1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn tập môn kinh tế chính trị

19 429 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 164 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn kinh tế chính trị Câu 1: phân tích các thuộc tính của hàng hoá. Cách xác định lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng tới nó Hàng hoá là sản phẩm của lao động thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán. Vì vậy, không phải bất kì vật phẩm nào cũng là hàng hoá. Hai thuộc tính của hàng hoá Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định, là nội dung vật chất của của cải, vì vậy nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điiểm là: giá trị sử dụng không phải cho người trực tiếp sản xuất mà là cho người khác, cho xã hội. giá trị sử dụng đến tay người khác người tiêu dùng phải qua trao đổi mua bán. Trong nền kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. Giá trị của hàng hoá muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phỉa đi từ giá trị trao đổi. GIá trị trao đổi là biểu hiện quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Thí dụ: 1m vải = 5kg thóc Hai hàng hoá vải và thóc có gía trị sử dụng khấc nhau lại có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định, vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có vơ sở chung là sự hao phí sức lao động của con người. Sự hao phí đó chính là giá trị của hàng hoá. Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá đó. Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị. GIá trị phản ánh mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Từ đó gía trị là một phạm trù lịch sử nó chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá. Cách xác định lượng giá trị hàng hoá Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, thì lượng hàng hoá chính là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó (bao gồm lao động vật chất và lao động sống). Trong sản xuất hàng hoá, hao phí lao động cá biệt tạo thành giá trị cá biệt của hàng hoá. Trên thị trường, không thể dựa vào gias trị cá biệt để trao dổi mà phải dựa vào giá trị của xã hội của hàng hoá. Giá trị xã hội của hàng hoá được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất một loại hàng hoá nào đó. Đó là thời gian cần thiết để sản xuất một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội nghĩa là với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ tay nghề trung bình và cường độ lao động trung bình. Thông thường là thời gian lao động xã hội cần thiết của một loại hàng hoá nào đó gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá đó trên thị trường. Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, có ảnh hưởng trực tiếp tới lượng giá trị của hàng hoá. Năng suất lao động được đo bằng số lượng thời gian hao phí để chế tạo ra một sản phẩm. Giá trị hàng hoá thay đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Còn năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ kỹ thuật của người lao động, máy móc thiết bị, phương pháp tổ chức quản lý... Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động. Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất, đặc biệt là nó phụ thuộc vào thể chất, tinh thần của người lao động. Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá trị của hàng hoá. Theo mức độ phức tạp của lao động, có thể chia lao động thành lao động phức tạp và lao động giản đơn. Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn. Bởi vì lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên. Trong quá trình trao đổi hàng hoá, mọi lao động phức tạp đều được quy đổi thành lao động đơn giản trung bìn. Cần phân biệt tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động.

Trang 1

Môn kinh tế chính

trị

Câu 1: phân tích

các thuộc tính

của hàng hoá.

Cách xác định

lượng giá trị

hàng hoá và các

nhân tố ảnh

hưởng tới nó

Hàng hoá là sản

phẩm của lao

động thoả mãn

nhu cầu nào đó

của con người và

đi vào tiêu dùng

thông qua trao đổi

mua bán Vì vậy,

không phải bất kì

vật phẩm nào

cũng là hàng hoá

*Hai thuộc tính

của hàng hoá

- Giá trị sử dụng

là công dụng của

vật phẩm thoả

mãn nhu cầu nào

đó của con người

Giá trị sử dụng

của hàng hoá do

thuộc tính tự

nhiên của hàng

hoá quy định, là

nội dung vật chất

của của cải, vì vậy

nó là một phạm

trù vĩnh viễn Giá

trị sử dụng của

hàng hoá có đặc

điiểm là: giá trị sử

dụng không phải

cho người trực

tiếp sản xuất mà

là cho người khác,

cho xã hội giá trị

sử dụng đến tay người khác -người tiêu dùng phải qua trao đổi mua bán Trong nền kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi

- Giá trị của hàng hoá

muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phỉa đi từ giá trị trao đổi GIá trị trao đổi là biểu hiện quan hệ tỷ lệ

về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng

Thí dụ: 1m vải =

Hai hàng hoá vải

và thóc có gía trị

sử dụng khấc nhau lại có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ

lệ nhất định, vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có vơ sở chung là sự hao phí sức lao động của con người Sự hao phí đó chính

là giá trị của hàng hoá

Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá

đó

Do đó, giá trị là

cơ sở của giá trị trao đổi còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của

