làm phát sinh nợ quá hạn tại ngân hàng Khi đó, ngân hàng kịp thờithu hẹp tín dụng, không cho vay thêm hoặc cho vay có điều kiện Do đó, sẽ hạn chếđược rủi ro cho cả ngân hàng và khách hàng

Tuỳ thuộc vào quy mô khoản vay, loại hình cấp tín dụng mà mỗi ngân hàng quyđịnh tần suất kiểm tra cho phù hợp, thông thường kiểm tra chứng từ trong vòng 30 ngày

và kiểm tra thực tế tối thiểu 3 tháng/lần sau khi giải ngân Trên thực tế, không phảitrường hợp nào cán bộ tín dụng cũng kiểm tra đúng quy định, đôi khi 12 tháng mới kiểmtra một lần hoặc việc kiểm tra mang tính chất thủ tục, đối phó, chiếu lệ nên không theosát tình hình khách hàng, làm tăng rủi ro

Chính sách tín dụng của ngân hàng không phù hợp hoặc không được chấp hành nghiêm túc: Ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và điều kiện cho vay Vấn

đề cung ứng tín dụng quá mức cho các thành viên HĐQT và các cổ đông lớn, hoặc chonhững người thân hoặc cho các quan hệ riêng tư khác Đây là nhân tố khá phổ biến ởnhững nước đang phát triển Vi phạm nguyên tắc tín dụng xuất phát từ các hành vi tiêucực trong tiến trình cho vay

Tuỳ thuộc vào mục tiêu kinh doanh, “khẩu vị” rủi ro mà mỗi ngân hàng xây dựngchính sách tín dụng Thực tế, trong thời gian qua, khách hàng không đủ điều kiện vay tạingân hàng lớn sẽ nộp hồ sơ ở ngân hàng nhỏ hơn và được chấp nhận vay Trước áp lựckinh doanh và cạnh tranh, gay gắt trong ngành, các ngân hàng phải luôn điều chỉnhchính sách tín dụng và nếu không cẩn trọng sẽ dẫn đến rủi ro

Trang 21

Chất lượng thẩm định thấp: Công tác thẩm định, đánh giá khách hàng và dự án, phương

án vay vốn rất quan trọng trong quá trình cho vay Công việc này cần xác định nhiềunguồn thông tin và đánh giá khách hàng tương đối chính xác Chỉ cần một thông tinkhông xác định có thể dẫn đến việc đánh giá khách hàng không đúng và khả năng nợ quáhạn xảy ra là rất cao Hiện nay, công tác đánh giá khách hàng tại các NHTM chủ yếudựa vào cảm tính chủ quan của nhân viên tín dụng và thu thập được qua báo chí,internet và từ khách hàng cung cấp Có trường hợp giải ngân trước tiến độ thực hiện dự ánnên toàn bộ vốn vay đã chi ra mà công trình vẫn còn dang dở chưa hoàn thành Chovay dự án nhưng giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng đất chưa hoàn chỉnh dẫn đến trườnghợp cho vay thêm vốn để hoàn chỉnh thủ tục chủ quyền đất làm TSĐB tiền vay

Công tác kiểm tra, quản lý và giám sát đối với TSĐB: Do thiếu nguồn thông tin chính

xác, trung thực về tình hình hoạt động và tài chính của khách hàng, một số NHTM có xuhướng chú trọng toàn bộ vào TSĐB để làm cơ sở cấp tín dụng và TSĐB là “phao” cứucánh cuối cùng khi rủi ro tín dụng phát sinh Chính vì dựa quá nhiều vào TSĐB nênCBTD và cấp thẩm quyền phán quyết không chú trọng phân tích đánh giá tính khả thi,hiệu quả của phương án, dự án kinh doanh, năng lực tài chính thực sự của khách hàng,kinh nghiệm quản lý Hiện nay việc xử lý TSĐB để thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn vàmất nhiều thời gian, do vậy tổn thất xảy ra cho NHTM là rất lớn Mặt khác hầu hết cáckhoản cấp tín dụng hiện nay của các NHTM là phải có TSĐB, trong đó bất động sản làTSĐB chính của các ngân hàng Nền kinh tế suy thoái và thị trường bất động sản trầmlắng, nhiều khách hàng không trả nợ được cho ngân hàng, ngân hàng cũng không trựctiếp kinh doanh bất động sản (theo Luật tổ chức Tín dụng số 47/2010/QH12) gây rủi

ro cho ngân hàng

Đạo đức nghề nghiệp kém: Kinh doanh ngân hàng dựa trên sự tin cậy và mức độ tín

nhiệm thì đạo làm nghề ngân hàng không chỉ cần thiết mà còn mang tính bắt buộc Tuynhiên, do nhiều nguyên nhân mà một số cán bộ ngân hàng đã cấu kết với khách hàng đểche giấu sự thật, gian lận, cố ý làm trái quy định của NHNN, của NHTM Mặc dù chưa có

số liệu công bố nhưng trong tổng số nợ xấu đó, một tỷ lệ không nhỏ nảy sinh từ vi phạm

đạo đức nghề nghiệp (PGS.TS Nguyễn Thị Mùi ,2012).

