R2RML Relational Database to RDF Mapping Language là một ngôn ngữ để thể hiện ánh xạ từ các cơ sở dữ liệu quan hệ RDB sang bộ dữ liệu RDF.. R2RML cũng được định nghĩa là một ánh xạ trực
Trang 1ỨNG DỤNG R2RML ĐỂ CHUYỂN ĐỔI CƠ SỞ DỮ LIỆU CHO
LINKED DATA
Trần Nguyên Phong, Hoàng Hữu Hạnh
Đại học Huế E-‐‑mail: tnphong@hueuni.edu.vn, hhhanh@hueuni.edu.vn
Tóm tắt: RDF (Resource Description Framework) là chuẩn mô tả dữ liệu Web ngữ nghĩa, và
trở thành cơ sở của Linked Data và Web Dữ liệu Việc chuyển đổi các dữ liệu trong các cơ sở
dữ liệu (CSDL) sang RDF được xem là một trong những bước quan trọng cho việc xây dựng Web dữ liệu R2RML (Relational Database to RDF Mapping Language) là một ngôn ngữ để thể hiện ánh xạ từ các cơ sở dữ liệu quan hệ (RDB) sang bộ dữ liệu RDF Ánh xạ này cung cấp khả năng xem dữ liệu hiện có trong mô hình dữ liệu quan hệ RDF, được thể hiện trong một cấu trúc và từ vựng R2RML cũng được định nghĩa là một ánh xạ trực tiếp từ cơ sở dữ liệu quan hệ sang RDF Bài báo này trình bày việc áp dụng R2RML vào việc chuyển đổi CSDL quan hệ sang Linked Data phục vụ cho Web Dữ liệu
Từ khóa: Linked Data, Web of Data, Semantic Web, ontology, RDF, OWL
1 Giới thiệu
Linked Data là một ứng dụng thực tiễn dựa các công nghệ Web ngữ nghĩa hiện tại, nhằm
cung cấp một cơ chế xuất bản dữ liệu có cấu trúc lên Web, với mục địch tạo ra một thế hệ Web
mới – Web dữ liệu (Web of Data) Linked Data được giới thiệu nhằm mở ra một trào lưu xuất bản
dữ liệu mở, có cấu trúc và phá vỡ các ngăn cách cho các hệ thống CSDL hiện nay Từ sự khởi đầu của việc triển khai Web ngữ nghĩa đã có sự quan tâm ngày càng tăng trong việc lập ra các quan
hệ dữ liệu cho Web ngữ nghĩa Điều này cho phép dữ liệu được kết hợp với các dữ liệu khác trên Web, liên kết ngữ nghĩa trực tiếp đến dữ liệu quan hệ và hỗ trợ tích hợp dữ liệu với các miền và lĩnh vực ứng dụng rỗng rãi hơn
Hiện nay phần lớn dữ liệu trên Web đang được lưu trữ trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ (RDBMS) với các ưu điểm đã được chứng minh về các mặt: khả năng mở rộng, lưu trữ hiệu quả, tối ưu hóa việc thực thi các câu truy vấn, độ an toàn Tuy nhiên, các cơ sở dữ liệu quan
hệ (RDB) thường là tách biệt nhau, không đồng nhất về lược đồ, thuật ngữ, định danh và mức độ chi tiết của sự biểu diễn dữ liệu, và không có tính chia sẻ Do đó, người ta đã sử dụng kỹ thuật
để chuyển đổi các dữ liệu trong RDB sang các dạng dữ liêu thô hoặc có cấu trúc, hoặc giàu ngữ nghĩa như RDF và RDFS – là cơ sở của Linked Data Việc chuyển dữ liệu sang Linked Data nhằm cung cấp một nền tảng cho việc tích hợp tất cả các nguồn dữ liệu đó trên Web dữ liệu
R2RML (Relational Database to RDF Mapping Language) là một ngôn ngữ để thể hiện ánh
xạ từ các cơ sở dữ liệu quan hệ (RDB) sang bộ dữ liệu RDF Ánh xạ này cung cấp khả năng xem
dữ liệu hiện có trong mô hình dữ liệu quan hệ RDF, được thể hiện trong một cấu trúc và từ vựng R2RML cũng được định nghĩa là một ánh xạ trực tiếp từ cơ sở dữ liệu quan hệ sang RDF Trong
