Môn kinh tế chính trị Câu 1: phân tích các thuộc tính của hàng hoá. Cách xác định lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng tới nó Hàng hoá là sản phẩm của lao động thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán. Vì vậy, không phải bất kì vật phẩm nào cũng là hàng hoá. Hai thuộc tính của hàng hoá Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định, là nội dung vật chất của của cải, vì vậy nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là: giá trị sử dụng không phải cho người trực tiếp sản xuất mà là cho người khác, cho xã hội. giá trị sử dụng đến tay người khác người tiêu dùng phải qua trao đổi mua bán. Trong nền kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. Giá trị của hàng hoá Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi. GIá trị trao đổi là biểu hiện quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Thí dụ: 1m vải = 5kg thóc Hai hàng hoá vải và thóc có gía trị sử dụng khấc nhau lại có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định, vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có vơ sở chung là sự hao phí sức lao động của con người. Sự hao phí đó chính là giá trị của hàng hoá. Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá đó. Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị. Giá trị phản ánh mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Từ đó gía trị là một phạm trù lịch sử nó chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá. Cách xác định lượng giá trị hàng hoá Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, thì lượng hàng hoá chính là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó (bao gồm lao động vật chất và lao động sống). Trong sản xuất hàng hoá, hao phí lao động cá biệt tạo thành giá trị cá biệt của hàng hoá. Trên thị trường, không thể dựa vào gias trị cá biệt để trao dổi mà phải dựa vào giá trị của xã hội của hàng hoá. Giá trị xã hội của hàng hoá được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất một loại hàng hoá nào đó. Đó là thời gian cần thiết để sản xuất một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội nghĩa là với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ tay nghề trung bình và cường độ lao động trung bình. Thông thường là thời gian lao động xã hội cần thiết của một loại hàng hoá nào đó gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá đó trên thị trường. Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá: Năng suất lao động có ảnh hưởng trực tiếp tới lượng giá trị của hàng hoá. Năng suất lao động được đo bằng số lượng thời gian hao phí để chế tạo ra một sản phẩm. Giá trị hàng hoá thay đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Còn năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ kỹ thuật của người lao động, máy móc thiết bị, phương pháp tổ chức quản lý... Cần phân biệt tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động. Để sản xuất một hàng hóa có các loại lao động khác nhau tạo ra các loại hàng háo có giá trị khác nhau đó là lao động giản đơn và lao động phức tạp.
Trang 1*Hai thuộc tính của hàng hoá
- Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm thoả mãn nhu cầu nào đó của con ngườiGiá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định, là nội dung vật chất của của cải, vì vậy nó là một phạm trù vĩnh viễn Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là: giá trị sử dụng không phải cho người trực tiếp sản xuất mà là cho người khác, cho xã hội giá trị sử dụng đến tay người khác - người tiêu dùng phải qua trao đổi mua bán Trong nền kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi
- Giá trị của hàng hoá
Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi GIá trị trao đổi là biểu hiện quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau.Thí dụ: 1m vải = 5kg thóc
Hai hàng hoá vải và thóc có gía trị sử dụng khấc nhau lại có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định, vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có vơ sở chung là
sự hao phí sức lao động của con người Sự hao phí đó chính là giá trị của hàng hoá
Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá đó
Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị
Giá trị phản ánh mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá Từ đó gía trị là một phạm trù lịch sử nó chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá
* Cách xác định lượng giá trị hàng hoá
Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, thì lượng hàng hoá chính là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó (bao gồm lao động vật chất và lao động sống) Trong sản xuất hàng hoá, hao phí lao động
Trang 2cá biệt tạo thành giá trị cá biệt của hàng hoá Trên thị trường, không thể dựa vào gias trị cábiệt để trao dổi mà phải dựa vào giá trị của xã hội của hàng hoá.
