Có thể nói chưa có một áng văn thơ nào của Việt Nam được truyền tụng, thấm đẫm nhân văn trong đời sống xã hội như Truyện Kiều Kỷ niệm 250 năm Ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du,vinh danh D
Trang 1
Có những tác phẩm văn học bất hủ, kết tinh văn hoá tinh thần của một đất nước, phô bày vẻ đẹp của một thứ tiếng, biểu hiện tài hoa của một dân tộc Chúng chẳng những trở thành niềm đam mê và tự hào của dân tộc đó, mà còn là chiếc cầu nối đem lại bao nhiêu tình yêu và lòng kính trọng của các dân tộc khác
Việt Nam chúng ta may mắn có được Truyện Kiều, nhờ đó mà văn hoá Việt
Nam thêm rạng rỡ, vẻ đẹp của tiếng Việt được tôn xưng, tài năng người Việt được khẳng định
Từ đầu thế kỷ XX, học giả Phạm Quỳnh đã có câu nói nổi tiếng "Truyện Kiều còn, tiếng
ta còn Tiếng ta còn, nước ta còn" Trải qua hàng trăm năm với biết bao dâu bể từ khi Đại Thi hào Nguyễn Du viết ra, Truyện Kiều vẫn mãi lay động tâm trí hàng triệu triệu người trên khắp thế giới Có thể nói chưa có một áng văn thơ nào của Việt Nam được truyền tụng, thấm đẫm nhân văn trong đời sống xã hội như Truyện Kiều
Kỷ niệm 250 năm Ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du,vinh danh Danh nhân văn hóa thế giới là sự kiện văn hóa cấp quốc gia, có tầm ảnh hưởng quốc tế Tập thể lớp 7 D chúng em cùng nhau hưởng ứng bằng những trang viết mộc mạc nhưng chứa chan niềm yêu mến thiết tha, sự ngưỡng vọng thành kính, lòng tự hào khâm phục với tác giả và tác phẩm Truyện Kiều ,là cơ hội để những học sinh như chúng em thu thập thêm những hiện vật, tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Du, để thêm tự hào yêu mến mảnh đất quê hương đất nước mình Đây cũng là dịp để quảng bá rộng rãi hình ảnh quê hương Nghi Xuân và con người Hà Tĩnh với bạn bè trong nước và thế giới
Ban biên tập
A NGUYỄN DU-THÂN THẾ-SỰ NGHIỆP
Trang 2Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà nhân đạo lỗi lạc có “con mắt nhìn thấu sáu cõi” và “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân).
Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh năm Ất Dậu (1765), niên hiệu
Cảnh Hưng triều vua Lê Hiển Tông Nơi sinh là phường Bích Câu, thành Thăng Long (Hà Nội) Lúc bấy giờ, cha là Nguyễn Nghiễm đang làm tể tướng Bốn năm trước, người anh cùng mẹ Nguyễn Nễ cũng sinh tại đây Mẹ đẻ của Nguyễn Du là Trần Thị Tần vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm Bà là con gái thứ ba của một vị quan nhỏ coi việc sổ sách kế toán (chức Câu Kê) dưới trướng Nguyễn Nghiễm, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Hương Mặc, huyện Từ Sơn) Bà Trần Thị Tần sinh năm Canh Thân (1740) và mất ngày mùng 6 tháng 7 năm Mậu Tuất (1778) thọ 39 tuổi Năm đó Nguyễn Du mới 13 tuổi Bà Trần Thị Tần thuộc dòng dõi Trần Phi Chiêu (1549 – 1623), ông đậu tiến sỹ năm Kỷ Sửu (1589) làm quan đến chức thượng thư bộ Hộ, kiêm Đô Ngự Sử, tước Diên Quận công Bà là một phụ nữ nết na, thông minh, và xinh đẹp, lại sinh ra tại xứ Kinh Bắc vùng quê quan họ Điều đó ảnh hưởng tốt đến hồn thơ Nguyễn Du từ những ngày còn bé
Theo tộc gia phả của dòng họ Nguyễn Tiên Điền, lên 3 tuổi, Nguyễn Du được tập ấm là Hoàng Tín Đại phu, xuất thân là Thành Môn Vệ Úy, tước Thu Nhạc bá Với cái hàm ấy, Nguyễn Du đã đứng trong hàng sĩ tịch của triều đình nhà Lê, mặc dù chưa phải là một vị quan tại chức Nguyễn Du tướng mạo khôi ngô Lên 6 tuổi bắt đầu đi học chữ Hán, sách vở chỉ cần xem qua một lần là nhớ Có lần Viện Quận công Hoàng Ngũ Phúc đến dinh thự nhà Nguyễn Nghiễm ở phường Bích Câu chơi Trông thấy Nguyễn Du có tướng mạo phi thường, lấy làm quý mến bèn tặng ông một thanh Bảo Kiếm
Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nghiễm thôi chức tể tướng, về trí sĩ ở quê nhà, Nguyễn Du theo cha về quê Tại bến Giang Đình, ông được chứng kiến cảnh vinh hoa của gia đình mình
(sau này ông có nhắc lại trong bài thơ Giang Đình hữu cảm) Năm Bính Thân (1776) Nguyễn
Nghiễm mất, lúc đó Nguyễn Du mới lên 11 tuổi Trong hơn 10 năm ấy, Nguyễn Du sống bên cạnh cha không nhiều Năm 1778, bà Trần Thị Tần lâm bệnh rồi mất Nguyễn Du mồ côi cha mẹ
Nguyễn Nghiễm có 8 bà vợ, ngoài hai bà ở quê là Đặng Thị Dương (mẹ đẻ Nguyễn Khản) và Đặng Thị Tuyết (mẹ đẻ Nguyễn Điều) Các bà còn lại đều quê ở ngoài Bắc Bà Trần Thị Tần
ít hơn Nguyễn Nghiễm 32 tuổi, các bà khác còn trẻ hơn
Cha mẹ mất, Nguyễn Du về sống với gia đình quan tể tướng tại Tiên Điền Thủa ấy, dinh cư nhà Nguyễn Nghiễm rất nguy nga, đồ sộ Người dân Nghi Xuân hồi đó làm thơ tả cảnh nhà ông như sau:
Trèo lên Hồng Lĩnh mà trông
Nhìn về đã thấy dinh ông rõ ràng
Lâu đài dãy dọc tòa ngang
Ông ngồi đọc sách nghiêm trang một mình
Thời gian này Nguyễn Du bước vào tuổi trưởng thành, việc ăn học đòi hỏi ngày một nhiều Sau khi Nguyễn Nghiễm mất, gia cảnh không còn phong lưu như trước Đời sống cùng việc học hành của Nguyễn Du không được như khi còn cha mẹ Tuy vậy với địa vị và danh tiếng của gia tộc, Nguyễn Du vẫn là cậu Chiêu bảy được mọi người ngưỡng mộ Quãng thời gian này, ngoài việc học hành, những khi rỗi rãi, lễ tết, Nguyễn Du thường cùng với bạn trai phường hát Tiên Điền vượt truông Hống đò Cài vào Trường Lưu hát ví và xướng họa thơ phú Qua những lần đi hát, Nguyễn Du thực sự có cảm tình với o Uy, o Sạ Đã có lần do mối thâm tình này mà gây ra bất hòa với trai Trường Lưu Những năm sau này (sau 1786), khi từ Thái Bình về sống tại quê nhà, trở lại Trường Lưu gặp lại người xưa, gặp lại cảm xúc thời trai
trẻ, Nguyễn Du đã viết bài Văn tế Trường Lưu Nhị Nữ nổi tiếng.
