Kích thước lồng nuôi Kích thước lồng nuôi cá phụ thuộc vào các yếu tố như độ sâu của nước nơi đặt lồng, tốc độ dòng chảy, nguyên vật liệu làm lồng và mục đích của người nuôi cá.. Những
Trang 1A MỞ ĐẦU:
Ngày nay, thủy sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân và có ý nghĩa thiết thực trong công tác xóa đói giảm nghèo ở nhiều địa phương
Quảng Bình là một trong những địa phương có điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều hình thức nuôi trồng thủy sản khác nhau Trong đó, việc tận dụng diện tích mặt nước ven bờ để nuôi cá lồng là hình thức được bà con quan tâm hiện nay Hình thức nuôi này đã bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế đáng kể ở nhiều nơi Kỹ thuật nuôi cá lồng đơn giản, dễ làm và tận dụng được sức lao động ở mọi lứa tuổi Thu hoạch cá lồng chủ động, hiệu quả cao
Để giúp bà con nắm vững các biện pháp kỹ thuật trong nghề nuôi cá nói chung và nuôi cá lồng nói riêng, được sự đồng ý của Trung tâm phát triển nông thôn Trường Đại học Nông Lâm Huế, chúng tôi xin giới thiệu tập bài giảng kỹ thuật nuôi cá lồng để bà con tiện theo dõi
B NỘI DUNG:
I KẾT CẤU LỒNG NUÔI CÁ
1 Vật liệu làm lồng
Vật liệu dùng để đóng lồng nuôi cá ở nước ta rất phong phú Có thể dùng tre luồng, hóp, gỗ, sắt, lưới nilon, lưới cước
Phao giữ cho lồng cá luôn nổi trong nước có thể dùng tre, luồng, nứa, thùng nhựa, các tăm xốp Một lồng nuôi cá thường bao gồm các bộ phận chính sau:
§ Thân lồng
§ Phao
§ Đà kê phao (Xà đỡ)
§ Lều bảo vệ
§ Các dây neo, cọc
2 Kích thước lồng nuôi
Kích thước lồng nuôi cá phụ thuộc vào các yếu tố như độ sâu của nước nơi đặt lồng, tốc độ dòng chảy, nguyên vật liệu làm lồng và mục đích của người nuôi cá Ví dụ kích thước lồng ương cá giốg thường bé hơn lồng nuôi cá thịt hay lồng
Trang 2nuôi ở khu vực suối hẹp thường có kích thước bé hơn lồng nuôi ở các sông, hồ, suối rộng
Thông thường lồng nuôi cá có kích thước dài x rộng x cao là: 3 x 2 x 1,5 m hay 4 x 2,5 x 1m hay 6 x 3x 1,5m Ngư dân thường gọi lồng nuôi cá bằng các tên riêng như lồng cá giống, lồng cá thịt, lồng nan, lồng ống, lồng lưới Tính chất và công dụng của các loại lồng như sau:
§ Lồng nan là lồng được làm bằng các thanh tre hay gỗ có bản rộng 3 -4 cm để thưng xung quanh lồng
§ Lồng ống là loại dùng nguyên liệu cả cây luồng, cây hóp làm nan lồng Những cây này được liên hệ vào nhau bằng cọc sắt thông qua các lỗ khoan
§ Lồng cá giống thường là loại lồng nan có kích thước nho ívà các khe hở giữa các nan lồng thường dày để khỏi lọt cá
§ Lồng nuôi cá thịt thường có kích thước giữa các khe hở của nan rộng từ 2 - 2,5 cm để lồng thông thoáng
§ Lồng lưới hiện nay cũng được sử dụng ở một số địa phương Bà con thường dùng lồng lưới để mắc vào khung
