1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn

32 555 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 182,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy trong khoa hoc pháp lí nghiên cứukhái niệm về hôn nhân có ý nghĩa quan trọng bởi nó phản ánh quan điểmcủa nhà nước về hôn nhân, xác định bản chất pháp lý của quan hệ hôn nhâ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời Sự liên kết đó phát sinh, hình thành do kết hôn và được biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng Sau đây nhóm chúng em sẽ đi sâu vào đề tài “Kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn”

Nhóm chúng em mong rằng bài làm này sẽ giúp ích được các bạn tìm hiểu rõ hơn về môn học và thực thi pháp luật hôn nhân gia đình Nhóm chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cô và các bạn để bài làm này hoàn chỉnh hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

Bài làm gồm:

I KHÁI NIỆM VỀ HÔN NHÂN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HÔN NHÂN.1.1 Khái niệm

1.2 Đặc điểm của hôn nhân gia đình Việt Nam

II KHÁI NIỆM VỀ KẾT HÔN

III CÁC ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN

3.1 Điều kiện về tuổi kết hôn

3.2 Kết hôn tự nguyện

3.3 Kết hôn có yếu tố nước ngoài

IV NHỮNG TRƯỜNG HỢP CẤM KẾT HÔN

4.1 Khái niệm cấm kết hôn

4.2 Các trường hợp cấm kết hôn

V KẾT LUẬN

Trang 3

xã hội nhất định Gia đình được ra đời tồn tại và phát triển trước hết là nhờNhà nước thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ cũng như quy địnhquyền và nghĩa vụ của họ Chính vì vậy trong khoa hoc pháp lí nghiên cứukhái niệm về hôn nhân có ý nghĩa quan trọng bởi nó phản ánh quan điểmcủa nhà nước về hôn nhân, xác định bản chất pháp lý của quan hệ hôn nhân,đồng thời là cơ sở cho việc quy định các quy phạm pháp luật trong lĩnh vựchôn nhân và gia đình.

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, cụ thể là theo Khoản 6-Điều 8 củaLuật HNGĐ thì: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”

1.2 Đặc điểm của hôn nhân gia đình Việt Nam.

* Hôn nhân là sự liên kết giữa nam và nữ

Gia đình ra đời, tồn tại và phát triển trước hết là nhờ nhà nước thừa nhậnhôn nhân của đôi nam nữ, đồng thời quy định quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa

họ Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa nam và nữ, sự liên kết đó phải được

Trang 4

nhà nước thừa nhận bằng sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý – đó là đăng

kí kết hôn Như vậy đăng kí kết hôn đã làm xác lập quan hệ hôn nhân và là

cơ sở để hình thành gia đình Việc kết hôn phải được đăng kí tại cơ quan nhànước có thẩm quyền Trong trường hợp hai người kết hôn là công dân ViệtNam cùng kết hôn với nhau thì đăng kí kết hôn tại ủy ban nhân dân cấp cơ

sở nơi cư trú của hai bên nam nữ Trong trường hợp kết hôn có yếu tố nướcngoài thì cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nướcngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn

*Chung sống với nhau suốt đời, xây dựng gia đình hạnh phúc phát triển Hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng làđiều kiện đảm bảo cho sự liên kết đó hạnh phúc, bền vững Khi yêu nhau vợchồng đều mong muốn được chung sống gắn bó bên nhau suốt đời hạnhphúc hòa thuận

*Hôn nhân bền vững

Tính chất này của hôn nhân được xuất phát vì:

- Tuy hôn nhân có tính chất bất biến, bền vững nhưng vẫn chấmdứt được bằng sự kiện li hôn tuy nhiên theo quan niệm của tôn giáothì hôn nhân không thể chấm dứt bằng sự kiện li hôn

- Do xuất phát từ đạo đức lối sống văn hóa, truyền thống củangười Phương Đông: Coi trọng tình nghĩa vợ chồng và yếu tố bềnvững trong hôn nhân

- Do mục đích của hôn nhân hôn nhân được hình thành từ tìnhcảm giữa hai bên nam nữ với mục đích cho việc hình thành một giađình hạnh phúc, bền vững và đó cũng là nền tảng của một xã hội ổnđịnh và phát triển

II KHÁI NIỆM VỀ KẾT HÔN.