Trang 2các ánh xạ trực tiếp của một CSDL, cấu trúc của đồ thị RDF là kết quả phản ánh trực tiếp cấu trúc của CSDL, mục từ trong từ vựng RDF phản ánh trực tiếp tên của các phần tử trong lược đồ CSDL Mỗi ánh xạ R2RML là phù hợp với một lược đồ CSDL và mục từ từ vựng Các đầu vào một ánh
xạ R2RML là một cơ sở dữ liệu quan hệ phù hợp vào lược đồ đó Đầu ra là một tập dữ liệu RDF
có sử dụng vị từ và các kiểu từ vựng Bài báo này trình bày việc áp dụng R2RML vào việc chuyển đổi CSDL quan hệ sang Linked Data phục vụ cho Web Dữ liệu, bên cạnh đó, cũng trình bày các hướng tiếp cận liên quan
2.1 Khung tham khảo cho chuyển đổi RDB sang RDF và RDFS
2.1.1 Tạo các ánh xạ
Chúng ta có thể phân loại các phương pháp được sử dụng để tạo ra các ánh xạ giữa RDB
và RDF thành hai loại:
a) Ánh xạ tự động:
Một tập hợp các ánh xạ giữa RDB và RDF cụ thể là:
i) Một mẫu tin RDB là một nút của RDF;
ii) Tên cột của một bảng RDB là một vị từ của RDF;
iii) Một ô của bảng RDB là một giá trị của RDF
Nhiều hệ thống sử dụng các ánh xạ tự động để ánh xạ giữa RDB và RDF với một bảng của RDB như một lớp các nút của RDF và các tên cột của RDB như là vị từ của RDF
Mặc dù các ánh xạ tự động tạo ra thường không nắm bắt được ngữ nghĩa được yêu cầu của nhiều ứng dụng, nhưng những ánh xạ này có thể là một điểm khởi đầu để tạo ra các tuỳ chọn hữu ích hơn Phương pháp này cũng cho phép các ứng dụng Web ngữ nghĩa truy vấn các nguồn RDB, nơi mà ứng dụng ngữ nghĩa được quy định về ánh xạ RDB Phương pháp này còn được gọi
là "ʺvùng ánh xạ ontology"ʺ
b) Ngữ nghĩa miền -‐‑ định hướng ánh xạ:
Cách tiếp cận thứ hai để tạo ra ánh xạ từ RDB sang RDF bằng cách kết hợp ngữ nghĩa miền
ẩn hoặc không ẩn trong tất cả lược đồ RDB Các mô hình về ngữ nghĩa miền thường được mô hình hóa như là một miền ontology Trong thư viện RDF, cho phép các ứng dụng phần mềm tận dụng lợi thế "ʺthông tin thu được"ʺ và thực hiện các truy vấn liên kết các thực thể với nhau[4] Ngoài ra, một ánh xạ được tạo ra bằng cách sử dụng ngữ nghĩa miền nhằm làm giảm việc tạo ra bộ dữ liệu dư thừa hoặc không liên quan Byrne[4] thảo luận về việc giảm kích thước của các tập dữ liệu RDF khoảng 2,8 triệu bộ thông qua việc sử dụng ngữ nghĩa theo định hướng của tên miền ánh xạ từ RDB sang RDF
Phương pháp này còn được gọi là "ʺmiền ánh xạ ontology"ʺ và quá trình này giống như một
kỹ thuật ontologies công cộng nơi mà các dữ liệu chuyển đổi được định nghĩa trong lược đồ
Trang 3ontologies Nhiều công cụ ánh xạ như D2RQ[4] cho phép người sử dụng tạo ra các quy tắc tạo ánh xạ tùy ý ngoài các quy tắc tạo ra tự động
2.1.2 Biểu diễn các ánh xạ
Các ánh xạ giữa RDB và RDF có thể được biểu diễn như là quy tắc XPath trong một kiểu XSLT, một ngôn ngữ khai báo dựa trên XML như R2O [4] hoặc là "ʺmô hình Quad"ʺ được định nghĩa trong Virtuoso [4] lược đồ siêu ngôn ngữ Các ánh xạ, nếu chúng được tạo ra bởi các miền hoặc tham khảo một miền Ontology có thể có ứng dụng rộng rãi Khuyến khích sử dụng lại các ánh xạ để dễ dàng tiếp cận cộng đồng rộng lớn hơn Do đó, chúng tôi xem xét khả năng tiếp cận của ánh xạ giữa RDB và RDF