ất Trường Lưu ngoài hát phường vải có tiếng còn là chỗ thông gia với họ Nguyễn Tiên Điền Nguyễn Huy Tự tác giả Truyện Hoa Tiên là con rể Nguyễn Khản (Lấy Nguyễn Thị Bành và
Trang 3Tiên Vì thế, Trường Lưu là nơi đi lại rất đỗi thân tình của Nguyễn Du Năm Quý Mão (1783), 19 tuổi, Nguyễn Du ra Sơn Nam ( Nam Định) dự kỳ thi Hương và đậu Tam Trường (Tú tài) Cùng năm này, anh là Nguyễn Nễ (con bà Trần Thị Tần) em là Nguyễn Nhưng (con
bà Hồ Thị Ngạn), cháu là Nguyễn Thiện (con Nguyễn Điều) thi đậu Tứ Trường (Cử nhân) ở trường Phụng Thiên
Sau sự kiện Kiêu binh nổi loạn (1872), dinh thự Nguyễn Khản tại phường Bích Câu bị đốt
cháy Hoàn cảnh khó khăn, Nguyễn Khản đành xin cho Nguyễn Du làm chức Chánh Phủ Hiệu tỉnh Thái Nguyên vào năm 1786 Cũng trong năm này, Nguyễn Du cưới bà Đoàn Thị Huệ con gái Đoàn Nguyễn Thục, đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Thân (1752) đang giữ chức Ngự Sử tại triều, người xã An Hải, huyện Quỳnh Côi, Trấn Sơn Nam (nay là tỉnh Thái Bình)
Năm Đinh Mùi (1787), Tây Sơn tiến quân ra Bắc lấy Bắc Hà Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, Nguyễn Du chạy theo vua xong không kịp, phải chạy về trốn ở quê vợ tại Thái Bình (ở nhờ nhà anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn) Ông tập hợp hào mục để tính chuyện phục quốc nhưng chí không thành
Mười năm lưu lạc ăn nhờ ở đậu quê vợ là những năm tháng cô đơn cùng cực của Nguyễn Du,
đói không cơm ăn, rét không có áo mặc Ông gọi quãng thời gian này là “Mười năm gió bụi”
(Thập tải phong trần) Thường ngày ông làm thơ than thở cho cảnh ngộ của mình, chưa làm nên danh vọng gì đã rơi vào cảnh cùng khổ
Điều này khiến ông suy nghĩ nhiều về cuộc đời và thảm cảnh mà gia đình ông phải gánh chịu
Cho nên mới 30 tuổi mà tóc đã bạc trắng, ông đã giải bày nỗi niềm của mình trong bài U cư:
…Mười năm trọn quê người nấn ná Nương quê người tóc đã điểm sương
Những năm này, gia cảnh nhà vợ chẳng có gì khá giả Đoàn Nguyễn Thục đã mất, con trai lớn cũng mất, Nguyễn Du đành cõng người con trai còn lại là Nguyễn Tứ về quê cha đất tổ ở Tiên Điền Trở lại quê, nhà cửa tan hoang, anh em lưu tán khắp nơi, ông đã phải thốt lên: “Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán” (trở về Hồng Lĩnh gia đình không còn anh em lưu lạc khắp nơi).Tuy vậy, ở Tiên Điền, lúc này bà con thân thuộc, con cháu thì nhiều Nguyễn Du được bà con gia tộc chia cho mảnh đất ở thôn Thuận Mỹ làm nhà ở Do được sinh ra và sống trong hoàn cảnh nhung lụa của một gia đình quý tộc nên về quê Nguyễn Du chẳng biết làm gì ngoài đống sách vở thánh hiền Đêm nằm nghe tiếng gió Bắc thổi qua liếp cửa, tiếng chuột chạy trên đống sách khiến ông càng thêm buồn Để khuây khỏa Nguyễn Du thường cùng trai làng Tiên Điền lên núi Hồng Lĩnh săn hươu, nai, chồn, xạ hương…và xuống sống Lam bắt cá Ông tự đặt cho mình biệt hiệu “ Hồng Sơn liệp hộ” (Phường săn núi hồng) và “ Nam Hải điếu đồ” (Nhà chài
Lúc nhà Chu mới dậy vẫn còn dân ngoan cố)
Hay: Đàn đắc Kỳ Sơn thánh nhân xuất
Bá Di truy tử bất thần Chu (Dẫu có bậc thánh nhân ta đời ở đất Kỳ Sơn Nhưng ông Bá Di tuy đến chết cũng chẳng chịu làm quan cho nhà Chu)
Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du toan trốn vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh Việc bại lộ, tướng Tây Sơn là quận công Nguyễn Văn Thận bắt giam May nhờ Nguyễn Văn Thận
là bạn thân của anh ruột cùng mẹ là Nguyễn Nễ (hơn nữa cũng tiếc Nguyễn Du là người có tài) nên không nỡ giết, chỉ giam vài tháng rồi cho về Trong bài My trung mạn hứng ông có ghi lại sự việc này:
Trang 4Bốn bề giói bụi tình nhà việc nước mà rơi lệ Mười tuần lao tù nỗi lòng thắc thỏm cái sống chết
Tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802), Gia Long ra Bắc Hà có xuống chiếu cho các quan chức cũ của nhà Lê phải ra yết kiến Nhân dịp đó, Nguyễn Du được vua truyền lệnh theo xa giá ra Bắc Thành và được dùng làm quan Tháng 8 năm ấy được bổ làm tri huyện Phù Dung (thuộc Khoái Châu, Sơn Nam) Tháng 11 bổ làm tri phủ Thường Tín
Mùa đông năm Quý Hợi (1803) sứ nhà Thanh phong sắc cho vua Gia Long Nguyễn Du được
cử cùng Tri phủ Thượng Hồng là Lý Trần Chuyên; tri phủ Thiên Trường là Ngô Nguyễn Viên
và tri phủ Tiên Hưng là Trần Lân đi Trấn Nam Quan (Hữu Nghị quan ngày nay) nghênh tiếp
sứ thần
Mùa thu năm Giáp Tý (1804) Nguyễn Du lấy cớ bị bệnh xin từ chức về quê Con đường làm quan với nhà Nguyễn đang hanh thông, nhưng ông vẫn thấy không mặn mà với triều đại này.Trong bài thơ Hỷ Thúc phụ Thường Tín giải quan quy Nguyễn Hành có ý khen chú mình là người có dũng khí:
Thanh bình hà sự cố từ quan.
Dũng thoái như kim ý sở an.
Liệt tước dĩ tàng thiên hạ đắc.
Lệnh danh ưng vị ngã gia hoàn.
Nghĩa là:
Đang buổi thanh bình cớ sao chú lại cáo quan mà về
Chú mạnh mẽ rút lui lúc này là do ý muốn Chú đã có một chức tước trong thiên hạ.
Thì chú cần phải giữ trọn danh tiết cho nhà ta.
Về quê chưa được bao lâu thì vua Gia Long có chỉ gọi ông vào Kinh Đô Mùa xuân năm Ất Sửu (1805) được thăng Đông Các đại học sĩ, tước Du Đức hầu Đây là một ân sủng lớn mà triều đình giành cho Nguyễn Du Bởi Nguyễn Du chỉ đỗ Tam Trường (Tú tài) mà thời đó phải
đỗ Hương cống (Cử nhân) thì mới được bổ làm quan Sở dĩ triều đình nhà Nguyễn phong đặc cách cho Nguyễn Du như vậy vì: trước hết Nguyễn Du là một người có tài, hơn nữa ông lại xuất thân trong một gia đình khoa bảng lỗi lạc, một thời gian dài là dường cột của triều đình nhà Lê Trọng dụng những người như Nguyễn Du có thể tranh thủ được sĩ phu Bắc Hà
Tuy ra làm quan to với nhà Nguyễn, nhưng Nguyễn Du chẳng lấy làm vui mà lại thêm buồn Buồn vì thời thế đã thay đổi, lại buồn cho thân phận mình “Nghĩ mình phận chẳng ra gì” Những đêm mưa rả rích ở xứ Huế, một mình nhìn về phía Bắc Đèo Ngang lòng càng thêm đau xót Nhà nghèo lại đông con, phải chịu cảnh đói rách:
Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc (Mười miệng đói đang kêu ở Đèo Ngang)
Tháng 9 năm Đinh Mão (1807), được bổ chức giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương Xong việc, ông xin nghỉ về quê, được vua chấp thuận Đến mùa Hạ năm Kỷ Tị (1809) vua lại
có chỉ bổ ông giữ chức Cai Bạ tỉnh Quảng Bình
Ông lại buồn thêm cho cảnh cá chậu chim lồng của mình Lòng luôn hướng núi Hồng, nhớ những buổi đi săn nai, săn hươu, càng muốn được sống cảnh thanh nhàn nơi rừng núi Vì thế, trong mười chín năm làm quan cho triều Nguyễn, ông sống âm thầm, lặng lẽ, không tấu trình
điều gì, chỉ có vâng dạ Đến nỗi vua Gia Long đã trách cứ Nguyễn Du: “Nhà nước dùng người, cứ ai hiền tài thì dùng không phân biệt gì Nam với Bắc cả Nhà người đã làm quan đến chức á Khanh, biết việc gì phải nói để tỏ cái chức trách của mình, có lễ đâu cứ rụt rè sợ
hãi, chỉ vâng vâng, dạ dạ hay sao?” (Đại Nam chính biên liệt truyện)
Những năm làm Cai Bạ tỉnh Quảng Bình, phàm những việc trong hạt như: lính tráng, dân sự, kiện thưa, tiền nong, lương thực và các hạng thuế, ông đều bàn bạc thương thuyết với các quan lưu thư ký mục để thi hành Nguyễn Du giữ chức Cai Bạ 4 năm, chính sự giản dị không
Trang 5hạn hán mất mùa, dân đói kém, ông viết thư gửi Hiệp Trấn Nghệ An Ngô Nhân Tĩnh xin miễn thuế cho dân Nghệ An năm đó và làm thơ cảm tạ:
…Xa nhìn Hồng Lĩnh ngôi sao đức Nâng chén mừng quê khách dặm ngàn
Cùng năm đó, xảy ra vụ án Đặng Trần Thương, Nguyễn Gia Cát và Vũ Quý Đình làm 500 đạo sắc giả bán lấy tiền, càng làm cho Nguyễn Du thêm chán cảnh quan trường, nơi đầy rẫy những kẻ xu thời trục lợi, chỉ thích vơ vét tiền bạc Đến tháng 9 năm Nhâm Thân (1812) ông xin tạm nghỉ hai tháng về quê xây mộ cho anh là Nguyễn Nễ
Tháng hai năm Quý Dậu (1813) có chỉ triệu ông về Kinh thăng hàm Cần Chánh Đại học sĩ, rồi cử đi sứ Trung Quốc với tư cách là Tuế Cống Chánh sứ Hai phó sứ giúp việc là Thiêm Sự
Bộ Lại Trần Văn Đại và Nguyễn Văn Phong
Trên đường đi sứ sang Trung Quốc, Nguyễn Du lại có dịp trở lại Thăng Long Bạn bè ở Thăng Long mở tiệc đưa tiễn ở dinh Tuyên phủ, có gọi mấy chục nữ nhạc đến giúp vui Trong đám nữ nhạc ông nhận ra một người mà 20 năm trước, khi ông từ Thái Bình lên thăm anh là Nguyễn Nễ đã hát cho quân Tây Sơn nghe Bây giờ dung nhan tiều tụy, ông chạnh lòng nghĩ đến việc thế sự đổi thay, buồn bã thốt lên: “Than ôi! Sao người ấy đến nỗi thế? Tôi bồi hồi không yên, ngẩng lên cúi xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa nay” Lòng cảm thương vô hạn, ông đã gửi vào bài thơ Long thành cầm giả ca