Trang 5

Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định củapháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn Hệ thống pháp luật hônnhân và gia đình quy định nam nữ kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố sau:

*Phải thể hiện ý chí của nam và nữ muốn kết hôn với nhau.

Yếu tố quan trọng đầu tiên là hai bên nam nữ phải tỏ rõ ý chí của mình

là mong muốn được xác lập quan hệ vợ chồng Sự bày tỏ ý chí phải thốngnhất với ý chí trước cơ quan đăng kí kết hôn phải thể hiện rằng họ hoàn toànmong muốn được kết hôn với nhau Nam nữ kết hôn mong muốn được gắn

bó với nhau trong quan hệ vợ chồng và cùng nhau xây dựng gia đình hạnhphúc

*Phải được nhà nước thừa nhận.

Hôn nhân chỉ được nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hônnhân tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kếthôn “không ai bị buộc phải kết hôn, nhưng ai cũng bị buộc phải tuân theoluật hôn nhân một khi người đó kết hôn…hôn nhân không thể phục tùng sựtùy tiện của người kết hôn mà trái lại sự tùy tiện của người kêt hôn phảiphục tùng bản chất của hôn nhân”

Như vậy có nghĩa là nam nữ khi kết hôn với nhau họ phải tuân thủ cácđiều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn Thông qua việc kết hôn nhà nước đãcông nhận hôn nhân của đôi nam nữ Sự kiện kết hôn là cơ sở pháp lí ghinhận rằng: Hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng

III CÁC ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN.

3.1 Điều kiện về tuổi kết hôn.

Trang 6

Căn cứ Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân Gia đình quy định độ tuổi kếthôn là: “Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên”

Theo hướng dẫn tại điểm a mục 1 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTPngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo quyđịnh: “Điều kiện kết hôn quy định tại điểm 1 Điều 9 là: "Nam từ hai mươituổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên" Theo quy định này thì không bắtbuộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải từ đủ mười tám tuổi trởlên mới được kết hôn Do đó, nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bướcsang tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn”.Việc đưa ra độ tuổi kết hôn là căn cứ trên sự phát triển về tâm sinh lý,sức khỏe và sự phát triển của nhận thức người đó, quy định về độ tuổi nhằmđảm bảo về mặt sức khỏe, nhận thức, xã hội cũng như khả năng kinh tế cóthể gánh vác trách nhiệm gia đình, nuôi dạy con cho tốt Trước đây, người

ta cho rằng sự phát triển tâm sinh lý và nhận thức của nữ thường sớm hơn sovới nam Tuy bằng tuổi, nhưng con gái thường dậy thì trước và nhận thứccũng già dặn hơn bạn nam cùng tuổi Vì vậy, tuổi kết hôn của nữ ít hơn nam

2 tuổi

Về độ tuổi kết hôn, pháp luật mỗi nước quy định có khác nhau Nam và

nữ phải đạt đến một độ tuổi nhất định thì mới được phép kết hôn Ví dụ: ỞThái Lan, cả nam và nữ từ 17 tuổi trở lên là đủ tuổi kết hôn Ở Pháp: độ tuổikết hôn là từ đủ 18 tuổi trở lên đối với nam và từ đủ 15 tuổi trở lên đối với

nữ Ở Ấn Độ: nam từ đủ 21 tuổi trở lên nữ từ đủ 18 tuổi trở lên

*Điều kiện kết hôn của bộ luật Hồng Đức.

Trong quan hệ kết hôn, luật quy định các điều kiện để có thể kết hôn là:

có sự đồng ý của cha mẹ (điều 314), không được kết hôn giữa những ngườitrong họ hàng thân thích (điều 319), cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ

Trang 7

hay chồng (điều 317), cấm kết hôn khi ông, bà, cha hay mẹ đang bị giamcầm, tù tội (điều 318), cấm anh (em) lấy vợ góa của em (anh), trò lấy vợ góacủa thày (điều 324), với một số quy định khác trong các điều 316, 323, 334,