2.1.3 Cài đặt truy vấn
Truy vấn trong các hệ thống tạo ánh xạ từ RDB sang RDF hoặc trong SPARQL được thực hiện dựa vào RDF, hoặc truy vấn SPARQL có thể được chuyển đổi thành một hoặc nhiều truy vấn SQL được thực hiện dựa vào RDB Cyganiak [4] đã thảo luận việc chuyển đổi đại số quan hệ của SPARQL và tiếp tục trong SQL Toán tử biểu diễn như "ʺSELECTION"ʺ và "ʺINNER JOIN"ʺ được thực hiện trong RDF và tương quan "ʺđại số quan hệ RDF"ʺ đến SQL
2.1.4 Miền ứng dụng
"ʺTạo ánh xạ"ʺ, một khía cạnh quan trọng của việc tạo ánh xạ từ RDB sang RDF, là sự kết hợp của miền ngữ nghĩa trong kết quả của RDF Do đó, danh sách các miền ứng dụng của công trình được xem xét trong cuộc khảo sát này (công cụ ánh xạ không phải là tên miền cụ thể)
2.1.5 Tích hợp dữ liệu
Mô hình RDF đại diện thông qua việc sử dụng của URI và các mối quan hệ của mô hình một cách rõ ràng giữa các thực thể làm cho nó dễ dàng hơn để tích hợp dữ liệu có hiệu quả Điều quan trọng là cần lưu ý rằng RDF không tự động giải quyết nhiều việc không đồng nhất, chẳng hạn như không đồng nhất về cấu trúc, cú pháp và ngữ nghĩa, được mô tả trong dữ liệu/thông tin tích hợp Tuy nhiên, việc sử dụng các miền ontology dựa theo các quy tắc suy luận mà người dùng định nghĩa để đối chiếu tính không đồng nhất giữa các nguồn RDB là một cách tiếp cận có hiệu quả cho việc tạo ra một hoặc một tập "ʺtương thích"ʺ của RDF Do đó, số liệu đánh giá các phương pháp tiếp cận tạo ánh xạ khác nhau liên quan đến tích hợp dữ liệu
2.2 Các tiếp cận chuyển lược đồ RDB sang RDF và RDFS
Trong phần này, chúng tôi phân loại các công việc khảo sát thành ba lớp lớn cụ thể là:
− Các dự án nhằm chứng minh các khái niệm: Dự án xem xét trong phần này là khám phá
cách tiếp cận cụ thể để chuyển đổi ánh xạ từ RDB sang RDF với một mẫu tin hoặc chứng minh thực hiện khái niệm Công việc có thể có hoặc không có, dẫn đến việc phát triển một công cụ/ứng dụng chung
Trang 4− Các dự án ứng dụng theo miền: Nhiều dự án được khảo sát đã thúc đẩy bởi yêu cầu ứng
dụng thế giới thực và đã sử dụng ngữ nghĩa miền dựa vào ánh xạ tùy chọn, công cụ tạo ánh xạ dùng chung hoặc kết hợp cả hai
− Công cụ/ứng dụng: Các dự án khảo sát bao gồm D2RQ, R2O, Virtuoso, Triplify và các
công cụ Dartgrid đã được đưa ra để ánh xạ RDB sang RDF
Hình 1: Mô hình cấu trúc tham chiếu cho việc chuyển đổi RDB sang RDF 2.2.1 Các công cụ và ứng dụng
Virtuoso RDF View [4] sử dụng phương pháp bảng thành lớp (lớp RDFS), cột thành vị từ
và đưa vào xem xét trường hợp đặc biệt chẳng hạn như việc một cột là một phần của khóa chính hoặc khóa ngoại Các mối quan hệ khóa ngoại giữa các bảng được thực hiện rõ ràng giữa các lớp
có liên quan để đại diện cho các bảng Các dữ liệu RDB được biểu diễn là đồ thị Virtuoso RDF