Ông còn đau lòng hơn khi đi qua dinh thự nhà mình tại phường Bích Câu Nhà cũ không còn, Cung vua, phủ chúa đã thành đường cái quan Những cô gái quen đã đi lấy chồng, những bạn trai chơi thân ngày trước thì nên ông, nên lão Chứng kiến cảnh cũ, ông thương tiếc, đau xót cho sự biến đổi của cuộc đời
Ngày 6 tháng 2 năm 1813, đoàn sứ bộ qua ải Nam Quan, đến ngày 4 tháng 10 thì đến Bắc Kinh Trong thời gian đi sứ, ngoài sứ mệnh bang giao, mỗi khi đi qua đền chùa, các danh thắng nổi tiếng của Trung Quốc, Nguyễn Du thường ghé thăm và làm thơ Ông ca ngợi Hạng
Vũ, Văn Thiên Trường, Tỷ Can… qua sông Mịch La nơi Khuất Nguyên tự tử, Nguyễn Du
làm bài thơ Phản chiêu hồn khuyên Khuất Nguyên đừng trở về dương gian xấu xa, đầy tội ác
Qua tượng vợ chồng Tần Cối, ông chê trách Tần Cối nghe vợ giết trung thần làm Hán gian cho ngoại bang Đến thăm đền thờ Tiểu Thanh ở Hàng Châu, tỉnh Triết Giang, người con gái tài sắc bạc mệnh, Nguyễn Du làm thơ khóc Tiểu Thanh, ngậm ngùi nghĩ đến thân phận mình:
“Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như”
(Không biết ba trăm năm lẻ nữa Thiên hạ có ai khóc Tố Như không)
Tháng 4 năm Giáp Tuất (1814) Nguyễn Du trở về nước và có tập thơ Bắc hành tạp lục Mùa
hạ năm Ất Hợi (1815) Nguyễn Du được phong chức Hữu Tam Tri Bộ Lễ, tước Du Đức hầu (do đó người xưa thường gọi ông là Quan Tham Thúy Kiều) Mùa thu năm Kỷ Mão (1819) Nguyễn Du được cử làm Đề Điệu trường thi Quảng Nam, ông dâng biểu xin nghỉ được nhà vua chuẩn y Tháng 8 năm Canh Thìn (1820) vua Gia Long mất, Minh Mạng lên ngôi, có lệnh sai Nguyễn Du đi làm Chánh sứ sang Trung Quốc cầu phong, nhưng ông chưa kịp đo thì mất tại Kinh thành Huế vào ngà 10 tháng 8 niên hiệu Minh Mạng năm đầu (dương lịch 16/9/1820)
hưởng thọ 55 tuổi Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép: “Khi bệnh nặng không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân, nói đã lạnh rồi, ông bảo tốt, nói xong rồi mất không trăn trối lại điều gì về sau” Nguyễn Du chết do dịch tả, trận dịch này bắt đầu từ Xiêm La, Chân Lạp rồi lây sang nước ta Sử nhà Nguyễn chép: “Vào khoảng tháng 7, tháng 8, bệnh dịch phát sinh từ các tỉnh Hà Tiên, Định Tường rồi lây lan ra khắp nước đến tận Bắc Thành, người chết không biết bao nhiêu mà kể Thành thị thôn quê đều náo động”
Nguyễn Hành bấy giờ đang ở Bắc Thành được tin chú mất, làm thơ Văn Thúc phụ Lễ Tham Tri phó âm cảm tác có câu thơ như sau:
Trang 6Ngô môn hậu phúc công xảo hoàn Dịch lệ hà năng tốc công tử (Phú dày nhà ta chú đã giữ trọn vẹn (Bệnh dịch sao có thể làm chú chết nhanh như thế)
Sự nghiệp văn chương của Đại thi hào đã để lại cho hậu thế gồm:
- Về chữ Hán: Thanh Hiên Thi Tập; Nam Trung Tạp Ngâm; Bắc Hành Tạp Lục; Lê Quý
Vì sống trong thời đại như thế, chứng kiến những thăng trầm, những bể dâu của xã hội như thế đã tác động rất lớn đến hồn thơ Nguyễn Du, ông đã dùng ngòi bút của mình để giãi bày,
để viết lên những tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc, các sáng tác của ông xoay quanh những vấn đề trong thời ông sống, ông lên án tố cáo chế độ phong kiến và thông cảm, bênh vực cho số phận những người bất hạnh Nói đến quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Du phải nói đến tư tưởng nhân đạo- đấy là tư tưởng nòng cốt trong sáng tác của ông
Giữa cuộc đời và sự nghiệp sáng tác có ảnh hưởng rất lớn với nhau Cuộc đời là nền tảng,
là cơ sở để tìm hiểu những giá trị về nội dung trong sáng tác của một nhà thơ Ngược lại qua tác phẩm không chỉ giúp ta hiểu về một tác giả mà còn hiểu cả một thời đại mà tác giả đã sống Các sáng tác của Nguyễn Du đều chịu sự ảnh hưởng sâu sắc từ gia đình và truyền thống văn chương Những tác phẩm ấy thể hiện sự phản ánh của mình về thời cuộc và những hiện thực cuộc sống Qua đó ta cảm một tấm lòng thiết tha yêu đời, một tấm lòng nhân đạo sâu sắc
Nguyễn Du là một con người có tâm hồn lớn Trước sự thay đổi của thời cuộc, tuy Nguyễn
Du có lúc chán chường, có lúc gần như tuyệt vọng song ông vẫn nhìn thẳng vào thực tế không quay lưng lại với cuộc đời như những người cùng thời( Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Hành…) Nguyễn Du đã trải qua những năm tháng sống cuộc đời bảy nổi ba chìm, ốm không thuốc,đói không có cơm ăn, sự nghiệp tiêu tan, người thân mỗi người mỗi ngã, bản thân trôi giạt… thế nhưng ông vẫn sống có ích cho cuộc đời Là người sống trong gia đình quý tộc, đi đây đi đó nhiều nhìn thấy và thông hiểu tâm tư nguyện vọng của đại đa số quần chúng nhân dân, nên hơn ai hết ông có cái nhìn toàn diện về cuộc đời và phản ánh vào trong tác phẩm những vần thơ sâu sắc, như Chế Lan Viên từng viết: “ Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn” Chính bản thân ông và các yêu tố quê hương, gia đình và thời đại đã mang lại cho dân tộc Việt Nam một đại thi hào dù sinh ra trong một gia đình trâm anh thế phiệt và phải trải một đời nhiều long đong, lưu lạc để rồi từ đó chắt chiu mật ngọt, hiến dâng cho đời những tác phẩm chan chứa tình đời, tình người nhưng cũng rất điêu luyện về nghệ thuật Đọc tác phẩm của ông, ta như thấy được một thi nhân thâm thuý, trải đời, ở đó, lòng nhân ái, sự nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên cho dân tộc, cho nhân dân mà trước hết là cho thân phận những người phụ nữ dưới chế độ phong kiến hà khắc như giọt máu đào nhỏ ra từ ngòi bút tài hoa
2 TRUYỆN KIÊU – KHÚC NAM ÂM TUYỆT XƯỚNG
Trang 7Truyện Kiều là thành tựu lớn nhất của thi hào Nguyễn Du và là thành tựu kiệt xuất của văn chơng Việt Nam Truyện Kiều cú nguồn gốc từ một tiểu thuyết Trung Quốc cú tờn là Kim Võn Kiều truyện của Thanh Tõm Tài Nhõn Tuy vậy, phần sỏng tạo của Nguyễn Du hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định thành cụng của tỏc phẩm Sự sỏng tao thể hiện từ nghệ thuật kể chuyện bằng thơ đến nghệ thuật xõy dựng tớnh cỏch nhõn vật, tả người, tả cảnh… đều đạt tới trỡnh độ điờu luyện.
Tên tác phẩm vốn là Đoạn trờng tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột) Tác phẩm viết bằng quốc âm nhng nhan đề bằng Hán-Việt là hiện tợng không phải hiếm trong văn học Việt Nam thời trung đại, và ngời xa cũng có thói quen gọi tên tác phẩm bằng tên nhân vật chính nên ngoài tên gọi Truyện Kiều, có ngời chỉ gọi kiệt tác này là Kiều, cung cách ấy ngày nay vẫn còn gặp Tác phẩm gồm 3.254 dòng thơ theo thể lục bát
Nội dung tỏc phẩm được túm tắt như sau:
Phần thứ nhất: Gặp gỡ và đớnh ước
Thỳy Kiều là thiếu nữ tài sắc, con gỏi đầu lũng một gia đỡnh trung lưu lương thiện, sụng trong cảnh ấm đềm trưởng rủ màn che bờn cạnh cha mẹ Và hai em là Thỳy Võn, Vương Quan Trong dịp du xuõn tiết Thanh Minh, Thỳy Kiều gặp Kim Trọng Tỡnh yờu giữa hai người chớm nở Nhõn việc trả chiếc thoa rơi, Kim Trọng đó gặp gỡ Thỳy Kiều Sau đú hai người bày tỏ tõm tỡnh và tự nguyện đớnh ước với nhau
PHẨN THỨ HAI: Gia biến và lưu lạc
Trong khi Kim Trọng về quờ ở tận Liờu Dương để chịu tang người chỳ, gia đỡnh Thỳy Kiều bị tờn bỏn tơ vu oan dẫn đờn cảnh tội tự, tan nỏt Thỳy Kiều nhờ Thỳy Võn trả mún nợ tỡnh cho Kim Trọng, cũn nàng thỡ quyết định bỏn mỡnh để lấy tiền chuộc cha
Thỳy Kiều bị bọn buụn người Mó Giỏm Sinh, Tỳ Bà, Sở Khanh lừa gạt đẩy vào lầu xanh Mến mộ tài sắc của nàng, Thỳc Sinh đó chuộc nàng rỏ, cưới làm vợ lẽ Nhưng rồi Kiều bị vợ
cả của Thỳc Sinh là Hoạn Thư ghen tuụng, đày đọa, làm cho khốn khổ Nàng phải trụn đến nương nhờ cửa Phật Giỏc Duyờn vụ tỡnh gửi nàng cho Bạc Bà – một kẻ buụn người như Tỳ
Bà nờn lần thứ hai, Kiều lại rơi vào lầu xanh, ơ đõy, Thỳy Kiều gặp người anh hựng Từ Hải
Từ Hải cưới Kiều làm vợ và giỳp nàng bỏo õn bỏo oỏn Do mắc lừa tờn quan tổng đốc Hồ Tụn Hiến nờn Từ Hải bị giết chết Thỳy Kiều phải hầu đàn, hầu rượu cho Hồ Tụn Hiến rồi bị ộp gả cho viờn thổ quan Đau đớn, tủi nhục, Kiều trẫm mỡnh xuống sụng Tiền Đường Nàng được Giỏc Duyờn cứu và lần thứ hai, nàng lại nương nhờ cửa Phật
PHẨN THỨ BA: Đoàn tụ
Sau nửa năm, Kim Trọng trở lại vườn Thuý để tỡm Thuý Kiều Hay tin gia đỡnh nàng gặp cơn hoạn nạn và Kiều phải bỏn mỡnh chuộc cha, chàng đau đớn vụ cựng Tuy kết duyờn với Thuý Võn theo nguyện vọng của Thuý Kiều nhưng Kim Trọng chẳng thể nào nguụi được mối tinh đầu say đắm Chàng quyết cất cụng đi tỡm Thuý Kiều Tỡnh cờ gặp dược Giỏc Duyờn mà Kim, Kiều gặp nhau, gia đỡnh đoàn tụ Chiều ý mọi người, Thuý Kiều nối lại duyờn với Kim Trọng nhưng cả hai cựng nguyện ước Duyờn đụi lứa cũng là duyờn bạn bầy
Về nội dung, Truyện Kiều cú hai giỏ trị lớn là hiện thực và nhõn đạo
Trang 8Tác phẩm đã phản ánh sâu sắc hiện thực xả hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thông trị và sô" phận đau khổ của những con người bị áp bức, đặc biệt là bi kịch của người phụ nữ.