GIá trị phản ánh mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá Từ

đó gía trị là một phạm trù lịch sử

nó chỉ tồn tại trong nền kinh tế

* Cách xác định lượng giá trị hàng hoá

Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, thì lượng hàng hoá chính là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hoá

đó (bao gồm lao động vật chất và lao động sống)

Trong sản xuất hàng hoá, hao phí lao động cá biệt tạo thành giá trị

cá biệt của hàng hoá Trên thị trường, không thể dựa vào gias trị cá biệt để trao dổi

mà phải dựa vào giá trị của xã hội của hàng hoá

Giá trị xã hội của

hàng hoá được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất một loại hàng hoá nào đó

Đó là thời gian cần thiết để sản xuất một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội nghĩa là với trình

độ kỹ thuật trung bình, trình độ tay nghề trung bình

và cường độ lao động trung bình Thông thường là thời gian lao động

xã hội cần thiết của một loại hàng hoá nào đó gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá đó trên thị trường

* Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá:

- Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động,

có ảnh hưởng trực tiếp tới lượng giá trị của hàng hoá Năng suất lao

Trang 2

động được đo

bằng số lượng

thời gian hao phí

để chế tạo ra một

sản phẩm Giá trị

hàng hoá thay đổi

tỷ lệ nghịch với

năng suất lao

động Còn năng

suất lao động lại

phụ thuộc vào

nhiều yếu tố như:

trình độ kỹ thuật

của người lao

động, máy móc

thiết bị, phương

pháp tổ chức quản

- Cường độ lao

động là khái niệm

nói lên mức độ

hao phí sức lao

động trong một

đơn vị thời gian

Nó cho thấy mức

độ khẩn trương,

nặng nhọc hay

căng thẳng của

lao động Cường

độ lao động phụ

thuộc vào trình độ

tổ chức quản lý,

quy mô và hiệu

suất của tư liệu

sản xuất, đặc biệt

là nó phụ thuộc

vào thể chất, tinh

thần của người lao

động

- Mức độ phức tạp

của lao động cũng

ảnh hưởng nhất

định đến số lượng

giá trị của hàng

hoá Theo mức độ

phức tạp của lao động, có thể chia lao động thành lao động phức tạp và lao động giản đơn Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo

ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Bởi vì lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên

Trong quá trình trao đổi hàng hoá, mọi lao động phức tạp đều được quy đổi thành lao động đơn giản

Cần phân biệt tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động

Câu 2: phân tích quy luật giá trị.

Biểu hịên của quy luật này qua hai giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản?

*Quy luật giá trị Nội dung của quy luật giá trị:

Quy luật giá trị là qui luật kinh tế cơ bản của nền sản

xuất hàng hoá Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có qui luật giá trị hoạt động Qui luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở thời gian lao động

xã hội cần thiết

Sự hoạt động của quy luật giá trị được biểu hiện thông qua giá cả hàng hoá trên thị trường Giá cả hàng hoá biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá

trong sản xuất quy luật này yêu cầu thời gian lao động hao phí cá biệt để sản xuất hàng hoá phải phù hợp với thời gian lao động cần thiết Trong lưu thông (trao đổi) đối với mỗi hàng hoá giá cả

có thể bán cao hơn hoặc thấp hơn giá trị nhưng bao giờ cũng xoay quanh giá trị Đối với tổng hàng hoá qui luật này yêu cầu tổng giá cả sau khi bán phải bằng tổng giá trị hàng hoá trong sản xuất Như vậy, nhìn bề ngoài

sản xuất và trao đổi hàng hoá là công việc riêng của từng người,

họ độc lập và hình như không chịu

sự chi phối nào, nhưng trên thực tế mọi người sản xuất và trao đổi hàng hoá đều chịu

sự chi phối của quy luật giá trị Tác dụng của quy luật giá trị: trong nền sản xuất hàng hoá quy luật giá trị có 3 tác

