Định nghĩaĐầm lầy là một phần của mặt đất được đặc trưng bởi các tầng đất đá trên có độ ẩm ướt ứ đọng hoặc nước ít lưu thông mà ở đó phát triển loại thực vật đầm thích nghi với độ ẩm ướt
Trang 1CHƯƠNG 7 ĐẦM LẦY
7.1 SỰ HÌNH THÀNH ĐẦM LẦY
7.2 CHẾ ĐỘ THỦY VĂN ĐẦM LẦY
Trang 27.1 SỰ HÌNH THÀNH ĐẦM LẦY
7.1.1 Định nghĩa
7.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
Trang 37.1.1 Định nghĩa
Đầm lầy là một phần của mặt đất
được đặc trưng bởi các tầng đất đá
trên có độ ẩm ướt ứ đọng hoặc
nước ít lưu thông mà ở đó phát triển
loại thực vật đầm thích nghi với độ
ẩm ướt nhiều và sự thiếu oxygen
trong đất.
Một định nghĩa khác: Đầm lầy là
những khu vực thừa ẩm của bề mặt
trái đất được bao phủ bởi lớp than
bùn sâu không dưới 30 cm dưới
dạng chưa được tháo khô và 20 cm
dưới dạng được tháo khô.
Trang 47.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
Mức độ hóa lầy của lãnh thổ liên quan trực tiếp với các điều kiện tiếp nước vào lãnh thổ.
Trong đới thừa ẩm nơi mà lượng mưa năm bình quân nhiều năm lớn hơn lượng bốc hơi từ đất liền đáng kể, tạo ra sự ẩm ướt tương đối cố định của các lớp đất đá ở trên, các quá trình hình thành đầm lầy phổ biến rộng rãi nhất.
Trong đới này, một phần lớn lượng ẩm không tiêu hao vào bốc hơi từ bề mặt đất liền phải tiêu đi dưới dạng dòng chảy trên mặt và dòng chảy ngầm.
Trang 57.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
Nếu địa hình đồng bằng có độ dốc bé, sự thoát nước dư thừa từ các lớp đất trên mặt tiến hành rất chậm.
Trên những diện tích rộng, hình thành những điều kiện thuận lợi cho nước tù đọng làm cho đất trở nên quá ẩm ướt.
Chỉ trong những vùng có địa hình đồi và có mạng lưới sông phát triển mới không xuất hiện đầm lầy.
Trang 67.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
Nếu tình hình ngược lại thì trên những khoảng rộng bằng giữa các sông, đầm lầy không những chỉ phân bố trên những thành phần địa hình ẩm (những chỗ thấp, các lòng chảo thung lũng hoặc khe) mà còn bao phủ các khoảng rộng ấy thành một bãi lầy kín.
Trang 77.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
Trong đới ẩm ướt không ổn định, các bãi đầm lầy thích nghi với những chỗ thấp không có dòng chảy dạng lòng chảo nói chung, các bồn hồ và thung lũng sông, trong đới thiếu ẩm đầm lầy ít gặp và phân bố hoặc trên các bãi bồi của sông hoặc những thung lũng sâu và vùng trũng, nơi hình thành một lượng ẩm
dư thừa do sông tràn hoặc nước ngầm lộ ra.
Đầm lầy có thể xuất hiện do cây cỏ mọc rậm trong các hồ chứa hoặc do những khoảng phân lưu bị hóa lầy.
Trang 87.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
Quá trình đưa vào hồ một cách liên tục những hạt đất khoáng và hữu cơ rửa trôi từ bồn thu nước của
hồ và cả những trầm tích thực vật chết phần lớn trước đây phát triển trong hồ làm cho hồ cạn dần.
Loại lau và sậy cao sẽ được thay thế bởi những thực vật nước nông – mộc tặc, cói và nhiều thực vật
ưa ẩm khác mà trầm tích của chúng mặc dù được nâng cao hơn ặt nước nước hồ, song vẫn bị ngập nước lớn mùa xuân và mùa hạ và được bồi thêm bởi các hạt bùn mà nước lớn mùa xuân và mùa hạ đưa tới.
Trang 97.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
Loại đầm lầy có vị trí tương đối thấp hình thành tại bồn chia theo phân loại được gọi là đầm lầy thấp hoặc còn gọi theo thực vật là đầm lầy cỏ.
Những trầm tích liên tục của cỏ chết đi nâng
bề mặt bãi than bùn ngày càng cao tới khi mà nó không bị ngập bởi nước mùa xuân nữa, do đó những hạt chất khoáng ít lắng đọng trên nó.
Bởi vậy cỏ cói cần muối khoáng để phát triển, bắt đầu được thay thế bởi thực vật loại cây bụi hay
Trang 107.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
Đầm lầy từ giai đoạn cỏ chuyển sang đầm lầy rừng hoặc loại chuyển tiếp.
Quá trình tích lũy vật chất hữu cơ tiếp tục trong điều kiện không tăng muối khoáng tạo nên sự thay thế lớp vỏ thực vật.
Điều đó thể hiện bằng sự biến đi của cói và toàn bộ các loại cỏ khác nhau đặc trưng cho đầm lầy chuyển tiếp và sự phát triển rêu-sphacnum thay cho cói và cỏ.
Trang 117.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
K E Ivanov chia các bãi lầy thành hai nhóm cơ bản:
Nhóm I: Đầm lầy trên các khu vực phân hủy miền đất giữa.
Nhóm II: Đầm lầy thung lũng sông.
Trang 127.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
Những bãi lầy này có thể phân bố toàn bộ trong những chảo hoàn toàn khép kín và không có dòng chảy, trong các chỗ thấp có lưu thông, trong các lòng chảo mà từ đó có nước chảy theo một hoặc vài suối thu nước, không có suối chảy vào và cuối cùng trong các lòng chảo, vùng trũng và màng sụt có suối chảy vào nhưng không có dòng chảy theo lòng.
Trang 137.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
Những bãi lầy, bãi bồi Khác với bã lầy bồi là do thế nằm so với mực nước trong sông cao hơn, chúng không bị ngập nước sông định kỳ trong mùa nước đầy và lũ.
Với thềm sông bằng và rộng, những bãi lầy này
có thế nằm ngang.
Trong một số trường hợp khác chúng nằm trên các sườn thềm thoải bằng và cả trong những vùng trũng, chỗ thấp ở chân sườn dốc của thềm nằm trên.
Trang 147.1.2 Sự hình thành và các kiểu đầm lầy
Những bãi lầy sông sót thường chiếm diện tích nhỏ.
Chúng phân bố trên thềm cổ, trên bãi bồi cũng như trong các sông sót của thềm hiện đại, đại diện cho những cấu tạo trẻ hơn hiểu bể chứa nước hóa lầy.