1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích PEST

24 940 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam hiện nay có thể tìm thấy chương trình đào tạo trực tuyến với 3 kênh chính: của các trường đại học trong nước, các chương trình từ nước ngoài đưa vào Việt Nam và của các công t

Trang 1

Nhiệm vụ 2:

1. Phân tích PEST: Nhận dạng và đánh giá tác động các lực lượng, nhân tố môi

trường vĩ mô: chính sách pháp luật, kinh tế, văn hóa – xã hội và công nghệ đến khả năng và mức độ ứng dụng TMĐT của công

Doanh nghiệp Nhân tố kinh tế Nhân tố văn hóa – xã hội Nhân tố công nghệ Nhân tố Chính trị -pháp luật

1.024USD/người Tuy nhiên, chỉ số ấy không giúp Việt Nam thoát ngưỡng một nước nghèo

Trang 2

(Thu nhập hộ gia đình bình quân hàng năm tại Việt Nam)

Trong vòng 12 năm qua (từ 1998 - 2010), Nhà nước tăng dần đầu tư GD-ĐT từ mức hơn 13% lên 20% tổng chi ngân sách nhà nước Với tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục như trên, Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất thế giới

Thêm vào đó với nhận thức ngày càng cao, người dân Việt Nam ngày càng quan tâm đến việc đầu tư giáo dục cho con cái làm cho tỷ lệ đầu tư cho giáo dục tăng nhanh chóng qua các năm Với việc Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng, giáo dục Việt Nam đang đứng trước những thách thức đào tạo những công dân tương lai có đầy đủ năng lực, trí tuệ, khả năng

tự học, tự nâng cấp mình trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt

Trang 3

(Người dân ưu tiên chi tiền cho việc giáo dục của con cái)

1.2 Nhân tố văn hoá – xã hội

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu học tập của nhân dân ngày càng lớn, hệ thống trường lớp tuy đã được đầu tư phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng song cũng không thể đáp ứng được nhu cầu học tập đa dạng của người học Nhà nước và nhân dân ngày càng quan tâm đến hình thức đào tạo trực tuyến vì những

ưu điểm vượt trội của nó mang lại so với hình thức đào tạo truyền thống

ĐTTT đồng bộ giúp người học có khả năng tự kiểm soát cao thông qua việc tự đặt cho mình tốc độ học phù hợp, bỏ qua những phần hướng dẫn đơn giản không cần thiết mà vẫn đáp ứng được tiến độ chung của khóa học

Ngoài ra tiết kiệm được chi phí đào tạo cũng là một lợi thế mà ĐTTT đem lại Lương của giáo viên, chi phí thuê phòng học, chi phí đi lại ăn ở cho học viên, giảm chi phí hao tổn năng suất do thời gian học viên phải đi học Tận dụng được nguồn giảng viên chất lượng cao từ nhiều nơi trên thế giới, giảm thời gian học khoảng 40- 60%, nội dung truyền tải nhất quán, phù hợp với yêu cầu của người học; kết quả hoàn thành chương trình đào tạo được tự động hóa và được thông báo chính xác, khách quan

Đối với học viên, kèm theo việc tăng khả năng tiếp tục đáp ứng được công việc, giảm thời gian học, học viên còn có thể học mọi lúc, mọi nơi cho phép học viên có

Trang 4

thể hoàn thành chương trình đào tạo một cách thuận tiện ngoài giờ làm việc hay ở nhà.

Hình thức đào tạo trực tuyến không còn xa lạ trên thế giới Theo Cyber

Universities, gần 90% trường ĐH tại Singapore sử dụng phương pháp đào tạo trực tuyến và ở Mỹ con số này là hơn 80% Tại Việt Nam, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin kéo theo số người sử dụng Internet tăng vọt Cùng với sự phát triển nhanh chóng này, cách làm việc, học tập, giải trí của người sử dụng Internet tại Việt Nam cũng thay đổi theo những công thức mới

Ở Việt Nam hiện nay có thể tìm thấy chương trình đào tạo trực tuyến với 3 kênh chính: của các trường đại học trong nước, các chương trình từ nước ngoài đưa vào Việt Nam và của các công ty lập ra Có nhiều đổi mới và tiến bộ so với các hình thức học truyền thống, học trực tuyến hứa hẹn cung cấp cho học viên sự kết hợp hoàn hảo của Nghe, Nhìn và Sự chủ động ĐTTT giúp cho việc đào tạo hiệu quả tới được nhiều đối tượng học viên khác nhau, cắt giảm được chi phí in ấn, xuất bản

và phân phối Người học trực tuyến có thể chủ động lựa chọn những kiến thức phù hợp với mình so với các hình thức áp dụng thụ động trên lớp

