- C ó thể phân biệt được các hình thức đầu tư quốc tế và các loại hình doanh nghiệp đầu tư nước ngoài của Việt Nam.- C ó được sự nhìn nhận và có thái độ đúng đối với vấn đề đầu tư nước n
Trang 1- C ó thể phân biệt được các hình thức đầu tư quốc tế và các loại hình doanh nghiệp đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
- C ó được sự nhìn nhận và có thái độ đúng đối với vấn đề đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, từ đó góp phần vào việc thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Nhà nước.
và thực tiễn quan trọng đối với mỗi quốc gia.
4 ở Việt Nam, hoạt động đầu tư nước ngoài đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế C á c hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm: Hợp đồng hợp tác liên doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp cổ phần.
I V A I T R Ò C Ủ A Đ Ẩ U T Ư Q U Ố C T Ê
1 Khái niệm và nguyên nhân của đầu tư q u ố c tế
85
Trang 21.1 Khái niệm
Đầu tư quốc tế là quá trình kinh tế trong đó các nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc các nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ một hình thức giá trị nào vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ nhằm thu lợi nhuận Như vậy, đầu tư quốc tế là hình thức di chuyển tư bản
từ nước này sang nước khác nhằm mục đích kiếm lời
Tư bản di chuyển được gọi là vốn đầu tư quốc tế, vốn đó có thể thuộc một
tổ chức tài chính quốc tế, thuộc một nhà nước hoặc của cá nhân
Vốn đầu tư có thể là ở dạng tiền tệ, có thể là các tư liệu sản xuất hoặc là sức lao động, công nghệ, bí quyết công nghệ, nhãn hiệu, biểu tượng, cổ phiếu
1.2 Nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tê
Đầu tư quốc tế hình thành từ cuối thế kỷ 19 ở các nước tư bản chủ nghĩa và ngày càng được mở rộng cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Nguyên nhân là do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất giữa các khu vực, giữa các nước không đổng đều đã làm cho chi phí sản xuất hàng hoá của các khu vực, các nước không giống nhau Chính sự chênh lệch về giá cả sức lao động, tài nguyên, vốn, vẻ khoa học kỹ thuật giữa các nước đã thôi thúc các nhà tư bản tìm kiếm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm của mình và thu lợi nhuận Chẳng hạn các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam, họ thường lựa chọn những ngành
sử dụng nhiều lao động như: lắp ráp hàng điện tử, ngành dệt may, chế biến thực phẩm để tận dụng giá nhân công rẻ nhằm tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá của mình
ở các nước công nghiệp phát triển, do nền kinh tế phát triển với tốc độ cao dẫn đến hiện tượng thừa “tương đối” tư bản ở trong nước và việc đầu tư ở trong nước ngày càng giảm hiệu quả do tỷ suất lợi nhuận (P’ = m/(c + v) có xu hướng giảm dần Trong khi đó đầu tư ra nước ngoài lại có khả năng đem lại hiệu quả cao hon Theo Bộ trưởng Thương mại Mỹ thì các công ty Mỹ đầu tư vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương có tỷ lệ lãi trung bình là 23%, cao gấp đôi tỷ lệ lãi trung bình ở 24 nước công nghiệp phát triển trong cùng thời kỳ
Do yêu cầu phát triển kinh tế nên nhu cầu về vốn của các nước trên thế giới là rất lớn, trong khi đó khả năng tự thoả mãn nhu cầu vể vốn ở từng nước, từng khu vực là có giới hạn Ngược lại ở một số nước khác tiềm lực kinh tế rất mạnh, lượng vốn tập trung rất lớn vì vậy việc gia tăng đầu tư quốc tế là tất
86
Trang 3yếu nhằm giải quyết những mâu thuẫn đó Chẳng hạn các nước chậm và đang phát triển cần một số lượng vốn lớn để thực hiện quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, cũng như đầu tư vào hạ tầng cơ sở nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế Ví dụ để phục hồi kinh tế các nước SNG cần khoảng 100
tỷ USD
Trong quá trình toàn cầu hoá, sự hợp tác và phân công lao động khu vực và quốc tế ngày càng phát triển theo những xu hướng mới Trong đó các nước đi trước như Nhật Bản, các nước EU phải chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng tập trung vào những ngành công nghiệp kỹ thuật cao và chuyển dần các ngành vốn có lợi thế trước kia như dệt may, lắp ráp, chế biến sang các nước khác như Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan và hiện nay là Việt Nam Đây chính
là một động lực để kích thích đầu tư ra nước ngoài
Hầu hết các nước công nghiệp phát triển đều có nguồn nguyên liệu khan hiếm, nên các nước này đều phải nhập nguyên liệu để đảm bảo sản xuất trong nước, làm cho giá thành sản phẩm tăng Trong khi đó ở các nước chậm và đang phát triển lại có nguồn nguyên liệu dồi dào chưa khai thác hết Do đó đầu tư ra nước ngoài nhằm giúp các chủ đầu tư nắm được lâu dài và ổn định nguồn cung cấp nguyên liệu với giá rẻ để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế với tốc độ ngày càng cao
Sự bất ổn định về an ninh quốc gia cũng là một nguyên nhân làm chfo các chủ đầu tư và những người có tiền, đầu tư vốn ra nưóc ngoài nhằm bảo toàn vốn, hạn chế được những rủi ro, những thiệt hại khi có biến cố chính trị ở trong nước
Sự ra đời và phát triển của những công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia cũng là một nguyên nhân làm cho hoạt động đầu tư quốc tế trở nên sôi động, sự dịch chuyển vốn giữa các nước, các khu vực diễn ra liên tục và ngày càng tăng
2Ế Vai trò của đẩu tư q u ốc tế
Nhìn lại quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới trong thời gian qua chúng ta thấy đầu tư quốc tế có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế và thương mại ở cả các nước đầu tư và nước nhận đầu tư
2.1 Đối với nước chủ đầu tư
Đa phần các nước đi đầu tư là những nước có nền công nghiệp phát triển, những nước này th ừ a ‘ tương đối” tư bản và tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm
87
Trang 4sút, vì vậy đầu tư ra nước ngoài sẽ giúp họ sử dụng được lợi thế sản xuất của nước tiếp nhận đầu tư để hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Thông qua việc đầu tư khai thác tài nguyên ở các nước chậm và đang phát triển mà các nước chủ đầu tư tận dụng được các nguồn nguyên liệu để nhập khẩu phục vụ sản xuất trong nước, giúp các nước này xây dựng được một thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng phục vụ cho quá trình
phát triển kinh tế trong nước Ví dụ nhờ đầu tư ra nước ngoài mà Mỹ nhập khẩu
ổn định toàn bộ phốt phát, thiếc, mangan
Đầu tư quốc tế giúp các nước chủ đầu tư bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế Thật vậy, thông qua đầu tư trực tiếp mà các nước chủ đầu tư xây dựng được các nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ hàng hoá ở nước ngoài, từ đó giúp họ mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các nước và tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường nước nhận đầu tư Mặt khác, qua đầu tư gián tiếp như viện trợ, cho vay vốn với quy mô lớn, lãi suất thấp mà các nước đế quốc thường
