Vệ sinh dung cụ chăn nuôi Các loại dụng cụ phục vụ cho chăn nuôi ngựa cần được để riêng, không để lẫn trong kho thức dn cao trang, xẻng, cuốc, cào tám, ủng, xe, xảo đựng phân..., dụng cụ
Trang 1Phan ba ;
VE SINH TRONG CHAN NUOI NGUA
Trong chăn nuôi gia súc noi chung, chan nuôi ngựa nói riêng, khâu vệ sinh cũng là một trong những yêu tô có
ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất chăn nuôi Nếu như ta
sơ ý hoặc võ tỉnh bỏ đi một khâu nào đó thì đương nhiên
sẽ làm ảnh hưởng tới đời sống, cơ thê ngựa, thậm chí còn
bị thiệt hại Ví dụ, thức ăn bị ôi, mốc, gây đau bụng, đây
hơi, không cửu chữa ngay ngtra sẽ tử vong
Chính vì vậy chúng ta hãy thực hiện tốt những công
VIỆC sau:
1 Vệ sinh chuông trại
- Thường xuyên tây uể chuồng trại 2 kỳ/năm vào tháng 6 và tháng 12 hàng năm băng cách quét vôi và phun
2 Vệ sinh thân thể ngựa
Tức là làm sạch tuyến mồ hôi, tuyên nhờn trên da ngựa đề tăng cường trao đôi chât, máu huyết lưu thông,
56
Trang 2phát hiện kịp thời một số bệnh ngoài da, ký sinh trùng, ghẻ
lờ, ve mòng không còn nơi cư trú
- Tăm và chải mỗi ngày một lần (mùa đông chọn những ngày ấm áp mới tăm), chải theo quy tắc chung (như
đã giới thiệu ở phân nuôi dưỡng)
- Vệ sinh bờm, móng: Mỗi tháng một lân, dùng kéo cat bom cho gọn gàng thanh thoát, dùng dao, búa chặt móng cho móng không bị dài, xơ vỡ Nếu ngựa sir dung dé chạy kéo, thô trên đường cứng thì phải đóng móng
- Vệ sinh bộ phận sinh dục định kỳ, rửa băng nước âm
và xà phòng cho cả ngựa đực và ngựa cái, nhất là trước và sau khi phối giống, phải rửa ngay tránh viêm nhiễm đường
- Thức än củ quả phải được gọt vỏ, rửa sạch, cat nho mới cho ăn
- Cho ăn các loại thức ăn đều phải đưa vào máng ăn,
tránh phân, nước tiêu lần vào Không cho thức ăn quá lạnh
gay dau bung, da day cap tinh, say thai
- Phải kiểm tra kỹ các chủng loại thức ăn, nếu không
bị mộc mới cho ăn (rơm, rạ, thân cây, phụ phế phẩm nông
Trang 3nghiệp ), đặc biệt chú ý đến độc tố Aflatoxin (trong hat
thóc, gạo, ngô, lạc bị mốc)
Chữ ý: có một số loại thức ăn cần phải chế biến kỹ mới cho ăn như: hạt đậu tương, phải rang chín mới được cho ãn, không được cho ăn sống, củ săn tươi cần ngâm kỹ trong nước cho hết nhựa mới cho ăn Vì trong hạt đậu tương có hảm lượng protéin và ÏipIt cao, nếu không chế biển gia súc ăn vào sẽ rỗi loạn tiêu hóa, sinh ia chảy Trong củ sẵn chứa nhiều độc tô xyanua gây độc cho cơ thê (say săn)
3.2 Vệ sinh nước uỗng
Nước có thể mang bệnh truyền nhiễm từ ngựa ốm
sang ngựa khỏe Vì vậy, cần có máng chứa nước uống
riêng biệt cho từng con, không cho ngựa uống nước quá lạnh, quá nhiều, đễ gây đau bụng ở một và đạ dày, sự kích thích mạnh nảy có thê dẫn đến sự co bóp ở tử cung và gây sảy thai Cũng không nên cho uống ở những nơi ao tù, nước đọng, bê chứa lâu ngày