mà không tạo vật lý của bộ dữ liệu RDF Virtuoso RDF View được tạo thành từ "ʺmô hình ánh xạ Quad"ʺ mà các ánh xạ được định nghĩa từ một tập hợp bộ ba các cột của RDB Mô hình ánh xạ quad được thể hiện không những bằng ngôn ngữ siêu lược đồ Virtuoso mà còn hỗ trợ SPARQL – kiểu ghi chú
Công cụ D2RQ [4] cung cấp một môi trường tích hợp với nhiều tùy chọn để truy cập dữ liệu quan hệ bao gồm cả "ʺRDF dumps"ʺ, truy cập dựa trên Jena và Sesame API (gọi là API được viết lại từ SQL), và SPARQL trên D2RQ Server Các ánh xạ có thể được xác định bởi người dùng,
do đó cho phép kết hợp ngữ nghĩa miền trong quá trình ánh xạ, mặc dù có một số hạn chế Các ánh xạ được thể hiện trong một "ʺkhai báo ngôn ngữ ánh xạ"ʺ Hiệu suất khác nhau tùy thuộc vào
Trang 5phương pháp tiếp cận và được thực hiện khá tốt cho các mô hình bộ ba cơ bản nhưng các chức năng của SPARQL như FILTER, LIMIT được sử dụng
Công cụ Triplify [4] là một phương pháp đơn giản để chuyển RDF và dữ liệu liên kết từ cơ
sở dữ liệu quan hệ Triplify dựa trên ánh xạ các yêu cầu HTTP-‐‑ URI vào các truy vấn cơ sở dữ liệu quan hệ được thể hiện trong SQL với một số bổ sung Triplify trình bày việc chuyển đổi các mối quan hệ kết quả vào RDF và công bố các dữ liệu RDF trên web theo trình tự khác nhau, đặc biệt là dữ liệu liên kết Triplify được bổ sung bởi một thư viện các cấu hình cho lược đồ quan hệ chung và một REST cho phép nguồn dữ liệu đăng ký Kiến trúc gọn nhẹ của Triplify là có thể sử dụng để xuất bản bộ dữ liệu rất lớn, chẳng hạn như 160GB dữ liệu từ dự án OpenStreetMap Công cụ R2O [4] là một ngôn ngữ khai báo dựa trên XML để thể hiện ánh xạ giữa các yếu
tố RDB và ontology Ánh xạ R2O có thể được sử dụng để "ʺphát hiện mâu thuẫn và không rõ ràng"ʺ trong định nghĩa bản đồ Công cụ ODEMapster đã sử dụng một tài liệu R2O hoặc là thực hiện việc chuyển đổi để đáp ứng với một truy vấn hoặc trong một hàng loạt các chế độ để tạo ra một biến RDF
RDBToOnto [4] là một công cụ có cấu hình cao giúp giảm bớt việc thiết kế và thực hiện các phương pháp để đạt được ontology từ cơ sở dữ liệu quan hệ Nó cũng là một công cụ định hướng người dùng trong quá trình chuyển đổi cơ sở dữ liệu đầu vào để tạo ra các ontology Thiết lập các thông số và kiểm soát quá trình được thực hiện thông qua một giao diện chuyên dụng chính thức
3.1 Giới thiệu R2RML
R2RML (Relational Database to Resource Description Frameworks of mapping language)
là một ngôn ngữ để thể hiện ánh xạ từ các cơ sở dữ liệu quan hệ sang bộ dữ liệu RDF Ánh xạ này cung cấp khả năng xem dữ liệu hiện có trong mô hình dữ liệu quan hệ RDF, được thể hiện trong một cấu trúc và từ vựng [10]
R2RML cũng được định nghĩa là một ánh xạ trực tiếp từ cơ sở dữ liệu quan hệ sang RDF Trong các ánh xạ trực tiếp của một cơ sở dữ liệu, cấu trúc của đồ thị RDF là kết quả phản ánh trực tiếp cấu trúc của cơ sở dữ liệu, mục từ trong từ vựng RDF phản ánh trực tiếp tên của các phần tử trong lược đồ cơ sở dữ liệu Mỗi ánh xạ R2RML là phù hợp với một lược đồ cơ sở dữ liệu