áp đật các điều kiện về chính trị và kinh tế nhằm trói buộc các nước đang phát triển phụ thuộc vào họ
Đầu tư vốn ra nước ngoài giúp các chủ đầu tư hạn chế được những rủi ro
có thể xảy ra khi có sự bất ổn định về tình hình kinh tế, chính trị ở trong nước Chẳng hạn như làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp Hồng Kỏng, Ma Cao, Đài Loan sang các nước công nghiệp phát triển để đề phòng có sự thay đổi lớn
về quản lý kinh doanh khi các nước này được trao trả cho Trung Quốc
Đầu tư ra nước ngoài sẽ giúp thay đổi cơ cấu nền kinh tế trong nước theo hướng hiệu quả hơn, thích nghi hơn với sự phân công lao động quốc tế và khu vực
Hiện nay đa phần các nước công nghiệp phát triển đều tập trung vào sản xuất những mặt hàng cao cấp, những thiết bị quan trọng và những khâu kỹ thuật cao đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, còn các công ty, chi nhánh cùa họ ở nước ngoài sẽ hướng vào sản xuất những mặt hàng cần nhiều lao độns kỹ thuật vừa phải để cung cấp cho nhu cầu tại các nước nhận đầu tư và để xuất khẩu sang các nước khác
Việc đầu tư vốn ra nhiều nước sẽ giúp cho các công ty đa quốc gia có thể tránh được mức thuế cao nhằm tối đa hoá lợi nhuận đầu tư C hẳns han các
88
Trang 5công ty đa quốc gia có thể đặt các chi nhánh của mình tại các nước có mức thuế thấp nhất, hoặc bằng cách sử dụng giao dịch chuyển giá và các công cụ khác, công ty đa quốc gia có thể kê khai thu nhập ở nước có thuế suất thấp, mật dù lợi nhuận thực tế thu được ở những nước có thuế suất cao Để tránh thuế thu nhập đánh lên lợi nhuận của công ty, công ty sẽ định mức giá cao đối với những hàng hoá hay dịch vụ ở những nước có thuế suất thấp để cung ứng cho những nước có thuế suất cao Kết quả là các chi nhánh ở nước có thuế suất thấp đạt được mức lợi nhuận cao và chi nhánh ở nước có thuế suất cao thu được lợi nhuận thấp và cuối cùng số tiền thuế của nhà đầu tư phải trả
là thấp nhất
2ẳ2 Đôi với các nước tiếp nhận đầu tư
Hiện nay dòng vốn đầu tư quốc tế chảy vào hai khu vực: Các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển Đối với cả hai khu vực thì vốn đầu tư quốc tế đều có vai trò đặc biệt quan trọng
2.2.1 Đối với các nước công nghiệp ph át triển
Các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Tây Âu, đầu tư trực tiếp nước ngoài có ý nghĩa quan trọng Thông qua việc nghiên cứu hiện tượng Nhật Bản đầu tư ồ ạt vào Mỹ trong vòng 20 năm 1971 - 1991, với số vốn đầu tư đạt tới 148,6 tỷ USD (chiếm 42,2% tổng số vốn đầu tư của Nhật ra nước ngoài) Các chuyên gia kinh tế của Mỹ đã đánh giá những cái lợi do việc đầu tư đó đem lại là:
- Sự ra đời các công ty, nhà máy của Nhật trên nước Mỹ đã giúp giải quyết được những khó khăn về kinh tế - xã hội trong đất nước như nạn thất nghiệp, lạm phát
- Việc người Nhật mua lại những công ty, xí nghiệp làm ăn kém hiệu quả
có nguy cơ bị phá sản đã giúp Mỹ cải thiện được tình hình thực tế và đảm bảo việc làm và thu nhập cho hàng vạn lao động
- Góp phần tăng thu cho ngân sách dưới hình thức các loại thuế đầu tư từ
đó giúp cải thiện tình hình bội chi của ngân sách Mỹ
- Sự phát triển của các công ty trên nước Mỹ đã tạo ra môi trường cạnh tranh, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại Mỹ
- Giúp các doanh nghiệp Mỹ học hỏi được những kinh nghiệm quản lý tiên tiến của Nhật
89
Trang 6Do nhận thức được vai trò của đầu tư quốc tế đối với sự phát triển của nền kinh tế Mỹ, vì vậy mặc dù là một nước có nền kinh tế đứng đầu thế giới và đã thu hút trên 30% tổng số vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trên thế giới, chính phủ Mỹ vẫn không ngừng thực hiện chính sách “mở cửa đầu tư” và ngăn chặn xu hướng rút vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi Mỹ.
2 ế2.2 Đối với các nước đang phát triển
Đầu tư quốc tế giải quyết vấn đề thiếu vốn cho các nước đang phát triển Thật vậy, trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, các nước đang phát triển đều gặp phải một vấn đề nan giải là thiếu vốn đầu tư do tích luỹ nội bộ thấp hoặc không có tích luỹ Việc thiếu vốn đã gây rất nhiều khó khăn cho các nước này trong đầu tư, phát triển kinh tế, cán cân thanh toán quốc tế thường xuyên bị thiếu hụt, đất nước thiếu nhiều ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, nguyên liệu, máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trước tình hình đó việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài sẽ giúp cho các nước này giải quyết được những vấn đề nan giải trên Chẳng hạn như các nước NICs ở châu Á trong vòng 30 năm đã thu hút khoảng 50 tỷ USD từ nước ngoài Số vốn này đã giúp các nước này đầu tư phát triển kinh tế và trở thành những con rồng của châu Á.Thông qua nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ giúp các nước có điểu kiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển kinh tế như mở rộng quy mô của các đơn vị kinh tế, tạo ra các xí nghiệp mới do đó đã tạo ra công ăn việc làm cho một số lượng lớn người lao động góp phần giảm nạn thất nghiệp, giảm sức ép về việc làm đối với xã hội Theo thống kê của Liên hợp quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp ở các nước đang phát triển là khoảng từ 35 - 38% tổng số lao động, cho nên với sự ra đời của hàng vạn các xí nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động tại các nước đang phát triển giúp các nước này giải quyết một phần nạn thất nghiệp Ví dụ như ở Trung Quốc các doanh nghiệp sử dụng vốn đầu tư nước ngoài đã tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động Ở Việt Nam kể từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài cho đến nay, các dự án đầu tư đã giải quyết việc làm cho khoảng gần 500.000 lao động.Thông qua tiếp nhận đầu tư nước ngoài các nước đang phát triển có điều kiện để tiếp thu được công nghệ tiên tiến, học tập được kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài Ở các nước đang phát triển, công nghệ sản xuất trong nước thường rất lạc hậu, năng suất lao động thấp, điều này đã hạn chế và kìm hãm sự phát triển của họ Hơn nữa do trình độ phát triển kinh tế xã hội
90
Trang 7giáo dục ở trong nước rất thấp, ít có khả năng phát triển công nghệ mới, hiện đại, tiên tiến Mặt khác việc nhập khẩu công nghệ của các nước này cũng rất ljạn chế do thiếu vốn ngoại tệ Vì vậy hợp tác đầu tư quốc tế sẽ giúp cho các nước tiếp nhận được những công nghệ hiện đại, tiên tiến phục vụ phát triển kinh tế.
