Tìm hiểu các món chè huế
Trang 1KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Đề Tài:
Lớp: D09-TP02 Môn học: Văn Hóa Ẩm Thực GVHD: Cô Lưu Mai Hương.
TPHCM, Ngày 08 Tháng 10 Năm 2012
MỤC LỤC:
Trang 3I.Lịch Sử Hình Thành Thừa Thiên Huế.
1.Vị trí địa lí:
Thừa Thiên - Huế là 1 trong 4 tỉnh kinh tế trọng điểm miền Trung, nằm giữa Thủ
đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Huế nằm ở dải đất hẹp của miền trung Việt Nam, xét về vị trí địa lýThừa Thiên Huế là tỉnh cực Nam của miền duyên hải Bắc Trung bộ, nằm gọn trong phạm vi 15059’30”-16044’30”vĩ Bắc, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, phía Tây giáp nước CHDCND Lào, phía Đông được giới hạn bởi Biển Đông Diện tích tự nhiên là 5.054 km2 (số liệu thống kê năm 2003),dân
số năm 2005 có 1.136,2 nghìn người, mật độ trung bình 225 người/km2 Thừa Thiên Huế
có 8 huyện và Thành phố Huế với 150 xã, phường, thị trấn Thành phố Huế nằm trên trục giao thông quan trọng Bắc-Nam và trục hành lang Đông-Tây nối Thái Lan - Lào - Việt Nam theo đường 9 Là Cố đô qua nhiều triều đại nhà Nguyễn, Thừa Thiên Huế là nơi giao thoa về kinh tế - xã hội – văn hóa của ba miền Bắc – Trung - Nam Thừa Thiên Huế
do đó là một trong những trung tâm văn hoá, du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo, y tế lớn của cả nước
2.Địa hình:
Thừa Thiên - Huế nằm trên một dải đất hẹp với chiều dài 127 km, chiều rộng trung bình 60 km với đầy đủ các dạng địa hình rừng núi, gò đồi, đồng bằng duyên hải, đầm, phá và biển tập trung trong một không gian hẹp, thấp dần từ Tây sang Đông, phía Tây là dãy núi cao, phía giữa là đồi núi thấp và phía Đông là dải đồng bằng nhỏ hẹp Phần phía Tây chủ yếu là đồi núi, chiếm tới 70% Núi chiếm khoảng 1/4 diện tích tự nhiên, nằm ở biên giới Việt – Lào và vùng tiếp giáp với Đà Nẵng Phần lớn các đỉnh núi có độ cao từ
800 đến hơn 1.000 m, trong đó có núi Bạch Mã và Hải Vân là những địa danh du lịch nổi tiếng Địa hình phần đồi phân bố chủ yếu ở vùng trung du, trong các thung lũng, chiếm khoảng ¼ diện tích tự nhiên, độ cao phần lớn dưới 500 m, có đặc điểm chủ yếu là đỉnh rộng, sườn thoải
3.Khí hậu:
Thừa Thiên - Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thuộc vùng nội chí tuyến nên thừa hưởng chế độ bức xạ phong phú, nền nhiệt độ cao, đặc trưng cho chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mang tính chất chuyển tiếp từ á xích đới lên nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta Thời tiết chia thành hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11 với lượng mưa trung bình từ 2.500 – 2.700 mm Mùa khô kéo dài từ tháng 3 đến tháng 7, mưa ít, lượng nước bốc hơi lớn, thường có mưa giông Nhiệt độ trung bình hàng năm tại Huế là 240C
Trang 4Số giờ nắng trung bình 2.000 giờ/năm Độ ẩm trung bình 84% Số lượng bão khá nhiều, thường bắt đầu vào tháng 6, nhiều nhất là vào tháng 9, 10