và mục từ từ vựng Các đầu vào một ánh xạ R2RML là một cơ sở dữ liệu quan hệ phù hợp vào lược đồ đó Đầu ra là một tập dữ liệu RDF có sử dụng vị từ và các kiểu từ vựng Ánh xạ R2RML được thể hiện dưới dạng đồ thị RDF và cú pháp Turtle
Bảng 1: Bảng qui định không gian tên:
Prefix IRI
rr: http://www.w3.org/ns/r2rml#
Trang 6rdf: http://www.w3.org/1999/02/22-‐‑rdf-‐‑syntax-‐‑ns#
rdfs: http://www.w3.org/2000/01/rdf-‐‑schema#
xsd: http://www.w3.org/2001/01/XMLSchema#
ex: http://example.com/ns#
3.2 Các thành phần R2RML
3.2.1 Một số thuật ngữ (Terminology)
Các thuật ngữ dưới đây được định nghĩa trong khái niệm và cú pháp của RDF và được
sử dụng trong R2RML [10]:
• RDF graph: là một tập bộ ba của RDF
• RDF triple: là bộ ba của RDF (chủ thể, vị từ, đối tượng)
• Literal: được sử dụng để xáx định số hoặc ngày tháng bằng cách biểu diễn từ vựng
Nó là một đối tượng
• typed literal: là một mẫu từ vựng hoặc tham chiếu URI của RDF
• language tag: thẻ ngôn ngữ
• datatype IRI: kiểu dữ liệu của IRI
• blank node (nút trống): là một nút không phải là một tham chiếu URI hoặc một chữ Một nút trống là một nút duy nhất có thể được sử dụng một hoặc nhiều câu lệnh
trong RDF, nhưng không có tên bên trong
• blank node identifier: định danh nút trống để phân biệt với tất cả các URI và literals
3.2.2 Các mục từ trong bộ từ vựng R2RML
a Lớp:
Bảng 2: Các lớp trong R2RML
rr:BaseTableOrView SQL dựa vào bảng hoặc
khung nhìn Thuộc tính rr:tableName
rr:LogicalTable Bảng logic rr:BaseTableOrView hoặc rr:R2RMLView rr:ObjectMap Ánh xạ đối tượng rr:TermMap là một giá trị thuộc tính rr:ob-‐‑
jectMap rr:PredicateMap Ánh xạ vị từ rr:TermMap là một giá trị của thuộc tính
rr:predicateMap rr:PredicateObjectMap Ánh xạ vị từ -‐‑ đối tượng rr:predicate và rr:predicateMap có ít nhất
trong rr:object và rr:objectMap rr:R2RMLView Khung nhìn R2RML rr:sqlQuery là một thuộc tính
rr:RefObjectMap Ánh xạ đối tượng tham
chiếu rr:parentTriplesMap là một thuộc tính rr:SubjectMap Ánh xạ chủ thể rr:TermMap là một giá trị của thuộc tính
của rr:subjectMap rr:TermMap Ánh xạ mục từ rr:constant, rr:column, rr:template
Trang 7b Thuộc tính:
Bảng 3: Các thuộc tính trong R2RML
rr:column Tên cột cột giá trị thuật ngữ ánh xạ rr:datatype Xác định kiểu dữ liệu Thuật ngữ ánh xạ
rr:constant Giá trị hằng số Thuật ngữ ánh xạ giá trị liên tục rr:joinCondition Điều kiện ràng buộc Tham chiếu ánh xạ đối tượng rr:logicalTable Bảng logic Ánh xạ bộ ba
rr:objectMap Ánh xạ đối tượng, Ánh xạ vị từ -‐‑ đối tượng
rr:parent Cột parent Điều kiện ràng buộc
rr:parentTriplesMap Ánh xạ bộ ba parent Ánh xạ đối tượng tham chiếu
rr:predicateObjectMap Ánh xạ đối tượng – vị từ Ánh xạ bộ ba
rr:sqlQuery Truy vấn SQL Khung nhìn R2RML
rr:sqlVersion Định danh phiên bản SQL Khung nhìn R2RML
rr:subject Thuộc tính hằng số
Ánh xạ bộ ba rr:subjectMap Ánh xạ đối tượng