Đầu tư quốc tế góp phần thay đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, từng bước đưa nền kinh tế của các nước đang phát triển tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế và khu vực Mặc dù tỷ trọng của đầu tư trực tiếp trong tổng số vốn đầu tư ở một số nước không cao, nhưng nó lại chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tư vào tài sản cố định trong một số ngành, một số lĩnh vực quan trọng, ở các nước mới tiến hành công nghiệp hoá, đầu tư nước ngoài đã góp phần cải tiến cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho nền kinh tế và phù hợp với quá trình phân công lao động quốc tế
Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh trong các nước đó Đây là một động lực để kích thích nền kinh tế phát triển cả về lượng lẫn về chất Sự có mặt của các công ty nước ngoài ở các nước đang phát triển với trình độ quản lý tiên tiến, với kỹ thuật hiện đại sẽ cho phép họ sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng
cao, mẫu mã phong phú, đa dạng, giá thành hạ sẽ cạnh tranh khốc liệt với
hàng nội địa Điều đó buộc các nhà sản xuất trong nước phải đổi mới công nghệ, phải thay đổi phương pháp quản lý từ đó thúc đẩy sự phát triển của kinh
tế trong nước
Hình thức đầu tư ưực tiếp nước ngoài sẽ tạo điều kiện để giúp các nước đang phát triển có nguồn thu nhập để đầu tư và để trả nợ nên sẽ giúp những nước này giảm được số nợ từ nước ngoài đang trở thành một gánh nặng đối với họ
Trang 8Theo Nghị định số 27/2003/NĐ-CP ngày 19 tháne 3 nãm 2003 cùa Chính phù vé sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định sỏ 24/2000/NĐ-
CP ngày 31 tháng 7 nám 2000 quy định chi tiết thi hành Luật Đáu tư nước
ngoài tại Việt Nam thì "Các hoạt động đấu tư trực tiếp của nước ngoài tại
Việt Nam bao gồm các hoạt động đưa vón bằng tiên hoặc bất kỳ rủi sàn nào khác của cáíữ nhủ đầu tư nước ngoài vào Việt N am đê trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhàm thu lợi nhuận theo các hình thức của Luật Đầu tư nước ngoài
3.1.2 Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp
- Các chủ đáu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu tuỳ theo
quy định cua luật đầu tư từng nước, ví dụ như Luật Đầu tư cùa Việt Nam quy
định “sô vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phủi bàng 30% vón pháp
định của dự án” hoặc ở Mỹ việc bỏ vốn được coi là đầu tư trục tiếp nước ngoài
nếu người đầu tư nhận được từ 10% sở hữu của công ty Như vậy, sự khác nhau giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp trước hết là vấn đề kiểm soát vốn
- Quyền điều hành và quản lý kinh doanh phụ thuộc vào mức eóp vốn của chù đầu tư, nếu đóng góp 100% vốn thì xí nghiệp thuộc sở hữu cùa chù đầu tư nước ngoài và họ có toàn quyền trong việc điều hành quản lý doanh nghiệp
- Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quà hoạt động sản xuất kinh doanh và tỷ lệ vốn mà họ đóng góp Lãi và lỗ được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi đã nộp thuế lợi tức cho nước chủ nhà
3.1.3 Ưu điểm của hình thức đầu tư trực tiếp
* Vé phía chủ đầu tư nước ngoài:
- Đầu tư trực tiếp cho phép chủ đầu tư nước ngoài ở mức độ nhất định tham
dự vào quá trình điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (mức độ tham gia điều hành phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn) nên họ trực tiếp tham 2Ìa kiểm soát sự hoạt động của doanh nghiệp, kịp thời đưa ra những quvết định có lợi nhất nhãm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư của họ Chính vì lý do đó mà trong điều kiện mỏi trường kinh doanh thuận lợi và ổn định thì các chủ đầu tư nước ngoài thích bỏ 100% vốn đầu tư
- Giúp cho chu đầu tư nước nsoài dễ chiếm lĩnh thị trườna tiêu thu và nsuổn cuno cấp nguyên liệu chù vếu của nước chù nhà, trên cơ sớ đó để phát triển sản xuất, nãng cao hiệu quả sư dụng vốn đầu tư
92
Trang 9- Lợi dụng cơ chế quản lý thuế đối với hoạt động đầu tư ở các nước khác
nhau, mà các nhà đầu tư mở các công ty con ở các nưóc khác nhau để thực hiện
“chuyển giá” nhằm tối đa hoá lợi nhuận
- Giúp các nhà đầu tư khai thác lợi thế của các quốc gia khác nhau như vị trí địa lý, tài nguyên, lao động nhằm giảm chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận
- Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của nước chủ nhà vì các chủ đầu
tư tiến hành sản xuất hàng hoá trực tiếp tại nước thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch
* V ề phía chủ nhà tiếp nhận đẩu tư:
- Đầu tư trực tiếp tăng cường khả năng khai thác vốn của từng chủ đầu tư nước ngoài, từ đó giải quyết những khó khãn về vốn cho đất nước Trong hình thức đầu tư trực tiếp thì các nước chỉ quy định mức đóng góp tối thiểu mà không quy định mức đóng góp tối đa của mỗi chủ đầu tư Điều đó có ý nghĩa là
số vốn đóng góp của chủ đầu tư nước ngoài càng nhiều càng tốt, thậm chí mức góp vốn càng cao thì càng được hưởng những chính sách ưu đãi về thuế của nước chủ nhà
- Giúp cho nước chủ nhà hoặc các doanh nghiệp góp vốn của nước chủ nhà
có điều kiện để tiếp thu được những công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản
lý kinh doanh của các công ty nước ngoài
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép nước chủ nhà có điều kiện để khai thác tốt nhất những lợi thế về tài nguyên, về lao động để phát triển kinh tế
- Đẩy nhanh quá trình hội nhập của nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới vì chính đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhân tố tác động mạnh đến tiến trình hoàn thiện thể chế, chính sách và môi trường đầu tư
- Góp phần nâng cao mức sống của nhân dân nước tiếp nhận đầu tư Do đầu
tư trực tiếp sẽ tạo nhiều việc làm tăng thu nhập cho người lao động Mặt khác đầu tư trực tiếp còn giúp nước chủ nhà trong việc đào tạo đội ngũ lao động có trình độ và tay nghề cao
3.1.4 Những hạn chê của đầu tư trực tiếp
Nếu nước nhận đầu tư có sự bất ổn định về kinh tế, chính trị thì chủ đầu tư nước ngoài dễ bị mất vốn
Hiện nay ở nhiều nước công nghiệp phát triển thường thực hiện sự kiểm soát gắt gao đối với những dự án gây ô nhiễm môi trường nên xu thế hiện nay
là nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã và đang chuyển giao những công nghệ độc
93
Trang 10hại sang các nước kém phát triển, vì vậy nếu nước chủ nhà khỏne có một quy hoạch đầu tư cụ thể khoa học sẽ dẫn đến sự đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên bị khai thác quá mức gây hại cho môi trường sinh thái.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể gây “tác động âm ” lên cán cân thương mại và cán cân thanh toán Do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng cần phải nhập máy móc thiết bị, nguyên nhiên liệu để phục vụ sản xuất nên đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng nhập siêu Sự
“nhập siêu” trong cán cân thương mại của Việt Nam khoảng từ 3 - 5 tỷ USD trong những năm qua cũng một phần do tác động của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hoạt động đầu tư trực tiếp thúc đẩy quá trình phân hoá giàu nghèo và sự di dân ồ ạt ra thành thị, các trung tâm đô thị lớn, gây ra sự xáo trộn xã hội, bất bình đẳng giữa các vùng kinh tế, các ngành kinh tế và giữa các tầng lớp nhân dân ngày càng gia tăng
3.2 Đầu tư gián tiếp
3.2.1 Khái niệm
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư chuyển vốn vào một quốc gia khác để mua cổ phiếu hoặc chứng khoán trên thị trường tài chính nhằm thu lợi nhuận thông qua cổ tức hoặc lãi từ chứng khoán
3.2.2 Đặc điểm của hình thức đầu tư gián tiếp
- Số vốn mà mỗi chủ đầu tư nước ngoài đầu tư vào từng dự án được khống chế ở một mức độ nhất định tuỳ theo luật định của từng quốc gia Thông thường tỷ lệ vốn đầu tư được quy định từ dưới 10 - 25% số vốn pháp định
- Các chủ đầu tư nước ngoài kiếm lợi nhuận qua cổ tức (thu nhập cổ phiếu hoặc chứng khoán)