338, 339 Tuy nhiên, luật Hồng Đức không quy định tuổi kết hôn, mặc dùtrong Thiên Nam dư hạ tập (phần lệ Hồng Đức hôn giá) có viết: "Con trai 18tuổi, con gái 16 tuổi mới có thể thành hôn", có lẽ là do đã tồn tại một vănbản khác cùng thời quy định về điều này Luật Hồng Đức cũng quy định vềhình thức và thủ tục kết hôn như đính hôn và thành hôn (các điều 314, 315,322) Lưu ý là luật Hồng Đức cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý từsau lễ đính hôn Ví dụ điều 315 quy định: Gả con gái đã nhận đồ sính lễ màlại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng Còn người con gái phải gảcho người hỏi trước Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đếnkhi thành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia cóquyền từ hôn

Căn cứ và ý nghĩa khi quy định độ tuổi kết hôn:

Khi đưa ra quy định về độ tuổi kết hôn các nhà làm luật đều căn cứ vào

sự phát triển tâm sinh lý của con người và đồng thời phải căn cứ vào điềukiện kinh tế xã hội của quốc gia Theo kết quả nghiên cứu của nền y họchiện đại thì nam từ khoảng 16 tuổi trở lên, nữ từ khoảng 13 tuổi trở lên đã cókhả năng sinh sản nhưng để đảm bảo cho con sinh ra được khỏe mạnh, nòigiống phát triển lành mạnh, bảo đảm sức khỏe cho người phụ nữ khi mangthai thì nam phải khoảng từ 18 tuổi trở lên, nữ phải khoảng từ 17 tuổi trởlên Bên cạnh đó, phải đạt đến độ tuổi trưởng thành nhất định thì con ngườimới có những suy nghĩ chín chắn, nghiêm túc để lựa chọn và tự quyết địnhviệc kết hôn của bản thân mình cũng như có thể tham gia vào quá trình laođộng để tự tạo lập nguồn tài chính nhằm duy trì kinh tế gia đình

Trang 8

Do vậy khi luật hôn nhân gia đình quy định tuổi kết hôn đối với nam là

20 tuổi kết hôn đối với nữ là 18 tuổi, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứatuổi, phù hợp với điều kiện văn hóa xã hội Quy định này thể hiện sự quantâm của nhà nước đối với sức khỏe đối với thế hệ tương lai của đất nướcđược sinh ra khỏe mạnh và phát triển một cách tốt nhất, bảo đảm cho họ cóthể đảm đương, gánh vác trách nhiệm làm cha làm mẹ Đồng thời, quy địnhnày cũng góp phần bảo đảm cho việc duy trì quan hệ hôn nhân một cách bềnvững, xây dựng nền tảng gia đình hanh phúc, ấm no

* Cách tính tuổi kết hôn:

Theo Khoản 1- Điều 9 quy định tuổi kết hôn là: “Nam từ 20 tuổi trở lên,

nữ từ 18 tuổi trở lên” Theo quy định này thì “ không bắt buộc nam phải từ

đủ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn, do đó nam

đã bước sang tuổi 20, nữ đã bước sang tuổi 18 mà kết hôn là không vi phạmđiều kiện kết hôn về đọ tuổi” ( theo mục 1 Điểm a Nghị quyết số02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của hội đồng thẩm phán nhân dân tốicao hướng dẫn áp dụng một số quy định của luật hôn nhân gia đình năm2000)

Như vậy chỉ cần nam bước sang tuổi 20, nữ bước sang tuổi 18 là đã cóthể kết hôn Có nghĩa là nữ sau ngày sinh nhật lần thứ 17+ 1 ngày là đã cóthể kết hôn Nam sau ngày sinh nhật lần thứ 19+1 ngày là đã có thể kết hôn

Ví dụ: Chị Nguyễn Thị B sinh ngày 30/04/1990 thì đến ngày 30/04/2007+1 ngày (tức ngày 01/05/2007) thì chị B đã đủ tuổi kết hôn Tương tự đốivới nam

3.2 Kết hôn tự nguyện.

Tự nguyện trong việc kết hôn là hai bên nam nữ tự mình quyết định việckết hôn và thể hiện ý chí là mong muốn trở thành vợ chồng của nhau Mỗi