Theo đánh giá của Bộ GD&ĐT thì hiện nay đang có tình trạng một số trường chạy theo số lượng, thành tích, phát triển quy mô quá nhanh so với khả năng đảm bảo chất lượng đào tạo, so với điều kiện về đội ngũ giảng viên và trợ giảng Việc tổ chức đánh giá chất lượng còn nhiều hạn chế Chính vì vậy nhiều người còn hoài nghi về chất lượng ĐTTT, tâm lý học truyền thống vẫn còn ăn sâu trong người học

1.3 Nhân tố công nghệ

Hiện nay, CNTT-TT được ứng dụng rộng rãi trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội Việt Nam 4 thành tố chính trong chính sách CNTT-TT Việt Nam đã và đang được thực hiện tốt nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội Đó là giá cả dịch vụ, thiết bị rẻ; truy cập dễ dàng; nội dung phong phú và cuối cùng là con người Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có những động thái khuyến khích

Trang 5

cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông – yếu tố quyết định giúp giảm giá cả dịch vụ Thực tế, xu hướng giá viễn thông, Internet tại Việt Nam liên tục giảm, ngày càng tạo điều kiện truy cập cho mọi người dân Cho đến nay, Internet đã trở nên quen thuộc tại các thành phố lớn, thị trấn, thị xã ở Việt Nam Thậm chí tại một số vùng quê, nhiều gia đình nông dân đã biết sử dụng Internet để lấy thông tin về khoa học nông nghiệp, giá cả nông sản phục vụ cho công việc của mình.

Theo thống kê của Bộ Bưu chính Viễn thông, đến nay, cả nước đã có 4,3 triệu thuê bao Internet quy đổi, đáp ứng nhu cầu của 15,5 triệu dân, đạt mật độ 18,64

người/100 dân, cao hơn bình quân khu vực ASEAN và thế giới; vượt xa Thái Lan (12,65%), Trung Quốc (9,41%), Philippines (9,12%) Bên cạnh số lượng thuê bao, dung lượng Internet hiện nay cũng đã tăng đáng kể Việt Nam hiện đã có tổng

số 3 cổng kết nối Internet đi quốc tế, đi 10 quốc gia với băng thông là 7,2

Gigabytes

Bộ GD&ĐT đã kết nối đường cáp quang 34 Mbps trong nước và 2 Mbps đi quốc

tế Viettel cung cấp gói Net+ (gói chất lượng cao nhất) tới các cơ sở giáo dục Kết nối cáp quang từ Bộ về các Sở GD&ĐT với băng thông 4 Mbps Tuy nhiên đào tạo trực tuyến ở nước ta hiện nay mới đang ở mức sơ khai, số lượng và chất lượng chưa cao, phạm vi và đối tượng tham gia còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất cần thiết Tỷ lệ giờ online trực tiếp giữa giáo viên và học viên trên mạng còn thấp, việc trả lời hướng dẫn phải được thực hiện nguội, thiếu phương pháp và đội ngũ cán bộ giảng dạy.Hiện nay vẫn còn không ít học viên chưa có hoặc chưa biết sử dụng máy

vi tính, mạng Internet Đây là một thực tế vô cùng khó khăn trong quá trình học tập

1.4 Nhân tố chính trị pháp luật

Với bất cứ lĩnh vực kinh tế nào đều tồn tạo luật riêng và những doanh nghiệp tha gia phải chấp hành Nhà nước ta đưa ra những luật lệ để tránh những doanh nghiệp