Trước hết, tác giả tô" cáo tội ác của giai cấp phong kiến thống trị, trong xã hội người bóc lột người Thường thường, chúng vẫn dùng chiêu bài đạo lí, nhân nghĩa đế che lấp tội ác Với Truyện Kiều, Nguyền Du đã bóc trần bản chất xấu xa của chúng trước dư luận ngàn đời
Bao nhiêu đau đớn, bất hạnh của con người được Nguyễn Du tập trung thể hiện trong nhân vật tiêu biếu là Tnuý Kiều Bằng tài năng nghệ thuật kiệt xuất, ông đã làm cho nhân vật ây sống mãi với thời gian
Cuộc đời trầm luân của Thuý Kiều xưa nay đã được bao người nhắc đến Truyện Kiều ra đời cách đây đã mấy thế kỉ, vậy mà những lời thơ tâm huyết kia đến nay vẫn như còn nóng hổi, làm cho gan ruột người đọc quặn đau Sức sông của tác phẩm và nhân vật vẫn nguyên vẹn như thuở ban đầu
Cô gái họ Vương tài sắc vẹn toàn, lại có thêm một tâm hồn nhân hậu cao quý, biết thương mến và biết hi sinh Lẽ ra, nàng phải được sông một cuộc đời hạnh phúc, được yêu, được làm
vợ, làm mẹ Nhưng không, xã hội phong kiến bạo tàn đã vồ lấy nàng, giật đóa hoa tình yêu thơm ngát mà nàng vừa mới dưa tay ra đón, vò nát tan tành Gia đình nàng bỗng dưng bị thằng bán tơ vu oan và cách xử kiện của viên quan “ba trăm lạng” buộc Kiều phải bán mình chuộc cha, mở đầu tấn bi kịch của đời mình
Rồi từng lũ người đầu trâu mặt ngựa, bằng vu oan, bằng đểu cáng, hùa nhau lôi Thuý Kiều ra khỏi cảnh Êm đềm trướng rủ màn che và vòng tay nâng niu chiềụ chuộng của cha mẹ, để xô đấy nàng vào một cuộc đời nhơ bẩn, đoạ đày Hqạn nạn nọ chưa qua, tai ương khác đã đến, liên tiếp trong suốt mười lăm năm trời Có lúc tưởng như nhừng thế lực hắc ám đã buông tha Kiều và người con gái tội nghiệp kia mừng rỡ vì thoẩt nợ, nhưng liền ngay sau đó, giông tố lại nổi lên dữ dội hơn và bàn tay vô hình độc ác lại nhân nàng sâu hơn xuống bùn đen
Mấy phen Thuý Kiều cố vươn lẽn, tìm cách thoát khỏi cảnh đời ô nhục Lần đầu, nàng dùng dao để quyên sinh nhưng phản ứng nông nổi của nàng đã bị mưu mô xảo trá của mụ Tú Bà đánh bại Lần thứ hái, nàng đành nhắm mắt đưa chân, phó thác phận mình cho anh chàng si tình họ Thúc Nàng thừa biết đây nào phải là chuyện vợ chồng êm ấm, mà chỉ là Sắn bìm chút phận cỏn con Nhưtig biết làm sao! Thà làm vợ lẽ vẫn còn hơn là sống cuộc đời khổ nhục của gái lầu xanh Ay vậy mà bao nhiêu toan tính của nàng đều sụp đổ, chút ước mong được sống bình yên với thân phận lẽ mọn cũng không thành
Lần thứ hai, sau khi được Từ Hải chuộc ra khỏi lầu xanh và cưới làm vợ, Thuý Kiều đường đường trở thành một bậc phu nhân cao sang, quyền quý Cũng vì thương người, ngậm ngùi trước cảnh Đống xương vô định đã cao bằng đầu mà nàng đã dùng hết những lí lẽ của Hồ Tôn Hiên đè khuyên Từ Hải ra hàng Nàng mong thiên hạ thái bình để được trở về với cha mẹ, với quê hương
Ác thay! Cái chế độ thối nát thể hiện ở tên Tổng đốc trọng thần vừa bất tài, vừa đê tiện kia không thể dung nạp nổi một nguyện vọng bình thường, nhỏ nhoi như thế Để trả lời cho ước mong bình dị của ngườỉ đàn bà khổ sở, tên Hồ Tôn Hiến phản phúc đã nhẫn tâm lừa giết chồng nàng và trơ tráo kiếm chác trên nhan sắc cùng tài hoa của nàng Lúc tỉnh rượu, sợ mang tai tiếng, hắn lại ép nàng lấy một viên thổ quan cho êm chuyện
Hành động quyên sinh của Thuý Kiều ở sông Tiền Đường không chĩ chấm đứt một đoạn độri mười lăm năm lưu lạc của nàng mà còn là một cách kết luận đầy nghệ thuật của Nguyễn Du
Trang 9về cái xã hội đả đày đoạ nàng Đó là Iĩiột xã hội vô nhân đạo, không tôn trọng tài hoa, đức hạnh, chà đạp lên nhân phẩm và không để cho con người được sống yên ổn, bình thường.Nhưng không dừng lại ở đó, Nguyễn Du đã đề Kiều đoàn tụ vớị chàng Kim: Với kiểu kết thúc tưởng như có hậu ấy, tác giả đã kết án chế độ đương thời một cách đanh thép Bởi vì, một người con gái đa tài, đa sắc như Thuý Kiều lẽ ra phải được hưởng hạnh phúc lứa đồi, hạnh phúc gia đình trọn vẹn nhưng lại phải sống cô đem, mòn mỏi trong quãng đời còn lại Kh.ông nỗi bất hạnh nào lớn hơn đối’với người phụ nữ như điều đáng sợ ấy.
Qua đó, nhà thơ khẳng định nguyện vọng được sông bình thường của con người là điều quan trọng và chế độ nào quan tâm làm cho con người đạt được nguyện vọng ấm no, hạnh phúc thì chế độ đó mới có lí do tồn tại
Trong Truyện Kiều bao nhiêu nỗi đau khổ trên đời trút xuống đầu người phụ nữ yếu đuôi đều được Nguyễn Du miêu tả cặn kẽ, khiến cho tiếng khóc đoạn trường muôn năm vẫn còn làm thổn thức nhân gian Nỗi khổ của người thiếu nữ phải tự nguyện cắt đứt mối duyên đầu để đáp đền chữ hiếu Nỗi khổ của người con gái thông minh, tài sắc phải đem tâm thân ngà ngọc bán cho kẻ xa lạ Nỗi khổ của người vợ lẽ phải chấp nhận kiếp con hầu, đầy tớ mà vẩn bị vợ cả đánh ghen, đày đoạ đến mức cất đầu chẳng lẽn Nỗi khổ của người kĩ nữ bất đắc dĩ phài lăn lóc chôn lầu xanh, bị giày vò đau đớn cả tâm hồn lẫn thế xác trong những Cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm; để rồi Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình, xót
xa Tất cả đều được Nguyễn Du nói lên bằng những lời thơ chân thực nhất, sâu sắc nhất, về phương diện đó, Truyện Kiều có ý nghĩa là một thiên lệ sử mà bất cứ người phụ nữ nào cũng
có thể tìm thấy một chút thân phận, cảnh ngộ của mình trong đó Truyện Kiều là câu chuyện
về con người bị áp bức, chà đạp, nhưng trước hết là câu chuyện của người phụ nữ bị áp bức, chà đạp là nhứ thế
Tóm lại, xã hội phong kiến dưới mắt Nguyễn Du là một xã hội đầy những bọn nhai thịt người ngọt xớt như đường, đầy áp bức bất công đôi với những người dân thấp cổ, bé họng
Giá trị nhân đạo cao cả của Truyện Kiều còn thế hiện qua niềm thương cảm sâu sắc trước nỗi đau của con người và thái độ lên án, tô cáo những thế lực tàn bạo Bên cạnh đó là sự trân trọng, đề cao khát vọng hạnh phúc, khát vọng tự do, khát vọng công lí và chính nghĩa
Tinh thần nhân đạo trong Truyện Kiều trước hết là tình yêu con người Với mỗi người,
Nguyễn Du có một cách thông cảm riêng, nhưng dối với Thuý Kiều thì hầu như sự thương cảm, xót xa ấy nhân lên gấp bội Người đọc xót thương Thuý Kiều chính vì Nguyễn Du đã ngậm ngùi rơi lệ trước cảnh ngộ đầy bi kịch của một thiếu nữ tài sắc bậc nhất mà lại bị giày
vò, đày đoạ bởi xã hội phong kiến vạn ác:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh căng là lời chung
Lời than vãn của Kiều cùng là tiếng nức nở của hàng ngàn phụ nữ bất hạnh Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyền Du thời bấy giờ mới chỉ biểu hiện theo đạo lí chữ nhân của đạo Khổng, hoặc theo tinh thần hiếu sinh của đạo Phật, chứ chưa có tính chiến đấu đế bảo vệ con người… Trong Truyện Kiều, rất hiếm những nhân vật bác ái từ bi, nhưng không phải là không có Giữa đám nha dịch đầu trâu mặt ngựa cũng còn sót kè lại già có chút từ tâm Hoặc trong chôn thanh lâu cung có một Kiều Nhi, một mụ quản gia tốt bụng Hoặc ngoài đời có vãi Giác Duyên, sư Tam Hợp… Thi sĩ vội vàng ghi lây đề đem lại cho người đọc một niềm an ủi, hi vọng, dù là nhỏ nhoi Chính vì thế mà nhà thơ giúp chúng ta hiểu ra rằng tại sao trong giai đoạn suy tàn của giai cấp phong kiến, lòng thương người lại hiếm hoi đến thế! Đó cùng là một
ẩn ý của Nguyễn Du nhằm khẳng định cái chế độ bất nhân đó không có lí do gi đế tiếp tục tồn
Trang 10Giữa xã hội phong kiến bức bối, ngột ngạt ấy, Nguyễn Du đã nhen nhóm trong lòng người những ước mơ đẹp đẽ Đó là ước mơ được tự do yêu đương, được hạnh phúc và ước mơ tự do tháo cũi số lồng là những thứ mà giai cấp thống trị không bao giờ cho phép