Trang 22

Cán bộ tín dụng làm việc thiếu trách nhiệm: Không làm đúng quy trình tín dụng, hạ thấp

tiêu chuẩn tín dụng là biểu hiện của thiếu trách nhiệm Đây có thể do nhận thức chưađúng của CBTD, do tính cẩu thả, cả nể… Việc phân tích thông tin, đánh giá khách hàngtrong quá trình điều tra, thẩm định còn hời hợt, hình thức mang ý chí chủ quan, dẫn đếnviệc tham mưu và quyết định cấp tín dụng sẽ kém chất lượng, hiệu quả thấp Sự hiểu biết

về quy trình sản xuất, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý kinh tế trong các ngành nghềliên quan đến vốn vay ngân hàng của CBTD chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn đặt ra

Thiếu thông tin thị trường: Ngân hàng thường gặp khó khăn về tính chính xác của thông

tin do khách hàng cung cấp Thiếu thông tin khách hàng có thể sẽ dẫn đến thẩm định dựán/phương án vay vốn không chính xác, đánh giá không đúng năng lực thật sự của kháchhàng, không phát hiện được những âm mưu lừa đảo

Thiếu chiến lược kinh doanh hiệu quả và bền vững: Thực tế, một số ngân hàng cho vay

theo tín hiệu thị trường, nếu thị trường đất đai sôi động thì cho vay kinh doanh bất độngsản… Vì vậy, nhiều quyết định kinh doanh chỉ dựa vào lợi ích ngắn hạn và khi môitrường kinh doanh thay đổi, hoặc có biến động tiêu cực thì sẽ kéo theo những khoản nợlớn cho ngân hàng

Công tác quản trị và phòng ngừa rủi ro chưa được chú trọng: Một số ngân hàng dồn

vốn đầu tư vào những lĩnh vực nhạy cảm như bất động sản hoặc nhận thế chấp tài sản

là nhà cửa, đất đai Trong khi đó công tác định giá tài sản chưa sát với thực tế, vượt quágiá chuyển nhượng trên thị trường, không phòng ngừa rủi ro khi thị trường bất động sảnđóng băng, không lường trước được những rủi ro pháp lý liên quan đến bất động sản

Năng lực điều hành của ban lãnh đạo trong việc xây dựng và thực thi chiến lược quản lý

nợ xấu: Nhà lãnh đạo cần có khả năng phân tích và phán đoán chính xác những thay đổi

trong môi trường kinh doanh tương lai, từ đó hoạch định chính xác các chiến lược, xácđịnh các chính sách, kế hoạch kinh doanh phù hợp thực tiễn và đặc điểm của ngân hàngmình Bên cạnh việc xây dựng chiến lược thì việc thực thi cũng quan trọng không kém.Một chiến lược đúng đắn có thể không được thực thi một cách có hiệu quả Điều này cóthể xuất phát từ cơ chế kiểm soát nội bộ yếu kém nhưng cũng có thể là do sự thiếu ý thức,trình độ của nhà quản lý, nhân viên tín dụng

Hệ thống xếp hạng nội bộ tín dụng khách hàng: Việc xếp hạng tín dụng nội bộ khách

hàng của các NHTM mang tính chất chủ quan Các ngân hàng chưa xây dựng thước đo

Trang 23

lượng hóa rủi ro nên chưa tính toán chính xác được yếu tố này dẫn đến quyết định chovay, phân loại nợ chưa chính xác Những khoản rủi ro to được làm bé đi, khoản vay bé thìlàm cho nó to lên Bên cạnh đó, về phía các doanh nghiệp – đối tượng giải ngân vốn quantrọng của các TCTD, theo nghiên cứu hiện có đến 90% là DNVVN, không ít doanhnghiệp có BCTC không chính xác, trong khi phần lớn các BCTC này lại không đượckiểm toán Ngay cả đối với những doanh nghiệp lớn được kiểm toán thì sự chậm trễ trongviệc công bố báo cáo cũng như chất lượng kiểm toán cũng gây không ít khó khăn chongân hàng.

Sự hợp tác giữa các ngân hàng còn lỏng lẽo, thiếu chia sẻ thông tin dẫn đến ngân hàng

có quyết định sai lầm khi cấp tín dụng cho khách hàng: Mức độ ứng dụng công nghệ

trong phát triển sản phẩm và tính liên kết sản phẩm, dịch vụ ngân hàng còn thấp (đặc biệtgiữa các sản phẩm huy động, cho vay và thanh toán) khiến cho tiện ích ngân hàng chưacao, các dịch vụ ngân hàng điện tử và kênh phân phối điện tử đang phát triển mạnh nhưngcòn tồn tại nhiều hạn chế như chất lượng tiện ích và hiệu quả kinh tế chưa cao

Mỗi ngân hàng khi cho vay đều quyết định độc lập dựa vào hồ sơ khách hàng cungcấp, dẫn đến tình huống có nhiều ngân hàng cũng cho vay một khách hàng và có khả năngtổng mức cho vay của các ngân hàng vượt quá nhu cầu của khách hàng Các ngân hàngchưa có bất kỳ sự chia sẻ thông tin nào với nhau về việc tài trợ vốn tín dụng cho cùng mộtkhách hàng Như vậy, rủi ro xảy ra là rất lớn cho tất cả các ngân hàng

Hệ quả tất yếu của quá trình tăng trưởng tín dụng quá nóng: Chính sách tín dụng không

hợp lý, quá đặt nặng vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến tăng trường tín dụng nóng hoặc chovay không tập trung vào những lĩnh vực có rủi ro cao Tăng trưởng tín dụng nóng và nợxấu phát sinh sẽ có độ trễ thời gian, độ trễ thời gian tính từ thời điểm tăng trưởng tín dụngnóng và thời điểm phát sinh nợ xấu tùy thuộc vào thời hạn của các khoản tín dụng (PhanThị Thu Hà, 2009)

Tình trạng sở hữu chéo: Hệ thống ngân hàng với doanh nghiệp tại Việt Nam đã hình

thành một mạng lưới sở hữu chéo và cho vay theo quan hệ rất phức tạp, nhằm mục đíchthâu tóm ngân hàng, thu xếp vốn cho những dự án đầu tư chưa minh bạch