Chú ý đối với các vật liệu làm lồng cứng có thể lắp ráp trên cạn, sau đó hạ thủy hoặc lắp ghép ở dưới nước bằng cách dùng đà, kê phao rồi lần lượt lắp đáy dưới, các mặt bên và đáy trên Khi lắp xong bỏ hai đà kê ra, lồng sẽ tụt xuống nước Cách lắp đặt ở dưới nước đỡ tốn công và nhẹ nhàng hơn Với lồng làm bằng lưới phải lắp ráp bộ khung trước sau đó mắc lồng lưới đã khâu hoàn chỉnh vào khung
Hiện nay ở một số địa phương để thuận tiện cho việc di chuyển và bảo vệ lồng trong mùa mưa lũ đã làm lồng theo dạng mũi thuyền, có tác dụng giảm lực cản của nước và tăng khả năng chịu đựng sự va đập
Trang 3Hình 1: Cấu tạo lồng nuôi cá bằng tre nguyên cây
1 Bu long 2 Đầu vặn e cu 3 Vòng đệm 4 Đầu tán
Hình 2 Ghép lồng bằng lưới
Trang 4II ĐỊA ĐIỂM ĐẶT LỒNG
Chọn đoạn sông có dòng chảy lưu tốc trung bình 0,2 - 0,3 m/giây không có dòng nước quẩn, có địa thế neo buộc vững chắc, dễ quản lý khi gặp gió bão Tránh những nơi nước chảy quá mạnh, sức ép của nước làm cá mệt, chậm lớn Nếu nuôi cá ở trên các dòng suối vùng cao phải tránh được con nước ngầm gây sự chênh lệch nhiệt độ quá cao hoặc các luồng nước phèn Đặc biệt tránh thả lồng ở những nơi gần nguồn nước thải từ các nhà máy, hay cuối nước của các nhà máy hóa chất hoặc dầu mỏ, nơi nước chua hay gần thác có nhiều bọt khí Ở những kênh mương thủy nông lớn, có nước chảy quanh năm có thể nuôi cá liên tục
Nói chung nơi đặt lồng phải có nước lưu thông tốt, càng trong càng tốt, trừ những ngày mưa lũ Ở sông nên chọn chỗ bờ thoải, không dốc đứng Đặt lồng ngập 1 - 1,2m và đáy lồng cách sông hồ ít nhất 0,5 m
Ở sông nước chảy, các lồng có thể đạt thành cụm, mỗi cụm có 15 - 20 lồng
Ở hồ chứa, mỗi cụm có 10 - 15 cái, lồng nọ cách lồng kia 10 - 15 m, xếp so le không che chắn nhau, giữ cho các lồng đều thông thoáng
Ở các sông chảy mạnh, mỗi cụm lồng cách nhau 500 m Ở suối và hồ chứa, mỗi cụm cách nhau 1000 m
Chú ý không neo lồng ở gần bến phà (nước có dầu mỡ và nhiều tiếng ồn ) và không gần các bến gỗ, nứa lâm nghiệp vì nước thối bẩn, có các chất độc do vỏ cây tiết ra
III THẢ CÁ
Thông thường người ta thường chọn đối tượng cá trắm cỏ để nuôi lồng
1 Đặc điểm sinh học của cá trắm cỏ:
1.1- Phân bố:
Cá trắm cỏ chủ yếu có ở vùng Trung Á, đồng bằng Trung Quốc, đảo Hải Nam và hạ lưu sông Amua Ở nước ta, cá trắm cỏ được đưa vào nuôi từ năm 1958 và năm 1968 đã cho sinh sản nhân tạo thành công giống cá trắm cỏ Trung Quốc Hiện nay cá trắm cỏ có thể sinh sản và sinh trưởng tốt ở sông Hồng và trở thành nguồn lợi tự nhiên của các con sông ở Việt Nam
1.2- Hình dạng và cấu tạo
Cá trắm cỏ có màu xanh trên lưng và màu trắng ở bụng, thân tròn lẳn, cân đối khỏe mạnh Chiều dài của thân gấp 3 - 4 lần chiều cao Khi thành thục trên vây