- Các chủ đầu tư nước ngoài không được phép trực tiếp điều hành hoại động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn m ua cổ phiếu (hoặc chứng khoán)
- Nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh thông qua thị trường tài chính
3.2.3 Ưu điểm của h ìn h thức đầu tư gián tiếp
- Khi có sự cố xảy ra trong kinh doanh, đối với doanh nghiệp có vốn đầu ti
nước ngoài thì nhà đầu tư ít bị thiệt hại vì vốn đầu tư được phân tán trong sc đông những người mua cổ phiếu hoặc trái phiếu
94
Trang 11- Bên tiếp nhận vốn đầu tư hoàn toàn được chủ động trong việc quản lý và
sử dụng vốn kinh doanh, do đó tạo sự chủ động, linh hoạt cũng như việc tập trung vốn phục vụ cho ý đổ kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả
- Khi tình hình tài chính, tiền tệ, chính trị của nước tiếp nhận đầu tư có sự bất ổn, các nhà đầu tư có thể dễ dàng bán hoặc chuyển nhượng những chứng khoán để hạn chế rủi ro Đây là một ưu điểm nổi bật của đầu tư gián tiếp so với đầu tư trực tiếp
- Hình thức này tạo khả năng để thu hút vốn đầu tư từ những chủ đầu tư có
số vốn nhộ, từ mọi nguồn của thế giới
3.2.4 Những hạn c h ế của đầu tư gián tiếp
- Có thể dẫn đến sự thao túng của các thế lực đầu cơ tiền tệ quốc tế nếu
việc quản lý và điều tiết thị trường chứng khoán thiếu chặt chẽ
- Do chủ đầu tư nước ngoài không được tham gia trực tiếp vào việc quản lý điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà phải phó thác đồng vốn của mình cho những người khác mà nhiều khi những người đó lại ít có khả năng và kinh nghiệm điều hành sản xuất kinh doanh, nên nó không hấp dẫn đối với các chủ đầu tư Vì vậy đa phần chủ đầu tư nước ngoài không thích hình thức đầu tư gián tiếp
- Đầu tư gián tiếp hạn chế khả năng tiếp thu kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các chủ đầu tư nước ngoài Do đó, hiệu quả sử dụng vốn thường không cao
3.3 Khu chê xuất - một hình thức thu hút vốn đầu tư đặc biệt
3.3.1 Khái niệm khu chê xuất
Hiện nay có nhiều cách gọi khác nhau về khu chế xuất Theo các chuyên gia thì khu chế xuất truyền thống là dự án phát triển hoàn thiện của cảng tự do
và các khu vực mậu dịch tự do
Cảng tự do là những cảng áp dụng quy chế thuế quan đặc biệt, các thương nhân thông qua tàu biển có thể mang hàng hoá và tiền tệ vào cảng một cách tự
do không phải đóng thuế, chỉ khi nào chuyển hàng hoá vào nội địa mới phải nộp thuế
Khu vực mậu dịch tự do thường được xây dựng gần cảng, hàng hoá mang vào khu vực mậu dịch một cách tự do không phải đóng thuế Ở một số nước như Malaysia, Indonesia trước kia cũng xây dựng các khu kho quá cảnh có
95
Trang 12mô hình gần gũi với cảng tự do Tất cả những hàng hoá, nguyên liệu đưa vào cảng để sơ chế, lắp ráp giản đơn, đóng gói sau đó tái xuất khẩu thì khống phải chịu bất cứ một khoản thuế nào, chỉ khi đưa hàng hoá vào nội địa mới phải đóng thuế nhập khẩu.
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UN1DO) thì: “Khu
ch ế xuất lù một khu vực tương đôi nhỏ, phản cách về địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút các xí nghiệp có vốn đấu tư nước ngoài hướỉìg về xuất khẩu, bằng cách cung cấp cho các xí nghiệp những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với nội địa Đặc biệt, khu c h ế xuất cho nhập khẩu hàng hoá dùng cho sản xuất hùng xuất khẩu được miễn th u ế trên cơ sở kho quá cành".
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì: “Khu c h ế xuất lù khu công
nghiệp chuyên sản xuất hùng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hùng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xúc định, do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập".
Một hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà hiện nay đang được áp dụng rộng rãi ở Trung Quốc, đó là đặc khu kinh tế Mục tiêu hoạt động của đặc khu kinh tế không hoàn toàn hướng về xuất khẩu, mà thực hiện mở cửa kinh tế từng phần nhằm thu hút vốn và kỹ thuật của nước ngoài với những ưu đãi về thuế, về giá thuê đất và nhân công rẻ Đặc khu kinh tế không quy hoạch tách rời khỏi phần nội địa bởi hàng rào che chắn, hàng hoá nhập vào hoặc xuất ra khỏi đặc khu kinh tế không được miễn thuế hoàn toàn, trong các đặc khu kinh
tế có cả hoạt động của công nghiệp và nông nghiệp, có dân cư sinh sống Sản phẩm của các đặc khu kinh tế chẳng những phục vụ xuất khẩu m à phục vụ cả nhu cầu của sản xuất và đời sống của thị trường nội địa
Một khu chế xuất truyền thống có những đặc điểm sau:
- Là một khu đất thuộc lãnh thổ của một nước được quy hoạch tách riêng
ra, thường được ngăn cách bằng một hàng rào kiên cố để hoạt động cách biệt với phần nội địa Trong khu chế xuất không có dân cư sinh sống
- Mục đích của khu chê xuất là thu hút các nhà sản xuất công nghiệp nước ngoài và trong nước, định hướng hoạt động xuất khẩu bằng những biện pháp đặc biệt ưu đãi về thuế quan, về các điều kiện mậu dịch và các loại thuế khác
- Hàng hoá, tư liệu sản xuất nhập vào khu chế xuất để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn giảm thuế hải quan Còn nếu hàng hoá nhập vào thị trường nội địa từ khu chế xuất thì phải nộp thuế nhập khẩu
96
Trang 13- Các chủ đầu tư nước ngoài được ưu tiên vào hoạt động trong khu chế xuất.
“Doanh nghiệp c h ế xuất là một doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ về doanh nghiệp c h ế x u ấ t (Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam)
Hiện nay, sức hấp dẫn của khu chế xuất truyền thống có xu hướng giảm sút do các biện pháp bảo hộ mậu dịch của các nước đang giảm dần tác dụng
và hoạt động của khu chế xuất chuyển từ chủ yếu sản xuất hàng công nghiệp phục vụ xuất khẩu sang khu trị giá gia tăng thực hiện các dịch vụ phục vụ cho xuất khẩu
3.3.2 Vai trò của kh u chê xuấ t
- Hoạt động của các khu chế xuất sẽ tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài Bởi vì khu chế xuất thường tập trung nhiều lợi thế nhất của nước chủ nhà, mặt khác vào hoạt động trong khu chế xuất được hưởng nhiều sự
ưu đãi về thuế, về chế độ khuyến khích đầu tư nên rất hấp dẫn các chủ đầu tư
bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại khu chế xuất
- Hoạt động của khu chế xuất tạo khả năng để tiếp nhận khoa học kỹ thuật
và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các chủ đầu tư nước ngoài
- Tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động, đổng thời cũng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ lao động cho nước chủ nhà
- Tăng kim ngạch xuất khẩu góp phần giải quyết sự mất cân đối trong cán cân thương mại và cán cân thanh toán của quốc gia
- Phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ xuất khẩu, biến khu chế xuất trở thành cầu nối giữa kinh tế thị trường nội địa với thị trườn? thế giới, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng, cải tạo và nâng cao chất lượng hạ tầng cơ sỏ' trong khu chế xuất như hệ thống đường xá, cầu cống, điện nước gây phán ứng dây chuyền kích thích các vùng và các ngành kinh tế cùng phát triển
Tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu kinh tế thì chỉ có khoảng 20% số khu chế xuất đang hoạt độns trên thế giới thành công Nguyên nhân là do: Sự mất
ổn định về chính trị trong nước khiến cho các nhà đầu tư không yên tâm bỏ vốn Sự ra đời của quá nhiều khu chế xuất ở một nước và chính sách thu hút
97
Trang 14kém hấp dẫn, môi trường đầu tư không lý tưởng đã làm cho năng lực hoạt động của các khu chế xuất thấp chỉ đạt xấp xỉ 50% công suất dự kiến Cơ sở hạ tầng của khu chế xuất yếu kém, thiếu đường giao thông, thiếu nhà ở cho cống nhân, điện nước không cấp đủ Chính sách khuyến khích đầu tư vào khu chế xuất kém hấp dẫn, tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu do có quá nhiều luật lệ ở địa phương chi phối gây phiền hà cho các nhà đầu tư Việc lựa chọn địa điểm