Giá trị xã hội của hàng hoá được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
một loại hàng hoá nào đó Đó là thời gian cần thiết để sản xuất một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội nghĩa là với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ tay nghề trung bình và cường độ lao động trung bình Thông thường là thời gian lao động
xã hội cần thiết của một loại hàng hoá nào đó gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá đó trên thị trường
* Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá:
- Năng suất lao động có ảnh hưởng trực tiếp tới lượng giá trị của hàng hoá Năng suất lao động được đo bằng số lượng thời gian hao phí để chế tạo ra một sản phẩm Giá trị hàng hoá thay đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Còn năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ kỹ thuật của người lao động, máy móc thiết bị,
phương pháp tổ chức quản lý
Cần phân biệt tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động
Để sản xuất một hàng hóa có các loại lao động khác nhau tạo ra các loại hàng háo
có giá trị khác nhau đó là lao động giản đơn và lao động phức tạp
Câu 2: phân tích quy luật giá trị Biểu hịên của quy luật này qua hai giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản?
*Quy luật giá trị
Nội dung của quy luật giá trị:
Quy luật giá trị là qui luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hoá Ở đâu có sản
xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có qui luật giá trị hoạt động Qui luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết.
Sự hoạt động của quy luật giá trị được biểu hiện thông qua giá cả hàng hoá trên thị trường Giá cả hàng hoá biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá
Trong sản xuất quy luật này yêu cầu thời gian lao động hao phí cá biệt để sản xuất hàng hoá phải phù hợp với thời gian lao động xh cần thiết Trong lưu thông (trao đổi) đối với mỗi hàng hoá giá cả có thể bán cao hơn hoặc thấp hơn giá trị nhưng bao giờ cũng xoay
Trang 3quanh giá trị Đối với tổng hàng hoá qui luật này yêu cầu tổng giá cả sau khi bán phải bằngtổng giá trị hàng hoá trong sản xuất Như vậy, nhìn bề ngoài sản xuất và trao đổi hàng hoá
là công việc riêng của từng người, họ độc lập và hình như không chịu sự chi phối nào, nhưng trên thực tế mọi người sản xuất và trao đổi hàng hoá đều chịu sự chi phối của quy luật giá trị
Tác dụng của quy luật giá trị:
Trong nền sản xuất hàng hoá quy luật giá trị có 3 tác dụng sau:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá
+ Người sản xuất hàng hóa sản xuất cái gì, bán cho ai và bằng công nghệ nào là dohọc quyết định Mục đích của họ là thu được nhiều lãi Dựa vào sự biến động của giá cảthị trường người ta biết được hàng hóa nào đang khan hiếm, có giá cao, hàng hóa nào đang
ế thừa, có giá thấp Từ đó họ sẽ mở rộng những mặt hàng đang khan hiếm, có giá cao đểthu được nhiều lãi và ngược lại sẽ thu hẹp sản xuất thậm chí đóng cửa không sản xuấtnhững mặt ế thừa, không tiêu thụ được Kết quả là các yếu tố sản xuất (TLSX, SLĐ)chuyển dịch từ ngành này sang ngành khác làm cho quy mô ngành này mở rộng, ngành kiathu hẹp Đó là sự điều tiết sản xuất của quy luật giá trị
Tác dụng điều tiết lưu thông hàng hoá của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ hàng hóa bao giờ cũng được đưa từ nơi có giá bán thấp đến nơi có gia bán cao, Qui luật giá trị có tácdụng điều tiết sự vận động đó , phân phối các nguồn hàng hóa hợp lý hơn giữa các vùng đất nước, giữa cung và cầu đối với các loại hàng hóa trong xã hội
+ Thúc đẩy LLSX phát triển : Trong nền Kt hàng hóa người sản xuất hàng hóa nào cũng muốn có nhiều lãi Người có nhiều lãi hơn là người sản xuất ra hàng hóa có giá trị cá biệt thấp hơn so với giá trị xã hội của hàng hóa, nếu các điều kiện khác giống nhau Muốn vậy những người sản xuất phải tìm mọi cách cải tiến kỹ thuật sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học, kỹ thuạt vào sản xuất, cải tiến
tổ chức quản lý , sản xuất thực hành tiết kiệm Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn Kết quả là năng suất lao động tăng lên nhanh chóng Ngoài ra để thu hút được nhiều lãi , người sản xuất hàng hóa còn phải thường xuyên cải tiến chất lượng mẫu mã hàng hóa cho phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng ; cải tiến các biện pháp lưu thông bán hàng để tiết kiệm chi phí lưu thông và tiêu thụ sản
Trang 4phẩm nhanh hơn Vì vậy quy luật giá trị có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
- Phân hoá những người sản xuất hàng hoá