Trang 5cá, ngực cá đực và vảy trên thân nhám Ngược lại cá cái trơn nhẵn Hết mùa sinh sản đặc điểm này không còn nữa
1.3- Đặc điểm sinh trưởng
Cá trắm cỏ sống ở tầng nước giữa và dưới, thích những vùng nước ven hồ có nhiều thực vật thủy sinh Cá có thể phát triển ở nước lợ có độ muối từ 7 - 110/00 Cá trắm cỏ là loài có tốc độ sinh trưởng nhanh
Cá trắm cỏ nuôi trong ao hồ với thức ăn đầy đủ thường đạt:
§ Cá một tuổi đạt 1kg
§ Cá hai tuổi đạt 2 - 9 kg
§ Cá ba tuổi đạt 9 - 12 kg
Cá trắm cỏ nuôi trong lồng nước chảy:
§ Cá một tuổi đạt 1 - 1,5 kg
§ Cá hai tuổi đạt 4 - 6 kg
Trong điều kiện chăm sóc tốt cá có thể phát triển tốt và lớn hơn
Tập tính sinh sống: Cá trắm cỏ thích sống ở những nơi nước trong, nước chảy nơi có nhiều dưỡng khí Cá bơi lội nhanh nhẹn, hàng năm đến thời kỳ thành thục sinh dục cá thường bơi ngược dòng lên thượng nguồn tìm nơi có điều kiện thích hợp để đẻ trứng Sau đó lại xuôi dòng về hạ lưu vào các nhánh sông, đầm để sinh sống và vỗ béo
Tập tính ăn: Thức ăn chủ yếu là thực vật, rong cỏ ở dưới nước và trên cạn
nên người ta gọi là cá trắm cỏ hay có nhiều nơi còn gọi là " trâu nước " Ở các kích thước khác nhau, thức ăn của cá trắm cỏ cũng khác nhau
§ Ở giai đoạn cá bột, cá ăn động vật phù du, côn trùng như các loại cá khác
§ Cá từ 2,5 - 3 cm trở lên ăn được bèo tấm, bèo trứng hay rong, rau bèo thái nhỏ
§ Cá từ 8 - 10 cm có thể ăn rong, rau cỏ trực tiếp như cá trưởng thành
Với nguồn thức ăn chủ yếu là thực vật nên ruột của cá trắm cỏ rất phát triển, ruột dài và đường kính lớn Thức ăn trong một ngày có thể đạt đến 20 - 30 % trọng lượng thân đối với thực vật trên cạn và 90% đối với thực vật dưới nước
Nuôi trong ao, cá có thể ăn tạp kể cả thức ăn động vật như giun đất, bã hữu
cơ và các thức ăn chế biến khác
Trang 6Tùy theo chất lượng của thức ăn mà hệ số thức ăn thay đổi Đối với cỏ hệ số thức ăn bình quân 20 - 40 kg cho 1 kg thịt Vì vậy trước khi đưa đối tượng này vào nuôi chúng ta cần phải xem xét nguồn thức ăn xanh của địa phương có đủ hay không Nếu nguồn thức ăn nghèo chúng ta không nên chọn đối tượng này làm đối tượng nuôi chính mà nên chọn làm đối tượng nuôi ghép với các đối tượng khác hoặc nuôi với mật độ thưa
Với tập tính ăn như trên, cá trắm cỏ là đối tượng chủ yếu được chọn nuôi ở nơi nước chảy và nuôi trong lồng, bè
Hình 3 Cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus)
1.4- Đặc điểm sinh sản:
Cá trắm cỏ không đẻ trứng tự nhiên được trong ao hồ mà chỉ đẻ ở sông ngòi Cá trắm cỏ đẻ trứng rời, bãi đẻ thường ở thượng lưu của các con sông, nơi tiếp giáp giữa hai dòng nước, đầu thác ghềnh, đáy thường là cát sỏi Nhiệt độ thích hợp để cá trắm đẻ trứng là 22 - 230C, lưu tốc nước từ 1 - 2 m/s Tỷ lệ đực cái là1:1 Chu kỳ phát dục trong tự nhiên là một lần trong một năm Mùa đẻ chính thức từ tháng 4-