Trang 6

mới tham gia gây lũng đoạn thị trường, tăng tính cạnh tranh không lành mạnh làm biến đổi thị trường ảnh hưởng đến thu nhập ngành trong nền kinh tế quốc dân.Trước năm 2004 không có một văn bản pháp luật nào quy định về TMĐT Mà chính thức phải đền đầu năm 2006 mới có Luật giao dịch Điện tử Và đến nay thì TMĐT đã có khá nhiểu luật văn bản, pháp luật liên quan Bộ Công Thương cũng

dự kiến cuối tháng 12 sẽ ban hành Thông tư Quy định về Quản lý hoạt động của các Website TMĐT.Nhìn chung, TMĐT trước 2005 mới manh nha, hình thành và thiếu rất nhiều điều kiện để phát triển Đến nay, có thể nói TMĐT đã và đang đi vào cuộc sống Tuy nhiên, TMĐT Việt Nam vẫn chưa theo kịp với sự phát triển của TMĐT thế giới, là do không thể tách rời khỏi sự phát triển chung của kinh tế

xã hội

Chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến lĩnh vực TMĐT, thể hiện qua các chủ trương khuyến khích thương mại điện tử phát triển trong thời gian qua với việc ban hành Luật công nghệ thông tin cũng như Luật giao dịch điện tử Theo đó, cơ sở hạ tầng

về mạng internet nói riêng và công nghệ thông tin nói chung đang phát triển nhanh

và nhất là các lợi ích từ thương mại điện tử đã làm cho doanh nghiệp ngày một phát triển

2. Phân tích ngành kinh doanh dưới tác động của CNTT & TMĐT: Sử dụng mô

hình 5(+1) lực lượng cạnh tranh của M Porter, mô hình chu kỳ sống của sản phẩm,

mô hình nhóm chiến lược Đánh giá các cơ hội, thách thức của ngành trong môi trường kinh doanh điện tử

2.1 Phân tích môi trường nghành

Trang 7

(MÔ HÌNH 5 LỰC LƯỢNG ĐIỀU TIẾT CẠNH TRANH CỦA MICHAEL PORTER)

a. Gia nhập tiềm năng

Về cơ bản, đào tạo trực tuyến tại Việt Nam vẫn trong giai đoạn nghiên cứu, triển khai thí điểm ở quy mô nhỏ và vừa Đơn vị triển khai chủ yếu là khối cơ sở đào tạo, một số cơ quan hành chính nhà nước và một số doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT, tài chính - ngân hàng, v.v… Các cơ quan tổ chức đều có nhận thức đúng đắn về vai trò, lợi ích của đào tạo trực tuyến và đặt khá nhiều kỳ vọng về hiệu quả đầu tư

- Việc tiếp tục đầu tư triển khai, nâng cấp và phát triển hệ thống đào tạo trực tuyến bước đầu được các cơ quan, tổ chức nghiên cứu, xem xét

- Thị trường dịch vụ đào tạo trực tuyến tại Việt Nam hứa hẹn nhiều tiềm năng khai thác Thị trường hiện nay chủ yếu vẫn do một vài doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa nắm giữ với nhu cầu không ngừng tăng lên

b. Cạnh tranh trong nghành

(Tình hình triển khai đào tạo trực tuyến tại các doanh nghiệp)

Trang 8

Hiện tại trên thị trường tồn tại 2 loại hình doanh nghiệp chính đe doạ trực tiếp đến

mô hình kinh doanh của công ty đó là:

- Các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp sản phẩm đào tạo trực tuyến: Một số

doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam đã tung ra thị trường các sản phẩm hỗ trợ đào tạo trực tuyến, tuy các sản phẩm này chưa có đầy đủ tính năng như các sản phẩm nổi tiếng của nước ngoài nhưng đã bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển đào tạo trực tuyến ở Việt Nam Một số doanh nghiệp khác tập trung cung cấp các giải pháp đào tạo trực tuyến đóng gói hoàn thiện của nước ngoài đã được Việt hóa

- Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đào tạo trực tuyến: Chủ yếu là kinh doanh

các khóa học trực tuyến (ngoại ngữ, tin học, kỹ năng mềm và môn học bậc phổ thông) Những doanh nghiệp này áp dụng mô hình B2C trong TMĐT để kinh doanh các sản phẩm là các khóa học, môn học trực tuyến Những sản phẩm này được cung cấp qua mạng Internet thông qua các website Người học truy cập vào website, đăng ký, thanh toán và tham gia học, thi các khóa học trực