- Điều tiết sản xuất và lưu thông

+ nếu như một mặt hàng nào đó

có giá cả cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy và lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm

tư liệu sản xuất và sức lao động Mặt

người sản xuất hàng hoá khác cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy

mô sản xuất càng được mở rộng 2

Trang 3

+ nếu như một

mặt hàng nào đó

có giá cả thấp hơn

giá trị sẽ bị lỗ

vốn Tình hình đó

buộc người sản

xuất phải thu hẹp

việc sản xuất mặt

hàng này hoặc

chuyển sang mặt

hàng khác làm

hco tư liệu sản

xuất và sức lao

động ở ngành này

giảm đi, ở ngành

khác lại có thể

Tác động điều tiết

lưu thông hàng

hoá của quy luật

giá trị thể hiện ở

chỗ nó thu hút

hàng hoá từ nơi

có giá cả thấp đến

nơi có giá cả cao,

và do đó góp phần

làm cho hàng hoá

giữa các vùng có

sự cân bằng nhất

định

- Kích thích cải

tiến kỹ thuật, hợp

lý hoá sản xuất,

tăng năng suất lao

động, hạ giá thành

Các hàng hoá

được sản xuất ra

trong điều kiện

khác nhau, do đó

có mức hao phí

lao động cá biệt

khác nhau, nhưng

trên thị trường thì

các hàng hoá đều

phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động nào thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết thì sẽ thu được nhiều lãi

và càng thấp hơn càng lãi Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình sản xuất diễn ra mạnh mễ hơn Nếu người sản xuất nào cũng làm vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội không ngừng

- Phân hoá những người sản xuất

Sự tác động của quy luật giá trị bên cạnh mặt tích cực còn dẫn đến phân hoá những người sản xuất hàng hoá thành kẻ

nghèo Trong sản xuất hàng hoá dưới tác động của quy luật giá trị và các quy luật khác, tất yếu dẫn đến

kết quả là những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình

độ cao, có kiến thức, trang bị kỹ thuật tốt, có vốn,

sẽ phát tài và trở thành giàu có

Ngược lại, những người không có các điều kiện trên hoặc gặp rủi ro, tai nạn sẽ dẫn đến mất vốn, phá sản

Tác dụng này của quy luật giá trị một mặt đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển, mặt khác phân hoá xã hội thành kẻ giàu, người nghèo, tạo

ra những điều kiện cho sự ra đời

và phát triển nên sản xuất hàng hoá lớn hiện đại đó là nền sản xuất hàng

* Biểu hiện của quy lật này qua hai giai đoạn phát triển của CNTB:

- Trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh quy luật giá trị được biẻu hiện thành quy luật giá

cả sản xuất

- Trong giai đoạn CNTB độc quyền qui luật giá trị

được biểu hiện thành qui luật giá

cả độc quyền

Câu 3: Mâu thuẫn của công thức chung của

tư bản Vì sao phân tích hàng hoá sức lao động

là chìa khoá để giải quyết mâu

Mọi tư bản đều xuất hiện với một khối lượng tiền tệ nhất định và vận động theo công thức T – H – T’, trong đó T’= T+t

Số tiền trội lên so với số tiền ứng ra ban đầu được Mac gọi là giá trị thặng

dư, ký hiệu là m Đây là công thức chung của tư bản

* Mâu thuẫn chung của công thức chung của tư bản:

Lý luận giá trị khẳng địng rằng giá trị hàng hoá là

do lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết

Trang 4

tinh trong hàng

hoá, nghĩa là nó

chỉ được tạo ra

trong sản xuất

Nhưng mới thoạt

nhìn vào công

thức chung ta lại

có cảm giác giá trị

thặng dư được tạo

ra trong lưu

thông Có phải

lưu thông tạo ra

giá trị thặng dư?

Sự thật lưu thông

thuần tuý dù trao

đổi ngang giá hay

trao đổi không

ngang giá cũng

không hề làm tăng

thêm giá trị

+ Trường hợp trao

đổi ngang giá,

những người tham

gia trao đổi chỉ có

lợi về mặt giá trị

sử dụng chứ

không có lợi về

mặt giá trị, nên

không tạo ra m

Trong trường hợp

trao đổi không

ngang giá, người

này được lợi trong

mua và bán, thì

người khác sẽ mất

đi khi bán và khi

mua, còn xét trên

phạm vi toàn xã

hội thì đó chỉ là

sự phân phối lại

giá trị mà thôi

Sự phân tích trên

cho thấy trong lưu

thông không làm

cho T lớn lên,

nhưng nếu nằm

ngòai lưu thông ( tức là tiền tệ để trong két|) thì tiền

tệ cũng không làm tăng thêm giá trị

Như vậy, mâu thuẫn của công thức chung của rư bản biểu hiện ở chỗ: tiền tệ vừa lớn lên trong lưu thông vừa không được tạo ra trong lưu thông Đó chính là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản

Để giải quyết mâu thuẫn này phải tìm trên thị trường một hàng hoá có khả năng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó ĐÓ

là hàng hoá sức

* Hàng hoá sức

Sức lao động là toàn bộ thể lực, trí lực của con người, là khả năng lao động của

+ Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá Người có sức lao động được tự do

về thân thể được quyền làm chủ sức lao động của mình để có thể đi

làm thuê (bán sức

Họ không có tư liệu sản xuất và của cải khác trong điều kiện đó họ buộc phải đi làm thuê tức là bán sức lao động của mình

Việc sức lao động trở thành hàng hoá đánh dấu một bước ngoặt cách

phương thức kết hợp người lao động với tư liệu sản xuất, là một bước tiến lịch sử

so với chế độ nô

lệ và phong kiến

Sự bình đẳng về hình thức giữa người sở hữu sức lao động với người sở hữu tư bản che đậy bản chất của chủ nghĩa tư bản - chế

độ được xây dựng trên sự đối kháng lợi ích kinh tế giữa tư bản và lao động

+Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động Hàng hoá sức lao động có hai thuộc tính như mọi hàng hoá thông thường,

đó là giá trị và giá trị sử dụng

Giá trị của hàng

hoá sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định Giá trị sức lao động được quy về giá trị của toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết

để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, để duy trì đời sống của công nhân làm thuê và gia đình họ Giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thông thường ở chỗ nó bao hàm

cả yếu tố tinh thần

và yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được, vào điều kiện lịch sử hình thành giai cấp công nhân và cả điều kiện địa lý,

Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thể hiện

ở quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động để sản xuất ra một hàng hoá, một 4

Trang 5

dịch vụ nào đó.

Trong quá trình

lao động, sức lao

động tạo ra một

lượng giá trị mới

lớn hơn giá trị của

bản thân nó, phần

giá trị dôi ra so

với giá trị sức lao

động gọi là giá trị

thặng dư ĐÓ

chính là đặc điểm

riêng có của giá

trị sử dụng của

hàng hoá sức lao

động ĐẶc điểm

này là chìa khoá

để giải quyết mâu

thuẫn trong công

thức chung của tư

bản

Câu 4: Thế nào

là giá trị thặng

dư? Giá trị thặng

dư tuyệt đối, giá

trị thặng dư

tương đối, giá trị

thặng dư siêu

ngạch? So sánh

sự giống và khác

nhau của giá trị

thặng dư tuyệt

đối và giá trị

thặng dư tương

đối.

1 Giá trị thặng

dư, giá trị thặng

dư tuyệt đối, giá

trị thặng dư tương

đối và giá trị

thặng dư siêu

ngạch

Giá trị thặng dư:

là phần giá trị dôi

ra ngoài giá trị sức lao động, do người công nhân làm thuê tạo ra và

bị nhà tư bản chiếm đoạt

giá trị thặng dư phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa - quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động làm thuê

Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa

Vì vậy, các nhà tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư Khái quát lại có hai phương pháp chủ yếu để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

và sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được

do kéo dài ngày lao động vượt khỏi giới hạn thời gian lao động cần thiết Ngày lao động kéo dài trong khi thời gian lao động cần thiết không thay

đổi, do đó thời gian lao động thặng dư tăng lên

Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

là cơ sở chung của chế độ TBCN Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong giai đoạn đầu của CNTB, khi lao động còn

ở trình độ thủ công và năng suất lao động còn thấp

Với lòng tham vô hạn, nhà tư bản tìm mọi thủ đoạn

để kéo dài ngày lao động, nâng cao trình độ bóc lột lao động làm thuê Nhưng một mặt, do giới hạn

tự nhiên của sức lực con người;

mặt khác do đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân đòi rút ngắn ngày lao động, cho nên ngày lao động không thể kéo dài vô hạn

Tuy nhiên, ngày lao động cũng không thể rút ngắn đến mức chỉ bằng thời gian lao động tất yếu Một hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường

độ lao động, vì tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày, trong khi thời gian lao động tất yếu không thay đổi Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu và tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư với độ dài ngày lao động không thay đổi, dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội Việc tăng năng suất lao động xã hội, trước hết ở các ngành sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng,

sẽ làm cho giá trị lao động giảm xuống, do đó làm giảm thời gian lao động cần thiết Khi độ dài ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư - thời gian lao động để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản

để giành ưu thế

Trang 6

trong cạnh tranh.