Trang 9

bênnam nữ không bị tác động bởi bên kia hay bất kỳ người nào khác khiến

họ phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ Hai bên nam nữ mong muốntrở thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thương giữa họ và nhằm mục đích

là cùng nhau xây dựng gia đình

Sự tự nguyện của hai bên nam nữ trong việc kết hôn phải thể hiện rõ là

họ mong muốn được gắn bó với nhau, chung sống với nhau suốt đời nhằmthỏa mãn nhu cầu tình cảm giữa hai người Sự tự nguyện của các bên trongkết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tồn tại lâu dài vàbền vững

Pháp luật quy định việc kết hôn phải có sự tự nguyện của cả hai bên lànhằm cho họ được tự do thể hiện ý chí và tình cảm khi kết hôn Do đó đốivới những người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không có khảnăng nhận thức, làm chủ hành vi của mình, bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự thì pháp luật cấm họ kết hôn Đối với những trường hợp nam nữ bị chấnđộng về thần kinh hoặc đang trong tình trạng say rượu, bia thì tạm thời họkhông được đăng ký kết hôn cho đến khi phục hồi khả năng nhận biết vàhoàn toàn tỉnh táo

Để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện thì khi đăng ký kết hôn,hai bên nam, nữ phải có mặt Đại diện UBND cấp xã yêu cầu hai bên chobiết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn, thì cán bộ Tưpháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn Haibên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn, Chủtịch UBND cấp xã ký và cấp cho mỗi bên vợ, chồng một bản chính Giấychứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ,chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Vào ngày ủy ban nhândân tiến hành đăng ký kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn thì đôi nam

Trang 10

nữ phải có mặt để một lần nữa hai người phải trả lời trước cán bộ hộ tịch vàđại diện Ủy ban nhân dân rằng, đến lúc bấy giờ vẫn hoàn toàn tự nguyện kếthôn với nhau.

Thông thường lễ đăng ký kết hôn được tiến hành tại Ủy ban nhân dân xã,phường nới đăng ký kết hôn Tuy nhiên đối với khu vực miền núi, vùng sâu,vùng xa điều kiện đi lại khó khăn thì lễ đăng ký kết hôn có thể diễn ra tạilàng bản, nhưng dù ở đâu thì cũng phải có sự có mặt của hai bên

*Các quy định của pháp luật

Tại Khoản 2 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình đã quy định: “Việc kếthôn do nam, nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dốibên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”

- Điểm b mục 1 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP cũng quy định rõ:

“Nếu nam và nữ kết hôn tuy có đủ các điều kiện quy định tại các điểm 1 và 3Điều 9, nhưng họ không tự nguyện quyết định mà thuộc một trong cáctrường hợp sau đây, thì vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm 2 Điều9: một bên ép buộc nên buộc bên bị ép buộc đồng ý kết hôn; một bên lừa dốinên bị lừa dối đã đồng ý kết hôn; một bên hoặc cả hai bên nam, nữ bị ngườikhác cưỡng ép buộc người bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng của họ”

Ví dụ 1: A ép buộc B kết hôn với mình nếu B không đồng ý

Ví dụ 2: A bị bố mẹ cưỡng ép bắt phải kết hôn với B vì 2 bên gia đình đã

có giao ước từ trước Nếu A không nghe lời thì bố mẹ A sẽ từ A nên cô đànhphải kết hôn với B theo nguyện vọng của bố mẹ mặc dù cô không yêu anh

B

- Khoản 1 Điều 5 Nghị định 32/2002/NĐ-CP của Chính Phủ đã quy định cụ thể hơn: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng; không bên nào được ép buộc, lừa dối

Trang 11

bên nào

Ủy ban nhân dân cấp xã, Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và các tổ chức thành viên, các Già làng, Trưởng bản, các vị chức sắc tôn giáo vận động, thuyết phục các bậc cha mẹ hướng dẫn con xây dựng gia đình tiến bộ, không được

ép buộc hoặc cản trở việc lấy vợ, lấy chồng của con; vận động mọi người xóa bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu cản trở quyền tự do kết hôn của nam

=> Luật hôn nhân gia đình quy định về sự tự nguyện trong kết hôn đã

xóa bỏ hoàn toàn sự phụ thuộc vào cha mẹ và gia đình như tư tưởng phong kiến, hướng đến việc xây dựng hôn nhân tự nguyện tiến bộ, vợ chồng bình đẳng.