để xây dựng khu chế xuất không đúng gây trở ngại cho việc chuyên chở hàng hoá Chất lượng lao động cung cấp cho khu chế xuất còn thấp, không đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của nhà đầu tư Tệ nạn buôn lậu giữa khu chế xuất với thị trường nội địa tràn lan, khó kiểm soát đã ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu.tư
IIế N H Ữ N G Đ Ặ C Đ IỂ M c ơ B ẢN C Ủ A Đ Ẩ U T Ư Q U Ố C T Ê H IỆ N N A Y 1ẳ C ó s ự thay đổi của dòng chảy vốn đầu tư
Ngày nay dòng chảy của vốn đầu tư trực tiếp (FDI) chủ yếu là vào các nước công nghiệp phát triển (OECD)
Đầu thế kỷ XX trên 70% vốn đầu tư trực tiếp được đổ vào các nước chậm
và đang phát triển để khai thác các tài nguyên của các nước này với tư cách là các nước thuộc địa
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, khu vực Tây Âu bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh đang cần rất nhiều vốn để đầu tư tái thiết Vì vậy khu vực này trở thành nơi thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đấu tư trực tiếp Thời kỳ này Tây Âu thu hút đến 158 tỷ USD trong đó 1/2 là của Mỹ
Từ những năm 60 trở lại đây có đến 70 - 80% nguồn vốn FDI là đầu tư vào các nước công nghiệp phát triển
Nám 1950 nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào các nước công nghiệp phát triển chỉ chiếm khoảng 40% tổng số vốn đầu tư trực tiếp của thế giới thì đến năm
1960 đã vào khoảng 66%; n ăm ,1970 là 67,6%; năm 1980 là 73,6% Năm 1999 các nước công nghiệp phát triển chiếm 76,5% tổng số vốn đầu tư trực tiếp của thế giới, khoảng 865 tỷ USD Trong khi các nước đang phát triển chiếm 3/4 dân số thế giới thì chỉ chiếm khoảng 23,5% vốn FDI đầu tư trên thế giới, thì chỉ riêng Mỹ năm 2000 đã thu hút 200 tỷ USD vốn FDI Bên cạnh đó EU cũng là nơi thu hút nhiều vốn FDI của thế giới, khoảng 230 tỷ USD năm 1998 và 280
tỷ USD năm 1999
98
Trang 15Sở dĩ dòng chảy của nguồn vốn đầu tư trực tiếp chủ yếu vào các nước công nghiệp phát triển vì:
- Làn sóng hợp nhất, thôn tính các công ty diễn ra chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển
- Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới với quy mô ngày càng lớn, với những sản phẩm có hàm lượng khoa học - công nghệ cao như ngành bán dẫn vi điện tử, ngành công nghệ sinh học, sản xuất rôbốt Những khoản lợi nhuận siêu ngạch thu được từ các ngành này
đã hấp dẫn các nhà đầu tư trên thế giới
- Các nước công nghiệp phát triển có thị trường tiêu thụ rộng lớn, khả năng thanh toán cao Vì vậy đây chính là địa điểm lý tưởng cho các nhà đầu
tư quốc tế
- Các nước công nghiệp phát triển có môi trường đầu tư thuận lợi và ổn định, do những nước này luôn có một chế độ chính trị ổn định, hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, hệ thống cơ sở hạ tầng tốt và hiện đại, đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật cao Chính điều này đã tạo nên một sức hút mạnh mẽ đối với nguồn vốn đầu tư nưộc ngoài Trong khi đó ở các nước chậm và đang phát triển, điều kiện chính trị và kinh tế thường thiếu ổn định, nội chiến, đảo chính, lật đổ thêm vào đó hạ tầng cơ sở yếu kém, hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh đã cản trở dòng chảy của tư bản vào các nước này
- Do chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước công nghiệp phát triển ngày càng chặt chẽ và tinh vi, thậm chí là “siêu” bảo hộ Điều này gây trở ngại lớn cho hàng hoá xâm nhập vào thị trường những nước này nên các nước tư bản khác phải đầu tư vào nước đó để tổ chức sản xuất và tiêu thụ tại chỗ những hàng hoá bị hàng rào bảo hộ ngăn cản
2 C ó s ự thay đổi lớn trong tương quan lực lượng của c á c chủ đầu
tư qu ốc tê
Đầu thế kỷ XX, những nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu vốn ra nước ngoài là Anh, Pháp, Đức, Hà Lan Anh và Pháp chủ yếu xuất khẩu vốn vào các nước thuộc địa của họ
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 (1950 - 1980) Mỹ dẫn đầu thế giới về đầu tư nước ngoài, sau đó là Anh, Pháp Đầu tư của Mỹ chủ yếu vào các nước Tày Âu, Nhật Bản và các nước đồng minh Đông - Nam Á và các nước châu Mỹ Latinh
99
Trang 16Từ thập niên 70 trở lại đậy Nhật Bản nổi lẽn như một cường quốc đầu tư, vượt qua cả Anh, Pháp và đe doạ vị trí dẫn đầu của Mỹ Đặc biệt Nhật đã trở thành một nhà đầu tư lớn nhất vào thị trường Mỹ và các công ty có vốn đầu tư của Nhật Bản có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Mỹ.
Bước sang thập niên 90 tình hình đầu tư nước ngoài của các chủ đầu tư lớn
có sự thay đổi Một số nước như: Mỹ, Anh, Canada, Italia, tăng m ạnh đầu tư hải ngoại, trong khi đó do chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế kéo dài nên đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước Nhật Bản, Pháp, Đức bị giảm mạnh.Thời gian gần đây một hiện tượng gây sự chú ý trong lĩnh vực đầu tư quốc
tế là các nước công nghiệp mới (NICs) ở vùng châu Á - Thái Bình Dương đang vươn lên và trở thành các thế lực đầu tư FDI mạnh như: Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc luôn vượt qua Nhật, Mỹ, EU và trở thành những chủ đầu
tư lớn nhất ở châu Á
Hướng đầu tư chính lớn nhất ở các nước NICs là các nước ASEAN, sau đó
là Trung Quốc và hiện nay là Việt Nam Ngoài ra các nước NICs cũng đầu tư vào các nước công nghiệp phát triển như: Mỹ, E U
Sỡ dĩ các nước NICs gia tăng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vì:
- Sự mở cửa tương đối nhanh của các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Lào đã thu hút các nước có trình độ công nghệ trung bình nhung thích hợp lại
ở cùng một khu vực Hơn nữa các nước này có nguồn lao động nhiều và rẻ, có những ưu đãi về pháp lý , điẻu này có thể đem lại lợi nhuận cao cho các chủ đầu tư nước ngoài
- Chính sách thù địch của Mỹ đã ngăn cản các công ty của Mỹ và các nước công nghiệp phát triển đầu tư trực tiếp vào những nước này
- Sự chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các nước NICs và các nước ASEAN tạo thuận lợi cho các nước NICs đầu tư vào ASEAN dưới hình thức chuyển giao công nghệ
3 C ó s ự thay đổi sâu s ắ c trong lĩnh vực đầu tư
Đầu thế kỷ XX các chủ đầu tư nước ngoài thường hướng vào các lĩnh vực truyền thống như: khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển nông nghiệp bằng cách đầu tư vào đồn điền và các ngành công nghiệp chế biến nông sản
Sở dĩ thời kỳ này các nhà đầu tư tập trung vốn vào lĩnh vực nêu trên vì ở thời kỳ này việc đầu tư vốn của các nước công nghiệp phát triển chu yếu là vào
100
Trang 17các nước thuộc địa nhằm khai thác tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế của chính quốc Để khai thác các nguồn tài nguyên, nhân lực của các nước thuộc địa, xuất khẩu tư bản của các nước công nghiệp phát triển nhằm vào lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng như xây dựng một số đô thị quan trọng, đường sá Đổng thời một số vốn được đầu tư vào xây dựng các đồn điền lớn sản xuất các loại nông sản để xuất khẩu
Ngày nay, bộ phận tư bản đầu tư vào các ngành thuộc kết cấu hạ tầng và kinh tế trang trại đã giảm tương đối Nguyên nhân cơ bản là do đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng đòi hỏi vốn lớn, khó quản lý khai thác, thời gian thu hồi vốn thường kéo dài, lợi nhuận thấp nên không thu hút được đầu tư của tư nhân Còn đối với kinh tế trang trại thì do giá cho thuê đất cao, mặt khác do chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước tư bản phát triển và trợ cấp giá quá mức ở các nước đang phát triển đối với sản phẩm nông nghiệp Vì vậy, tuy giá
rẻ nhưng các loại nông sản không tiêu thụ được ở thị trường lớn Chỉ có một số loại nguyên liệu như: cao su, dầu cọ, điều, tơ tằm là thu hút được tư bản nước ngoài đầu tư thông qua các dự án liên doanh chia sản phẩm hoặc vay vốn của các ngân hàng tư nhân
Trong khi vốn đầu tư vào xây dựng kết cấu hạ tầng và kinh tế trang trại giảm sút thì nguồn vốn FDI đầu tư vào khai thác dầu mỏ và một số khoáng sản tăng lên đáng kể Nguyên nhân là do lĩnh vực khai thác dầu mỏ có khả năng thu hổi vốn rất nhanh, lợi nhuận cao và ổn định