Nhiệt độ không khí giảm dần từ đông sang tây, gia tăng lượng mưa từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam Lượng mưa gia tăng ở miền núi trung bình phía Tây và Tây Nam có liên quan chặt chẽ đến hướng các dãy núi chính
4.Tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên đất: Đất ở Thừa Thiên - Huế có khoảng 10 loại chính Các loại đất có
diện tích tương đối lớn là đất phù sa, đất đỏ vàng, đất mùn vàng trên núi, đất cát, mặn… phân bố trên các vùng khác nhau Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người hiện nay là 564m2
Tài nguyên rừng: Thời điểm năm 2002, toàn tỉnh có 234.954 ha đất lâm nghiệp
có rừng, trong đó: 177.550 ha rừng tự nhiên và 57.395 ha rừng trồng
Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản của Thừa Thiên - Huế rất phong
phú và đa dạng, với hơn 100 điểm khoáng sản, trong đó có các loại chủ yếu như: đá vôi,
đá granít, cao lanh, titan, than bùn, sét, nước khoáng… Tổng trữ lượng đá vôi khoảng trên 1.000 triệu tấn, cao lanh với tổng trữ lượng khoảng trên 40 triệu tấn Các mỏ cát với hàm lượng SiO2 trên 98,4% và trữ lượng khoảng trên 15 triệu tấn được phân bổ nhiều nơi trong tỉnh Titan có tổng trữ lượng khoảng trên 2 triệu tấn phân bổ dọc theo dải cát ven biển thuộc các huyện Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc Các mỏ nước khoáng ở vùng Phong Điền, Phú Vang… đang được dùng để sản xuất nước giải khát và phục vụ chữa bệnh
5.Kinh tế:
Nằm ở vị trí trung độ trục giao lưu Bắc – Nam và trên hành làng kinh tế xuyên Á (Đông – Tây), Thừa Thiên Huế có điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu, liên kết kinh
tế với nhiều tỉnh, thành phố trong nước và thế giới với hệ thống giao thông khá phát triển
cả đường bộ, đường biển, đường sắt và đường hàng không
Huế rất cáo tiềm năng du lịch, Tiềm năng du lịch của Thừa Thiên - Huế khá phong phú, đa dạng, bao gồm các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, có điều kiện để phát triển nhiều loại du lịch phong phú như: du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, du lịch biển, núi, du lịch nghỉ dưỡng, thể thao… Cảnh quan thiên nhiên sông núi, rừng, biển rất kỳ thú
và hết sức hấp dẫn với địa danh nổi tiếng như: sông Hương, núi Ngự, đèo Hải Vân, núi Bạch Mã, cửa An Thuận, bãi biển Lăng Cô, Cảnh Dương, đầm phá Tam Giang…Cố đô Huế là một trong những trung tâm văn hoá lớn của Việt Nam, hiện đang lưu giữ một kho tàng vật chất đồ sộ, có quần thể di tích cố đô đã được UNESCO xếp hạng di sản văn hoá thế giới với những công trình kiến trúc cung đình và danh lam thắng cảnh nổi tiếng
Trang 5Công nghiệp giữ vai trò động lực thúc đẩy các ngành kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển Công nghiệp Thừa Thiên - Huế có nhiều khả năng phát triển các ngành có lợi thế về nguyên liệu, nhân lực và thị trường theo hướng hiện đại, tinh xảo
Trong ngành nông - lâm - thuỷ sản, thuỷ sản là ngành kinh tế mũi nhọn Phong trào nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản phát triển mạnh Đánh bắt thuỷ sản chuyển dịch theo hướng phát triển nghề khơi, tập trung vào các sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao
II.Văn Hóa Huế:
Văn hóa Huế, một nền văn hóa của sự hài hòa và gắn bó giữa môi trường sống và chủ nhân của nó Con người đã biết dựa vào và biến đổi cái tự nhiên của Huế để sáng tạo nên lịch sử - văn hóa Huế Cái hài hòa, êm đềm của phong cảnh Huế đã ăn nhập vào con người Huế nhuần nhị và sâu lắng
Văn hóa Huế, một nền văn hóa được làm giàu bởi các dòng văn hóa đô thị - văn hóa làng (chùa) và văn hóa cung đình (bác học) - văn hóa dân gian không có sự đối lập, loại trừ Sự dung hợp giữa các dòng văn hóa trên đã làm giàu cho văn hóa Huế Theo thời gian, chúng bổ sung và nâng cao cho nhau, làm nên cái bản sắc, "cái hồn" của văn hóa Huế
Văn hóa Huế, một nền văn hóa của cái đẹp trong nghệ thuật kiến trúc và phong cách sống Nói đến Huế không thể không nói đến di sản kiến trúc ở Huế và phong cách nghệ thuật sống của người Huế Không phải ngẫu nhiên mà người ta vẫn quen gọi thành những cụm từ mang sắc thái tiêu biểu riêng cho Huế, như: người Huế, kiến trúc Huế, nhà vườn Huế, món ăn Huế, màu tím Huế, nón lá Huế, giọng Huế - tiếng Huế, ca Huế Tất nhiên không phải cái gì thuộc về Huế đều là bậc nhất cả Song trong nghệ thuật kiến trúc
và phong cách sống, cái đẹp vẫn là nét trội, nét tiêu biểu
Nét riêng của văn hóa Huế còn được thể hiện qua ăn nói, ăn mặc, ăn uống, ăn học
và cả ăn chơi của người Huế Trong ăn nói, người Huế luôn tôn trọng thứ bậc thể hiện qua cách xưng hô ở làng, họ và gia đình, không phân biệt tuổi tác, giàu sang, nghèo hèn (có cả một hệ thống xưng hô khác với nhiều vùng) Đối với xóm giềng, lạ cũng như quen đều căn cứ vào tuổi tác mà ăn nói Trên địa bàn Thừa Thiên Huế hiện nay đều có chung một thứ tiếng là tiếng Huế, chung là thứ giọng là giọng Huế, không phân biệt dân làng hay thành phố Người ta vẫn biết đến giọng Huế nhẹ nhàng, có phần e ấp của những cô gái Huế
Mặt khác, Thừa Thiên Huế là vùng đất có truyền thống hiếu học, là nơi quy tụ và đào tạo nhân tài Ngày nay, Huế đã trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học lớn của miền Trung và cả nước
Trang 6III.Văn Hóa Ẩm Thực Huế.
Huế thuộc miền trung nước ta nên mang một nét văn hóa chung
Văn hoá Huế là hội tụ và chịu nhiều ảnh hưởng của những luồng văn hoá đến từ những cộng đồng dân cư khác nhau, sự di dân của các dân tộc khác vào Huế như việt mường, champa,… Bên cạnh đó là những chuyển biến, biến động trong suốt quá trình lịch sử đã làm cho nền văn hóa cũng như trong văn hóa ẩm thực bị ảnh hưởng rất nhiều
Miền trung có sự tồn tại của vua chúa các triều đại nhà Nguyễn, nhà Lý nên bị ảnh hưởng bởi văn hóa cung đình Mà đáng nói ở đây là Huế
Những đặc thù của lịch sử Huế, đặc biệt kể từ khi Huế là kinh đô, là nơi sống của tầng lớp đế vương, nơi hội tụ của những tao nhân mặc khách, công hầu khanh tướng nên ăn, thức uống theo lệ "phú quý sinh lễ nghĩa" đã ảnh hưởng lớn đến ẩm thực Huế