Trang 9

tuyến này Một số hình thức thanh toán điện tử đã được áp dụng như người học mua thẻ cào rồi dùng mã thẻ cào nạp tiền qua mạng, sử dụng tin nhắn tới tổng đài để nạp tiền, thanh toán thông qua cổng thanh toán điện tử, v.v…

c. Quyền lực thương lượng của khách hàng

Đào tạo trực tuyến ở nước ta hiện nay mới đang ở mức sơ khai, số lượng và chất lượng chưa cao, phạm vi và đối tượng tham gia còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất cần thiết Tỷ lệ giờ online trực tiếp giữa giáo viên và học viên trên mạng còn thấp, việc trả lời hướng dẫn phải được thực hiện nguội, thiếu phương pháp và đội ngũ cán bộ giảng dạy Nhìn chung quyền lực thương lượng của khách hàng là tương đối cao

d. Quyền lực thương lượng của nhà cung cấp

Ngược lại trong trường hợp này thì quyền lực thương lượng của các nhà cung ứng

là tương đối thấp

2.2 Chu kỳ nghành

a. Thời kỳ đầu phát triển

Sự tăng trưởng trong giai đoạn này chậm bởi vì các nhân tố như người mua chưa quen với các sản phẩm của ngành, giá cao do công ty không hưởng được tính kinh

tế của qui mô, các kênh phân phối chưa phát triển Các rào cản nhập cuộc ở giai

Trang 10

đoạn này thường dựa trên quyền về bí quyết công nghệ cơ bản hơn là tiết kiệm chi phí hay sự trung thành nhãn hiệu

Học trực tuyến (eLearning) là phương pháp học có chi phí thấp, khả năng đem lại

cơ hội học tập bình đẳng cho tất cả mọi người ở bất kỳ địa điểm nào Chi phí sinh hoạt tại các khu vực thành thị nhỏ thấp hơn nhiều so với tại các thành phố lớn như

Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh và giải pháp đào tạo trực tuyến là một giải pháp hữu hiệu để phổ cập giáo dục cho các vùng như vậy Vậy, giải pháp đào tạo trực tuyến (eLearning) có thể xoá bỏ khoảng cách giữa những người dân sống tại thành phố lớn với những người dân sống tại những vùng khó khăn về điều kiện kinh tế và xã hội về quyền được học tập Tuy nhiên, ở Việt Nam, hình thức đào tạo này còn khá mới lạ đối với mọi người và cũng chỉ tồn tại ở hai lĩnh vực đó là tiếng Anh và Tin học

Những năm trước đây, website eLearning ở Việt Nam vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay và chúng thực sự chưa phải là những giải pháp eLearning tổng thể cũng như chưa tuân theo các chuẩn cho eLearning trên thế giới do vậy chúng ta khó có thể chia sẻ tri thức cùng các nước khác trên thế giới, điển hình là một số website như sau:

- http://www.elearning.com.vn (thuộc sở hữu của FPT và Englishtown, toàn bộ các nền tảng (platform) của hệ thống này dựa trên sản phẩm của Englishtowwn)

- http://www.cleverlear.com (thuộc sở hữu của công ty TNHH cleverlear),

http://www.saigonctt.com (thuộc sở hữu của Trung tâm nghiên cứu công nghệ Kỹ thuật Sài Gòn - saigon CTT)

- http://www.truongthi.com.vn và http://www.khoabang.com.vn cho luyện thi đại học

b. Thời kỳ tăng trưởng

Trang 11

Một khi nhu cầu về sản phẩm của một ngành bắt đầu cất cánh, ngành phát triển các đặc tính của một ngành tăng trưởng Trong một ngành tăng trưởng, lúc đầu nhu cầu phát triển rất nhanh vì nhiều khách hàng mới gia nhập thị trường Nói chung,

ngành tăng trưởng khi khách hàng trở nên quen thuộc sản phẩm, khi giá giảm xuống do đã có được kinh nghiệm và tính kinh tế về qui mô, và khi mà hệ thống phân phối phát triển Trong thời gian từ năm 2006, eLearning đã có nhiều khởi sắc, một phần là được sự quan tâm của chính phủ, một phần là sự nỗ lực của các doanh nghiệp CNTT nghiên cứu Elearning để đẩy mạnh nền giáo dục nước nhà Điển hình năm 2007, trong cuộc thi danh giá của ngành CNTT – “Nhân tài đất Việt” do

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông đồng tổ chức đã trao tặng giải Nhất cho giải pháp về Elearning, đó là giải pháp “Học trực tuyến và thi trực tuyến ứng dụng cho việc nâng cao chất lượng đào tạo” của công ty Trí Nam