Trước hết, nhà thơ đã xây dựng thành công một tình yêu trong sáng và lãng mạn tuyệt vời Mối tình giữa Thuý Kiều và Kim Trọng là mốt tình đẹp đẽ giữa trai tài gái sắc, phù hợp với quy luật tự nhiên
Thường thì nam nữ đến với nhau vì yêu mến, hpà hợp nhưng nhiều khi cũng chưa kịp hiểu vì
lẽ gì thì tình yêu đã chiếm trọn cả tâm hồn Đó là trường hợp của Thuý Kiều và Kim Trọng Hai người vừa gặp nhau lần đầu thì Tình tronq như đã, mặt ngoài còn e Tình yêu của họ không hề bị một tính toán nào về địa vị, tiền tài làm vấn đục Một mốì tình như thế trong xã hội phong kiến là một hiện tượng đặc biệt
Đặc biệt hơn nữa vì đó là mối tình chân thật và táo bạo hiếm có xưa nay Kiều không cần che giấu cảm xúc tự nhiên đang trào dâng sối nổi trong lòng mình, không cần kiềm chế trái tim mình một cách giả tạo để giữ cho đúng nền nếp gia phong
Tình yêu đến với nàng vì cỏ pha màu áo nhuộm non da trời hav vì Tuyết in sắc ngựa câu giòn? Hay vì Phong tư tài mạo tuyệt vời, Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa của Kim Trọng? Chỉ biết rằng có một điềụ gì đó lạ lắm đang xảy ra trong tâm tư người thiếu nữ khi giáp mặt chàng Kim Nó vừa thoáng qua thôi đã làm cho nàng rơi vào trạng thái Chập chờn nửa tỉnh nửa mèy buộc nàng phải ghè mắt nhìn theo bóng chàng Nó khiến cho cảnh vật nhuốm màu bâng khuâng, man mác, vấn vương, quyến luyến Bóng chiều dường như không muốn đi và tơ liễu càng thêm thướt tha
Đêm trăng trong vườn Thuý lúc hai người gặp gỡ ăm ắp khí xuân Từ bóng trăng đến giọt sương, cành cây, ngọn cỏ… cái gì cũng rạo rực nỗi niềm Hình ảnh chàng trai ban chiều hiển hiện rõ ràng trong tâm tương người thiếu nữ và trái tim nàng đã bắt đầu thổn thức bởi ước mơ đồi lứa Đến hôm Thuý Kiều đánh rơi chiếc thoa trên cành rồi nghe người bên kia tường đánh tiếng: Tlioa này bắt được hư không, Biết đâu Hợp Phố mà mong châu uề? thì nàng đáp lại một cácíutự nhiên như đối với người quen biết từ lâu Khi Kim Trọng ngỏ lời cầu hôn, nàng
đã mau chóng nhận lời gắn bó trăm năm Nàng chớp lấy cơ hội cha mẹ đi văng để sang trò chuyện với người yêu: Nhà lan thanh vắng một mình, Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay và sau đó: Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường Cái gót sen thoăn thoắt hồn nhiên và táo bạo
ấy quả thật đến giờ vẫn còn làm cho nhiều người ngạc nhiên Tình tự với người yêu trọn một ngày, đến tối Kiều mới sực tỉnh: Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai và vội vàng về nhà Cha mẹ và hai em vẫn chưa về, nàng lại Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình sang với chàng Kim Đêm ấy, nàng cùng người yêu thề nguyền Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương, dưới vầng trăng vằng vặc giữa trời…
Chế độ phong kiến không cho phép con người được quyền tự do yêu đương nhưng cuộc sống
có quy luật tự nhiên của nó Thuý Kiều cổ một tâm hồn đa tình, đa cảm, sôi nổi, nồng nàn Khuôn khổ chật chĩ tù túng của chế độ phong kiến tất nhiên không đùng nạp nối tâm hồn phong phú ây
Tình yêu tự do của Thuý Kiều có phải là một thách thức dối với lễ giáo phong kiến? Không hẳn như vậy mà nó nhằm mục đích tích cực hơn, cao đep hơn ià tiến tới hôn nhân Lời thề nguyền dưới trăng không chỉ là cơ sở bảo đảm cho tình yêu bền vững mà còn thể hiện sự kính trọng, mến phục trọng nhau vì tài, mến nhau vì đức của cặp tài tử, giai nhân ấy
Trang 11Mốì tình trong sáng, đẹp đè như vậy mà rồi phải tan vỡ nhanh chóng trước cơn phong ba bão táp của chế độ phong kiến bạo tàn Nhưng xả hội bất nhân chỉ đày đoạ, vùi dập được tấm thân của Thuý Kiều, chứ làm sao cướp được tình yêu tha thiết của nàng đòì với chàng Kim? Có điều, tâm lòng kiên trinh, chung thuỷ của nàng không thế đương đầu nổi vói bao
nhiêu thế lực hung hãn trong xã hội vạn ác Kiều rơi vào lầu xanh, đến một lúc nào đó đành chấp nhận lấy Thúc Sinh, rồi may mắn được kết duyên với Từ Hải: Thời gian dẫu có làm nhạt phai nhưng không thể dập tắt tình yêu trong tim Kiều: Tiếc thay chút nghĩa cữ càng, Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
Ngày nay, chúng ta quan niệm tự do yêu đương là chuyện bình thường, nhưiig trong xã hội phong kiến mục nát thời Nguyễn Du, một mối tình lãng mạn như thế là một ước mơ tốt đẹp, thấm nhuần tinh thân nhân đạo
Đưới chế độ phong kiến đen tối ngột ngạt như vậy, tất nhiên mọi người phải tìm ra lôì thoát Còn thoát được hay không, tạm thời hay vĩnh viễn, thoát rồi đi đâu lại là vấn đề khác Không thời nào nhân dân bị áp bức lại không ước mơ thoát khỏi cảnh sống đoạ đàỵ trước mắt để được sông một cuộc dời công bằng, nhân đạo, tự do, hạnh phúc Trong Truyện Kiềuy Nguyễn
Du đã dùng hết nhiệt huyết và thiên tài nghệ thuật của mình để thể hiện giấc mơ tháo cũi sổ lồng của con người bị áp bức đã hàng nghìn năm
Thuý Kiều trôn khỏi nhà Hoạn Thư, tưởng đã yên thân khi được nương nhờ cửa Phật nhưng cửa Phật từ bi cũng kinh sợ uy quyền của giai cấp thông trị nên đành khuyên người hoạn nạn chấp nhận kiếp sông Chân trời gốc biển bơ vơ Thuý Kiều túng thế phải nghe lời Bạc Bà, gửi thân cho một kẻ mà nàng chưa hề quen biết là Bạc Ilậnh Chẳng may Bạc Hạnh Cũng phường bán thịt buôn người Hắn liền đẩy nàng vào lầu xanh lần thứ hai Đến đây, oan khốc chồng châ’t lên cuộc đời cửa Kiều đến mức nàng không sao chịu nổi Phật cũng bó tay, thánh thần thành vô dụng Con người lương thiện còn biết dựa vào đâu ?! Mâu thuẫn đă đến điềm đỉnh, cần phải giải quyết Người đọc cững nóng lòng chờ đợi một cánh cửa mở ra, một lưỡi gươm vung lên Đúng lúc đó, người anh hùng Từ Hải xuât hiện
Từ Hải là hình ảnh lí tưởng của công lí nhân dân Công lí trong quan niệm của Từ Hải giản dị
mà dứt khoát, giông như cuộc sông tự nhiên hằng ngày của chàng Từ Hải không thể nào thấy
sự bất bằng mà bỏ qua được Phản ứng của chàng trước những chuyện bất bình vừa đột ngột, vừa mãnh liệt như sấm vang sét nổ Cơn giận của Từ Hải chứa chất mành lực ghê gởm của thiên nhiên, trời đất, kỏ có tội đừng inong trốn thoát Lười gươm của Từ I lải vừa vung len thì công lí đã được đem lại cho người ợon gái họ Vương tội nghiệp Xã hội vuá quan phong kiên của cái triều Minh tự hào là Bốn phương phăng lặng, hai kinh vừng vàng đã biến Kiều từ một thiếu nữ trong trắng thành gái thanh lâu Từ Hải đã đưa nàng từ thân phận hèn kém của một gái thanh lâu lên địa vị của một phu ríhân quyền quý Luật pháp, đạo đức của xã hội triều Minh cho phép bọn sâu mọt, côn đồ hùa nhau tàn hại cuộc đời Kiều, Từ Hải thét lên một tiếng
là lũ mặt người dạ thú kia máu chảy đầu rơi
Loại công lí tương tự như vậy đã ximt hiện trong các phong trào khởi nghĩa của nông dân, mà tiêu biếu nhất là phong trào Tây Sơn Liên hệ thái, độ của Từ Hải trước việc báo ân báo oán của Thuý Kiều với ước mơ công lí của nhân dân, ta sè thấy có những nét tương đồng Nói bắt
là bát, nổi giết là giết, ân thì trả ân, oán thì trả oán, rõ ràng như ban ngày Giữa chôn trướng hùm uy nghiệm, Thuý Kiều sánh vai với Từ Hải báo ân báo oán Cảnh ấy có ý nghĩa như một
sự thay bậc dổi ngôi, một sự vùng lên của con người bị chà đạp, khinh bỉ Con người thấp cồ,
bé miệng, con người bị áp bức đày đoạ, giờ đây đường đường làm quan toà xử tội những kẻ
áp bức Cho nên công lí trong Truyện Kiều có tính chất là công lí nhân dân, phù hợp với chính nghĩa và nguyện vọng chính đáng của nhân dân
Trang 12Bản hùng ca trong Truyện Kiều không phải chi có ước mơ công lí mà còn có mơ ước được sông tự do, phá vờ khuôn khổ tù hăm của xã hội phong kiến Từ Hải tượng trưng cho công lí, đồng thời củng tượng trưtig cho khát vọng tự do.