6
Hiện nay nhiều cơ sở đã cho cá trắm đẻ nhân tạo sớm từ tháng 3 và đẻ nhiều lần trong năm cả chính vụ và và trái vụ dưới tác dụng của kính dục tố và chế độ nuôi dưỡng chăm sóc đặc biệt
2 Chọn và thả giống:
Giống cá nuôi lồng chủ yếu hiện nay là cá trắm cỏ Chất lượng giống phải khỏe mạnh, đều cỡ, màu sắc trong sáng, bơi lội nhanh nhẹn, không bị xây xát lờ đờ, các phần phụ phải còn nguyên vẹn
Trang 7Một số nơi nuôi ghép cá trắm cỏ với cá chép với tỷ lệ 90% trắm cỏ và 10% cá chép Mật độ thả cá phụ thuộc vào khả năng cung cấp thức ăn Có thể nuôi từ
40 - 60 con/m2 lồng ngập nước
Trong cùng một lồng, nên thả cá giống đều cở Chú ý quản lý chất lượng nước của lồng nuôi, thường xuyên thăm lồng và đặt biệt quan tâm đến sự biến động của thời tiết
Việc chuyển cá từ ao ra lồng nuôi sẽ có sự thay đổi đột ngột của môi trường
Ở trong ao nước tù mật độ tảo lớn, nhiệt độ nước thường cao hơn sông suối, do đó khi thả cá vào lồng phải có thời gian thuần hóa giúp cá làm quen với môi trường mới Trong lồng lưu tốc nước chảy mạnh làm cá bơi lội nhiều, nhiệt độ nước giảm làm giảm nhiệt độ thân cá Sự thay đổi này làm cá bơi nhanh hơn, khả năng kháng bệnh của cá sẽ kém Trong thời gian này cá thường chậm lớn do mất nhiều năng lượng bởi di chuyển, vì vậy khi thả cá vào lồng trong giai đoạn đầu có thể làm một hàng rào cản nước để giữ một lưu tốc vừa phải chảy qua lồng Sau đó từ từ tháo rào cản để chúng quen với lưu tốc mạnh hơn Lúc đầu nên dùng niều lồng thả cá với mật độ thưa, sau khi cá thích nghi với môi trường mới dồn cá lại với mật độ cao Mùa vụ thả giống: Cá giống thả nuôi lồng thường được thả vào thời điểm sau lũ Tốt nhất chúng ta nên thả giống từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau và thu hoạch vào tháng 9, tháng 10
Phương pháp thả giống: Việc thả giống chưa đúng kỹ thuật thiếu bước thuần hóa sẽ làm cá giống chết do bị sốc Giống càng lớn tỷ lệ sống càng cao, thời gian nuôi sẽ được rút ngắn nhưng sẽ khó khăn trong vận chuyển và phải đầu tư số tiền lớn để mua giống Vì vậy, tùy điều kiện của từng hộ mà chọn giống có kích thước phù hợp Nên thả giống vào lúc mát trời (saõng sớm hoặc khi chiều mát) Tốt nhất là thả đồng loạt bảo đảm đủ số lượng và chất lượng Do có sự khác nhau giữa môi trường nước lồng nuôi và trại giống nên giống mua về không đổ ngay vào lồng mà phải thuần hóa giống trước khi thả
=> Kỹ thuật thuần hóa giống trước khi thả được thực hiện theo các bước sau:
♦ Ngâm dụng cụ chứa cá nuôi xuống môi trường lồng nuôi từ 10 -15 phút
♦ Cho nước vào túi vận chuyển cá giống từng ít một cho đến lúc đầy
♦ Nghiêng dần miệng cho cá ra từ từ