4 Vệ sinh dung cụ chăn nuôi
Các loại dụng cụ phục vụ cho chăn nuôi ngựa cần được để riêng, không để lẫn trong kho thức dn (cao trang,
xẻng, cuốc, cào tám, ủng, xe, xảo đựng phân ), dụng cụ
chứa thức ăn cân được vệ sinh hàng ngày, tránh lưu cữu,
ôi mốc, thức ăn còn dính vào khe kẽ thúng, máng ãn
Nếu như có trường hợp ngựa ôm thì không được dùng
chung dụng cụ với con khỏe
Trang 4Š Vệ sinh môi trường sinh thái
Giữ cho môi trường sạch sẽ, tức là làm cho cơ thê gia súc được cải thiện, muôn vậy chúng ta phải tuần theo một nguyên tắc nhất định:
Không dé phân, nước thải bừa bãi quanh chuông, hoặc
vườn gân nhà, mà phái đỗ vào hồ ủ, bể ủ Mỗi năm trâu,
bo, ngựa thường thải ra 7 - 10 tan phân chuông, nếu ta ủ chế biến cùng với lá phân xanh, vôi, rác mục đem bón cho cây trông sẽ tăng độ phì nhiêu cho đất, giúp cây trông tăng năng suất, phục vụ lại chăn nuôi
Nếu đỗ phân rác bừa bãi thì trứng giun sản được ra ngoài tôn tại ở môi trường, gia súc ăn phải trứng đỏ vào ruột, trứng trở thành âu trùng, thành giun, lại ký sinh vào
cơ thể gia súc Võ hình dung, chúng ta tạo điều kiện giúp giun sản tái tạo lại vòng đời dé phát triển sinh sôi, làm hại øìa súc Chính vì vậy, ta phải ủ phân, làm cho trứng gìun sán bị tiêu điệt, không còn nguy cơ lây lan phát triển
Ở những nơi chăn nuôi tập trung, vấn để vệ sinh trong chăn nuôi được chủ trọng và đầu tư thích đáng như: các trang thiết bị phục vụ ăn uống, chuông trại, có hệ thông
dan nước vào, thải nước đi, có nhà chế biến ủ phân theo
phương pháp sinh học với lá phân xanh, với voi Sau 3 tháng đưa ra bón cho cây trông, hoặc toàn bộ phân và nước tiêu, nước rửa chuông được đưa vào Bioga (hầm sinh hoc), tao khi ga, lam chất đốt phục vụ trực tiép cho đời
sông sinh hoạt của con người Một túi Bioga chi phí
khoảng 500.000 - 600.000đ Nếu xây băng gạch, chí phí cho một hầm Bioga khoảng 2.500.000 - 3.000.000đ
Trang 5_ Phânbốn _
MỘT SÓ LOẠI BỆNH Ở NGỰA
Trong chăn nuôi ngựa, cũng có xảy ra ít hoặc nhiêu,
hoặc chưa xảy ra Nhưng, chúng ta sơ lược biết được các bệnh ở ngựa do các nhà khoa học đã nghiên cứu, tìm ra như sau:
I Bệnh truyền nhiễm ở ngựa
Trang 6Với khuôn khô quyển sách này, chúng tôi chỉ giới thiệu một sô bệnh thường gặp trong chăn nuôi ngựa sau day:
LH Các bệnh thường gặp ở ngựa và biện pháp phòng trị
1 Bệnh giun đũa ngựa
Bệnh do loài giun Parascaris equorum, họ Ascaridae
ký sinh ở ruột non, đôi khi gặp ở ông mật, đạ dày, gây hại nhiêu cho ngựa con
Bệnh phân bỗ ở khắp các nước trên thế giới, ở Việt
Nam, bệnh cũng phô biên từ Bãc tới Nam
* Hình thái:
Giun màu vàng nhạt, hình ống, hai đâu thon dân, xung quanh miệng ở đính đầu có 3 môi, môi lưng to hơn 2 môi bên, phía trong mỗi lớn còn có những răng nhỏ
Giun duc dai 15 - 28cm, dudi cong về phía bụng, cánh
đuôi nhỏ, hai gai giao câu băng nhau, dài 2,4 - 3mm Xung
quanh vùng gai giao câu có 79 - 105 đôi núm sinh duc ở bền ngoài
Giun cải dải tới 37cm, đuôi thăng, lỗ sinh dục ở 1⁄4
phía dưới thân, trứng tròn, kích thước đường kính dài 0,09
- 0,]0mm, màu vàng sâm hoặc nâu, có 4 lớp vỏ
* Vong doi:
Trứng theo thức ăn, nước uỗng qua miệng, xâm nhập
vào cơ thê (vật chủ), di hành và phát triên thành giun ký
sinh ở ruột ngựa Trứng có sức đề kháng mạnh, tôn tại ngoài môi trường, rồi lại vào cơ thể Trứng chi mat kha
Trang 7năng gây nhiễm (ung, thối) ở nhiệt độ dưới 10C hoặc
trên 39°C Khi ngựa mẹ ăn phải trứng giun, trứng thành
âu trùng đi hành trong máu mẹ, truyền sang bào thai; cho
nên ngựa con mới sinh ra chưa biết ăn gì đã có giun Can
phải tây giun cho ngựa con lúc 20 ngày tudi Giun đũa ngựa phát triển vòng đời trực tiếp, không có vật chủ
trung gian
* Bệnh lý:
Giun dua có kích thước lớn, khì chúng ký sinh với số lượng nhiều có thể gây tắc, vỡ, thủng ruột, viêm ruột, tặc ông mật, viêm phúc mạc Độc (6 cua giun vao mau, tac
động vào hệ thân kinh, gây các triệu chứng thần kinh khác
nhau và làm con vật trúng độc mạn tính
Au tring cua giun khi đi hành trong cơ thể ngựa
thường đem theo vi khuân xâm nhập vào nhiều khí quản,
gây bệnh viêm ruột kế phát Ngựa non bị nhiễm giun thường chậm lớn, cdi coc, long xt, hay ia chảy, sức để
kháng giảm sút
* Triệu chứng lâm sảng:
Biêu hiển nặng, nhẹ còn phụ thuộc vào mức độ nhiễm
và tuôi của ngựa Ở ngựa non, triệu chứng thường rõ, thời
kỳ đầu khi âu trùng di hành, ngựa ho chảy nước mũi, thân
nhiệt hơi tăng, đôi khi thấy hiện tượng thân kinh hưng
phần, hong câu và huyết sắc tố giảm Thời kỳ cuỗi (khi
phát triển đến giun trưởng thành), ngựa thường bị viêm ruột, rối loạn tiêu hóa, bụng to, còi cọc, có những ngựa không được tây giưn kịp thời sẽ bị chết đo nhiêu giun quá ĐÂy tặc ruột
Trang 8* Bệnh tích:
Giun hút chất dinh dưỡng của ngựa (vật chủ) để sống động thời tiết ra độc tổ làm tôn thương đến các bộ phận bên trong của ngựa, đặc biệt là bộ phận tiêu hóa
Mô ngựa bệnh thây viêm cata hoặc viêm cata xuat
huyết ở hệ tiêu hóa, thủy thũng do ứ máu dưới tằng niêm
mạc và tương mạc ruột giả Ngoài ra còn thầy các loại lâm
ba cầu, bạch cầu ái toan, bạch câu trung tính hình gay va các thành phan khác phủ kín trên niêm mạc Thấy rõ tăng
sinh tầng ngoài động mạch va các cơ quan nội tạng, vách
thành ruột hầu như bị tôn thương, chai sân, có những đoạn ruột chứa đây giun đũa
* Chan đoán:
Ở phòng thí nghiệm dùng phương pháp phù nỗi (Fulleborn) để xét nghiệm tìm trứng giun trong phân ngựa qua kính hiên ví Còn nơi không có điều kiện, chỉ tiền đoán bằng mãi thường, thay ngựa hay có triệu chứng đau bụng, đi ngoài, lông xù, gầy còm, phân màu trắng (rõ nhất
Ở g1a súc non)
* Điều trị:
Hiện nay vẫn thường dùng một trong những thuốc sau:
- Piperazin 200 - 400mg/kg thé trong, uỗng một lân
- Mebendazol 6 - 8mg/kg thé trong, udng một lần
- Tetramysol 15mg/kg thê trọng, cho uỗng một lân
- lvermectin 0,1 - 0,3mz/kg thể trọng, tiêm bắp hoặc đưới da
Trang 9* Phòng bệnh:
- Chú ý chăm sóc, nuôi dưỡng ngựa non đầy đủ, hợp
vệ sinh, không đề ngựa non (nhât là thời kỳ bù sữa) bị nhiêm trứng giun
- Phải tây trừ sạch giun với ngựa trưởng thành de thanh toán nguồn gieo mâm bệnh Hàng năm định kỳ tây giun cho ngựa Ít nhất là 2 lần, cách nhau 6 tháng, khi tây
phải nhôt ngựa 6 ngày, tập trung phân ủ dé diệt trứng giun
- Với ngựa con, sau sinh 20 ngày tây lần đâu và cử sau
3 tháng, 6 tháng lại tây lại
- Với ngựa cái có chừa: tây trước khi đẻ 2 tháng và hai tháng sau khi chửa
- Định kỳ làm vệ sinh tổng tây ué chuông trại, tập trung phân rác để ủù, sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nudi, git vé sinh thức ăn nước uông
2 Bệnh giun kim ở ngựa
* Phân bố:
Bệnh do giun Óxywris, họ Oxyuridal, ký sinh ở ruột già của ngựa, lừa, la Chủ yêu có ở gia súc dưới Ì tuôi, tuôi càng lớn, mức độ nhiềm càng giảm
Ở Việt Nam bệnh này thấy ở các vùng chăn nuôi ngựa, bệnh cũng phân bô khắp nơi trên thê giới Những nơi nuôi dưỡng thiêu vệ sinh, chuông trại âm thầp, bệnh thường xảy ra
* Đặc điểm sinh học:
Đầu giun có 6 chổi xung quanh lỗ miệng, cuỗi thực
quản phinh rộng hình củ hành
Trang 10Giun duc dài 6 - 15mm, có một gal giao câu nhọn,
nhỏ, đài 0,16 - 022mm, không có bánh lái
Giun cai dai 1§mm, thân hơi cong, đoạn trước hơi nhỏ, đuôi nhỏ dân, lỗ sinh dục cái ở phân trước thân
ép và nhiều trửng được thải ra, dính lại thành cục nhỏ,
bám quanh hậu môn, nhờ có nhiệt độ thích hợp ở đó, sau 2
- 3 ngày gây nhiễm
Nếu những trứng này theo thức ăn nước udng qua miệng vào cơ thể g1a súc, tới đường tiên hóa, âu trùng nở
ra qua 6 tuần phát triển thành giun trường thành Do giun cải kích thích hậu môn gây ngứa nên ngựa hay cọ sát vào tường, trứng có điêu kiện khuếch tán ra môi trường ngoài
* Bệnh lý và lâm sảng:
Khi có nhiễm giun Ở ruột già, niêm mạc ruột bị ton thương, ruột bị viêm cata, grun tiết độc tô làm ngựa bị trúng độc Nhìn băng mất ta thấy gốc đuôi ngựa bị rụng
lông, xơ cứng, thậm chí bị loét đa, ăn uống that thường,
ngủ nghỉ không yên do bị ngứa, rồi loạn tiêu hóa, con vật gầy dân
Trang 11* Điều trị:
Dùng một trong hai loại thuốc sau:
- Piperazin 200 - 400mg/kg thé trong, cho uống
- Mebendazol 6 - 8mg/kg thê trọng, cho uỗng