Từ Hải chống lại triều đình không ngoài khát vọng tự do ngang dọc Tung tích của Từ Hải không ai biết và ‘NguyỖ11 Du cùng chi gọi chàng chung chung là khách biên dinh Chàng như ngôi sao sáng rực bỗng dưng xuất hiện trôn bầu tròi thăm thẳm, tối đen
Từ Hải xuất hiện lúc đầu với tư cách là một người khách phoiig nhã Nhưng người khách đặc biột uày không hề giống Thức Sinh quen thói bốc rời, Trăm nghìn để một trận cười như không Anh chàng Thúc háo sắc _ ấy phải tốn bao nhiêu tiền của mới chuộc được Thuý Kiều
ra khỏi lầu xanh Trái lại, Từ Hải chỉ ngỏ một lời là xong xuôi mọi việc Từ Ilải hành động xuất quỷ nhập thần, mà hành động thì y như bão táp, sấm sét Từ Hải bỗng dưng đến, rồi bỗng dưng đi Từ Hải vừa mới từ biệt Thuý Kiều, Thanh gươm yên ngựa lẽn đàng thẳng dong’, thoắt một cái đã trở về với thiên binh vạn mã, thoắt một cái đã giúp người tri kỉ báo ần báo oán; thoắt một cái đã Triều đình riẽng một góc trời, Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn liày rồi cũng thoắt một cái ià chết và chết đứng Nói đôn sự mãnh liệt thì hành động của Từ Hải giống như một cơn bão bất ngờ Nói đến ánh sáng mà Từ Hải đem lại cho tác phẩm thì Từ Hải như một ngôi sao băng xẹt qua bầu trời, sáng loà phút chốc rồi vụt tát
Từ Hải hoàn toàn không phải là một người tầm thường sống theo khuôn mẫu có sẵn của chế
độ phong kiến Từ Hải không đi fheo đừờng mòn, không ép mình trong khuôn khổ chật hẹp của Tam cương, Ngủ thường Tầm vóc con người, tầm vóc tài trí của Từ Hải đều vượt xa kích
cỡ tầm thường:
Râu hùm hàm én mày ngài,
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao
Hoạt động của Từ Hải cần đến không gian vô biền là trời cao đất rộng Trên đầu Từ Hải không phải là nợ quân thần, dưới chân không phải lạ, những ràng buộc tủn mủn của đời thường Đầu đội trời, chân đạp đất, Từ như một cây trụ kình thiên sừng sững, hiên ngang Con người như thế tất phải lấy giang hồ làm nhà cửa, lấy việc chèo chông non sông làm thủ vẫy vùng Chơ nên cuộc sông yên ổn, mặn nồng bôn cạnh mĩ nhân đâu có thề giam hãm cánh chim bằng Khi tiếng gọi của bốn phương vang lên thì Từ Hải dứt áo ra đi như có sức mạnh ghê gớm của tiềm thức thúc đẩy Con người ấy hình bóng sừng sững như che lấp cả đất trời Thanh gươm, yên ngựa của chàng không hề bé nhỏ trước trời biển mênh mang Một mình chàng mà có thể chọc trời khuấy nước Một mình chàng mà có thể Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo Một minh chàng mà có thế làm nên những việc Động dịa kinh thiẽti đừng đùng Dường như Từ Hải có thể sánh ngang với núi sông, trời đất Chàng
đâu thèm đếm xỉa đến cái triều đình thổi nát đương thời nên mới có thái độ của một bậc anh hùng Dọc ngang nào biết trên đẩu có ai
Cho nên không có gì là lạ khi ta thấy Từ Hải khinh bỉ bbn người ưào luồn ra củi, cam tâm sông cuộc đời giá áo túi cơm Trong khuôn khổ chật hẹp của chế độ phong kiến, Từ Hải hiẽn ngang đứng lên phủ định cái triều đình tiêu biểu cho mọi sự áp bức, đè nén, bất công Đó là biêu hiện của một ý chí, một lí tưởng tự do đáng khâm phục
Xã hội phong kiến suy đồi làm sao dung nạp được lí tưởng tự do ây Iĩồ Tôn Hiến đã giết chết
Từ Hải nhưng khát vọng tự do của Từ Hải vẫn sông mãi trong lòng quần chúng bị áp bức Hình ảnh kì vĩ của Từ Hải vẫn đem lại sự thoả mãiì cho ước mơ tự do, ước mơ giải phóng của con người
Trang 13Về gỉỏ trị nghệ thuật, Truyện Kiều là kết tinh thành tựu nghệ thuật của văn học dõn tộc trờn mọi phương diện, trong đú nổi bật là ngụn ngữ Với Truyện Kiều, ngụn ngữ thơ ca và thể thơ lục bỏt ,đó đạt tới đỉnh cao rực rỡ và nghệ thuật tự sự đó phỏt triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miờu tả thiờn nhiờn, con người.
Khi miờu tả nhõn vật Thuý Kiều, Thuý Võn, tỏc giả sử dụng bỳt phỏp nghệ thuật ước lệ mà vẫn gợi tả được vẻ đẹp ngoại hỡnh, vẫn khắc hoạ được những nột riờng về tớnh cỏch, sụ" phận của hai nhõn vật Người đọc thấy rất rừ cảm hứng nhõn văn của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Đú là sự trõn trọng, ca ngợi sắc đẹp, tài năng, phẩm cỏch con người
Bằng Truyện Kiều, Nguyễn Du đó cú nhừng đúng gúp lớn lao để nõng tiếng Việt thành thứ ngụn ngữ giàu và đẹp, khụng chỉ cú chức năng biểu đạt (phản ỏnh), biểu cảm (thể hiện cảm xỳc) mà cũn mang chức năng thẩm mĩ (vẻ đẹp của nghệ thuật ngụn từ) Tiếng Việt trong Truyện Kiều đó đạt tới đỉnh cao, khú cú tỏc phẩm nào sỏnh được
Chỳng ta tự hào cú Nguyễn Du, đại thi hào của dần tộc Việt Nam, danh nhõn văn hoỏ thế giới
Sự nghiệp sỏng tỏc của ụng mà tiờu biểu nhất là Truyện Kiều là một tài sản tinh thần vụ giỏ trong kho tàng văn học nước nhà
Trong nền văn học dân tộc, Truyện Kiều của Nguyễn Du xuất hiện nh một đoá hoa đẹp nhất, tiếp thu sáng tạo truyền thống văn học dân tộc và ngôn ngữ bình dị của quần chúng cũng nh ngôn ngữ mĩ lệ của văn chơng bác học Tất cả cùng kết hợp với sự rung động và tài năng đặc biệt của nhà thơ để đa tác phẩm trở thành một công trình tuyệt tác có một không hai trong nền văn học dân tộc
Truyện Kiều đã đánh dấu bớc trởng thành lên tới đỉnh cao của thơ ca dân tộc và trở thành niềm tự hào của thơ ca dân tộc Không yêu đất nớc mình, không vì nghệ thuật, vì cuộc
đời thì Nguyễn Du không thể có đợc thành công ấy Tác phẩm là kết quả của cái tâm lớn lao, của tài năng nghệ thuật lớn lao Trân trọng cái nhìn hiện thực sắc sảo đầy tình yêu thơng bao
la của nhà thơ bao nhiêu, ta lại càng trân trọng tài năng sáng tạo của ông bấy nhiêu
Những trang văn nhận định về Nguyễn Du và Truyện Kiều:
* Của cỏc học giả Việt Nam
- Trước cỏch mạng thỏng 8 năm 1945:
+ Mộng Liờn Đường Chủ Nhõn (1820) theo bản dịch của Bựi Kỷ và Trần Trọng Kim, bỡnh luận: " Lời văn tả ra hỡnh như mỏu chảy ở đầu ngọn bỳt, nước mắt thấm
ở trờn tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thớa ngậm ngựi, đau đớn đứt ruột
Tố Như Tử dụng tõm đó khổ, tự sự đó khộo, tả cảnh đó hệt, đàm tỡnh đó thiết, nếu khụng phải cú con mắt trong thấu sỏu cừi, tấm lũng nghĩ suốt cả nghỡn đời, thỡ tài nào cú cỏi bỳt lực ấy"
Cũng theo Mộng liờn Đường chủ nhõn:
Trong một tập thể chung lấy bốn chữ: “tạo vật đố tài” túm cả một đời Thỳy Kiều: “Khi lai lỏng tỡnh thơ, người tựa ỏn khen tài chõu ngọc; khi nỉ non tiếng nguyệt, khỏch dưới đốn đắm khỳc tiờu tao, khi duyờn ưa kim cải, non bể thề bồi; khi đất nổi ba đào, cửa nhà tan tỏc; khi lầu xanh, khi rừng tớa, cừi đi về nghĩ cũng chồn chõn; khi kinh kệ, khi can qua, mựi từng trải nghĩ
Trang 14càng tê lưỡi Vui, buồn, tan, hợp, mười mấy năm trời, trong cuốn văn tả ra như hệt, không khác gì một bức tranh vậy…
…Ta lúc nhàn đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như tử dụng tâm khổ, tự sự
đã khéo, tả cảnh đã hết, đàm tình đã thiết, nếu không có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy…”
(Tựa Truyện Kiều, 1920, dẫn theo cuốn Truyện Kiều,
Nxb Giáo dục, 1972, tr.186-187)
+ Đào Nguyên Phổ:
“Nói về tình thì vẽ ra được cái tình trạng hợp ly cam khổ, mà tình không rời cảnh; tả cảnh thì vẽ ra được cái thú vị tuyết, nguyệt, phong, hoa mà cảnh tự vướng tình; mực muốn múa mà bút muốn bay, văn muốn kêu mà chữ muốn nói; khiến người cười, khiến người khóc, khiến người vui, khiến người buồn, khiến người đọc đi đọc lại nghìn lần, càng thuộc lòng lại
càng không thấy chán, thật là một khúc Nam ân tuyệt xướng một điệu tình phổ biến bậc nhất vậy” (Tựa Truyện Kiều, 1988, sđd, tr.187).
+ Nguyễn Khuyến:
KIỀU BÁN MÌNH
Thằng bán tơ kia giở giói ra Làm cho lụy đến cụ Viên già Muốn xong phải có ba trăm lạng Khéo xếp nên lìa một chiếc thoa Nổi tiếng mượn màu son phấn mụ Bán mình chuộc lấy tội tình cha
Có tiền việc ấy mà xong nhỉ!
Đời trước làm quan cũng thế a?
(Tựa Truyện Kiều, 1988, sđd, tr.187)
+ Chu Mạnh Trinh:
“Than ôi!
Một bước phong trần Trời tình mù mịt
Bể giận mông mênh
Trang 15Sợi tơ mành theo gió đưa đi Cánh hoa rụng chọn gì đất sạch…”
(Tựa tập thơ Thanh Tâm Tài Nhân, sđd, tr.187-188)
+ Hoàng Xuân Hãn:
“ Trong hai số báo Thanh Nghị, đầu năm nay, tôi có dịp bàn về nguồn gốc văn Kiều Tôi đã ngỏ ý rằng gốc văn Kiều ở sự tập tục trong gia đình, trong xứ sở, trong bằng hữu ở vùng núi Hồng Sơn
…Những tài liệu ấy không những tỏ cho ta biết rằng sự hát phường vải bằng văn lục bát
có ảnh hưởng đến văn phái Hồng Sơn, mà còn cho ta thấy sự phôi thai của lối văn kiệt tác là văn Kiều”
(Báo Thanh Nghị, số 32, tháng 3 năm 1943 Dẫn theo cuốn Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, tr.327, 345)
- Sau cách mạng tháng 8 năm 1945
+ Trường Chinh:
“Truyện Kiều là một áng văn kiệt tác mà dân tộc ta lấy làm tự hào một cách chính đáng
Với lời thơ rất đẹp, tác phẩm nghệ thuật đó đã tố cáo một cách hùng hồn chế độ bất công của thời phong kiến, nhất là đối với phụ nữ và đấu tranh cho chủ nghĩa nhân đạo, cho tình yêu chân chính của con người”
(Bài nói chuyện tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba, 1962; sđd, tr.191)
+ Đặng Thai Mai:
“…Nhân dân đại chúng có lý do chính đáng để yêu Truyện Kiều… Trước hết, bởi Truyện Kiều là một pho sách của tình yêu, yêu tự nhiên, yêu nhân loại, yêu lý tưởng Qua Truyện Kiều, chủ nghĩa nhân đạo cũng là đặc sắc rõ nét nhất trong văn học cổ điển Việt Nam.