Tuy đã trãi qua một thời gian khá dài nhưng những ảnh hưởng đó vẫn còn mãi đến bây giờ và có thể sẽ là nét văn hóa riêng cho xứ Huế cho đến mai sau Lối ăn uống mang nét cung đình trong cách bày trí, chế biến, cách thưởng thức, phối hợp ,…
Do nhiều yếu tố tác động đến mà miền Trung nói chung và Huế nói riêng có một
số nét đặc trưng sau đây:
1.Tính đặc trưng về vị( có vị riêng biệt)
Trải qua nhiều thế kỷ tích lũy những yếu tố nhân văn của cả nước, bếp ăn Huế chứa đựng đầy đủ khẩu vị của mọi miền, từ mặn, ngọt, béo, bùi đến chua, chát, đắng, cay Người Huế thích tất cả các vị, nhưng vị nào rõ vị ấy Muốn mặn có vài chục vị ruốc, ngọt thì một chuỗi các loại chè (chè xanh đánh, chè đậu ván…), béo thì có bún bò, đắng thì có cháo nấm tràm, cay dùng cơm hến Sự đậm đà tạo nên hương vị đặc trưng trong món ăn Huế
- Đặc trưng của các món ăn miền trung là cay, Huế cũng không ngoại lệ người miền trung
có thói quen ăn cay là một phần do thời tiết lạnh ăn cay giúp làm ấm cơ thể Người miền trung chịu thương, chịu khó Miền trung là vùng đất cằn cỗi, quanh năm gió Lào, vùng đất không được thiên nhiên ưu đãi, cuộc sống con người nghèo khó Người miền trung thường ăn với những thức ăn kiếm được từ thiên nhiên, đặc biệt khu vực miền trung có vùng bờ biển dài, nhiều ao, hồ, sông ngòi Do đó người miền trung ăn rất nhiều đồ biển nhất là cá Để hạn chế được vị tanh người ta đã bỏ ớt vào chế biến cùng những món ăn này, món nào cũng phải thêm ít ớt mới dễ ăn Vì vậy dần dần hình thành nên thói quen ăn nhiều ớt và đến bây giờ thì hầu hết các món ăn của người miền trung đều bỏ ớt cay vào.Người miền Trung khó thay đổi nhanh nếp sống, cách sống, họ thích cuộc sống chậm rãi mà chắc chắn
- Không những cay mà các món miền Trung có phần mặn hơn các món ăn miền Nam Họ như muốn nói lên hương vị cuộc sống thực của họ cay, mặn đắng,…họ thích ăn mặn mặn như nước biển quê hương, để yêu thêm miền đất biển đã cho họ nhiều thứ và cũng làm họ khốn đốn không ít Mặt khác, ăn mặn còn là để duy trì một hàm lượng muối cần thiết cho
cơ thể để ra khơi đánh bắt cá trong nhiều ngày và để sống trong những ngày trời nắng nóng
Trang 72.Phong phú về loại nguyên liệu trong một món ăn và món ăn trong bữa ăn
Sản vật phong phú, đa dạng nhiều chủng loại nhưng thiên nhiên vốn không ưu đãi cho họ, đất đai không màu mỡ, địa hình phức tạp, khí hậu khắc nghiệt nên dù có đa dạng nhưng bị hạn chế về mặt số lượng, chính vì vậy họ sử dụng phong phú các nguồn nguyên liệu, đồng thời do ảnh hưởng lối sống cung đình ngày xưa “ngự thiện” của vua mỗi bữa dùng rất nhiều món đến 50 món nên ngày nay mỗi món ăn chỉ một ít nhưng số lượng các món ăn thì nhiều
Người chế biến món ăn họ cũng giỏi biến tấu, thay đổi cách thức chế biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh
3.Món ăn cầu kì, công phu do ảnh hưởng nhiều từ ẩm thực cung đình
Cầu kì, công phu không chỉ ở cách chế biến, phối liệu
mà còn ở khâu bày trí món ăn sao cho đẹp mắt, hấp dẫn người ăn Một món ăn phải có đầy đủ các yếu tố hương, vị, cách thức trình bày đặc biệt chú ý ở màu sắc thường rực rở, bắt mắt như màu đỏ, vàng, nâu sậm,…