3.3Kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:

- Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;

- Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;

- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi,chấm dứt quan hệ đó ở nước ngoài

- Ngoài ra tại K4 Điều 100 LHN và GĐ còn quy định các quan hệ giữahôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng được áp dụng đối với

Trang 12

quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà mộtbên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.

*Điều kiện kết hôn.

Theo Điều 103 LHNGĐ và Điều 10 NĐ 68 trong việc kết hôn giữacông dân Việt Nam – Người nước ngoài mỗi bên phải tuân theo pháp luậtcủa nước mình về điều kiện kết hôn: áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch Nếuviệc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của ViệtNam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của luật này vềđiều kiện kết hôn (Điều 9 và Điều 10 về điều kiện kết hôn và các trườnghợp cấm kết hôn)

Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước

cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của luậtnày về điều kiện kết hôn Nếu người đó có hai hay nhiều quốc tịch quốc tịchnước ngoài thì giấy tờ xác định điều kiện kết hôn của họ sẽ theo pháp luậtcủa nước mà người đó mang quốc tịch đồng thời vào thời điểm đăng ký kếthôn, nếu người đó không thường trú tại một trong nước mà người đó cóquốc tịch thì giấy tờ đó do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đómang hộ chiếu cấp Đối với người không quốc tịch muốn kết hôn với côngdân Việt Nam và đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Namthì giấy tờ sử dụng trong giấy kết hôn là giấy là tờ do cơ quan có thẩm quyềnnơi người đó thường trú cấp Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài,giấy tờ sử dụng trong việc đăng ký kết hôn là giấy tờ do cơ quan có thẩmquyền của nước nơi người đó định cư hoặc cơ quan ngoại giao, lãnh sự ViệtNam nước đó cấp

Trang 13

Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước

cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định củaLHNGĐVN về điều kiện kết hôn

Đối với công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ tranghoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật quốc gia thì phải nộpgiấy tờ xác nhận của cơ quan có thẩm quyền quản lý ngành cấp trung ươnghoặc cấp Tỉnh xác nhận nếu người đó kết hôn với người nước ngoài khôngảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật nhà nước hoặc không trái với quy địnhcủa ngành đó

Trong các hiệp định trương trợ tư pháp mà Việt Nam kí kết với ngườinước ngoài, nguyên tắc chung là áp dụng luật quốc tịch của các bên đương

sự để điều chỉnh các vấn đề về điều kiện kết hôn Tuy nhiên trong một sốhiệp định cũng có những quy định bổ sung K1 Điều 23 Hiệp định tương trợ

tư pháp Việt Nam – Liên Bang Nga công dân các nước hữu quan muốn kếthôn ngoài việc tuân thủ pháp luật nước mình họ còn phải tuân theo các quyđịnh của pháp luật nước nơi tiến hành kết hôn về cấm kết hôn

IV NHỮNG TRƯỜNG HỢP CẤM KẾT HÔN.

4.1 Khái niệm cấm kết hôn.

Cấm kết hôn là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền không cho phépmột số đối tượng được kết hôn với nhau Việc cấm kết hôn dựa trên cơ sởnền tảng đạo đức, sự trong sáng, lành mạnh và tôn ti trật tự trong quan hệ giađình mang bản sắc luân lý đặc trưng của dân tộc Việt Nam

Việc cấm kết hôn ở Việt Nam được quy định trong:

Luật Hôn nhân gia đình 2000 sửa đổi bổ sung 2010

Điều 10 Những trường hợp cấm kết hôn

Trang 14

Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:

1 Người đang có vợ hoặc có chồng;

2 Người mất năng lực hành vi dân sự;

3 Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họtrong phạm vi ba đời;

4 Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôivới con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với conriêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

5 Giữa những người cùng giới tính

Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP:

Tại mục 1:

c.1 Người đang có vợ hoặc có chồng là:

- Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật vềhôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn;

- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kýkết hôn;

- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà

có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn (trường hợp này chỉ

áp dụng từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực cho đến trước ngày01/01/2003)

c.2 Người mất năng lực hành vi dân sự là người mất khả năng bằnghành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự

c.3 Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ là giữa cha, mẹ vớicon; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại Giữa những người có họ trong