Sự tác động của quy luật giá trị bên cạnh mặt tích cực còn dẫn đến phân hoá những người sản xuất hàng hoá thành kẻ giàu, người nghèo Trong sản xuất hàng hoá dưới tác động của quy luật giá trị và các quy luật khác, tất yếu dẫn đến kết quả là những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ cao, có kiến thức, trang bị kỹ thuật tốt, có vốn, sẽ phát tài
và trở thành giàu có Ngược lại, những người không có các điều kiện trên hoặc gặp rủi ro, tai nạn sẽ dẫn đến mất vốn, phá sản Tác dụng này của quy luật giá trị một mặt đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển, mặt khác phân hoá xã hội thành kẻ giàu, người nghèo, tạo ra những điều kiện cho sự ra đời và phát triển nên sản xuất hàng hoá lớn hiện đại đó là nền sản xuất hàng hoá TBCN
* Biểu hiện của quy lật này qua hai giai đoạn phát triển của CNTB:
- Trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh quy luật giá trị được biẻu hiện thành quy luật giá cả sản xuất
- Trong giai đoạn CNTB độc quyền qui luật giá trị được biểu hiện thành qui luật giá cả độcquyền
Câu 3: Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Phân tíchv vì sao hàng hoá sức lao động là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn đó?
Mọi tư bản đều xuất hiện với một khối lượng tiền tệ nhất định và vận động theo công thức T – H – T’, trong đó T’= T+t Số tiền trội lên so với số tiền ứng ra ban đầu đượcMac gọi là giá trị thặng dư, ký hiệu là m Đây là công thức chung của tư bản
* Mâu thuẫn chung của công thức chung của tư bản:
Lý luận giá trị khẳng địng rằng giá trị hàng hoá là do lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, nghĩa là nó chỉ được tạo ra trong sản xuất Nhưng mới thoạt nhìn vào công thức chung ta lại có cảm giác giá trị thặng dư được tạo ra trong lưu thông Có phải lưu thông tạo ra giá trị thặng dư không ? Sự thật lưu thông thuần tuý dùtrao đổi ngang giá hay trao đổi không ngang giá cũng không hề làm tăng thêm giá trị
+ Trường hợp trao đổi ngang giá, những người tham gia trao đổi chỉ có lợi về mặt giá trị sử dụng chứ không có lợi về mặt giá trị, nên không tạo ra m Trong trường hợp trao
Trang 5đổi không ngang giá, người này được lợi trong mua và bán, thì người khác sẽ mất đi khi bán và khi mua, còn xét trên phạm vi toàn xã hội thì đó chỉ là sự phân phối lại giá trị mà thôi.
Sự phân tích trên cho thấy trong lưu thông không làm cho T lớn lên, nhưng nếu nằmngòai lưu thông ( tức là tiền tệ để trong két|) thì tiền tệ cũng không làm tăng thêm giá trị
Như vậy, mâu thuẫn của công thức chung của tư bản biểu hiện ở chỗ: tiền tệ vừa lớn lên trong lưu thông vừa không được tạo ra trong lưu thông Đó chính là mâu thuẫn
của công thức chung của tư bản
Để giải quyết mâu thuẫn này phải tìm trên thị trường một hàng hoá có khả năng tạo
ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Đó là hàng hoá sức lao động
* Hàng hoá sức lao động
Sức lao động là toàn bộ thể lực, trí lực của con người, là khả năng lao động của con người
+ Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá
Người có sức lao động được tự do về thân thể được quyền làm chủ sức lao động củamình để có thể đi làm thuê (bán sức lao động)
Họ không có tư liệu sản xuất và của cải khác trong điều kiện đó họ buộc phải đi làm thuê tức là bán sức lao động của mình
+Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động
Hàng hoá sức lao động có hai thuộc tính như mọi hàng hoá thông thường
Giá trị của hàng hoá sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định.Sức lao động tồn tại trong cơ thể sống cuả con người ,muốn sản xuất và tái sản xuất ra nó con người cần phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh
hoạt nhất định Vì vậy giá trị hàng hóa sức lao động được tính bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết về mặt vật chất và tinh để duy trì đời sốngbình thường của người công nhânvà gia đình anh ta kể cả những phí tổn học tập để người công nhân có một trình
Trang 6trình độ văn minh, nguồn gốc hoàn cảnh ra đời và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động là công dụng của hàng hóa sức lao động
nó nhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua để sử dụng vào quá trình lao động sản xuất Khác với hàng hóa thông thường khi được sử dụng nó có khả năng tạo ra một lượng gí trị mới lớn hơn giá trị ban đầu của bản thân nó Đó chính là nguồn gốc của giá trị thặng dư Đây là đặc điểm riêng có của hàng hoá sức lao động Đặc điểm này là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản
Câu 4: Thế nào là giá trị thặng dư? Giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối, giá trị thặng dư siêu ngạch? So sánh sự giống và khác nhau của giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối.