Cách bày trí cầu kỳ
Người miền trung quan niệm mỡi món ăn là mỗi tâm hồn, chứa đựng một tâm sự đồng thời với tính cách cần kiệm xưa nay họ cho rằng mỗi sản vật là một món quà của thiên nhiên, vì thế phải ăn cho ra ăn ăn bằng cái tâm, phải biết quý trọng từng thứ đã làm nên món ăn dù cho có đạm bạc, rất đỗi bình dân thì vẫn phải ngon, phải hấp dẫn
4.Tính khoa học
Mỗi món ăn là một vị thuốc, âm dương hài hòa chẳng hạn vịt, hến, ốc mát nên dùng gừng để điều hòa, thịt luộc ăn kèm với chuối chát, khế chua, vả và các thứ rau thơm, rau mùi khác chấm với mắm tôm, phối trộn nguyên liệu hợp lý, kích thích ăn uống bằng hương thơm và màu sắc, ăn theo mùa, và ăn theo khả năng kinh tế
Triết lý ẩm thực Huế còn thể hiện ở tính hướng thiện, hướng về tâm linh trong các món ăn Trong một mâm cơm Huế luôn có món mát, món “âm tính” cân bằng với món nóng, món dương Các món ăn có nguồn gốc thực vật cân bằng với động vật Ấy là tính hướng thiện, hướng tâm trong văn hóa ẩm thực Huế
Với người Huế, nấu món ăn là để thể hiện sự đam mê nghệ thuật nấu ăn cũng như người Huế đam mê thơ vậy Nghệ thuật là “sự chơi” ở đời Chơi nấu ăn ở Huế có lẽ là
“sự chơi” hơn cả! Với quan niệm “ăn” trước hết là “ăn bằng mắt”, nên người phụ nữ Huế rất dụng công trong việc tạo hình các món ăn một cách nghệ thuật, tạo nên sự truyền cảm mạnh mẽ mỗi khi ngồi vào bàn tiệc Được tiếng là thanh lịch, người Huế lại tỏ ra sành điệu trong ăn uống, không chỉ trong khâu chọn nguyên vật liệu mà còn cầu kỳ từ việc nêm nấu chế biến cho đến cách bày biện trang trí, cứ như mỗi món ăn được nâng lên hàng một tác phẩm nghệ thuật
Có thể nói, người Huế đến với ẩm thực không theo cái nghĩa sinh học giản đơn,
mà thưởng thức bằng cả khứu giác, thị giác và cả… thính giác
Trang 8Trong 1 bữa cơm của người Huế thường có đủ các món khai vị, món ăn chơi, món chính và món tráng miệng Món tráng miệng của người Huế thường là các loại trái cây và còn một món tráng miệng vừa đặc biệt, vừa quên thuộc mà không thể không kể đến đó là các món chè Chè huế đa dạng về chủng loại và màu sắc, mỗi món chè đều có hương vị riêng, đều mang trong nó sự khéo léo của người phụ nữ sứ Huế
IV.Một Số Món Chè Huế.
Huế - cái tên quá quen thuộc đối với không chỉ con người Việt Nam mà còn với không ít các nước bạn trên toàn thế giới
Huế không chỉ được biết đến bởi những danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp như chùa Hương, núi Ngự, Cố Đô,….mà còn nổi tiếng bởi nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực nơi đây Một số món ăn nổi tiếng có thể nói đến như cơm Hến, bún bò, là bánh khoái, nem Lụi, bánh bột lọc…và đặc biệt là nhiều loại chè đa dạng đủ món, đủ mùi vị và sắc màu khác nhau