Nhu cầu sử dụng dầu khí là rất lớn, nhất là những nước công nghiệp phát triển Vì vậy, đầu tư vào khai thác dầu mỏ sẽ giúp cho các nước công nghiệp phát triển có được nguồn cung ứng ổn định và nếu như có sự biến động liên quan đến các nước có dầu thì sẽ làm cho giá dầu trên thế giới tăng mạnh, lợi nhuận đem lại cho các nhà đầu tư càng lớn Ví dụ như trong giai đoạn 2004 -
2005, giá dầu trên thế giới tăng mạnh và luôn ở mức cao đã đem về cho những nước có dầu và chủ đầu tư những khoản lợi nhuận kếch xù
Các nước đang phát triển có nguồn lợi về dầu mỏ nhưng do hạn chế về vốn
và kỹ thuật, không đủ sức để thăm dò và khai thác, thậm chí trong nhiều năm không biết được tiềm năng và trữ lượng dầu của mình Vì vậy’ các nước này cần phải kêu gọi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực thăm dò, khai thác và chế biến dầu mỏ để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Về lĩnh vực đầu tư cũng có những thay đổi:
Trang 18- Khi đầu tư vào các nước công nghiệp phát triển thì các chù đầu tư thường tập trung vốn vào các lĩnh vực thương mại và tài chính, hoặc những ngành kỹ thuật mới như công nghệ thông tin, thiết bị viễn thông, công nghệ sinh học, chế tạo ô tô , những lĩnh vực này có thị trường tiêu thụ rộng lớn, có khả năng thu lợi nhuận cao.
- Khi đầu tư vào các nước đang phát triển thì các nhà đầu tư thường đầu tư vào các dự án vừa và nhỏ, có khả năng thu hổi vốn nhanh để hạn chế rủi ro trong đầu tư Hoặc lựa chọn các lĩnh vực đầu tư cho phép họ tận dụng được triệt
để các điều kiện ưu đãi của các nước nhận đầu tư, hoặc các ngành có ngay thị trường ở nước tiếp nhận đầu tư
4 Những năm gần đây việc thu hút vốn FDI của c á c nư ớc đang phát triển ở châu Á có xu hướng giảm sút
Trong giai đoạn từ 2000 đến nay tổng số vốn FDI đầu tư vào các nước đang phát triển ở châu Á có xu hướng giảm sút Nếu như năm 2000 số vốn FDI đầu
tư vào các nước đang phát triển ở châu Á là khoảng 145 tỷ USD thì năm 2001 chỉ còn khoảng 110 tỷ USD và năm 2002 khoảng 90 tỷ USD
Tuy nhiên riêng Trung Quốc, Ân Độ, Malaysia lại nổi lên như những cường quốc thu hút đầu tư FDI lớn của thế giới Sở dĩ Trung Quốc thu hút được nhiều vốn đầu tư với tốc độ ổn định (khoảng 50 tỷ USD tính đến năm 2002) là do: Thứ nhất, Trung Quốc đã chính thức gia nhập WTO năm 2001 Thứ hai, môi trường pháp lý của Trung Quốc ngày càng hoàn thiện đã giúp cải thiện và tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài Thứ ba, Chính phủ Trung Quốc
đã dành cho các nhà đầu tư nước ngoài nhiều ưu đãi Tất cả những điều đó đã tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư, làm cho nguồn vốn FDI đổ vào Trung Quốc gia tăng nhanh chóng
III ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
1 Vai trò của đầu tư q u ốc tế đối với cô n g c u ộ c phát triển kinh tế của Việt Nam
Đầu tư quốc tế được thực hiện ở Việt Nam dưới hai hình thức cơ bản là: Đầu tư trực tiếp và tín dụng quốc tế chủ yếu được thực hiện qua thu hút vốn ODA Qua 18 năm qua kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời ở Việt Nam (12/1987 đến 2005) hoạt động đầu tư quốc tế đã có sự đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế, thể hiện:
102
Trang 19l ẳl Ế Đầu tư quốc tê bổ sung nguồn vốn quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam
Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, nhằm thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế sớm đưa Việt Nam thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và tiến tới trình độ phát triển kinh tế khu vực và thế giới, thì đòi hỏi phải có một số lượng vốn rất lớn Trong khi đó Việt Nam lại là một nước nghèo, khả năng tích luỹ nội bộ còn rất thấp vì vậy nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là một nguồn vốn rất quan trọng để giúp nước ta thực hiện được mục tiêu nói trên
Thật vậy, tính đến tháng 7/2005, Chính phủ Việt Nam đã cấp giấy phép cho 6583 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 63,048 tỷ USD Nguồn vốn đầu tư này đã tạo ra một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh
tế Các dự án đầu tư nước ngoài hiện nay chiếm khoảng 35% giá trị sản lượng công nghiệp của Việt Nam Khu vực đầu tư nước ngoài chiếm 100% các dự án khai thác dầu thô, sản xuất lắp ráp ốtô, máy giặt, tủ lạnh, điều hoà nhiệt độ, thiết bị văn phòng, máy tính Các dự án đầu tư nước ngoài chiếm 60% sản lượng thép cán, 55% sản lượng sợi các loại phục vụ ngành công nghiệp dệt may, 49% sản lượng da và giày dép; 76% sản lượng dụng cụ y tế chính xác, 33% sản lượng máy móc thiết bị điện, 28% sản lượng xi măng, 25% sản lượng thực phẩm và đổ uống Như vậy, đầu tư nước ngoài là nguồn vốn quan trọng góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
1.2 Các dự án đầu tư nước ngoài góp phần tăng thu cho ngân sách từ
đó cải thiện cán cân thanh toán quốc gia
Với hàng ngàn dự án đầu tư nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam, sự đóng góp của khu vực này vào nền kinh tế Việt Nam ngày càng lớn Tỷ trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong GDP ngày càng tăng: năm 1993 là 3,3%; 1995 là 6,3%; 1998 là 10,1% và từ năm 2000 đến 2004 mỗi năm chiếm khoảng trên 13% Do đó, số đóng góp cho ngân sách nhà nước của khu vực kinh tế này chiếm từ 6 - 7% nguồn thu ngân sách, nếu kể cả ngành dầu khí thì chiếm khoảng gần 20% nguồn thu ngân sách
Bên cạnh những đóng góp đáng kể cho ngân sách thì hoạt động xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cũng góp phần quan trọng vào việc cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế của nước ta Không kể lĩnh vực dầu khí thì kim ngạch xuất khẩu của khu vực này thời kỳ 1991 - 1995
103
Trang 20là trên 1,12 tỷ USD; thời kỳ 1996 - 2000 là 10,6 tỷ USD; nãm 2001 đat 3,67 tỷ USD; 2002 là 4,5 tỷ USD Sô ngoại tệ thu được từ xuất khẩu của khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài gia tăng đã phần nào giải quyết được tình trạng nhập siêu của nền kinh tế
1.3 Góp phần chuyên dịch cơ cấu kinh tê Việt Nam theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nếu ở thời kỳ đầu (1988 - 1995) đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tập trung chủ yếu vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản như: xây dựne khách sạn, khu nghỉ mát, khu chế xuất, văn phòng cho thuê thì đến giai đoạn hiện nay đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tập trung nhiều hơn vào các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ chiếm 53% số vốn đăng ký và 73% vốn thực hiện Các dự án đầu tư vào lĩnh vực bưu chính viễn thông, dịch vụ kỹ thuật đã tăne nhanh Khu vực đầu tư nước ngoài chiếm gần 35% sản lượng công nghiệp cùa Việt Nam với tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 20% Điều đó đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam theo hướng công nghiệp hoá
và hiện đại hoá
1.4 Góp phần quan trọng trong việc nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ của Việt Nam
Cũng như các nước đang phát triển trên thế giới, các dự án đầu tư FDI có vai trò quan trọng trong việc đưa những công nghệ mới, hiện đại vào Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực dầu khí, bưu chính viễn thông, sản xuất vi mạch điện
tử, sản xuất máy tính, hoá chất, sản xuất ỏ tô Các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần rất lớn vào việc tăng khả năng cạnh tranh của công nghệ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Ngoài ra việc sử dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến của khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài còn kích thích các doanh nghiệp trong nước phải đầu tư đổi mới công nghệ để tạo được sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao Đổnơ thời các doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể học tập được tư duy quản lý và phương thức kinh doanh tiên tiến của các doanh nghiệp nước ncoài