* Bệnh lý và lâm sàng:
Khi ký sinh dưới kết mạc mắt, giun kích thích gây
viêm giác mạc và ông dân lệ Ngoài ra, gtun còn tiết độc
Trang 12tổ làm tổn thương mặt, có nhiều rử, có khi có mủ, mí mắt dính lại với nhau, niềm mạc mặt ứ máu, sưng lên, giác mạc bị đục hoặc đỏ, ngựa hay lắc dau
Cột ngựa chu đáo, quan sát mắt, ấn ngón tay vào góc trong mat, nang mi mat lên, thầy có nhiêu giun màu hơi vàng đi động, có khi nhìn thây giun bơi tự do trên bê mặt giac mac
Trang 134 Bệnh giun xoăn ngựa
* Phân bố:
Bệnh do 3 loài giun xoăn ký sinh ở ruột già là Strongylus equimes, Alzortia edentalus, Delafondia vulgaris gầy ra Ngựa non nhiễm giun, phái bệnh nặng hơn ngựa trưởng thành; mùa xuân, hè nhiễm nặng nhất
Bệnh cũng phân bố khắp nơi trên thê giới và phô biến
ở đàn ngựa Việt Nam
cải từ 5 - 10mm
* Vòng đời:
Trứng giun được bài xuất ra ngoài cùng phân, sau 2 tuần phát triên thành ấu trùng cảm nhiễm Khi ngựa ăn
phải âu trùng cảm nhiễm sẽ nhiễm giun
Au tring di hanh gay viém hé thong mao mach, 90%
ngua bi ton thuong hé théng mao mach do sự xâm nhập của âu trùng, vách mao mạch bị viêm dày Ngựa bị sốt, uề
oai, cham chap
Giun trưởng thành ký sinh ở ruột gây nên các nốt u, rôi bị viêm loét chảy máu ruội
* Chân đoản:
Xét nghiệm tìm trứng giun trong phân qua các phương pháp phù nổi, lăng cặn Quan sát ngựa thấy gầy còm,
Trang 14không nhanh nhẹn, hay ia chảy, có khi nhiều giun theo cả phân ra ngoài hoặc còn bám quanh hậu môn ngựa
* Điêu trị:
Tuân thủ đúng nội quy thú y là tây giun đúng định kỳ:
thường xuyen vệ sinh thức ăn, nước uống và môi trường, tiêu điệt nguồn bệnh lây nhiễm, chăn luân phiên đồng cỏ
Có thể điều trị băng một trong các thuốc sau: |
- Phenothiazin, cho uống 20 - 30g/con
- Thiabendazol, cho uống 50mg/kg thể trọng
- Pyrantel, cho uéng 19mg/kg thé trong
- Ivermectin 0,1 - 0,3mg/kg thé trong, tiêm dưới da
Chú ý: Chọn thuốc và thay đôi thuốc để tránh sự kháng thuốc
5 Bệnh sán dây ở ngựa
* Phan bo:
Bệnh phân bố rộng trên khắp các châu lục Riêng ở Việt Nam có ở hâu hêt các vùng chăn nuôi ngựa
Bénh do san day la Anoplocephala perfoliata ky sinh
ở rudt non, manh trang va két trang Ngua truong thanh
nhiém nhiéu hon ngua non
Trang 15* Vòng đời:
Phát triển gián tiếp, vật chủ trung gian là nhện đất Trứng sán cùng đốt sản theo phân ra ngoài, nhện đất ăn
phải sau 145 - 150 ngảy phát triển thành ấu trùng Ngựa ăn
cỏ có nhện đất có âu trùng sẽ nhiễm bệnh sán dây
* Bệnh lý va lâm sàng:
Ngựa nào nhiễm sán nặng sẽ chậm lớn, ăn ít, bụng to,
dau veo vé sau, tho mạnh, đau bụng, xác chết gây, niêm
mạc ruột non viêm cata, trong ruột có địch nhờn và sản Gan xung huyết, thận tụ máu, màng tím có điểm xuất huyết, hạch lâm ba sưng to, có khi viêm phúc mạc