…Ấy là chưa nói đến sự đóng góp của Truyện Kiều đối với văn học với nghệ thuật,
tiếng nói của nhân dân, của dân tộc…”
(Đặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung Truyện Kiều, 1955, sđd, tr.215, 219)
…Con người ấy từ lâu đã sống trong lòng hàng triệu người và được quý trọng, được
âu yếm, nâng niu, được yêu mến đến say mê như một nạn nhân đáng kính, đáng thương của
Trang 16cuộc đời cũ Kiều đã từ tiểu thuyết đi vào cuộc đời và nhiều khi người ta đã quên không còn nhớ Kiều là người trong tiểu thuyết”.
(Trích chương “Nguyễn Du” trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, quyển IV, Nxb Văn - Sử - Địa, 1958, sđd, tr.223, 228)
+ Nguyễn Đình Thi:
“…Từ tiếng nói hàng ngày của dân gian, Nguyễn Du, tiếp theo những nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc ở các đời trước, đã tạo ra một tiếng nói văn học dồi dào mà giản dị, đầy hình ảnh và đầy âm điệu, một tiếng nói quý nhất mà lại bình thường, dung dị nhất, thu lượm từ ngữ của các địa phương mà lại có giá trị rộng khắp trong toàn quốc Và cũng Nguyễn Du đã nâng cao thể thơ lục bát của ca dao thành thể thơ cổ điển mẫu mực của văn học ta Nói riêng về
nghệ thuật tiểu thuyết, khi tìm hiểu Truyện Kiều đã có đủ những nhân tố, những phương pháp
của tiểu thuyết hiện đại…”
(Bài phát biểu ý kiến trong lễ kỷ niệm… sđd, tr.222)+ Nguyễn Khánh Toàn:
“…Nguyễn Du là người đầu tiên trong lịch sử văn học cổ điển Việt Nam đã phác ra một bức tranh xã hội toàn diện, đã lấy những đau khổ của con người đương thời để lên thành những vấn đề xã hội chung… đã đưa nghệ thuật văn học đặc biệt là nghệ thuật thơ ca Việt Nam, đến một đỉnh cao vòi vọi trước đó chưa từng thấy
…Trong nghệ thuật của Nguyễn Du, nét đặc sắc nhất, đồng thời cũng là nét rất độc đáo của bút pháp Nguyễn Du là xây dựng nhân vật điển hình
…Sở dĩ Truyện Kiều đã trở nên một kiệt tác vĩ đại của Nguyễn Du, một trong những
nguyên nhân cơ bản nhất là vì Nguyễn Du đã sử dụng tiếng Việt một cách thần tình, kỳ diệu…
(Diễn văn đọc trong buổi lễ kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du, tổ chức tại Nhà hát Hà Nội,
ngày 25-11-1965; sđd, tr.119, 204, 206)+ Ban biên tập:
“…Hà Tĩnh không những có các nhân vật trác tuyệt lập đức, lập công lớn lao, lưu
truyền hậu thế, mà còn có những con người lập ngôn bất hủ Hà Tĩnh có tác phẩm Truyện Kiều với tác giả Nguyễn Du mà hiện nay đang được cả loài người ngưỡng mộ…”.
(Tập san Văn hóa Hà Tĩnh, tháng 11-1965
Dẫn theo bản trưng bày tại nhà lưu niệm Nguyễn Du
ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân)
* Của các học giả ở nước ngoài
Trang 17“…Truyện thơ kiệt xuất này (tức Truyện Kiều) vô luận về mặt khắc họa nhân vật hay miêu tả tình tiết đều có những điểm khác với cuốn tiểu thuyết (Kim Vân Kiều truyện) Điều đó không những là sự khác nhau về loại hình văn học, mà điều quan trọng là Truyện Kiều của
Nguyễn Du là một sáng tạo mới về nghệ thuật Lao động nhẫn nại và tài năng nghệ thuật xuất sắc đã giúp nhà thơ vận dụng câu chuyện Vương Thúy Kiều để sáng tạo ra một tác phẩm kiệt
xuất trong nền văn học cổ điển Việt Nam Truyện Kiều bằng thơ của Nguyễn Du được lưu
truyền rất rộng rãi ở Việt Nam; về phương diện này, nó đã vượt rất xa cuốn tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân ở Trung Quốc Ở đây có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp, nhưng sự hoan nghênh của quần chúng bao giờ cũng chứng minh cho sự thành công lớn lao của một tác phẩm văn học”
(Nguyễn Du nhà thơ Việt Nam kiệt xuất, 1965;
Dẫn theo cuốn Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, 1972, tr.229)
+ Hoàng Giật Cầu (Trung Quốc)
“…Ở Việt Nam, có không ít những tập thơ trường thiên, nhưng xét về các mặt: miêu tả sâu sắc, tình tiết rung động lòng người, đánh mạnh vào xã hội phong kiến, hết lòng đồng tình với kẻ bị áp bức, tinh thần nhân đạo và chí hướng theo đuổi tự do rõ rệt thì không có tác phẩm
nào sánh nổi Truyện Kiều Đó chính là lý do khiến nó trở thành mẫu mực cao nhất trong văn
học cổ điển Việt Nam
(Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều của ông, 1958; sđd, tr.228)
+ N.I Niculin (Nga)
“…Tiếng hát và tiếng đàn tỳ bà của nàng Kiều văng vẳng suốt thiên trường ca, bộc lộ nỗi buồn khổ da diết và tấn thảm kịch của tâm hồn này… Trong buổi thề nguyền ấy, Kiều đã thề thốt với Kim Trọng: “Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai” Nhưng số mệnh đã giễu cợt người đàn bà trong sạch tuyệt vời ấy một cách tàn nhẫn: cây đàn tỳ bà của nàng đã trở thành một vật mua vui cho khách làng chơi và sẽ bùng ra những âm thanh não nề, u uất…”
(Nguyễn Du nhà thơ nhân đạo lỗi lạc, 1959; sđd, tr.230)
+ Z.H (Tiệp Khắc)
“…Truyện Kiều đi vào nhân dân Việt Nam đã một trăm năm mươi năm, đã trở thành một kho
tàng dân tộc Một tác phẩm mà trong những lúc khó khăn nhất, nhân dân Việt Nam đã trở lại với nó
và cho đến ngày nay rút ra từ trong đó những bài học và một nguồn sức mạnh Sở dĩ như thế, không phải chỉ vì cái êm dịu của cốt truyện bằng thơ và cái đẹp phảng phất của câu chuyện yêu đương ẩn hiện trong những câu thơ của thi hào Nguyễn Du, mà còn vì cái tinh hoa sâu sắc của dân tộc Việt Nam đã được tác giả thể hiện một cách rõ rệt
(Một bài ca về tình yêu thắng lợi Báo Dân chủ nhân dân,
Praha, 1958; sđd, tr.230
+ J.Đích Man (Đức)
Trang 18“…Với tác phẩm này, độc giả Đức tìm thấy một thế giới văn học mà cho tới nay họ
chưa từng biết: trước mắt họ, thấm nhuần trong Truyện Kiều là cả một kho tàng nhân văn,
đỉnh cao tuyệt vời của nền văn hóa dân tộc Việt Nam Hòa mình trong tác phẩm này, chúng ta nhìn sâu sắc vào tâm hồn của dân tộc Việt Nam anh dũng liên kết với chúng ta trong tình hữu nghị…”
(Chủ tịch Quốc hội nước CHDC Đức; sđd, tr.231)+ I.Rênê và Phơranxơ Phabe (Đức)
“…Nguyễn Du lên án một xã hội bất công chà đạp lên giá trị con người, nhưng ông không tìm ra được lối thoát cho những người bạc mệnh, cho quần chúng đau khổ Chỉ từ khi đấu tranh dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác, con cháu Nguyễn Du làm cách mạng thắng lợi mới
có thể tự giải phóng Khác chăng con đường đau khổ của nàng Kiều và những người sống dưới chế độ cũ đương khích lệ những thế hệ con cháu Nguyễn Du ngày nay tiếp tục đấu tranh không nghỉ ngơi cho đến khi ngọn cờ tự do phấp phới bay trên tất cả các thôn xóm miền Nam Việt Nam”
(Lời tựa bản Truyện Kiều dịch và in ở Đức; sđd, tr.231)
+ Rơnê Crăngxác (Pháp)
“…Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du thật là một nền văn chương kiệt tác, tưởng có thể so
sánh với những văn chương kiệt tác của bất cứ đời nào, nước nào cũng không thua vậy Người
Pháp hoặc có người đọc Truyện Kiều mà cho nói ấy là lời nói ngoa, thì quyết không phải là Truyện Kiều không hay, chỉ tại người dịch không đủ tài mà diễn ra hết cái tinh thần trong
truyện mà thôi”
(Truyện Kiều và xã hội Á Đông, Nam Phong số 112, tháng 12, 1926
Dẫn theo “Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, tr.1101)