Đến mảnh đất ngũ vị mặn – ngọt – chua – cay – đắng của ẩm thực Huế Các món chè Huế vốn là món tráng miệng ưa thích của người dân thường ngày và còn là món được dùng cúng tế nhân các ngày lễ, tết… Có người nói đến Huế mà chưa thưởng thức chè Huế thì coi như là chưa đến nơi đây Huế có đủ các loại chè từ các loại chè được tiến cho vua được gọi là chè cung đình đến các loại chè bình dân như chè hẻm
Cái tên chè hẻm không phải tự nhiên mà có, có lẽ vì bởi nó thường nằm sâu trong các ngõ ngách với rất nhiều loại chè khác nhau mà theo cách nói biểu trưng của ông bà ta xưa nếu ngoài Hà Nội có “36 phố phường” thì Huế cũng có “36 thứ chè”
Mỗi loại chè có một hương vị riêng, nét tinh tế riêng như chính con người Huế Nghe tên thôi cũng đã đủ thấy được sự hấp dẫn, Huế có tới hàng chục loại chè khác nhau
Có những loại cầu kỳ như chè hạt sen, chè nhãn bọc hạt sen, chè hạt lựu, chè thịt quay, chè môn sáp vàng, chè bông cau Một số chè bình dân như: chè bắp, chè trôi nước, chè
kê, chè khoai sọ, chè đậu ván, chè bột lọc, chè đậu xanh, chè đậu đỏ, chè thập cẩm, chè khoai môn, chè khoai mài, chè hột é chỉ có tận mắt nhìn thấy và nếm thử thì mới có thể cảm nhận được hết hương vị thật sự của chúng Ở nơi đây, chè không chỉ là món tráng miệng thông thường mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân và trong kho tàng ẩm thực Huế
Tìm hiểu về chè Huế là tìm hiểu một phần không nhỏ về ẩm thực xứ Huế, mang đậm nét truyền thống Hãy cùng tìm hiểu để biết thêm con người Huế họ đã tạo ra những món chè đặc sắc như thế nào để phần nào biết được thói quen, sở thích của con người nơi đây
1.Chè Thịt Quay.
Người Huế vốn khéo tay, ăn uống cầu kỳ, tinh tế nên chế biến được nhiều thứ chè rất lạ, ma vẫn rất ngon Một trong số những món chè lạ ở đây là chè bột lọc thịt quay hay còn được gọi ngắn gọn bằng cái tên chè thịt quay, nghe tên thôi cũng thấy nó lạ, tên nghe
lạ mà khi ăn rồi còn thấy lạ hơn nữa Đó là một món chè độc đáo được xem là "độc nhất
Trang 9vô nhị" của Huế, có lẽ chỉ có ở Huế người ta mới nghĩ ra món ăn lạ này, nó mang một phong cách “rất Huế”
Chè thịt quay nằm trong những món chè sang trọng mang màu sắc cung đình bởi
sự kết hợp độc đáo của các loại nguyên liệu, sự phối hợp táo bạo của vị ngọt-mặn tưởng chừng như không thể lại trở nên có thể, chẳng những thế mà còn “rất tuyệt” Sự công phu thể hiện trong cách chế biến và cả trong cách thưởng thức
Nhìn sơ qua thì món này trông như món chè bột lọc thông thường Điều làm nên
sự độc đáo và khác biệt lớn nhất chính là bên trong viên bột, thay vì là một hột đậu phụng rang thì đó là một "viên" thịt nạc heo quay nho nhỏ
Chè có hình viên tròn nhỏ, làm bằng bột năng, khi luộc chín, viên bột từ màu trắng đục thành màu trắng trong, ăn với nước đường và đây là món chè luôn được ăn nguội hay nóng ấm chứ không bao giờ ăn lạnh do đặc thù của món ăn
Cái tinh tế của món chè lọc quay này là người ăn chè đang nhai nhè nhẹ viên bột
để thưởng thức cảm giác dai dai, dòn dòn pha lẫn vị ngọt thanh thanh của đường phèn thì bất ngờ nhận ra vị béo nhẹ, đậm đà của vị thịt quay Viên thịt trộn lẫn với vị ngọt chè làm thành một thứ mùi vị rất lạ miệng Đầu tiên là vị ngọt nước đường, sau đó là vị bùi của bánh, tiếp đến là vị giòn của da, và thật bất ngờ vị mặn của thịt và vị béo của mỡ đã tạo