Hiện nay, luật pháp không cấm các ngân hàng sở hữu lẫn nhau, chỉ hạn chế tỷ lệ,

vì thế hàng loạt các NHTMNN lẫn NHTMCP, DNNN và doanh nghiệp tư nhân tham gia

Trang 24

sở hữu các ngân hàng Theo đó, rất nhiều công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tếNhà nước và các tập đoàn cổ phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính nhưng hiện đangđầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong các NHTM Hiệnkhông ít tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân cũng đang đầu tư, sở hữu chéo khi

họ có trong tay khá nhiều Ngân hàng

Theo kết quả nghiên cứu của Dimitrios, Angelos, Vasilios (2010) thì nhân tố từphía ngân hàng có quan hệ đồng biến và tương đối chặt chẽ với nợ xấu tại NHTM Từ cơ

sở đó, tác giả đề xuất giả thuyết H1 như sau:

H 1 : Nhân tố từ phía ngân hàng có quan hệ đồng biến với nợ xấu của Vietcombank – Quảng Ngãi.

Nhân tố từ phía khách hàng

Nhân tố từ phía ngân hàng nhấn mạnh vào một số khía cạnh sau:

Tiềm lực tài chính yếu: Năng lực tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tổng thể của

khách hàng Trong các giao dịch đều tiềm ẩn rủi ro, nhưng với các khách hàng có tiềmlực tài chính mạnh thì có khả năng chống chịu rủi ro rất tốt Khi có tiềm lực tài chínhmạnh họ sẽ đủ sức cầm cự, bù đắp tổn thất và tìm hướng kinh doanh để có thể tiếp tục trụvững và phát triển Còn nếu năng lực tài chính yếu, khách hàng rất dễ bị tổn thương khigặp rủi ro và làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng Tình hình tài chínhdoanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Quy mô nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ bé, cơ cấutài chính thiếu cân đối là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Côngtác quản lý tài chính kế toán còn tùy tiện, thiếu đồng bộ, mang tính đối phó, làm chothông tin ngân hàng có được không chính xác, chỉ mang tính chất hình thức Do đó, khicán bộ ngân hàng lập các văn bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu docác doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và sai lệch quá nhiều, rủi ro xảy ra

là lẽ đương nhiên ( Nguyễn Đăng Dờn, 2012)

Sử dụng vốn sai mục đích: Là một trong những trường hợp gian lận xảy ra khá phổ biến

trong thực tế hiện nay Việc không giám sát chặt chẽ của ngân hàng sau khi phát tiềnvay đã tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, dẫn đến rủi rokhông thu hồi được nợ vay nếu khách hàng bị thua lỗ, phá sản

Trang 25

Trong điều kiện thuận lợi, doanh nghiệp cố gắng vay càng nhiều càng tốt, thậmchí ở mức lãi suất cao Một lượng lớn vốn vay đã không được doanh nghiệp sử dụngđúng lĩnh vực của mình, đầu tư vào các lĩnh vực ngoài ngành có lợi nhuận cao Khi cáclĩnh vực này sụt giảm mạnh, nhiều doanh nghiệp mất khả năng trả nợ.

Cố tình lừa đảo, chiếm đoạt, bỏ trốn: Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều

có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi, nếu không kiểm tra, phân tích xem, có thể bịrủi ro Số lượng doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng đểchiếm đoạt tài sản không nhiều, nhưng không phải không có, thậm chí có những vụ việcphát sinh hết sức nặng nề và nghiêm trọng, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnhhưởng xấu đến các doanh nghiệp khác ( Nguyễn Đăng Dờn, 2012)

Thái độ thiếu thiện chí và bất hợp tác: Một số khách hàng có khả năng tài chính tốt nhưng

tỏ ra chây ỳ, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không giao TSĐB cho ngân hàng trongquá trình xử lý TSĐB, nhằm chiếm dụng hoặc chiếm đoạt vốn ngân hàng Không ít vụ

án liên quan đến tín dụng mà nguyên nhân là do thiện chí của khách hàng

Trình độ, năng lực quản lý, điều hành kém của khách hàng: Năng lực quản lý kinh doanh

yếu kém cũng là lý do phát sinh rủi ro Nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nhiều lĩnh vựcvượt quá khả năng quản lý Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý, lànguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó

phải thành công trên thực tế (Nguyễn Đăng Dờn, 2012)

Một số doanh nghiệp sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tài sản cốđịnh làm cho vốn bị đọng gây ra nợ quá hạn cho ngân hàng Mặt khác, có doanh nghiệpkinh doanh quá nhiều, không tập trung, vượt quá khả năng quản lý vốn dẫn đến kinhdoanh thua lỗ, vốn bị thất thoát không trả được nợ ngân hàng

Gian lận về số liệu, chứng từ: Quy định chưa chặt chẽ về chế độ BCTC của pháp luật

Việt Nam đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng thực hiện gian lận khi lập BCTCcung cấp cho ngân hàng nhằm có được một đánh giá tốt khi đi vay; lập chứng từ, giấy tờkhống qua mặt ngân hàng …

Sự bành trướng sang các lĩnh vực ngoài ngành của các doanh nghiệp nhà nước: Các

doanh nghiệp nhà nước là nhóm có nhiều thuận lợi hơn cả trong việc tiếp cận tín dụng vàchiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế nói chung và của các NHTM

Trang 26

nói riêng Trong những năm gần đây nhiều tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước tiến hànhđầu tư ngoài lĩnh vực chuyên trách của mình và đã có nhiều thua lỗ khiến gánh nặng nợnần gia tăng kéo theo nợ xấu tại các NHTM gia tăng.

Theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thị Thu Hiền (2012), Lý Thị Ngọc Quyên(2012) thì nhân tố từ phía khách hàng có quan hệ đồng biến và tương đối chặt chẽ với nợxấu tại NHTM Từ cơ sở đó, tác giả đề xuất giả thuyết H2 như sau:

H 2 : Nhân tố từ phía khách hàng có quan hệ đồng biến với nợ xấu tại Vietcombank – Quảng Ngãi.

Nhân tố vĩ mô

Nhân tố môi trường vĩ mô chủ yếu nhấn mạnh đến những yếu tố thuộc về chínhsách nhà nước, mô trường kinh doanh, cụ thể như sau:

Suy thoái kinh tế - chu kỳ kinh tế: Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều có chu kỳ

thịnh – suy Khi nền kinh tế trong giai đoạn thịnh vượng, việc sản xuất kinh doanhthuận lợi và như vậy việc trả nợ của khách hàng cho ngân hàng dễ dàng nên rủi ro tíndụng thấp, ngược lại lúc kinh tế trong trong thời kỳ suy thoái thì rủi ro tín dụng cao

Biến động môi trường kinh doanh: Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của

thị trường thế giới ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các thànhphần trong nền kinh tế Đặc biệt, từ cuối năm 2008 nền kinh tế chịu ảnh hưởng bởi tácđộng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn

đề lạm phát cao và hiện nay là suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, môi trường kinhdoanh và hoạt động của các tổ chức kinh tế gặp nhiều khó khăn Vì vậy, chất lượng tíndụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng

Nhiều doanh nghiệp hiện nay có năng lực tài chính yếu, vốn chủ sở hữu nhỏ vàkhả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh hạn chế, chủ yếu là dựa vào vốnvay ngân hàng Do vậy, khi môi trường kinh doanh xấu đi thì doanh nghiệp dễ gặp khókhăn về khả năng trả nợ, gây nguy cơ nhiều doanh nghiệp bị đào thải và sự đổ vỡ củaNHTM Ngay cả khi môi trường thuận lợi thì vẫn có một số ngành nghề bị suy giảm vàdoanh nghiệp bị đào thải do thiếu cạnh tranh trên thị trường

Trang 27

Do vậy, trong bất kỳ hoàn cảnh nào của nền kinh tế thì các NHTM cũng phải đốimặt với nguy cơ nợ xấu nếu không có định hướng cho vay đúng đắn.

Sự mất ổn định, thiếu đồng bộ, hợp lý của pháp luật và môi trường pháp lý: Lĩnh vực

hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro cao, để giúp giảm thiểu rủi ro, đòi hỏi có sự hậuthuẫn của hệ thống pháp luật Nếu hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn thiện sẽ tạo tiền đềcho sự hoạt động an toàn lành mạnh của hệ thống ngân hàng Mặc dù những năm qua, cácvăn bản pháp lý về hoạt động ngân hàng đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện,nhưng nhìn một cách tổng thể, hệ thống văn bản pháp luật về hoạt động TD chưa đồngbộ: Một số qui định đã được ban hành nhưng chưa được triển khai (về xiết nợ, về phátmại tài sản, về thế chấp, cầm cố, các qui định liên quan đến quyền về đất đai…) Mặtkhác, hiệu lực thực thi các văn bản luật nói chung, trong đó đặc biệt là các văn bản luật vềhoạt động ngân hàng chưa cao, điều này đã và đang tiếp tục gây những rủi ro tiềm ẩn rấtcao đối với lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại Việt Nam

Tác động từ thị trường thế giới: Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế làm nợ

xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các khách hàngcủa các TCTD phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thịtrường

Bên cạnh những lợi ích to lớn có được do hội nhập thì nền kinh tế của từng quốcgia cũng sẽ nhạy cảm hơn với những biến động của thị trường thế giới Chẳng hạn, ảnhhưởng của giá xăng dầu thế giới luôn có tác động đến nền kinh tế tại mọi quốc gia vì đây

là mặt hàng thiết yếu mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có nhu cầu nhập khẩu.Hoặc là cuộc khủng hoảng nợ tại các nước Châu Âu như Hy Lạp, Ý, Tây Ban Nha…khảnăng gây sụp đỗ đồng EURO, kéo theo nhiều hệ lụy xấu cho toàn nền kinh tế

Những bất cập trong cơ chế chính sách của nhà nước: Chủ trương, chính sách còn thiếu

tính ổn định, đặt hệ thống ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ rủi ro chính sách, nhất làcác chính sách về lãi suất, tỷ giá, vàng,… Một thực tế, thay vì dựa trên phán đoán các tínhiệu từ các diễn biến thị trường, thì trên thị trường tài chính Việt Nam, có vẻ có không ítcác tổ chức TD đang nhìn vào động thái chính sách để đưa ra các quyết định kinh doanh.Các chính sách về tài chính- tiền tệ càng tỏ ra cứng rắn thì xu thế này càng biểu hiện rõ

Trang 28

nét hơn Những năm qua, thị trường tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu cạnh tranh quámức, thiếu lành mạnh, khó kiểm soát bằng các công cụ kinh tế, nên việc điều hành bằngcác công cụ hành chính là rất cần thiết Song sự hạn chế căn bản của việc điều hành bằngcác công cụ hành chính là rất dễ gây sốc cho nền kinh tế, nên chúng ta phải xác định đúng

“điểm dừng” để nhanh chóng chuyển sang điều hành thị trường tài chính bằng các công

+ Thông tin về khách hàng chưa được cập nhật kịp thời, không có thông tin đối với kháchhàng chưa từng có quan hệ tín dụng với các NHTM nào

+ Việc cung cấp thông tin còn chậm và chưa kịp thời làm ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanhcủa các NHTM

Các yếu tố bất khả kháng (thiên tai, hỏa hoạn, …): Những nhân tố không thể lường trước

hoặc không thể tránh khỏi: bão, hạn hán, lỡ núi, sóng thần … sẽ gây thiệt hại lớn cho cácthành phần kinh tế

Theo kết quả nghiên cứu của Dimitrios, Angelos, Vasilios (2010) thì nhân tố vĩ mô

có quan hệ đồng biến với nợ xấu tại NHTM Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất giả thuyết H3

Trang 29

NHTMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ngãi và trên cơ sở mô hìnhnghiên cứu đề xuất để xây dựng các giả thuyết nghiên cứu.