1 Giá trị thặng dư, giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư: là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do người công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt
giá trị thặng dư phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa - quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động làm thuê
Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa Vì vậy, các nhà tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư Khái quát lại có hai phương pháp chủ yếu để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt khỏi giới hạn thời gian lao động cần thiết Ngày lao động kéo dài trong khi thời gian lao động cần thiết không thay đổi, do đó thời gian lao động thặng dư tăng lên
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ TBCN Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong giai đoạn đầu của CNTB, khi lao động còn ở trình độ thủ công và năng suất lao động còn thấp
Với lòng tham vô hạn, nhà tư bản tìm mọi thủ đoạn để kéo dài ngày lao động, nâng cao trình độ bóc lột lao động làm thuê Nhưng một mặt, do giới hạn tự nhiên của sức lực con
Trang 7người; mặt khác do đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân đòi rút ngắn ngày lao động,cho nên ngày lao động không thể kéo dài vô hạn Tuy nhiên, ngày lao động cũng không thể rút ngắn đến mức chỉ bằng thời gian lao động tất yếu Một hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường độ lao động, vì tăng cường độ lao động cũng giốngnhư kéo dài thời gian lao động trong ngày, trong khi thời gian lao động tất yếu không thay đổi.
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu và tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư với độ dài ngày lao động không thay đổi, dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội Việc tăng năng suất lao động xã hội, trước hết ở các ngành sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng, sẽ làm cho giá trị lao động giảm xuống, do đó làm giảm thời gian lao động cần thiết Khi độ dài ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư - thời gian lao động để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản để giành ưu thế trong cạnh tranh Để thu được nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản đã áp dụng những tiến bộ
kỹ thuật mới vào sản xuất, cải tiến tổ chức sản xuất, hoàn thiện phương pháp quản lý kinh
tế, nâng cao năng suất lao động Kết quả là, giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội, nhà tư bản nào thực hiện điều đó thì khi bán hàng hoá của mình sẽ thu được một số giá trị thặng dư trội hơn so với các nhà tư bản khác
Phần giá trị thặng dư thu được trội hơn giá trị thặng dư bình thường của toàn xã hội được gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường của nó Khi số đông các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật và công nghệ một cách phổ biến thì giá trị thặng dư siêu ngạch của doanh nghiệp đó
sẽ không còn nữa
Xét từng đơn vị sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, cục bộ Nhưng xét trên phạm vi toàn bộ xã hội tư bản, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên Vì vậy, giá trị thặng dư siêu ngạch là một động lực mạnhnhất thúc đẩy các nhà tư bản ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động
Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng suấtlao động Cái khác nhau là ở chỗ giá trị thặng dư tương đối thì dựa trên cơ sở tăng năng
Trang 8suất lao động xã hội; còn giá trị thặng dư siêu ngạch thì dự trên cơ sở tăng năng suất lao động cá biệt.
2 So sánh sự giống và khác nhau của giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối
Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối có cái chung giống nhau về mục đích là làm cho thời gian lao động thặng dư được kéo dài ra Nhưng giữa chúng vẫn có sự khác nhau:
Giá trị thặng dư tuyệt đối
- Thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu
- Năng suất lao động không thay đổi
- Giá trị sức lao động không thay đổi
- Thời gian lao động tất yếu không thay đổi
Giá trị thặng dư tương đối
- Thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu
- Năng suất lao động tăng
- Giá trị sức lao động giảm
- Độ dài ngày lao động và cường độ lao động không thay đổi
Câu 5: Thế nào là tuần hoàn và chu chuyển của tư bản?Những biện pháp làm tăng tốc độ chu chuyển của tư bản?