Với giải pháp này, đã triển khai thành công cho một số Bộ, Ngành, Tổng công ty lớn và các trường Đại học Đặc biệt, Giải pháp cũng đã thành công khi ứng dụng cho việc xây dựng và triển khai trường học trực tuyến dành cho học sinh trên mọi miền đất nước tại địa chỉ http://truongtructuyen.vn Hiện tại đã có gần

800.000 học viên Đây được đánh giá là bước tiến vượt bậc trong quá trình phát triển Elearning tại Việt Nam

c. Thời kỳ tái tổ chức

Trong giai đoạn tái tổ chức nhu cầu tiến dần tới mức bão hòa, trên một thị trường gần bão hòa có một ít người mua tiềm tàng lần đầu bỏ đi Hầu hết nhu cầu bị hạn chế bởi nhu cầu thay thế Khi một ngành đi vào giai đoạn tái tổ chức, ganh đua giữa các công ty trở nên mãnh liệt Điều thường xảy ra là các công ty đã trở nên quen với sự tăng trưởng nhanh trong pha tăng trưởng tiếp tục tăng năng lực theo tốc độ tăng trưởng quá khứ Các nhà quản trị sử dụng tốc độ tăng trưởng quá khứ

để dự đoán mức tăng trưởng tương lai, và họ lập kế hoạch mở rộng sản xuất một

Trang 12

cách thích ứng Tuy nhiên, khi một ngành gần đến sự bão hòa nhu cầu không tăng trưởng theo mức quá khứ nữa Hậu quả là phát sinh sự dư thừa năng lực sản xuất.Các đơn vị đào tạo trực tuyến được nhiều người ở Việt Nam biết đến hiện nay: VietnamLearning (www.vietnamlearning.vn) của GK Corporation, Topica

(http://topica.edu.vn) của Viện Đại Học Mở Hà Nội, Cleverlearn

(www.cleverlearn.edu.vn) của Cleverlearn, BEA (http://bea.vn/course/), v.v Các đơn vị đào tạo E-learning tại Việt Nam trước đây chủ yếu đào tạo tiếng Anh hoặc CNTT và đây được coi là các môn học nòng cốt của các đơn vị này, như

Cleverlearn và BEA chuyên về đào tạo tiếng Anh Nhưng đến thời điểm hiện nay, các khóa học E-learning đã trở nên khá đa dạng, chẳng hạn VietnamLearning ngoài tiếng Anh và CNTT còn đào tạo đa ngành với các môn học đang được coi là "hot" hiện nay như các khóa học kỹ năng: kỹ năng mềm, dịch vụ khách hàng, quản lý nhân sự, lãnh đạo, quản lý tài chính cơ bản, v.v Đây thực sự là những bước đột phá trong đào tạo E-learning tại Việt Nam, bằng cách đưa ra các giải pháp đào tạo trực tuyến tổng thể chứ không chỉ đơn giản là 1 môn học như trước đây

Ngoài các khóa học thông thường để nâng cao kiến thức, tại Việt Nam, đào tạo learning còn hiện diện với các khóa học đại học, như Topica đang là đơn vị đào tạo trực tuyến bậc cử nhân Hay như VietnamLearning đang có kế hoạch triển khai các chương trình nâng cao kỹ năng quản lý cao cấp của đại học Harvard

E-Nếu trước đây các khóa học chủ yếu sử dụng các phiên bản đào tạo của nước ngoài với ngôn ngữ tiếng Anh, thì giờ đây để đáp ứng được nhu cầu học của đối tượng là người đi làm, các khóa học kỹ năng được Việt hóa với nội dung đạt tiêu chuẩn quốc tế, có âm thanh hình ảnh cùng hệ thống bài tập tự kiểm tra và mô phỏng Công nghệ mô phỏng là một bước đột phá của việc ứng dụng CNTT trong đào tạo

kỹ năng bằng hình thức trực tuyến, giúp hình thức này tăng tính hiệu quả lên nhiều

so với các hình thức học truyền thống khác Học viên sau khi học xong phần kiến

Ngày đăng: 29/03/2016, 15:42

Xem thêm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình vừa vẽ - Phân tích PEST
Hình v ừa vẽ (Trang 19)
Hình thức áp dụng thụ động trên lớp. - Phân tích PEST
Hình th ức áp dụng thụ động trên lớp (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w