Lý thuyết liên quan đến nợ xấu được giới thiệu trong chương này bắt đầu bằng một

số khái niệm về nợ xấu theo nhiều quan điểm khác nhau, những tiêu chí cơ bản phản ánh

nợ xấu và tác động của nợ xấu đối với NHTM, đối với nền kinh tế Tiếp đến là tác giảgiới thiệu một số nghiên cứu về nợ xấu của một số tác giả ở các nước và một số nghiêncứu về nợ xấu tại Việt Nam Trên cơ sở đó, phỏng theo nghiên cứu của Dimitrios,Angelos, Vasilios (2010) để đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấutại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ngãi gồm 02 nhân tố là nhân

tố từ phía ngân hàng và nhân tố vĩ mô Nghiên cứu này còn được bổ sung thêm nhân tố từphía khách hàng của nghiên cứu Huỳnh Thị Thu Hiền (2012), Lý Thị Ngọc Quyên(2012) Như vậy, mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 03 nhân tố là nhân tố từ phía ngânhàng, nhân tố từ phía khách hàng và nhân tố vĩ mô

Trang 30

Phân tích nhân tố (EFA)Hồi quy bội

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình nghiên cứu

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 3.2 Phát triển thang đo nháp

Trang 31

3.2.1 Thang đo biến phụ thuộc (nợ xấu)

Thang đo biến phụ thuộc (nợ xấu của NHTM) gồm 03 biến quan sát từ NX1 đếnNX3, được phát triển từ những thuộc tính của khái niệm nhân tố (được trình bày trongchương 2, mục 2.2.3) và tham khảo thang đo từ nghiên cứu của Dimitrios, Angelos,Vasilios (2010)

Mã hóa Nội dung chỉ báo

NX1 Tổng số dư nợ xấu tại chi nhánh đang có xu hướng tăng lên

NX2 Tỷ lệ nợ xấu tại chi nhánh đang có xu hướng tăng lên

NX3 Nợ xấu ảnh hưởng nặng nề đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

3.2.2 Thang đo nhân tố từ phía ngân hàng

Thang đo nhân tố từ phía ngân hàng gồm 08 biến quan sát từ NH1 đến NH8, đượcphát triển từ những thuộc tính của khái niệm nhân tố (được trình bày trong chương 2, mục2.2.3) và tham khảo thang đo từ nghiên cứu của Dimitrios, Angelos, Vasilios (2010)

NH1 Ngân hàng thiếu kiểm tra, giám sát sau khi cho vay

NH2 Chính sách tín dụng của ngân hàng chưa đáp ứng được với những

thay đổi của thị trường

NH3 Năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ tín dụng còn hạn chế

NH4 Quy trình cấp tín dụng của ngân hàng chưa đầy đủ

NH5 Đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kém

NH6 Hệ quả tất yếu của quá trình tăng trưởng tín dụng quá nóng

NH7 Thu thập thông tin tín dụng về khách hàng không đầy đủ hoặc không chính xác.

NH8 Ngân hàng xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng chưa khách quan

3.2.3 Thang đo nhân tố từ phía khách hàng

Thang đo nhân tố từ phía khách hàng gồm 05 biến quan sát từ KH1 đến KH5, đượcphát triển từ những thuộc tính của khái niệm nhân tố (được trình bày trong chương 2, mục

Trang 32

2.2.3) và tham khảo thang đo từ nghiên cứu của Huỳnh Thị Thu Hiền (2012), Lý ThịNgọc Quyên (2012).

KH1 Tiềm lực tài chính của khách hàng còn hạn chế

KH2 Khả năng điều hành kinh doanh của khách hàng còn yếu kém

KH3 Khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích với cam kết khi đi vay.KH4 Khách hàng thiếu thiện chí và sự hợp tác trong quá trình trả nợ vay

KH5 Khách hàng cố tình lừa đảo, chiếm đoạt vốn của ngân hàng

3.2.4 Thang đo nhân tố vĩ mô

Thang đo nhân tố vĩ mô gồm 06 biến quan sát từ VM1 đến VM6, được phát triển

từ những thuộc tính của khái niệm nhân tố (được trình bày trong chương 2, mục 2.2.3) vàtham khảo thang đo từ nghiên cứu của Dimitrios, Angelos, Vasilios (2010)

VM1 Khung pháp lý về hoạt động của ngân hàng chưa đầy đủ

VM2 Cơ chế, chính sách của Nhà nước chưa điều chỉnh kịp thời

VM3 Những thay đổi của môi trường kinh doanh

VM4 Tác động từ thị trường thế giới

VM5 Sự đa dạng hóa không hợp lý từ các doanh nghiệp Nhà nước (sang

một số ngành mà không am hiểu rõ)