Để thu được nhiều

giá trị thặng dư,

các nhà tư bản đã

áp dụng những

tiến bộ kỹ thuật

mới vào sản xuất,

cải tiến tổ chức

sản xuất, hoàn

thiện phương

pháp quản lý kinh

tế, nâng cao năng

suất lao động Kết

quả là, giá trị cá

biệt của hàng hoá

thấp hơn giá trị xã

hội, nhà tư bản

nào thực hiện điều

đó thì khi bán

hàng hoá của

mình sẽ thu được

một số giá trị

thặng dư trội hơn

so với các nhà tư

Phần giá trị thặng

dư thu được trội

hơn giá trị thặng

dư bình thường

của toàn xã hội

được gọi là giá trị

thặng dư siêu

ngạch Giá trị

thặng dư siêu

ngạch là phần giá

trị thặng dư thu

được do áp dụng

công nghệ mới

sớm hơn các xí

nghiệp khác làm

cho giá trị cá biệt

của hàng hoá thấp

hơn giá trị thị

trường của nó

Khi số đông các

xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật và công nghệ một cách phổ biến thì giá trị thặng dư siêu ngạch của doanh nghiệp đó

sẽ không còn nữa

Xét từng đơn vị sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, cục bộ Nhưng xét trên phạm vi toàn

bộ xã hội tư bản, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên Vì vậy, giá trị thặng

dư siêu ngạch là một động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản ra sức cải tiến

kỹ thuật, tăng năng suất lao động

Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên

cơ sở tăng năng suất lao động Cái khác nhau là ở chỗ giá trị thặng

dư tương đối thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội; còn giá trị thặng dư siêu ngạch thì dự trên cơ sở tăng

năng suất lao động cá biệt

2 So sánh sự giống và khác nhau của giá trị thặng dư tuyệt đối

và giá trị thặng dư

Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

và giá trị thặng dư tương đối có cái chung giống nhau

về mục đích là làm cho thời gian lao động thặng dư được kéo dài ra

chúng vẫn có sự

Giá trị thặng dư

- Thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động

- Năng suất lao động không thay đổi

- Giá trị sức lao động không thay đổi

- Thời gian lao động tất yếu không thay đổi

Giá trị thặng dư

- Thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu

- Năng suất lao

- Giá trị sức lao

- Độ dài ngày lao động và cường độ lao động không

Câu 5: Thế nào

là tuần hoàn và chu chuyển của

tư bản?Những biện pháp làm tăng tốc độ chu chuyển của tư bản?

1 Tuần hoàn của

Mọi tư bản sản xuất trong quá trình vận động đều trải qua ba giai đoạn, tồn tại dưới ba hình thức

và thực hiện ba

Giai đoạn 1: tư bản mang hình thức tiền tệ, thực hiện các chức năng mua các yếu

tố sản xuất tư liệu sản xuất và sức lao động, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất

Quá trình lưu thông được biểu hiện như sau: SLĐ

T-H

TLSX Giai đoạn 2: tư 6

Trang 7

bản mang hình

thức sản xuất,

thực hiện các

chức năng sản

xuất ra hàng hoá

và tạo ra giá trị

thặng dư Trong

quá trình sản xuất,

công nhân hao phí

sức lao động, tạo

ra giá trị hàng hoá

mới còn nguyên

liệu được chế

biến, máy móc

hao mòn thì giá trị

của chúng được

bảo tồn và chuyển

dịch vào sản

phẩm mới Quá

trình sản xuất kết

thúc, lao động của

công nhân làm

thuê đã tạo ra

những hàng hoá

mới mà giá trị của

nó lớn hơn giá trị

các yếu tố sản

xuất mà nhà tư

bản đã mua lúc

ban đầu, vì trong

đó có giá trị thặng

dư do công nhân

tạo ra Kết thúc

của giai đoạn thứ

hai là tư bản sản

xuất chuyển hoá

thành tư bản hàng

hoá

Sự vận động của

tư bản ở giai đoạn

này được biểu thị

như sau:

Giai đoạn 3: tư bản mang hình thức hàng hoá với chức năng thực hiện giá trị và giá trị thặng dư Nhà

tư bản trở lại thị trường với tư cách

là người bán hàng Hàng hoá của nhà tư bản được chuyển hoá thành tiền Kết thúc giai đoạn 3,

tư bản hàng hoá chuyển hoá thành

tư bản tiền tệ Đến đây mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ của

nó nhưng với số lượng lớn hơn trước

Công thức vận động của tư bản ở giai đoạn này biểu thị như sau:

H’ –T’

Tổng hợp quá trình vận động của tư bản trong

cả ba giai đoạn:

Trong công thức này, với tư cách là một giá trị, tư bản

đã trải qua một chuỗi biến hoá hình thái có quan

hệ với nhau, quy định lẫn nhau

Trong các giai đoạn đó, có hai giai đoạn thuộc lĩnh vực lưu thông

và một giai đoạ thuộc lĩnh vực sản xuất Vậy tuần hoàn tư bản là sự vận động của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang ba hình thái, thực hiện ba chức năng rồi trở

về hình thái ban đầu với giá trị không chỉ được bảo tồn mà còn tăng lên Sự vận động tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục không ngừng, đồng thời là sự vận động đứt

ngừng

Phù hợp với ba giai đoạn tuần hoàn của tư bản

có ba hình thái của tư bản công nghiệp: tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hoá Ba hình thái của tư bản không phải là ba loại tư bản khác nhau mà là ba

hình thái của một

tư bản công nghiệp biểu hiện trong quá trình vận động của nó

2 Chu chuyển của tư bản Nghiên cứu tuần hoàn của tư bản là nghiên cứu mặt chất của sự vận động tư bản, còn nghiên cứu chu chuyển tư bản là nghiên cứu mặt lượng hay nghiên cứu tốc độ vận động của tư bản Mặc dù có sự khác nhau nhưng

cả hai cùng nghiêng sự vận động của tư bản

Sự tuần hoàn của

tư bản, nếu xét nó

là một quá trình định kỳ đổi mới diễn ra liên tục và lặp đi lặp lại không ngừng, thì gọi là sự chu chuyển của tư bản Chu chuyển

tư bản phản ánh tốc độ vận động nhanh hay chậm của tư bản Thời gian chu chuyển của tư bản laf khoảng thời gian

từ khi tư bản ứng

ra dưới một hình thức nhất định đến khi nó trở về cũng dưới hình

Trang 8

thức đó nhưng có

kèm theo giá trị

thặng dư Thời

gian của tư bản

cũng là thời gian

tư bản thực hiện

được một vòng

tuần hoàn Tuần

hoàn tư bản bao

gồm quá trình sản

xuất và quá trình

lưu thông, vậy để

chu chuyển một

vòng, tư bản phải

trải qua hai giai

đoạn lưu thông và

một giai đoạn sản

xuất Thời gian

chu chuyển của tư

bản cũng bao gồm

thời gian sản xuất

và thời gian lưu

thông

Thời gian sản

xuất = thời kỳ lao

động + thời kỳ

gián đoạn lao

động + thời kỳ dự

trữ sản xuất

Cả thời kỳ gián

đoạn lao động và

thời kỳ dự trữ sản

xuất đều không

tạo ra giá trị sản

phẩm Sự tồn tại

hai thời kỳ này là

không tránh khỏi

Nhưng nói chung

thời gian của

chúng càng dài thì

hiệu quả hoạt

động của tư bản

càng thấp Rút

ngắn thời gian

này có tác dụng

quan trọng để nâng cao hiệu quả

sử dụng tư bản

Thời gian lưu thông là thời kỳ tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông Thời kỳ này bao gồm thời gian mua, thời gian bán, kể cả thời gian vận chuyển

Tốc đọ chu chuyển của tư bản

là số vòng (lần) chu chuyển của tư bản trong một năm, khái niệm này dùng để chỉ

sự vận động nhanh hay chậm của tư bản ứng trước Công thức tính tốc độ chu chuyển của tư bản là:

CH

N =

Ch Trong đó: N là tốc

độ chu chuyển;

CH là thời gian tư bản vận động trong 1 năm; Ch

là thời gian của một vòng chu chuyển tư bản

Như vậy, tốc độ chu chuyển của tư bản tỉ lệ nghịch với thời gian chu

chuyển một lần của tư bản Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của nó

* Những nhân tố

và biện pháp nâng cao tốc độ chu chuyển của tư bản Theo công thức trên tốc độ chu chuyển của tư bản phụ thuộc vào thời gian chu chuyển của tư bản Nói cách khác, phụ thuộc vào những nhân

tố ảnh hưởng đến thời gian sản xuất

và thời gian lưu thông

Thời gian sản xuất dài, ngắn phụ thuộc vào các nhân tố sau:

+ Đặc điểm của từng ngành sản xuất

+ Tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ

+ Trình độ tổ chức phân công

+ Trình độ dịch

vụ các yếu tố gắn với đầu vào của sản xuất + Trình độ tổ chức phân công lao động

+ Trình độ dịch

vụ các yếu tố gắn với đầu vào của

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh

tế thị trường hiện đại cho phép sử dụng những thành tựu kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới, việc tổ chức sản xuất và dịch vụ sản xuất một cách khoa học , đã rút ngắn đáng kể thời kỳ gián đoạn lao động, thời kỳ dự trữ sản xuất, để tăng thời kỳ lao động và do đó làm tăng hiệu quả hoạt động tư bản Thời gian lưu thông dai hay ngắn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như:

+ Tình hình thị trường (cung -cầu, giá cả ) + Khoảng cách từ sản xuất đến thị trường

+Trình độ phát triển của giao thông vận tải

Sự tồn tại thời gian lưu thông là tất yếu và có vai trò quan trọng đối với thời gian sản 8

Trang 9

xuất, song rút

ngắn thời gian lưu

thông sẽ làm cho

tư bản nằm trong

lĩnh vực lưu thông

giảm xuống, tăng

lượng tư bản đầu

tư cho sản xuất,

tạo ra nhiều giá

trị, giá trị thặng

dư hơn, nên làm

tăng hiệu quả hoạt

động tư bản

Tóm lại, do chịu

ảnh hưởng của

nhiều nhân tố, nên

thời gian chu

chuyển của các tư

bản khác nhau

trong cùng một

ngành và ở các

ngành khác nhau

là rất khác nhau

Để nâng cao hiệu

quả sử dụng tư

bản, các nhà tư

bản thường tìm

mọi cách khai

thác mặt thuận lợi

và hạn chế mặt

không thuận lợi

của những nhân tố

trên để nâng cao

tốc độ chu chuyển

tư bản

Câu 6: Phân tích

căn cứ và ý nghĩa

phân chia TB

thành TB cố định

và TB lưu động.

Nêu các biện

pháp khắc phục

hao mòn hữu

hình và hao mòn

vô hình của TB?

Trả lời:

TB sx gồm nhiều

bộ phận và có t/g chu chuyển khác nhau, do đó a/h đến t/g chu chuyển của toàn bộ TB Không phải căn cứ vào đặc tính tự nhiên (lâu bền hay không lâu bền, chuyển động hay không chuyển động), mà căn cứ vào sự khác nhau trong phương thức chu chuyển về mặt gtri nhanh hay chậm của các bộ phận TB để phân chia TB sx thành

TB cố định và TB lưu động

TB cố định là bộ phận TB biểu hiện dưới hình thức gtri của những máy móc thiết bị, nhà xưởng…

tham gia toàn bộ vào quá trình sx nhưng gtri của nó không chuyển hết 1 lần, mà vào sx trong quá trình sx Đặc điểm của loại TB này là chu chuyển chậm về mặt gtri Chính đặc điểm này đã làm cho t/g mà TB cố định chuyển hết gtri của

nó vào sp bao giờ cũng dài hơn t/g một vòng tuần hoàn

TB cố định

đc sd lâu dài trong nhiều chu kỳ sx

và nó bị hao mòn dần trong quá trình sx

động là bộ phận đc

TB hoàn lại hoàn toàn cho nhà TB sau khi hàng hóa sx

ra đc bán hết Trong

đó bộ phận TB biểu hiện dưới hình thái nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phụ liệu…, gtri của nó

đc chuyển toàn bộ vào gtri hàng hóa trong qtrinh sx Còn

bộ phận TB biểu hiện dưới hình thái tiền công đã bị người công nhân tiêu dùng và đc tái tạo trong qtrinh sx hàng hóa Đặc điểm của loại TB này là chu chuyển nhanh

về mặt gtri Nếu TB

cố định muốn chu chuyển hết gtri của

nó phải mất nhiều năm thì trái lại “TB lưu động trong 1 năm gtri của nó có thể chu chuyển nhiều lần hay nhiều vòng.Việc tăng tốc

độ chu chuyển của

TB lưu động có ý nghĩa qtrong Một mặt, tốc độc chu chuyển của TB lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng TB lưu động đc sd trong năm, do đó

tiết kiệm đc TB ứng trước; mặt khác do tăng tốc độ chu chuyển của TB lưu động làm cho tỷ suất gtri thặng dư trong năm tăng lên

mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về gtri sd Hao mòn hữu hình do qtrinh

sd và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của TB cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải đc thay thế

mòn vô hình là sự hao mòn thuần túy

về mặt gtri Hao mòn vô hình xảy ra ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng

bị mất giá vì xuất hiện các máy móc hiện đại hơn, rẻ hơn hoặc có gtri tương đương, nhưng công suất cao hơn