sự hoà quyện đến hoàn hảo
Tuy là có nhân là thịt heo quay nhưng mẫu thịt này không mặn lắm chi hơi hơi mặn thôi, mẫu thịt trước khi làm nhân đã được sên với nước đường cho đậm đà nên mùi thịt, mỡ không ảnh hưởng đến vị ngọt của chè
Nếu phân tích thì món chè này cũng được phối hợp theo âm dương Nhân thịt heo quay có sử dụng nhiệt nên là dương, bao bọc bên ngoài là bột lọc dẻo ngon tích nhiệt
âm, viên bột lọc đã hài hòa Những sợi gừng cắt nhỏ cay nồng hài hòa với vị ngọt của nước
Trang 10Về cơ bản, cách làm không khác gì chè bột lọc thông thường, nguyên liệu gồm có bột lọc (bột năng) thịt đùi heo quay, đường, mè rang vàng giã nhuyễn, gừng non cắt sợi Bột trong dai giòn cộng với vị ngọt thanh của đường phèn, vị béo của thịt làm cho món chè bột lọc bọc thịt heo quay mang hương sắc riêng, không lẫn vào đâu được
Món chè này thường được làm khi trong gia đình có giỗ chạp hay đám tiệc lớn
Họ xào lại ba loại thực phẩm này với gia vị thành một loại nhân riêng biệt để làm món chè bột lọc thịt quay
Đến nhiều nơi khác nhau món này có một số thay đổi, nhân thịt mặn này đã có người làm phần nhân thịt quay với nấm mèo và măng luộc cắt nhỏ Dùng thịt toàn nạc hay có ít mỡ là tùy sở thích mỗi người nói chung, dù ở đâu thì hương vị của món che này đều khó có thể quên khi đã một laagn nếm thử
Ngọt ngào bùi béo tìm nhau Thịt quay nằm giữa trắng phau bột mềm Quen nhau tình đã nên duyên Chè ngon xứ Huế ngỡ quên đường về
2 Chè Bắp.
Ở thành phố Huế, chè bắp có bán ở nhiều nơi nhưng ngon nhất vẫn là tại cồn Hến một hòn đảo nhỏ nổi lên giữa dòng sông Hương phía dưới là cầu Tràng Tiền và thuộc về đất thôn Vĩ Dạ xưa Cồn Hến bốn mùa cây trái tốt tươi xanh biếc nằm giữa vòng tay mềm mại của sông Hương
Cồn Hến cũng là nơi hội tụ của các loài hến sống ở đáy Hương Giang và chỉ với con hến vớt lên từ đây người Huế mới tạo được các món ăn dân dã lừng danh cơm hến rồi bún hến
Còn bắp dùng để nấu chè là loại bắp nếp mọc trên cồn hái lúc chưa già nhưng không phải là lúc còn quả non Trái bắp sau khi bóc bỏ lớp áo bên ngoài, ấn nhẹ tay mặt hạt còn thấy mềm mại, ghé răng cắn thử thì hạt bắp liền vỡ ra ứa vào môi vào lưỡi một thứ sữa non quánh như nhựa tươi vừa ngọt vừa ngậy vừa thơm mùi xa lạ Trái bắp sau khi nạo lấy phần hạt bên ngoài, phần lõi còn lại sẽ được dùng để luộc lấy nước nấu chè
Chè bắp phải nấu rất kỹ, ít cũng phải 2 - 3 tiếng kể cả thời gian luộc nõn bắp Khi nào múc lên thấy đặc sánh thì mới thả đường vào nồi rồi bắc xuống
Chè nấu đã ngọt sẵn nên khi ăn có thể bỏ thêm nhiều đá bào Trước đây, chè thường múc ra bát nhỏ nhưng bây giờ đã thay bằng loại ly lớn Người ham ăn cũng chỉ nổi vài ba li không thể ăn no
Đến Huế, muốn ăn chè bắp chính gốc cồn Hến xin cứ việc đi qua đập Đá vào đến
Vĩ Dạ rồi đi tiếp tục dọc đường Thuận An cho đến khi gặp một cây cầu nhỏ bên trái bước