* Chan đoán:
Bang phuong pháp lăng cặn để tìm trứng sán hoặc bằng quan sát mặt thường qua thê trạng
* Điêu trị: Chữa băng đương xi đực
- Ngua 5 - 7 thang dung 5 - 7g/con
- Ngựa § - I2 tháng dùng 8 - 10g/con
- Ngựa ] - 2 nam dung 10 - 12g/con
Cho ngựa nhịn ăn 15 - I8 giờ mới cho dùng thuốc
Cho vào tận gốc lưỡi ngựa bắt nuốt Sau khi uống 2 giờ dùng thuốc tây
Có thể dùng 1 trong số thuốc tây sau:
- Exhelm II, liễu 20mg/kg thê trọng
- Niclosamid, liều 100mg/kg thể trọng
- Praziquantel, liều lmg/kg thê trọng
Trang 166 Bệnh tụ huyết trùng ở ngựa
Đây là bệnh truyền nhiễm có ở hầu hết các loài gia
súc, do vi khuẩn P.multocida gay nén với các Serotyp
khác nhau (A, B, C, D, E)
Ngựa bị bệnh đo lây nhiễm mâm bệnh từ trâu, bò bệnh
trong các ỗ dịch tụ huyệt trùng, bệnh thường xảy ra tử mùa
hè dén mua thu trong điều kiện nóng âm, mưa nhiều, khiến
cho mâm bệnh phát tán trong điều kiện tự nhiên Xuất hiện
ở các nước nhiệt đới châu Phi, châu A, Tning can dong
Pho biến ở vung Đông Nam Á 6 Viét Nam cũng có ở một
số tỉnh miễn núi và trung du, khi xảy ra các ô địch ở gia
súc nhai lại
* Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng:
Vi khuân P.muliocida xâm nhập vào cơ thê ngựa chủ yêu qua đường tiêu hóa Súc vật bị bệnh thải vị khuân ra môi trường tự nhiên, qua chất bài tiết như: Nước mũi, nước
mắt, phân, nước tiểu Ngựa khỏe ăn phải sẽ nhiễm bệnh
Sau khi vào cơ thể qua niêm mạc đường tiêu hóa, ví khuân đến các hạch lâm ba, phát triên nhanh về số lượng, rồi vào máu đến các khí quản, gây ra các biến đổi bệnh ly
rõ rệt Dặc biệt là gây nhiêm trùng máu, viêm phổi cấp và thứ cấp ở ngựa cũng giống như ở trâu, bò
Thời gian ủ bệnh từ 24 - 72 giờ, đôi khi rất ngắn, chỉ 12
giờ sau khi xâm nhập vào cơ thể, con vật đã xuât hiện các triệu chứng lầm sàng thường ở thê cấp tỉnh và thứ cấp tính Sốt cao, 40 - 4I°C, đi loạng choạng, thở dốc, lan ra
giay giua, sul bot mép nhu hien tượng ngộ độc và chêt sau
6 - 24 gio, néu nhu ta khéng can thiép KỊP thời
Trong các trường hợp bị thể thứ cấp tính: Ngựa sốt cao, run ray, di lai kho khăn, hạch hầu và hạch trước vai,
Trang 17hạch trước đùi sưng to, thanh quản cũng sưng khiến con
vật thẻ lưỡi ra khỏi miệng, thở rât khó khăn Nếu không
điều trị KỊp, ngựa sẽ chết sau khoảng 72 giờ do nhiễm trùng huyết và ngạt thở
Các trường hợp mãn tính hâu như không gặp ở ngựa
* Chân đoán:
Phương pháp chân đoán vi sinh vật và huyết thanh học
từ bệnh phầm được thực hiện ở những nơi có đủ điều kiện làm xét nghiệm, ngược lại chỉ chan doan lam sang qua cac triệu chửng đặc trưng: sốt cao, Viêm phôi cấp và chết đột ngột kèm theo hiện tượng xuất huyết, tụ huyết các nội tạng, nhất là khí quản hô hấp và màng tím tích nước vàng