VM6 Những yếu tố bất khả kháng như thiên tai, …

3.3 Nghiên cứu sơ bộ (nghiên cứu định tính)

3.3.1 Thiết kế nghiên cứu sơ bộ

Nghiên cứu sơ bộ là một nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm tậptrung với nhóm 1 gồm 25 chuyên viên có kinh nghiệm của 05 ngân hàng tại tỉnh QuảngNgãi (Agribank, Techcombank, Donga Bank, Saccombank, BIDV, mỗi ngân hàng 5người) để khám phá những nhân tố tác động đến nợ xấu của các ngân hàng tại tỉnh QuảngNgãi Nhóm 2 gồm 10 người là quản lý của 05 ngân hàng trên (mỗi ngân hàng 02 người)

Trang 33

Nợ xấu tại Vietcombank – Quảng Ngãi

nhằm vừa để khám phá và vừa để khẳng định những nhân tố tác động đến nợ xấu của cácngân hàng thương mại tại tỉnh Quảng Ngãi

Mục đích của nghiên cứu định tính là nhằm thẩm định mô hình các yếu tố tác độngđến nợ xấu tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ngãi được

đề xuất trong chương 2 (hình 2.1) và thang đo nháp 1 các yếu tố này

Phương thức thảo luận là các thành viên bày tỏ quan điểm của mình theo các nộidung của dàn bài thảo luận do tác giả soạn thảo (phụ lục 1); các thành viên khác đưa raquan điểm phản biện lại ý kiến của các thành viên trước đó, cho đến khi không còn quanđiểm của ai, các thành viên cho biết ý kiến bằng văn bản, tác giả tổng hợp và giữ lạinhững ý kiến được đa số số thành viên chấp thuận

3.3.2 Kết quả nghiên cứu sơ bộ

Kết quả tổng hợp các ý kiến của nhóm khách hàng tham gia cuộc nghiên cứu nàycho thấy tập trung vào 3 yếu tố chính và sắp xếp theo trình tự từ rất quan trọng đến quantrọng như sau:

(1) Nhân tố từ phía ngân hàng;

(2) Nhân tố từ phía khách hàng;

(3) Nhân tố vĩ mô

Như vậy, với kết quả nghiên cứu định tính trên đây, thí các yếu tố được đề xuấttrong mô hình nghiên cứu ở chương 2 (hình 2.1) được giữ nguyên Mô hình nghiên cứucác nhân tố tác động đến nợ xấu tại NHTMCP Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ngãi đưavào phân tích với dữ liệu khảo sát như sau:

Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu chính thức

Các giả thuyết nghiên cứu:

Trang 34

H 1 : Nhân tố từ phía ngân hàng có quan hệ đồng biến với nợ xấu của Vietcombank – Quảng Ngãi.

H 2 : Nhân tố từ phía khách hàng có quan hệ đồng biến với nợ xấu tại Vietcombank – Quảng Ngãi.

H 3 : Nhân tố vĩ mô có quan hệ đồng biến với nợ xấu của Vietcombank – Quảng Ngãi.

3.4 Nghiên cứu chính thức

3.4.1 Chọn mẫu điều tra

Mẫu điều tra trong nghiên cứu này được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên cóphân tổ, cụ thể có sự phân tổ giữa các nhóm phòng tín dụng 40 người, phòng giao dịch 40người, quản lý 10 người Vì đặc thù của tổng thể nghiên cứu này là khá nhỏ nên khôngthể áp dụng phương pháp tính toán kích thước mẫu theo những lý thuyết thống kê Nhưvậy, kích thước mẫu được chọn là n = 90 đối tượng khảo sát

3.4.2 Kết cấu bảng câu hỏi

Sau khi kết thúc quá trình nghiên cứu định tính, thang đo chính thức được sử dụngcho việc nghiên cứu định lượng, công cụ thu thập dữ liệu định lượng là bảng câu hỏi khảosát Bảng câu hỏi khảo sát dùng trong nghiên cứu định lượng của nghiên cứu này sẽ đượcchia làm 2 phần: Phần A là thông tin cá nhân của người tham gia khảo sát như thông tin

về nhân khẩu học (giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp), thu nhập, vị trí côngtác, …; phần B là ý kiến về những phát biểu liên quan đến các nguyên nhân làm thay đổigiá trị nợ xấu tại Vietcombank – Quảng Ngãi Cụ thể phần này đánh giá mức độ đồng ýcủa người tham gia khảo sát đối với các phát biểu thuộc các khái niệm trong mô hìnhnghiên cứu với nhân tố từ phía khách hàng (5 mục hỏi), nhân tố từ phía ngân hàng (8 mụchỏi), nhân tố vĩ mô (6 mục hỏi), biến phụ thuộc nợ xấu Vietcombank – Quảng Ngãi (3mục hỏi)

3.4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

Quá trình phân tích dữ liệu nghiên cứu được thực hiện qua các giai đoạn:

Đánh giá độ tin cậy và giá trị thang đo

Trang 35

Việc đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo được thực hiện bằng phương pháp

hệ số tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) thông qua phần mềm

xử lý SPSS 16.0 để sàng lọc, loại bỏ các biến quan sát không đáp ứng tiêu chuẩn độ tincậy (biến rác) Trong đó:

- Tiêu chuẩn Cronbach alpha được nhiều nhà nghiên cứu (Nunally,1978; Peterson,1994; Slater,1995) đề nghị là hệ số Cronbach alpha từ 0,6 trở lên là có thể chấp nhậnđược trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trả lờitrong bối cảnh nghiên cứu

Tuy nhiên, theo Nunnally và ctg (1994), hệ số Cronbach alpha không cho biết biếnnào nên loại bỏ và biến nào nên giữ lại Bởi vậy, bên cạnh hệ số Cronbach alpha, người tacòn sử dụng hệ số tương quan biến tổng (iterm - total correlation) và những biến nào cótương quan biến tổng < 0,3 sẽ bị loại bỏ