Gia tài văn học của Nguyễn Du - kho báu của nước nhà
Nói đến cụ Nguyễn, người ta thường nghĩ ngay tới Truyện Kiều, và vì Truyện Kiều là kiệt tác, hội tụ nhiều giá trị tiêu biểu, người ta dễ quên đi sự nghiệp sáng tác khá đồ sộ của cụ.Nhưng những ai biết đến thơ chữ Hán,chữ Nôm của Nguyễn Du sẽ đồng ý với nhận định
rằng chỉ riêng bộ phận trước tác này, tác giả cũng đã xứng đáng là đại thi hào
Theo nh ng tài li u ữ ệ để ạ l i, Nguy n Du s d ng ch Hán và ch Nôm ễ ử ụ ữ ữ để sáng tác th v n Vìơ ă
v y, tác ph m c a ông c ng g m 2 m ng ch vi t y Dậ ẩ ủ ũ ồ ả ữ ế ấ ướ ềi n n Hán h c ọ đượ ếc ti p thu qua
Trang 19Hiên ti n h u t p (c ng g i là Thanh Hiên thi t p), Nam Trung t p ngâm, B c hành t p l c vàề ậ ậ ũ ọ ậ ạ ắ ạ ụ
m t s câu ộ ố đố ằi b ng ch Hán Theo hai nhà nghiên c u Lê Thữ ứ ước và Trương Chính thì cụ Nguy n sáng tác th ch Hán liên t c t n m 21 tu i ễ ơ ữ ụ ừ ă ổ đến nh ng n m nhà th 49 tu i (1814).ữ ă ơ ổ Thanh Hiên thi t p là t p th Nguy n Du vi t khi Thái Bình, Hà T nh và làm quan B cậ ậ ơ ễ ế ở ĩ ở ắ
Hà trong giai o n 1786-1804 T p th g m 78 bài ch a đ ạ ậ ơ ồ ứ đựng nh ng tâm s au bu n c aữ ự đ ồ ủ Nguy n Du – m t ph n t quý t c th t th N i au trong t p th là n i au vì mình, choễ ộ ầ ử ộ ấ ế ỗ đ ậ ơ ỗ đmình, nhi u h n là n i au nhân tình th thái Nhi u bài th nh D hành, Lam giang…ề ơ ỗ đ ế ề ơ ư ạNguy n Du ã th hi n ph m ch t trong s ch và nêu b t ý th c gi gìn ph m h nh Nói m tễ đ ể ệ ẩ ấ ạ ậ ứ ữ ẩ ạ ộ cách khách quan thì Nguy n Du trong t p th này b c l nhi u t tễ ậ ơ ộ ộ ề ư ưởng bi quan, y mế
th Tuy nhiên, nh ng y u t tích c c trong t tế ữ ế ố ự ư ưở đng ã gi cho ông ữ đứng v ng trữ ước cu c ộ đờ i
và t ó có các tác ph m tiêu bi u h n.ừ đ ẩ ể ơ
Nam trung t p ngâm có 40 bài, ạ được sáng tác trong giai o n 1805 – 1812, t c là khiđ ạ ứNguy n Du ễ được phong hàm ông các i n h c s , vào làm quan trong Kinh t p th này,Đ đ ệ ọ ĩ Ở ậ ơNguy n Du ã chú ý nhi u h n ễ đ ề ơ đến khách th ó là nh ng ngể Đ ữ ười lao động nghèo kh thổ ể
hi n trong các bài th : Phệ ơ ượng Hoàng l thộ ượng t o hành (Sáng s m trên ả ớ đường qua núi
Phượng Hoàng), Đại tác c u thú t quy (Làm thay ngử ư ườ đi i thú lâu n m mong v ), Pháo ài ă ề đ
T tư ưởng n i b t c a t p th là m i quan tâm c a tác gi ổ ậ ủ ậ ơ ố ủ ả đến người dân nghèo kh là n n nhânổ ạ
c a thiên tai, chi n tranh phong ki n phi ngh a, ủ ế ế ĩ đồng th i b c l tâm s u bu n trong nh ngờ ộ ộ ự ồ ữ
tr ng thái nh t nh.ạ ấ đị
B c hành t p l c g m 131 bài, ắ ạ ụ ồ được sáng tác trong giai o n 1813- 1814 (c ng có giđ ạ ũ ả thuy t cho r ng, nhi u bài th ông sáng tác trong th i gian 10 n m gió b i) T p th này,ế ằ ề ơ ờ ă ụ ậ ơNguy n Du không d ng l i vi c soi ng m cái tôi c a mình mà ã quan tâm nhi u ễ ừ ạ ở ệ ắ ủ đ ề đến xungquanh Nhi u hình tề ượng m i ã xu t hi n nh trung th n ngh a s , thi s , danh nhân l i l c,ớ đ ấ ệ ư ầ ĩ ĩ ĩ ỗ ạ
nh ng ngữ ười vì nước, nh ng hôn quân b o chúa, nh ng gian th n trong l ch s Trung Hoa.ữ ạ ữ ầ ị ử
c bi t, Nguy n Du quan tâm nhi u t i nh ng con ng i tài s c, b t h nh trong: Long thành
c m gi ca, S ki n hành, Dầ ả ở ế ương Phi c lý, K Lân m …ố ỳ ộ
Qua ph n i m lầ đ ể ượ đ ề ễc, i u d nh n th y là, n tậ ấ ấ ượng trong th ch Hán c a Nguy n Duơ ữ ủ ễchính là n i bu n sâu ỗ ồ đậm Ông t ng g i mình có b nh a s u, a c m Ông thanh minh v iừ ọ ệ đ ầ đ ả ớ
b n thân v n i bu n s u r ng, thiên h ai là ngạ ề ỗ ồ ầ ằ ạ ười không trong m ng (bài th Ng u ở ộ ơ ẫ đề ),
th m chí, ông còn c m th y mình cô ậ ả ấ độc, không có ai tri âm, tri k V m t lí l mà nói, bu nỷ ề ặ ẽ ồ
là tr ng thái nhân sinh, gi ng nh h , n Song, vào th i cu c nhi u nhạ ố ư ỉ ộ ở ờ ộ ễ ương, cái bu n c aồ ủ Nguy n Du rõ ràng không th tách kh i nh ng u t v th i th B i v y, bên c nh n i xót xaễ ể ỏ ữ ư ư ề ờ ế ở ậ ạ ỗ
t thân, cái bu n c a ông còn hự ồ ủ ướ đếng n tình người nói chung, là s tự ương liên đố ới v i ngườ ikhác i u ó Đ ề đ đượ ể ệc th hi n rõ nét trong t p th B c hành t p l c v i nh ng cái nhìn v ngậ ơ ắ ạ ụ ớ ữ ề ườ inông dân Trung Qu c g p thiên tai, ói kém Ch a d ng l i ó, n i bu n c a c Nguy nố ặ đ ư ừ ạ ở đ ỗ ồ ủ ụ ễ
Trang 20còn ch t ch a trong lòng, thành ni m tâm s riêng (Ngã h u th n tâm vô d ng / H ng s nấ ứ ề ự ữ ố ữ ữ ồ ơ
s n h Qu giang thâm - Ta có m t chút tâm s không bi t t cùng ai/ Dơ ạ ế ộ ự ế ỏ ưới chân núi H ng,ồsông Qu sâu th m).ế ẳ
Tâm s bu n này lý gi i t i sao khi ự ồ ả ạ đọc th ch Hán c a c Nguy n, ta c m giác có gì óơ ữ ủ ụ ễ ả đ
t c t i, m c D u ông không th nói ra nh ng nguyên nhân c a n i ni m này, b n ứ ố ấ ứ ầ ể ư ủ ỗ ề ạ đọ ũ c c ng
có th ph n nào phán oán ể ầ đ đượ ở ẽc, b i l Gia ph và Li t truy n ả ệ ệ đều chép Nguy n Du ch y theoễ ạ
Lê Chiêu Th ng; Nguy n Du v Thái Bình âm m u ch ng Tây S n; Nguy n Du nh vào Giaố ễ ề ư ố ơ ễ đị
nh theo Nguy n Ánh… S li u c ng nhi u ch chép, khi ra c ng tác v i nhà Nguy n, ông
luôn mu n v H ng L nh ch không mu n làm quan.ố ề ồ ĩ ứ ố
19 n m dă ưới th i nhà Nguy n, dù hanh thông trên quan l , song ông v n mu n rút lui,ờ ễ ộ ẫ ố
th m chí có lúc mu n i tu Nh ng sáng tác c a ông th i k làm quan có nhi u tác ph m bàyậ ố đ ữ ủ ờ ỳ ề ẩ
t s chán ghét ỏ ự đố ớ ọi v i b n quan l i và t thái ạ ỏ độ không mu n làm quan vì m t t do Ông vi tố ấ ự ế trong bài Tân thu ng u h ng (d ch ngh a): Thân này ã là v t trong lòng c i; Còn tìm âuẫ ứ ị ĩ đ ậ ũ đ
liên quan đến bi n c i c a tri u chính, ế ả ủ ề đế ư ưởn t t ng cá nhân, m t m t có giá tr xã h i, b i,ộ ặ ị ộ ở
nh ã nói, n i bu n là tr ng thái nhân sinh, khao khát t do là hành trình muôn thu ư đ ỗ ồ ạ ự ở Đấ ychính là n i bu n cu c ỗ ồ ộ đời, là trung tâm trong suy ngh c a c Nguy n và là c s ĩ ủ ụ ễ ơ ở để lí gi iả
n i thỗ ương ngườ ăi, c m ghét các th l c b o tàn, th l n i thế ự ạ ổ ộ ỗ ương thân, than thân c a c ủ ụ
th lo i vi t b ng ch Nôm, bên c nh Truy n Ki u, c Nguy n còn sáng tác V n t
th p lo i chúng sinh (còn g i là V n chiêu h n), Thác l i trai phậ ạ ọ ă ồ ờ ường nón, Tiên i n g i gáiĐ ề ử
phường v i Trả ường L u, Sinh t Trư ế ường L u nh n (V n t s ng hai cô gái Trư ị ữ ă ế ố ường L u)…ư
V n chiêu h n là bài v n t vi t theo yêu c u c a m t v s ă ồ ă ế ế ầ ủ ộ ị ư đểđọc vào d p r m tháng b y âmị ằ ả
l ch, nh m cúng t các vong h n Bài v n t là b c tranh t ng k t v nh ng n i au kh , b tị ằ ế ồ ă ế ứ ổ ế ề ữ ỗ đ ổ ấ
h nh c a con ngạ ủ ười trong xã h i phong ki n suy tàn Tác ph m không vi t b ng th phú, c ngộ ế ẩ ế ằ ể ũ
không vi t theo th tài c a Lê Thánh Tông (nhà vua vi t bài Th p gi i cô h n qu c ng v n,ế ể ủ ế ậ ớ ồ ố ữ ă
c ng là v n t , nh ng ch y u là khuyên r n) mà vi t b ng th song th t l c bát, ch ng t nhàũ ă ế ư ủ ế ă ế ằ ể ấ ụ ứ ỏ
th ch u nh hơ ị ả ưởng sâu s c c a nh ng tác ph m tr tình ngâm khúc tiêu bi u c a th i ắ ủ ữ ẩ ữ ể ủ ờ đại nh :ư
Chinh ph ngâm, Cung oán âm khúc, Ai t vãn N i b t V n chiêu h n là t m lòng thụ ư ổ ậ ở ă ồ ấ ươ ng
yêu con người có tính ch t phi giai c p D u h n ch v th gi i quan ó là tác gi kêu g iấ ấ ầ ạ ế ề ế ớ đ ả ọ