l ể5 Góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tẻ thị trường ở Việt Nam, đẩy nhanh quá trình hội nhập của Việt Nam với nền kinh té thế giới
Cho đến nay đã có hơn 70 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam, chính những dự án này có tác động lớn tới quá trình đổi mới cơ chế chính sách quản lý kinh tế ở Việt Nam theo hướng hội nhập quốc tế Hơn nữa
104
Trang 21chính sự hoạt động của các dự án FDI đã có tác động tích cực đến việc xoá bỏ
sự bao vây cấm vận đối với Việt Nam và thúc đẩy tiến trình gia nhập ASEAN, WTO cũng như ký kết hiệp định với các nước, trong đó có Hiệp định thương mại Việt - Mỹ
Ngoài ra, trên 50% giá trị sản phẩm của các dự án đầu tư nước ngoài được xuất khẩu ra thị trường thế giới, góp phần nâng cao thị phần cũng như uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
1.6 Góp phần giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao mức sông cho người lao động
Với hàng ngàn dự án đầu tư nước ngoài đang hoạt động một cách có hiệu quả trên lãnh thổ Việt Nam đã tạo ra một số lượng lớn việc làm cho người dân góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp hiện nay
Mặt khác, với khoảng gần 500.000 lao động đang làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với mức thu nhập ổn định từ 76 - 80USD/tháng
đã góp phần ổn định và cải thiện đời sống cho một bộ phận lao động
Hơn nữa, một số lượng không nhỏ các nhà quản lý kinh doanh và người lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài được đào tạo ở trong và ngoài nước, được tiếp cận với công nghệ cao và trình độ quản lý tiên tiến đã góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động, làm cho môi trường đầu tư của Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn
Mặc dù khu vực đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam và Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến việc hoàn thiện môi trường đầu tư để tăng tính hấp dẫn trong thu hút vốn đầu tư FDI Nhưng theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thì tốc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam vẫn còn thấp hơn nhiều so với yêu cầu của sự phát triển kinh tế Nguyên nhân cơ bản là do:
- So với các nước trong khu vực thì tính cạnh tranh của môi trường đầu tư ở Việt Nam chưa cao do hệ thống luật pháp phục vụ cho phát triển kinh tế thị trường còn thiếu, nhiều quy chế quản lý hoạt động đầu tư, trong đó có thuế hay thay đổi, tính bình đẳng trong hoạt động đầu tư còn hạn chế, chi phí đầu vào cao làm cho giá thành sản phẩm sản xuất ở Việt Nam rất cao
- Việc xây dựng các giải pháp ưu đãi và khuyến khích thực hiện các quy hoạch thu hút vốn đầu tư nước ngoài chưa tốt dẫn đến sự mất cân đôi trong thu hút vốn đầu tư theo nơành và theo vùng
105
Trang 22- Chất lượng nguồn nhân lực tuy đã được cải thiện nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của hoạt động đầu tư.
Trước tình hình đó để tăng cường thu hút vốn đầu tư cần phải thực hiện các giải pháp sau: Một là, tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư để tãng tính cạnh tranh Hai là, tiến hành cải cách hành chính theo hướng đơn giản, minh bạch, công khai, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư Ba là, giảm các chi phí dịch vụ đầu vào để giúp các doanh nghiệp giảm chi phí kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm Bốn là, hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế vùng, kinh tế ngành và xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư Năm là, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến đầu tư, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngành, các địa phương gây tổn thất chung cho nền kinh tế Sáu là, đẩy mạnh các nỗ lực ngoại giao, hoàn thiện hệ thống luật pháp theo hướng mở cửa, cải tiến thủ tục hành chính Bảy là, quan tâm hơn nữa đến việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Thực hiện tốt các giải pháp trên sẽ tăng cường sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế, do đó số lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chắc chắn sẽ gia tăng và sẽ có những đóng góp lớn cho sự phát triển của nền kinh
tế Việt Nam
2ễ C á c hình thức đầu tư trực tiếp nưốc ngoài tại Việt Nam
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì có 4 hình thức đầu tư trực tiếp hợp tác kinh doanh
2.1 Hợp đổng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoậc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới
Hình thức hợp tác kinh doanh có đặc điểm:
- Các bên hợp tác với nhau để tiến hành sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ tại Việt Nam trên cơ sở lập văn bản hợp đồng đã ký kết trong đó quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia
- Các bên tiến hành hoạt động kinh doanh mà không cần lập ra m ột pháp nhân mới (không cho ra đời một công ty, xí nghiệp mới)
2.2 Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập trên cơ sờ sự góp vốn của hai hay nhiều bên Việt Nam và nước ngoài Hình thức này có đặc điểm:
106
Trang 23- Doanh nghiệp được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn mang tư cách pháp nhân Việt Nam.
- Vốn pháp định của liên doanh ít nhất bằng 30% vốn đầu tư Đối với các
dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng, trổng rừng hoặc đầu tư vào những vùng kinh tế khó khăn thì vốn pháp định có thể bằng 20% tổng số vốn nhưng phải được cơ quan cấp giấy phép chấp nhận
- Phần vốn đóng góp của phía nước ngoài phải lớn hơn 30% vốn pháp định Trường hợp đặc biệt có thể cho phép đến 20%
- Thời gian đầu tư không quá 50 năm, trường họp đặc biệt có thể kéo dài đến 70 năm
- Tổng giám đốc điều hành liên doanh có thể là người nước ngoài và trong trường hợp này phó tổng giám đốc thứ nhất là người Việt Nam, thường trú tại Việt Nam
- Hội đổng quản trị là cơ quan lãnh đạo của doanh nghiệp Số thành viên của Hội đồng quản trị do các bên quyết định, mỗi bên cử người của mình tham gia vào hội đồng quản trị, ứng với phần vốn đóng góp trong vốn pháp định, bên
ít nhất là 2 người
- Lãi và lỗ được chia cho các bên căn cứ vào tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định
2.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền
sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam tự tổ chức quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh Đặc điểm hình thức đầu tư này là:
- Doanh nghiệp thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có
tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam đê thành lập doanh nghiệp liên doanh
2.4 Hình thức doanh nghiệp cổ phần
Theo Nghị định 38/2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 15/4/2003 về việc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang mô hình công ty cổ phần, thì doanh nghiệp cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là “cổ phần” trong đó các
cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giữ ít nhất 30% vốn điều lệ; được tổ chức
107
Trang 24hoạt động theo hình thức công ty cổ phần; được hưởng các đảm bảo của nhà nước Việt Nam và ưu đãi theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Để chuyển từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang doanh nghiệp cổ phần cần
có điều kiện sau: Một là, doanh nghiệp đã góp đủ vốn pháp định theo quy định tại giấy phép đầu tư Hai là, ít nhất đã chính thức hoạt động được 3 năm tại Việt Nam và năm cuối trước khi chuyển đổi phải có lãi Ba là, có hồ sơ đề nghị chuyển đổi
Như vậy sau gần 18 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài, Chính phủ đã cho phép các nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập công ty cổ phần tại Việt Nam, việc đa dạng hoá các hình thức đầu tư góp phần nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư
Câu hỏi thảo luận
1 Vì sao đầu tư quốc tế lại ngày càng phát triển và mở rộng?
2 Những ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến nền kinh tế Việt N am ?
3 Việt Nam cần phải làm gì để thu hút vốn đầu tư nước ngoài?
Câu hỏi ôn tập
1 Khái niệm, nguyên nhân của đầu tư quốc tế?
2 Phân tích vai trò của đầu tư quốc tế?
3 Trình bày các hình thức đầu tư quốc tế.
4 Trình bày các đặc điểm của đầu tư quốc
1 0 8
Trang 25- Thấy được những lợi ích mà Việt Nam có được cũng như những khó khăn của Việt Nam khi tham gia vào cá c liên kết kinh tế và các tổ chức kinh tế quốc tế.
- Trên cơ sở nhận thức được những khó khăn của đất nước, bản thân cần nỗ lực trong học tập để sau này có được những thành công trong kinh doanh.
Nội dung:
1 Sự hình thành các liên kết quốc tế là một tất yếu khách quan C ó những hình thức khác nhau của liên kết kinh tế quốc tế Sự ra đời của các liên kết kinh tế có những ảnh hưởng nhất định đến quan hệ kinh tế thương mại giữa các nước và tiến trình toàn cầu hoá.
2 Sự hình thành các tổ chức kinh tế quốc tế đã thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại và có vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế của các quốc gia nói riêng
và nền kinh tế quốc tế nói chung.
Iề LIÊN KẾT KINH TẾ
1 Khái niệm liên kết kinh tế và nguyên nhân hình thành liên kết kinh tê
1.1 Khái niệm
Liên kêt kinh tê quốc tế là hình thức tổ chức kinh tế, trong đó một nhóm các nước tiên hành thành lập một tổ hợp kinh tế quốc tế, nhằm tăng cường sự
109
Trang 26phối hợp và điều chỉnh lợi ích giữa các bên tham gia, giảm bớt sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các bên và thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế phát triển
cả về chiều rộng và chiều sâu Về cơ bản liên kết kinh tế quốc tế được xem là mối quan hệ kinh tế được hình thành dựa vào sự thoả thuận giữa hai bên hoặc nhiều bên, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế và thương mại phát triển
Liên kết kinh tế có thể diễn ra ở tầm vĩ mô - đó là liên kết kinh tế quốc tế nhà nước và liên kết kinh tế ở tầm vi mô - đó là liên kết kinh tế của các công
ty, các tập đoàn - liên kết kinh tế tư nhân
- Liên kết kinh tế tư nhân là hình thức liên kết của các công ty, các tập đoàn để hình thành các công ty quốc tế (công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia) Liên kết giữa các công ty được tiến hành ở các khâu khác nhau Ví
dụ như liên kết trong quá trình nghiên cứu thiết kế, thử nghiệm chế tạo sản phẩm mới, liên kết trong việc chuyên môn hoá và hợp tác hoá
- Liên kết kinh tế nhà nước là những liên kết kinh tế được hình thành trên
cơ sở hiệp định được ký kết giữa hai hoặc nhiều chính phủ để lập ra các liên minh kinh tế khu vực hoặc liên kết khu vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế đối ngoại
1.2 Nguyên nhân hình thành các liên kết kinh tế quốc tê
Quá trình toàn cầu hoá về kinh tế đã tạo thuận lợi cho thị trường quốc tế ngày càng mở rộng, điều đó đòi hỏi phải có sự liên kết hợp tác giữa các nước hoặc giữa các công ty nhằm giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu về kinh
tế, tài chính, kỹ thuật cũng như các rào cản về thương mại Hơn nữa, sự phân công lao động quốc tế ngày càng được mở rộng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, điều đó cũng đòi hỏi việc hình thành các liên kết kinh tế, các liên minh kinh tế
và liên minh tiền tệ
1.2.1 Nguyên nhân hình thành các liên kết kinh tê
Do vai trò khách quan của liên minh kinh tế Liên kết kinh tế quốc tế cho phép mỗi quốc gia có thể đổng thời thực hiện được 2 mục tiêu: vừa tham gia vào quá trình toàn cầu hoá vừa có thể dựa vào các nước đồng m inh trong liên kết để thực hiện bảo vệ có giới hạn nền kinh tế của mình trước sự bành trướng kinh tế từ các nước ở các khu vực khác nhau
Nhiều vấn đề kinh tế, tài chính hoạt động đầu tư, thương mại m ang tính khu vực, hoặc toàn cầu đòi hỏi phải có sự đổng thuận của chính phủ các
110
Trang 27nước nhằm giải quyết các vấn đề đó theo những nguyên tắc thoả thuận chung thống nhất.
Cùng với tiến trình toàn cầu hoá thì quyền lợi kinh tế của các nước luôn gắn chặt với nhau, cho nên liên kết kinh tế nhà nưóc ra đời cho phép giải quyết các vấn đề hợp tác kinh tế, tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ các hiệp định song phương và đa phương mà chính phủ các nước đã cùng nhau thoả thuận và
ký kết
1.2.2 Nguyên nhân hình thành các công ty quốc tê
Các công ty quốc tế là các tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
và khoa học kỹ thuật được thành lập dựa trên các hiệp định chính phủ hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các tổ chức tư nhân ở các nước khác nhau nhằm tiến hành triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài Các công
ty quốc tế được hình thành do:
- Xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế toàn cầu ngày càng tăng làm cho nền kinh tế của các nước ngày càng phụ thuộc lẫn nhau Trong bối cảnh đó sự
ra đời của các công ty quốc tế hoàn toàn phù hợp vói xu hướng nhất thể hoá nền kinh tế thế giới
- Mặc dù vấn đề tự do hoá thương mại được nhắc đến nhiều trong các thoả ước quốc tế, nhưng trong thực tế ở các nước, các khối liên kết kinh tế quốc tế chính sách bảo- hộ mậu dịch ngày càng gia tăng, vì vậy các công ty quốc tế ra đời nhằm chống lại chính sách bảo hộ mậu dịch ở các nưóc
- Sự cạnh tranh quốc tế đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, do đó đã thúc đẩy sự ra đời của các ngành mới như công nghệ sinh học, điện tử Các ngành này đòi hỏi nhiều vốn, nhiều kỹ thuật cao,
mà một công ty quốc gia không đủ sức để đáp ứng cho nên sự ra đời của các công ty quốc tế là tất yếu khách quan
2 Những nét đ ặc trưng của liên kết kinh tế q u ố c tế
Liên kết kinh tế là hình thứe cao của phân công lao động quốc tế Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đã thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Điều đó dẫn đến việc hình thành một khuôn khổ mới, một hình thức mới cho sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc
tế - đó là các liên kết kinh tế Với khuôn khổ mới này, các mối quan hệ kinh tế quốc tế gia tăng cả về số lượng và cường độ, đổng thời cũng gia tăng các mối