1 Tuần hoàn của tư bản
Mọi tư bản sản xuất trong quá trình vận động đều trải qua ba giai đoạn, tồn tại dưới ba hình thức và thực hiện ba chức năng
Giai đoạn 1: tư bản mang hình thức tiền tệ, thực hiện các chức năng mua các yếu tố sản xuất tư liệu sản xuất và sức lao động, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất.Quá trình lưu thông được biểu hiện như sau:
Trang 9TLSX
Giai đoạn 2: tư bản mang hình thức sản xuất, thực hiện các chức năng sản xuất ra hàng hoá
và tạo ra giá trị thặng dư Trong quá trình sản xuất, công nhân hao phí sức lao động, tạo ra giá trị hàng hoá mới còn nguyên liệu được chế biến, máy móc hao mòn thì giá trị của chúng được bảo tồn và chuyển dịch vào sản phẩm mới Quá trình sản xuất kết thúc, lao động của công nhân làm thuê đã tạo ra những hàng hoá mới mà giá trị của nó lớn hơn giá trị các yếu tố sản xuất mà nhà tư bản đã mua lúc ban đầu, vì trong đó có giá trị thặng dư docông nhân tạo ra Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hoá thành tư bản hàng hoá
Sự vận động của tư bản ở giai đoạn này được biểu thị như sau:
SLĐ
TLSXGiai đoạn 3: tư bản mang hình thức hàng hoá với chức năng thực hiện giá trị và giá trị thặng dư Nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán hàng Hàng hoá của nhà tưbản được chuyển hoá thành tiền Kết thúc giai đoạn 3, tư bản hàng hoá chuyển hoá thành
tư bản tiền tệ Đến đây mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước
Công thức vận động của tư bản ở giai đoạn này biểu thị như sau:
sự vận động của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang ba hình thái, thực hiện ba chứcnăng rồi trở về hình thái ban đầu với giá trị không chỉ được bảo tồn mà còn tăng lên Sự vận động tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục không ngừng, đồng thời là sự vận
Trang 10động đứt quãng không ngừng.
Phù hợp với ba giai đoạn tuần hoàn của tư bản có ba hình thái của tư bản công nghiệp: tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hoá Ba hình thái của tư bản không phải là ba loại tư bản khác nhau mà là ba hình thái của một tư bản công nghiệp biểu hiện trong quá trình vận động của nó
2 Chu chuyển của tư bản
Nghiên cứu tuần hoàn của tư bản là nghiên cứu mặt chất của sự vận động tư bản, còn nghiên cứu chu chuyển tư bản là nghiên cứu mặt lượng hay nghiên cứu tốc độ vận động của tư bản Mặc dù có sự khác nhau nhưng cả hai cùng nghiêng sự vận động của tư bản
Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới diễn ra liên tục và lặp đi lặp lại không ngừng, thì gọi là sự chu chuyển của tư bản Chu chuyển tư bản phản ánh tốc độ vận động nhanh hay chậm của tư bản Thời gian chu chuyển của tư bản laf khoảng thời gian từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thức nhất định đến khi nó trở về cũng dưới hình thức đó nhưng có kèm theo giá trị thặng dư Thời gian của tư bản cũng là thời gian tư bản thực hiện được một vòng tuần hoàn Tuần hoàn tư bản bao gồm quá trình sản xuất và quá trình lưu thông, vậy để chu chuyển một vòng, tư bản phải trải qua hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất Thời gian chu chuyển của tư bản cũng bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông
Thời gian sản xuất = thời kỳ lao động + thời kỳ gián đoạn lao động + thời kỳ dự trữ sản xuất
Cả thời kỳ gián đoạn lao động và thời kỳ dự trữ sản xuất đều không tạo ra giá trị sản phẩm Sự tồn tại hai thời kỳ này là không tránh khỏi Nhưng nói chung thời gian của chúng càng dài thì hiệu quả hoạt động của tư bản càng thấp Rút ngắn thời gian này có tác dụng quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản
Thời gian lưu thông là thời kỳ tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông Thời kỳ này bao gồm thời gian mua, thời gian bán, kể cả thời gian vận chuyển
Tốc đọ chu chuyển của tư bản là số vòng (lần) chu chuyển của tư bản trong một năm, khái niệm này dùng để chỉ sự vận động nhanh hay chậm của tư bản ứng trước Công thức tính tốc độ chu chuyển của tư bản là:
CH
Trang 11N =
ChTrong đó: N là tốc độ chu chuyển; CH là thời gian tư bản vận động trong 1 năm; Ch là thời gian của một vòng chu chuyển tư bản
Như vậy, tốc độ chu chuyển của tư bản tỉ lệ nghịch với thời gian chu chuyển một lần của
tư bản Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của nó
* Những nhân tố và biện pháp nâng cao tốc độ chu chuyển của tư bản
Theo công thức trên tốc độ chu chuyển của tư bản phụ thuộc vào thời gian chu chuyển của
tư bản Nói cách khác, phụ thuộc vào những nhân tố ảnh hưởng đến thời gian sản xuất và thời gian lưu thông
Thời gian sản xuất dài, ngắn phụ thuộc vào các nhân tố sau:
+ Đặc điểm của từng ngành sản xuất
+ Tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ
+ Trình độ tổ chức phân công lao động
+ Trình độ dịch vụ các yếu tố gắn với đầu vào của sản xuất
+ Trình độ tổ chức phân công lao động
+ Trình độ dịch vụ các yếu tố gắn với đầu vào của sản xuất
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế thị trường hiện đại cho phép sử dụng những thành tựu kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới, việc tổ chức sản xuất và dịch vụ sản xuất một cách khoa học , đã rút ngắn đáng kể thời kỳ gián đoạn lao động, thời kỳ dự trữ sản xuất, để tăng thời kỳ lao động và do đó làm tăng hiệu quả hoạt động tư bản
Thời gian lưu thông dai hay ngắn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như:
+ Tình hình thị trường (cung - cầu, giá cả )
+ Khoảng cách từ sản xuất đến thị trường
+Trình độ phát triển của giao thông vận tải
Sự tồn tại thời gian lưu thông là tất yếu và có vai trò quan trọng đối với thời gian sản xuất, song rút ngắn thời gian lưu thông sẽ làm cho tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông giảm xuống, tăng lượng tư bản đầu tư cho sản xuất, tạo ra nhiều giá trị, giá trị thặng dư hơn, nên
Trang 12làm tăng hiệu quả hoạt động tư bản.
Tóm lại, do chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, nên thời gian chu chuyển của các tư bản khác nhau trong cùng một ngành và ở các ngành khác nhau là rất khác nhau Để nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản, các nhà tư bản thường tìm mọi cách khai thác mặt thuận lợi và hạn chế mặt không thuận lợi của những nhân tố trên để nâng cao tốc độ chu chuyển tư bản
Câu 6: Phân tích căn cứ và ý nghĩa phân chia TB thành TB cố định và TB lưu động Nêu các biện pháp khắc phục hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình của TB?