4 Chuyển đổi cơ sở dữ liệu quan hệ sang RDF và RDFS với ngôn ngữ R2RML
4.1 Các bộ xử lý và ánh xạ R2RML
Trong Hình 2, Ánh xạ R2RML định nghĩa một ánh xạ từ một cơ sở dữ liệu quan hệ sang RDF Nó là một cấu trúc bao gồm một hoặc nhiều ánh xạ bộ ba[10] Bộ xử lý R2RML là một hệ thống, một ánh xạ R2RML và một cơ sở dữ liệu đầu vào nhằm cung cấp truy cập cho các dữ liệu đầu ra Đầu vào cho một ánh xạ R2RML là cơ sở dữ liệu
Phương pháp truy cập vào các dữ liệu đầu ra được cung cấp bởi một bộ xử lý R2RML tương ứng Một bộ xử lý R2RML có thể cụ thể hóa các dữ liệu đầu ra vào cho một tập tin, hoặc cung cấp truy cập ảo thông qua một giao diện để truy vấn cơ sở dữ liệu đầu vào, hoặc cung cấp bất kỳ phương tiện cho các dữ liệu đầu ra
Trang 8
Hình 2: Chuyển đổi cơ sở dữ liệu quan hệ sang RDF
Một bộ xử lý R2RML cũng có quyền truy cập vào môi trường thực thi bao gồm:
• Kết nối SQL vào cơ sở dữ liệu đầu vào,
• Sử dụng IRI trong việc giải quyết các quan hệ được tạo ra bởi các ánh xạ R2RML
Dữ liệu R2RML là một hệ thống đầu vào của một ánh xạ R2RML, IRI và SQL, và sẽ kết nối đến một cơ sở dữ liệu đầu vào đồng thời kiểm tra sự xuất hiện của các lỗi dữ liệu Khi kiểm tra
cơ sở dữ liệu đầu vào, phải báo cáo bất kỳ lỗi nào mà dữ liệu được đưa ra trong quá trình tạo ra các dữ liệu đầu ra
4.1.1 Ánh xạ đồ thị và từ vựng R2RML
Một ánh xạ R2RML được biểu diễn như một đồ thị RDF Nói cách khác, RDF được sử dụng không chỉ là mô hình dữ liệu của ánh xạ, mà còn là một hình thức đại diện cho ánh xạ R2RML chính nó [10]
Một đồ thị RDF đại diện cho một ánh xạ R2RML được gọi là một đồ thị ánh xạ R2RML Từ vựng R2RML là tập hợp các IRIs được bắt đầu với
rr:namespace IRI:http://www.w3.org/ns/r2rml #.
Một đồ thị ánh xạ R2RML bao gồm:
− Không nên bắt đầu IRI với rr:namespace mà không được định nghĩa trong từ vựng
R2RML
− Không nên sử dụng IRI từ từ vựng R2RML
− Nên tạo ánh xạ các thành phần được tham chiếu bởi một số ánh xạ bộ ba
− Có thể thêm bộ ba có điều kiện không thuộc từ vựng R2RML
− Có thể gán IRI hoặc định danh nút rỗng cho bất kỳ thành phần ánh xạ được phép tái
sử dụng từ các thành phần ánh xạ trong đồ thị ánh xạ
Từ vựng R2RML bao gồm các lớp R2RML sau đây :
− rr:TriplesMap là lớp của ánh xạ bộ ba
− rr:TermMap là lớp của ánh xạ thuật ngữ
Nó có bốn lớp con:
− rr:SubjectMap là lớp của ánh xạ chủ thể
Trang 9− rr:PredicateMap là lớp của ánh xạ vị từ
− rr:ObjectMap là lớp của ánh xạ đối tượng
− rr:GraphMap là lớp của ánh xạ đồ thị
− rr:PredicateObjectMap là lớp ánh xạ vị từ -‐‑ đối tượng
− rr:RefObjectMap là lớp của ánh xạ đối tượng tham chiếu
− rr:Join là lớp của điều kiện ràng buộc
4.1.2 Ánh xạ mặc định
Một bộ xử lý R2RML có thể bao gồm các ánh xạ mặc định R2RML Đây là một cơ sở để xem xét lược đồ của cơ sở dữ liệu đầu vào và tạo ra một ánh xạ R2RML dưới hình thức một tài liệu ánh xạ R2RML Một ánh xạ như vậy được gọi là một ánh xạ mặc định Ánh xạ mặc định coi đầu ra của nó là đồ thị trực tiếp tương ứng với cơ sở dữ liệu đầu vào