Trang 15

phạm vi ba đời là giữa những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứnhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đờithứ hai; anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.c.4 Đối với trường hợp quy định tại điểm 4 Điều 10 cần hiểu là ngoàiviệc cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi thì điều luật còn cấm kếthôn:

- Giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi;

- Giữa người đã từng là bố chồng với con dâu;

- Giữa người đã từng là mẹ vợ với con rể;

- Giữa người đã từng là bố dượng với con riêng của vợ;

- Giữa người đã từng là mẹ kế với con riêng của chồng

Về các trường hợp cấm kết hôn thì ngoài việc làm rõ thêm các quy định

đã có, trong điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 còn thể hiện một

sự điều chỉnh và bổ sung rất đáng kể Như tại khoản 4 Điều 10 nêu trên,trong khi cụ thể hóa trường hợp cấm kết hôn giữa người đã từng là cha, mẹnuôi với con nuôi thì đã bổ sung thêm việc cấm kết hôn giữa “bố chồng vớicon dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với conriêng của chồng” Đây là bổ sung sáng suốt góp phần bảo vệ nền tảng đạođức, sự trong sáng, lành mạnh và tôn ti trật tự trong quan hệ gia đình mangbản sắc luân lý đặc trưng của dân tộc Việt Nam

Đối với một vấn đề gây tranh cãi và đang có những cách giải quyết khácnhau trên thế giới việc kết hôn của những người cùng giới tính thì thái độcủa các nhà lập pháp Việt Nam thể hiện trong Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 là dứt khoát: cấm kết hôn (khoản 5, Điều 10) Ở nước ta quan hệđồng giới tính là một hiện tượng không mới nhưng hiện nay lại đang nổi lênkhá công khai, nhất là trong cư dân đô thị Về lâu dài, thiết tưởng cần có sự

Trang 16

tìm hiểu, thống kê và nghiên cứu đầy đủ với thái độ tôn trọng và cảm thông

để áp dụng những giải pháp, pháp luật thỏa đáng hơn cho vấn đề hôn nhânđồng giới

Bên cạnh các bổ sung trên thì chúng ta không còn tìm thấy trong đạo luậtmới quy định cấm người đang mắc bệnh hoa liễu, cấm anh chị em cùng chakhác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha kết hôn với nhau như đã từng đặt ra trongĐiều 9 và 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959; các điểm b và c Điều 7Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986

Về trường hợp bỏ cấm đoán kết hôn đối với người đang mắc bệnh hoaliễu (và chúng ta liên tưởng đến cả người nhiễm HIV-AIDS) có lẽ mangnhiều ý nghĩa nhân đạo Bởi lẽ, những căn bệnh trên không thể là lý do đểtước bỏ quyền kết hôn của công dân khi họ có tình yêu thương và thật sự tựnguyện chấp nhận cuộc sống lứa đôi trong hoàn cảnh bệnh tật khó khăn đó.Mặt khác, đối với y học ngày nay thì việc ngăn ngừa sự lây lan và chữa trịbệnh hoa liễu không còn là nan giải nữa

Việc không có quy định trực tiếp cấm kết hôn giữa hai người là anh chị

em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha cần được hiểu như thế nào?Những người này có liên hệ về huyết thống, do đó căn cứ đoạn 2, mục 3Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì họ thuộc diện có họ trongphạm vi ba đời, không được kết hôn với nhau Hiểu như vậy là theo đúng lô-gíc: giữa những người có họ trong phạm vi ba đời (bao gồm trực hệ và bànghệ) đều bị cấm kết hôn, trong đó anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng

mẹ khác cha thuộc trường hợp không thể cho kết hôn với nhau được!

Vấn đề kết hôn giữa con riêng của chồng và con riêng của vợ, giữa

Ngày đăng: 30/01/2016, 06:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình trường Đại học Luật Hà Nội Khác
2. Luật hôn nhân và gia đình 2000 Khác
3. Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Khác
4. 28-L/CTN - Pháp lệnh Hôn nhân và Gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Khác
5. Nghị quyết 35/2000/QH10 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình ban hành ngày 09/06/2000 Khác
6. Các trang thông tin pháp luật Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w