Trả lời:
TB sx gồm nhiều bộ phận và có t/g chu chuyển khác nhau, do đó a/h đến t/gchu chuyển của toàn bộ TB Không phải căn cứ vào đặc tính tự nhiên (lâu bền haykhông lâu bền, chuyển động hay không chuyển động), mà căn cứ vào sự khác nhautrong phương thức chu chuyển về mặt gtri nhanh hay chậm của các bộ phận TB đểphân chia TB sx thành TB cố định và TB lưu động
TB cố định là bộ phận TB biểu hiện dưới hình thức gtri của những máymóc thiết bị, nhà xưởng…tham gia toàn bộ vào quá trình sx nhưng gtri của nókhông chuyển hết 1 lần, mà vào sx trong quá trình sx Đặc điểm của loại TB này
là chu chuyển chậm về mặt gtri Chính đặc điểm này đã làm cho t/g mà TB cốđịnh chuyển hết gtri của nó vào sp bao giờ cũng dài hơn t/g một vòng tuần hoàn
TB cố định đc sd lâu dài trong nhiều chu kỳ sx và nó bị hao mòn dần trongquá trình sx
TB lưu động là bộ phận đc TB hoàn lại hoàn toàn cho nhà TB sau khihàng hóa sx ra đc bán hết Trong đó bộ phận TB biểu hiện dưới hình thái nguyênliệu, nhiên liệu, vật liệu, phụ liệu…, gtri của nó đc chuyển toàn bộ vào gtri hànghóa trong qtrinh sx Còn bộ phận TB biểu hiện dưới hình thái tiền công đã bịngười công nhân tiêu dùng và đc tái tạo trong qtrinh sx hàng hóa Đặc điểm củaloại TB này là chu chuyển nhanh về mặt gtri Nếu TB cố định muốn chu chuyểnhết gtri của nó phải mất nhiều năm thì trái lại “TB lưu động trong 1 năm gtri của
nó có thể chu chuyển nhiều lần hay nhiều vòng.Việc tăng tốc độ chu chuyển của
TB lưu động có ý nghĩa qtrong Một mặt, tốc độc chu chuyển của TB lưu động
Trang 13tăng lên sẽ làm tăng lượng TB lưu động đc sd trong năm, do đó tiết kiệm đc TBứng trước; mặt khác do tăng tốc độ chu chuyển của TB lưu động làm cho tỷ suấtgtri thặng dư trong năm tăng lên.
Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về gtri sd Haomòn hữu hình do qtrinh sd và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của
TB cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải đc thay thế
Hao mòn vô hình là sự hao mòn thuần túy về mặt gtri Hao mòn vôhình xảy ra ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá vì xuất hiện các máymóc hiện đại hơn, rẻ hơn hoặc có gtri tương đương, nhưng công suất cao hơn
Khi tính toán giảm gtri TB cố định vào gtri của sp phải tính cả 2 hìnhthức hao mòn này, thông qua việc xác định tỷ lệ khấu hao TB cố định Để có tái sxgiản đơn và tái sx mở rộng TB cố định, nhà TB sau mỗi lần bán hàng hóa, họ trích
ra khoản tiền bằng mức khấu hao TB cố định chờ khi đến kỳ hạn sẽ mua TB cố địnhmới
Các biện pháp khắc phục hao mòn TB cố địnhDưới tác động của cuộc cách mạng KH CN hiện đại TB cố định càng có nguy
cơ hao mòn vô hình Bởi vậy việc thu hồi nhanh gtri TB cố định có ý nghĩa rất qtrongtrong cạnh tranh trên thương trường Trong đk đó, buộc các nhà TB phải tìm mọi cách đểkhấu hao nhanh TB cố định Tỷ lệ khấu hao TB cố định thường đc tính rất cao ngay từnhững năm đầu chế tạo sp, lợi dụng giá sp cao của đầu chu kỳ sp, sau đó giảm dần tỷ lệkhấu hao cùng với việc giảm giá sp ở cuối chu kỳ của nó Quy mô sản lượng ban đầu cànglớn thì càng có lợi cho viẹc thu hồi gtri TB cố định Nhưng yêu cầu đó không phải lúc nàocũng đc thực hiện dễ dàng Bởi vậy, các nhà TB một mặt phát triển hệ thống tự động hóalinh hoạt, cùng với những máy móc, trang thiết bị tương ứng để có thể tạo ra nhiều dạng sphoặc những sp chuyên môn hóa theo các đơn đặt hàng khác nhau; mặt khác phát triển hệthống DN vừa và nhỏ để dễ dàng đổi mới TB cố định trong đk cuộc CM KH CN hiện đại
và cạnh tranh gay gắt Đồng thời các nhà TB vẫn tiếp tục sd những biện pháp cổ điển nhưtăng cường độ lao động, tổ chức lao động theo ca kíp, tiết kiệm chi phí bảo quản và chi phícải thiện đk lao động của ng công nhân Bằng cách đó nhằm thu hồi nhanh giá trị TB cốđịnh đã sd và góp phần rút ngắn khoảng cách lạc hậu về các thế hệ kỹ thuật và công nghệ