* Điều trị:
Dùng các loại kháng sinh đặc hiệu điệt ví khuân Pasteurella Kết hợp thuốc trợ lực, phối hợp 2 loại Streptomycin va Ampicilin với liều 30mg/kg thể trọng, dùng liền tục trong ] tuân
Để tăng hiệu lực điều trị cần phối hợp VỚI Sulfathiazon 20 - 22mg/kg thể trọng Những ngựa quá yếu
có thể truyền dung dịch huyết thanh mặn, ngọt từ 1000 -
2000m1/1 con, đưa vào qua tĩnh mạch cô
T Bệnh tiền mao trùng ở ngựa
Tiên mao trùng là bệnh ký sinh trùng đường máu do Trypanosoma evansi thuộc họ Trypanosomatdae, bộ
Trang 18Mastigophora ký sinh ở huyết tương (ngoài hồng cầu) của trầu, bò, ngựa
Bệnh thường phân bố ở nhiêu nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, châu Phi, châu Mỹ
* Đặc điểm sinh học:
Tiên mao trùng có dạng hình thoi, có một nhân lớn ở giữa thân và nhân phụ, thường nối với một tién mao (roi) vòng về phía sau thân và nỗi với thân bằng mảng rung động Bên trong cơ thé 14 nguyén sinh chất, sinh sản vô tính bang phuong phap nhân đôi theo chiều dọc nhiều lân Vật truyền bệnh môi giới là ruỗi hút máu và mong Chung
ký sinh trong vật môi giới sau 24 - 44 giờ vẫn có thể gây được bệnh Nhưng chúng thường ký sinh lâu trong trâu, bò
(2 - 3 năm) và trong ngựa, lừa (có thể tới 5 năm)
41°C, cơn sốt gián đoạn nhiều đợt không theo quy luật,
trong máu có nhiêu ký sinh trùng tiết độc tố vào hệ thần
kinh, làm rỗi loạn chức năng điều hòa thân nhiệt, gây sốt,
run rây, bại liệt, cứng chân
Tiên mao trùng còn ngăn trở chức năng tạo hồng huyết câu của lách, tủy xương, làm giảm sút nhiều lượng hồng cầu, máu nhạt, loãng, chất đỏ của máu (huyết sắc tổ) biến thành chất vàng của mật (đảm sac 16), ngam vao co
thể làm niêm mạc vàng
Trang 19Tiên mao trùng sinh sản nhanh còn làm tắc các mach máu nhỏ, làm thương tổn vách mạch máu, huyết dịch xuất [a ngoài nhiêu sinh thủy thũng, dân dân chảy xuống các
vùng thấp Huyết địch đông lại, một phần các tổ chức biến
thành mỡ nên thủy thũng chứa chất đặc như keo vàng Độc tố của tiên mao trùng còn làm ảnh hưởng đến gan, làm giảm khả năng dự trữ chất đường của gan Đông thời, ký sinh trùng cũng tiêu hao lượng đường nên máu
của vật chù thiêu đường, thiểu hông cầu, chết vì trúng
doc axit
Ngựa có thời gian ủ bệnh là 4 - 7 ngày, phát bệnh thường ở thê cấp tính I - 1,5 tháng va man tinh la4-6 tháng Triệu chứng điền hình là sốt cao, nƯỚC tiểu vàng, Ít, tim đập nhanh, hô hap tang, run ray, siéu veo, hay nam liệt, phù thũng ở phân bụng, bẹn và các lỗ tự nhiên
Chân đoán:
Xét nghiệm máu bằng các phương pháp: xem tươi, nhuộm Giemsa, ngung két, ELISA
Căn ctr vao triéu chimg dién hình như sốt lên xuống,
gây sút nhanh, thủy thũng, bại liệt, cứng chân, niêm mạc
74