- Tiêu chuẩn phân tích nhân tố khám phá (EFA) bao gồm:

+ Tiêu chuẩn Bartlett và hệ số KMO dùng để đánh giá sự thích hợp của EFA Theo

đó, giả thuyết H0 (các biến không có tương quan với nhau trong tổng thể) bị bác bỏ và do

đó EFA được gọi là thích hợp khi: 0,5 ≤ KMO ≤ 1 và Sig < 0,05 (Hoàng Trọng và ChuNguyễn Mộng Ngọc, 2005, tr.262)

- Tiêu chuẩn rút trích nhân tố gồm chỉ số Engenvalue (đại diện cho lượng biếnthiên được giải thích bởi các nhân tố) và chỉ số Cumulative (tổng phương sai trích chobiết phân tích nhân tố giải thích được bao nhiêu % và bao nhiêu % bị thất thoát) Trong

đó, Engenvalue > 1 và được chấp nhận khi tổng phương sai trích ≥ 50%

- Tiêu chuẩn hệ số tải nhân tố (Factor loadings) biểu thị tương quan đơn giữa cácbiến với các nhân tố, dùng để đánh giá mức ý nghĩa của EFA Theo Hair và ctg, Factorloading > 0,3 được xem là đạt mức tối thiểu; Factor loading > 0,4 được xem là quantrọng; Factor loading > 0,5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn Ngoài ra, trường hợp cácbiến có Factor loading được trích vào các nhân tố khác nhau mà chênh lệch trọng số rấtnhỏ (các nhà nghiên cứu thường không chấp nhận < 0,3), tức không tạo nên sự khác biệt

để đại diện cho một nhân tố, thì biến đó cũng bị loại và các biến còn lại sẽ được nhóm vàonhân tố tương ứng đã được rút trích trên ma trận mẫu (Pattern Matrix)

Trang 36

Tuy nhiên, cũng như trong phân tích Cronbach alpha, việc loại bỏ hay không mộtbiến quan sát không chỉ đơn thuần nhìn vào con số thống kê mà còn phải xem xét giá trịnội dung của biến đó Trường hợp biến có trọng số Factor loading thấp hoặc được tríchvào các nhân tố khác nhau mà chênh lệch trọng số rất nhỏ, nhưng có đóng góp quan trọngvào giá trị nội dung của khái niệm mà nó đo lường thì không nhất thiết loại bỏ biến đó(Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011, tr.402, 403).

Trong nghiên cứu này, mẫu nghiên cứu có kích thước tương đối lớn (n = 90) vàsau EFA là phân tích hồi qui bội Vì thế, trong quá trình Cronbachalpha, tác giả sẽ giữ lạicác thang đo có trị số Cronbach alpha ≥ 0,6 và loại các biến quan sát có tương quan biến-tổng < 0,3 Trong quá trình EFA, tác giả sử dụng phương pháp trích Principal componentsvới phép xoay Varimax; loại bỏ các biến quan sát có trị số Factor loading ≤ 0,4 hoặc tríchvào các nhân tố khác mà chênh lệch trọng số Factor loading giữa các nhân tố ≤ 0,3

Phân tích hồi qui tuyến tính bội

Quá trình phân tích hồi qui tuyến tính được thực hiện qua các bước:

Bước 1: Kiểm tra tương quan giữa biến các biến độc lập với nhau và với biến phụ

thuộc thông qua ma trận hệ số tương quan Theo đó, điều kiện để phân tích hồi qui là phải

có tương quan giữa các biến độc lập với nhau và với biến phụ thuộc Tuy nhiên, theo John

và Benet - Martinez (2000), khi hệ số tương quan < 0,85 thì có khả năng đảm bảo giá trịphân biệt giữa các biến Nghĩa là, nếu hệ số tương quan > 0,85 thì cần xem xét vai trò củacác biến độc lập, vì có thể xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến (một biến độc lập này có đượcgiải thích bằng một biến khác)

Bước 2: Xây dựng và kiểm định mô hình hồi qui

Y = β1X1+β2X2+ β3X3+ β4X4+ + βkXk

Được thực hiện thông qua các thủ tục:

- Lựa chọn các biến đưa vào mô hình hồi qui

- Đánh giá độ phù hợp của mô hình bằng hệ số xác định R2 (R Square) Tuy nhiên,

R2 có đặc điểm càng tăng khi đưa thêm các biến độc lập vào mô hình, mặc dù không phải

mô hình càng có nhiều biến độc lập thì càng phù hợp với tập dữ liệu Vì thế, R2 điều chỉnh

Trang 37

(Adjusted R Square) có đặc điểm không phụ thuộc vào số lượng biến đưa thêm vào môhình được sử dụng thay thế R2 để đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi qui bội

- Kiểm định độ phù hợp của mô hình để lựa chọn mô hình tối ưu bằng cách sửdụng phương pháp phân tích ANOVA để kiểm định giả thuyết H0: (không có mối liên hệtuyến tính giữa biến phụ thuộc với tập hợp các biến độc lập β1=β2=β3=βK= 0)

Nếu trị thống kê F có Sig rất nhỏ (< 0,05), thì giả thuyết H0 bị bác bỏ, khi đó chúng

ta kết luận tập hợp của các biến độc lập trong mô hình có thể giải thích cho sự biến thiêncủa biến phụ thuộc Nghĩa là mô hình được xây dựng phù hợp với tập dữ liệu, vì thế cóthể sử dụng được

- Xác định các hệ số của phương trình hồi qui, đó là các hệ số hồi qui riêng phần βk