♦ Quan sát thấy cá lao nhanh vào môi trường bắt mồi là tốt ( Nếu có điều kiện nên thả giống vào trong các giai lớn, quan sát hoạt động sống của cá, xác
Trang 8định được tỷ lệ sống sau đó mới mở giai cho cá vào lồng Giai nên cắm ngay trong môi trường nước lồng nuôi)
Hình 4 Kỹ thuật thả giống Cách thức đếm giống:
• Mua ít, đếm từng con một
• Mua nhiều ta phải đong chén hay cân mẫu
Vận chuyển giống: Nếu vận chuyển giống với số lượng ít, khoảng cách vận chuyển ngắn, thời gian vận chuyển dưới 1 giờ ta có thể vận chuyển bằng thùng tôn, thúng, hộp gỗ, sọt phía trong lót nilon để hở miệng Giữ mức nước sâu từ 0,2 -,3 m Mật độ 0,1 - 0,15kg /1 lit nước ở nhiệt độ 25 - 30 0C
Nếu vận chuyển giống với số lượng nhiều, khoảng cách vận chuyển xa, thời gian vận chuyển trên 1 giờ ta phải vận chuyển kín bằng túi nilon có bơm oxy Mật độ 0,1 - 0,15kg /1 lit nước Trong quá trình vận chuyển sau 3 - 4 giờ phải thay nước và khí oxy
3 Thức ăn và chăm sóc cá:
Thức ăn gồm cám, bã, bột, lá, quả, vỏ, rong, bèo Tùy theo cỡ cá mà thay đổi thành phần thức ăn Trong giai đoạn còn nhỏ, cá ăn ít nên cho ăn nhiều thức ăn tinh (cám, bã, bột, giun ) Các loại cỏ, lá nên chọn lá non thái nhỏ Cá càng lớn, tỷ lệ thức ăn xanh càng tăng lên Để tránh tình trạng cá lớn tranh mồi cá bé, hàng
Trang 9ngày nên cho cá ăn 2 - 3 lần Khối lượng thức ăn mỗi ngày nếu dùng toàn cỏ phải đạt 25 - 30% khối lượng cá thả nuôi trong lồng Muốn đảm bảo cá ăn đủ phải luôn theo dõi để điều chỉnh lượng thức ăn kịp thời
Khâu vệ sinh khu vực nuôi và lồng nuôi phải được tiến hành suốt thời gian nuôi cá Trong suốt thời gian nuôi, không nên để rong và các rác bẩn bám vào các lồng nuôi
Định kỳ 7 - 10 ngày, dùng chổi quét mặt ngoài của lồng để làm thông thoáng lồng nuôi, luân phiên giặt lưới theo các cạnh của lồng nuôi nhằm hạn chế ô nhiễm nước trong quá trình làm vệ sinh, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cá Kết hợp với việc làm vệ sinh là loại thải cá yếu ra khỏi lồng nuôi và kiểm tra, phát hiện những chỗ hư hỏng của lồng nuôi để kịp thời sữa chữa
Những ngày trời nắng nóng, nước cạn, một số thông số môi trường ao nuôi biến động bất lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển của cá như: nhiệt độ tăng cao
34 - 36oC, oxy hòa tan giảm 2,7 - 3 mg oxy/lít, người nuôi cần chú ý quản lý chặt chẽ lượng thức ăn, chú trọng công tác vệ sinh lồng
Theo dõi tình hình mưa bão, lũ lụt để kịp thời gia cố lồng nuôi, căng nắp đậy,
di chuyển lồng vào nơi an toàn Bảo vệ sản phẩm nuôi là một khâu quan trọng Nên phân bố lồng ở những nơi có tình hình an ninh trật tự tốt Phải tổ chức canh phòng cẩn thận, nhất là trước thời gian thu hoạch
4 Thu hoạch:
Sau một thời gian nuôi, thu hoạch sản phẩm là khâu cuối cùng, chọn đúng thời điểm thu hoạch có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh tế của quá trình nuôi
Kích cỡ cá trắm cỏ thu hoạch tiêu chuẩn là 1 kg
Mùa vụ thu hoạch: Thông thường cá được thu hoạch vào vụ hè thu, lúc này trời ít mưa, mức nước xuống thấp, một số khu vực lồng nuôi không đủ độ sâu để tiếp tục nuôi cá Hơn nữa, qua những tháng hè thu nắng ấm, thức ăn tự nhiên cho cá phong phú, do đặc tính sinh học vốn có cá tự vỗ béo để chuẩn bị qua đông, nên thu hoạch sẽ cho sản lượng cao, cá béo ngon Tuy nhiên, người nuôi cần phải nắm được tình hình giá cả thị trường để tiến hành thu hoạch ở thời điểm có giá cao, nhằm tăng hiệu quả kinh tế
Cách thức đánh bắt: Có nhiều cách thu hoạch khác nhau như kéo lưới, quăng chài, thảy cá Vào những ngày mưa lũ, nếu lồng có nguy cơ bị tràn ta phải chuẩn
bị sẵn lưới và nhân lực để thu hoạch gấp cá Có thể chọn phương pháp đánh tỉa thả
Trang 10bù (thu hoạch cá lớn đạt kích thước thương phẩm, thả bù cá giống có kích thước trung bình của đàn cá nuôi còn lại)
IV PHÒNG TRỊ BỆNH CHO CÁ NUÔI
Cá nuôi có thể mắc một số bệnh như: bệnh đốm trắng, trùng mỏ neo, đốm đỏ, nấm trên thân, trên mang và các vây, bệnh đường ruột, bệnh lở loét Trong đó, bệnh thường gặp và gây thiệt hại lớn cho cá nuôi lồng là bệnh đốm đỏ, lở lóet Tác nhân gây bệnh lở loét là tổng hợp nhiều nguyên nhân, do đó việc phòng trị gặp rất nhiều khó khăn, nên áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp
1 Những nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện bệnh cá:
v Do các yếu tố môi trường: Nhiệt độ, pH, lượng oxy hòa tan trong nước, chất độc do nước thải sinh hoạt, thuốc trừ sâu và các độc tố khác thải ra từ các kênh mương tiêu nước của ruộng đồng
v Những yếu tố gây bệnh do con người như chọn mật độ nuôi và tỷ lệ xen ghép không phù hợp, quản lý chăm sóc không chu đáo, các tổn thương gây ra trong các thao tác kéo lưới, vận chuyển
v Do mầm bệnh tồn tại trong khu vực nuôi (từ cá giống đưa từ nơi khác đến, thức ăn, các ngư lưới cụ và do nguồn nước bị nhiễm bệnh )
v Những yếu tố gây bệnh bởi cá nuôi có sức đề kháng kém
2 Phòng trị bệnh cho cá:
Việc phòng trị bệnh có ý nghĩa quan trọng trong nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá nói riêng Muốn phòng bệnh được tốt cần quan tâm ngay từ đầu những yếu tố kỹ thuật nuôi cá, trọng tâm là:
• Cần chú trọng việc chọn lựa khu vực lồng nuôi cá
• Đầu tư cải tạo khu vực nuôi và chuẩn bị lồng nuôi đúng kỹ thuật (diện tích, độ cao, nền đáy, mắc lưới, chất lượng lưới, chất lượng và số lượng cọc cắm lồng )
• Chú trọng khâu chọn và thả giống, phải kiểm tra giống cẩn thận trước khi mua và thả nuôi
• Không nên nuôi ở mật độ quá dày và sang thưa cá sang lồng mới khi cá đạt kích thước lớn