4.2 Định nghĩa các bảng logic
Hình 3: Thuộc tính của các bảng logic
Bảng logic là kết quả của một truy vấn SQL được ánh xạ tới bộ ba của RDF Một bảng logic là một trong hai trường hợp sau:
Bảng SQL hoặc khung nhìn, hoặc
Khung nhìn R2RML
Bảng logic là một truy vấn SQL hiệu quả nếu thực hiện qua kết nối SQL, sản phẩm là kết quả các nội dung của bảng logic Dòng của bảng logic là dòng trong một bảng logic.Tên cột là tên của một cột trong một bảng logic
4.2.1 SQL dựa vào các bảng và khung nhìn (rr:tableName)
SQL dựa vào bảng hoặc khung nhìn là một bảng logic có chứa dữ liệu SQL từ một bảng
hoặc khung nhìn trong cơ sở dữ liệu đầu vào Nó được đại diện bởi nguồn tài nguyên có chính
xác một thuộc tính rr:tableName
Giá trị của rr:tableName xác định tên của bảng hoặc khung nhìn Giá trị của nó phải là tên
một lược đồ có điều kiện cho bảng hoặc khung nhìn hiện có trong cơ sở dữ liệu đầu vào
Trang 10Các truy vấn SQL có hiệu quả dựa vào bảng hoặc khung nhìn là: SELECT * FROM {ta-‐‑
ble}, với {table} là tên bảng hoặc khung nhìn
4.2.2 Khung nhìn R2RML (rr:sqlQuery, rr:sqlVersion)
Khung nhìn R2RML là một bảng logic có nội dung là kết quả của việc thực hiện truy vấn SQL cho cơ sở dữ liệu đầu vào Nó được đại diện bởi nguồn tài nguyên có chính xác một thuộc
tính rr: sqlquery
R2RML đôi khi đòi hỏi phải chuyển đổi dữ liệu, tính toán, hoặc lọc trước khi tạo ra từ cơ
sở dữ liệu Điều này có thể đạt được bằng cách xác định SQL trong cơ sở dữ liệu đầu vào và đề
cập đến nó với rr:tableName
Câu lệnh truy vấn SELECT trong ngôn ngữ SQL có thể được thực hiện trên cơ sở dữ liệu đầu vào Trong câu lệnh SQL kết thúc câu lệnh truy vấn SELECT là dấu chấm phẩy Kết quả của việc thực hiện truy vấn phải không có tên cột trùng nhau Đối tượng tham chiếu cơ sở dữ liệu trong các truy vấn SQL có thể có đủ điều kiện với tên danh mục hoặc tên lược đồ
Một khung nhìn R2RML có thể có một hoặc nhiều phiên bản nhận dạng SQL Phải có IRIs
hợp lệ và được đại diện như là giá trị thuộc tính của rr:sqlVersion Định danh phiên bản SQL sau
đây chỉ ra rằng các truy vấn SQL phù hợp với Core SQL 2008
http://www.w3.org/ns/r2rml # SQL2008
Hiệu quả câu lệnh truy vấn SQL của khung nhìn R2RML là giá trị thuộc tính của rr:sqlquery
Ví dụ: Một bảng logic của khung nhìn R2RML phù hợp với Core SQL 2008
[] rr:sqlQuery """
Select ('PHONGBAN' || Mapb) AS PHONGID, Mapb, Tenpb
from PHONGBAN
""";
rr:sqlVersion rr:SQL2008
4.2.3 Ánh xạ các bảng logic sang RDF với ánh xạ bộ ba
Một ánh xạ bộ ba quy định một quy tắc chuyển đổi mỗi hàng của một bảng logic có thể không có hoặc có nhiều bộ ba RDF
Các bộ ba RDF tạo ra từ một hàng trong bảng logic được chia sẽ tất cả các chủ thể
Một ánh xạ bộ ba được đại diện bởi một tham chiếu từ các tài nguyên này đến các tài nguyên khác như sau:
− Phải có chính xác một thuộc tính rr:logicalTable Giá trị của nó là một bảng logic mà kết
quả truy vấn SQL được ánh xạ tới bộ ba