đo lường sự thay đổi trung bình của biến phụ thuộc khi biến độc lập Xk thay đổi một đơn

vị, trong khi các biến độc lập khác được giữ nguyên Tuy nhiên, độ lớn của βk phụ thuộcvào đơn vị đo lường của các biến độc lập, vì thế việc so sánh trực tiếp chúng với nhau làkhông có ý nghĩa Do đó, để có thể so sánh các hệ số hồi qui với nhau, từ đó xác định tầmquan trọng (mức độ giải thích) của các biến độc lập cho biến phụ thuộc, người ta biểudiễn số đo của tất cả các biến độc lập bằng đơn vị đo lường độ lệnh chuẩn beta

Bước 3: Kiểm tra vi phạm các giả định hồi qui

Mô hình hồi qui được xem là phù hợp với tổng thể nghiên cứu khi không vi phạmcác giả định Vì thế, sau khi xây dựng được phương trình hồi qui, cần phải kiểm tra các viphạm giả định cần thiết sau đây:

- Có liên hệ tuyến tính gữa các biến độc lập với biến phụ thuộc

- Phần dư của biến phụ thuộc có phân phối chuẩn

- Phương sai của sai số không đổi

- Không có tương quan giữa các phần dư (tính độc lập của các sai số)

- Không có tương quan giữa các biến độc lập (không có hiện tượng đa cộng tuyến)

Trang 38

- Công cụ để kiểm tra giả định phần dư có phân phối chuẩn là đồ thị tần sốHistogram, hoặc đồ thị tần số P-P plot

- Công cụ để kiểm tra giả định sai số của biến phụ thuộc có phương sai không đổi

là đồ thị phân tán của phần dư và giá trị dự đoán hoặc kiểm định Spearman’s rho

- Công cụ được sử dụng để kiểm tra giả định không có tương quan giữa các phần

dư là đại lượng thống kê d (Durbin - Watson), hoặc đồ thị phân tán phần dư chuẩn hóa(Scatter)

- Công cụ được sử dụng để phát hiện tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến là độ chấpnhận của biến (Tolerance) hoặc hệ số phóng đại phương sai (Variance inflation factor -VIF) Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005, tr.217, 218), qui tắc chung

là VIF > 10 là dấu hiệu đa cộng tuyến; trong khi đó, theo Nguyễn Đình Thọ và NguyễnThị Mai Trang (2011, tr.497), khi VIF > 2 cần phải cẩn trọng hiện tượng đa cộng tuyến

Tóm tắt chương 3

Chương 3 trình bày về những vấn đề liên quan đến việc thiết kế nghiên cứu Bắtđầu bằng việc xây dựng quy trình nghiên cứu, trình bày phương pháp nghiên cứu (gồm 02giai đoạn là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng) Tác giả căn cứ vào nhữngvấn đề lý thuyết liên quan và những nghiên cứu về nợ xấu đã giới thiệu, kết hợp với thôngtin từ cuộc nghiên cứu định tính để đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất Sau đó, tiến hànhphân tích mối quan hệ của các nhân tố trong mô hình với nhân tố nợ xấu, trên cơ sở đótiến hành xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và phát triển thang đo cho từng nhân tố.Cuối chương trình bày về quy trình, kỹ thuật thu thập và phân tích dữ liệu trong nghiêncứu này, bao gồm cách thức chọn mẫu, cách thức thu thập thông tin, kết cấu bảng câu hỏi

và phương pháp phân tích dữ liệu (đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach'sAlpha, phân tích nhân tố khám phá, hôi quy bội)

Ngày đăng: 25/04/2016, 23:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Kết quả hoạt động bảo lãnh giai đoạn 2010 – 2014 - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 1.3 Kết quả hoạt động bảo lãnh giai đoạn 2010 – 2014 (Trang 6)
Bảng 1.2: Kết quả hoạt động cho vay giai đoạn 2010 – 2014 - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 1.2 Kết quả hoạt động cho vay giai đoạn 2010 – 2014 (Trang 6)
Bảng 1.4: Cơ cấu nợ ngoại bảng theo nhóm nợ - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 1.4 Cơ cấu nợ ngoại bảng theo nhóm nợ (Trang 7)
Bảng 1.5: Nợ xấu nội bảng - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 1.5 Nợ xấu nội bảng (Trang 8)
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 19)
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 3.2. Phát triển thang đo nháp - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 3.2. Phát triển thang đo nháp (Trang 30)
Bảng 4.2: Kết quả Cronbach’s Alpha – Nhân tố từ phía khách hàng (lần 2) - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 4.2 Kết quả Cronbach’s Alpha – Nhân tố từ phía khách hàng (lần 2) (Trang 40)
Bảng 4.3: Kết quả Cronbach’s Alpha – Nhân tố từ phía ngân hàng (lần 1) - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 4.3 Kết quả Cronbach’s Alpha – Nhân tố từ phía ngân hàng (lần 1) (Trang 41)
Bảng 4.6: Kết quả Cronbach’s Alpha – Nhân tố vĩ mô - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 4.6 Kết quả Cronbach’s Alpha – Nhân tố vĩ mô (Trang 43)
Bảng 4.8: Kết quả phân tích phương sai rút trích - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 4.8 Kết quả phân tích phương sai rút trích (Trang 44)
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định KMO - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định KMO (Trang 44)
Bảng 4.9: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 4.9 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu (Trang 45)
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy tuyến tính (R 2 ) - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy tuyến tính (R 2 ) (Trang 47)
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy theo phương pháp Stepwise - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 4.12 Kết quả hồi quy theo phương pháp Stepwise (Trang 48)
Bảng 4.13: Kết quả kiểm định Sprearman - luận văn cao học ngành kinh tế, ngân hàng
Bảng 4.13 Kết quả kiểm định Sprearman (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w