Khi tính toán giảm gtri TB cố định vào gtri của sp phải tính cả 2 hình thức hao mòn này, thông qua việc xác định tỷ lệ khấu hao

TB cố định Để có tái sx giản đơn và tái sx mở rộng TB

cố định, nhà TB sau mỗi lần bán hàng

Trang 10

hóa, họ trích ra

khoản tiền bằng

mức khấu hao TB

cố định chờ khi đến

kỳ hạn sẽ mua TB

cố định mới

biện pháp khắc

phục hao mòn TB

cố định

Dưới tác động của

cuộc cách mạng

KH CN hiện đại TB

cố định càng có

nguy cơ hao mòn

vô hình Bởi vậy

việc thu hồi nhanh

gtri TB cố định có

ý nghĩa rất qtrong

trong cạnh tranh

trên thương trường

Trong đk đó, buộc

các nhà TB phải

tìm mọi cách để

khấu hao nhanh TB

cố định Tỷ lệ khấu

hao TB cố định

thường đc tính rất

cao ngay từ những

năm đầu chế tạo sp,

lợi dụng giá sp cao

của đầu chu kỳ sp,

sau đó giảm dần tỷ

lệ khấu hao cùng

với việc giảm giá

sp ở cuối chu kỳ

của nó Quy mô sản

lượng ban đầu càng

lớn thì càng có lợi

cho viẹc thu hồi gtri

TB cố định Nhưng

yêu cầu đó không

phải lúc nào cũng

đc thực hiện dễ

dàng Bởi vậy, các

nhà TB một mặt phát triển hệ thống

tự động hóa linh hoạt, cùng với những máy móc, trang thiết bị tương ứng để có thể tạo ra nhiều dạng sp hoặc những sp chuyên môn hóa theo các đơn đặt hàng khác nhau; mặt khác phát triển hệ thống DN vừa và nhỏ để dễ dàng đổi mới TB cố định trong đk cuộc

CM KH CN hiện đại và cạnh tranh gay gắt Đồng thời các nhà TB vẫn tiếp tục sd những biện pháp cổ điển như tăng cường độ lao động, tổ chức lao động theo ca kíp, tiết kiệm chi phí bảo quản và chi phí cải thiện đk lao động của ng công nhân Bằng cách đó nhằm thu hồi nhanh giá trị TB cố định

đã sd và góp phần rút ngắn khoảng cách lạc hậu về các thế hệ kỹ thuật và công nghệ

Câu 7: trình bày tính tất yếu và phân tích các thành phần kinh

tế ở nước ta hiện nay theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10? Tại sao kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo?

Trả lời:

tất yếu khách quan và ý nghĩa của sự tồn tại nền

KT nhiều TP:

- Thành phần KT

là khu vực KT, kiểu qhe KT đc đặc trưng bởi hình thức sở hữu nhất định về TLSX

Do đó thành phần

KT tồn tại ở những hình thức

tổ chức KT nhất định trong đó căn

cứ vào QHSX (trc hết là QH sở hữu) nào thống trị để xác định từng thành phần KT cụ thể

- Sự tồn tại KT nhiều thành phần

là đặc trưng trong thời kỳ quá độ lên CNXH và là tất yếu khách quan bởi vì có 1 số thành phần kinh tế

do phương thức

sx cũ để lại,

chúng đang có tác dụng đối với sự phát triển LLSX,

1 số thành phần

KT mới đc hình thành trong qtrinh cải tạo và xd QHSX mới (như

KT nhà nc, KT tập thể, KT TB nhà nc) Các thành phần KT nền tảng của KT XHCN ngày càng phát triển và sẽ lôi cuốn định hướng các thành phần

KT khác hội nhập vào phương thức

sx mới

Nguyên nhân cơ bản của sự tồn tại

KT nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ suy đến cùng là do QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX ở nc ta do trình độ LLSX còn thấp lại phân

bổ không đều giữa các ngành, các vùng nên tất yếu còn tồn tại nhiều loại hình

KT, nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần KT

- Sự tồn tại

KT nhiều thành phần không những

là khách quan mà 10

Ngày đăng: 23/04/2016, 07:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w