Mục tiêu thực hiện của mô đun : Học xong mô đun này học viên sẽ có khả năng : Giải thích qui trình công nghệ sản xuất hàng may công nghiệp trên mô hình chính xác theo qui trình sản xu
Trang 10 0 1 5
t r × n h ® é ® µ o t ¹ o
Trường Đại học Sư Phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa CN May & Thời Trang
Trang 2Cho nên các nguồn thông tin có thể
được phép dùng nguyên bản hoặc
Trang 3MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
1 Lời tựa 3
2 Mục lục 4
4 Sơ đồ mối quan hệ giữa môđun và mô học trong chương trình 7
5 Các hình thức học tập chính trong môđun 8
II
I Tìm hiểu về nguyên phụ liệu ngành may 17
II Tầm quan trọng của việc chuẩn bị
IV Các nguyên tắc kiểm tra, đo đếm nguyên phụ liệu 20
V Công đoạn chỉnh sửa, hoàn tất chi tiết sau khi cắt 43
I Phân loại các công đoạn hoàn tất sản phẩm 59
II Quá trình gia công nhiệt ẩm định hình sản phẩm 59
Trang 4IV Công đoạn vệ sinh sản phẩm 74
Trang 5
GIỚI THIỆU VỀ MÔ ĐUN
Vị trí, ý nghĩa, vai trò mô đun:
Giúp học viên hiểu được những kiến thức cơ bản về qui trình công nghệ may và các yêu cầu kỹ thuật của quá trình sản xuất
Mục tiêu của mô đun :
Sau khi hoàn tất mô đun này học sinh có khả năng :
Khái quát được cấu trúc,quá trình đặc điểm sản xuất sản phẩm may công nghiệp
Chuẩn bị đúng và đủ vật liệu
Trải,cắt vải đúng theo tài liệu kỹ thuật
Chọn phương pháp và vật liệu để ráp nối tối ưu nhất
Tham gia vào công nghệ hoàn tất sản phẩm
Mục tiêu thực hiện của mô đun :
Học xong mô đun này học viên sẽ có khả năng :
Giải thích qui trình công nghệ sản xuất hàng may công nghiệp trên mô hình chính xác theo qui trình sản xuất thực tế của xí nghiệp may
Trình bày khâu chuẩn bị sản xuất đúng yêu cầu của mã hàng
Giải thích các công đoạn từ công đoạn trải,cắt vải đến công đoạn hoàn tất sản phẩm đúng bảng tiêu chuẩn kỹ thuật của mã hàng
Nội dung chính của mô đun :
Bài 1 :khái quát chung
Bài 2 : Công đoạn chuẩn bị vật liệu
Bài 3 : Công đoạn trải, cắt vải
Bài 4 : Công đoạn ráp nối
Bài 5 : Công đoạn hoàn tất sản phẩm
Trang 6SƠ ĐỒ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC MÔ ĐUN VÀ MÔN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH
Trang 7CÁC HÌNH THỨC HỌC TẬP CHÍNH TRONG MÔ ĐUN
1 Lý thuyết : (90 tiết) học viên được trang bị các kiến thức về :
- Qui trình công nghệ sản xuất hàng may mặc công nghiệp từ khâu đầu đến khâu cuối
- An toàn lao động trong quá trình sản xuất, đặc biệt khi vận hành một số dụng cụ và thiết bị cắt, may, ủi
- Thái độ nghiêm túc khi làm việc và kỷ luật lao động
2 Thực hành : (45 tiết)
- Thực hành các qui trình trải vải, sang sơ đồ,cắt ,may và hoàn tất sản phẩm theo hướng dẫn của giáo viên tại xưởng trường
- Thực hành nhóm về bài tập xây dựng qui trình ráp nối sản phẩm
- Làm các bài tiểu luận về lập tiêu chuẩn kỹ thuật tại nhà theo yêu cầu của giáo viên
YÊU CẦU VỀ ĐÁNH GIÁ HOÀN THÀNH MÔ ĐUN
* Yêu cầu về kiến thức :
+ Lý thuyết :Học viên sẽ làm bài viết tập trung ở các nội dung sau:
Trình bày sơ lược qui trình sản xuất hàng may công nghiệp
Nêu các đặc điểm của sản phẩm may công nghiệp
Trình bày quá trình chuẩn bị nguyên phụ liệu
Trình bày giai đoạn chuẩn bị và tiến hành trải cắt vải
Công đoạn ráp nối bằng phương pháp may
Tối ưu hoá quá trình công nghệ may
Tóm tắt sơ lược quá trình hoàn tất sản phẩm
+ Thực hành: Học viên sẽ thực hiện thao tác trong phần kiểm tra thực hành tập trung ở nội dung sau:
Thực hiện thao tác công đoạn trải vải
Thực hiện công đoạn sang mẫu
Trang 8 Thực hiện thao tác công đoạn cắt
Xây dựng bảng qui trình ráp nối sản phẩm
Xây dựng qui trình hoàn tất sản phẩm
* Yêu cầu về kỹ năng:
Thực hiện các thao tác đúng tiêu chuẩn kỹ thuật
Xây dựng chính xác bảng qui trình ráp nối sản phẩm
Xây dựng đầy đủ và chính xác bảng qui trình hoàn tất sản phẩm
- Kéo, dao cắt đầu bàn
- Kim ghim, kẹp nhựa
- Vật nặng kim loại để chặn sơ đồ
- Các dung dịch tẩy vết bẩn
- Súng phun thuốc tẩy
- Bàn ủi,
- Bao ny lon
Trang 9+ Bảng tiêu chí đánh giá
+ Thời gian qui định
+ Sản phẩm đánh giá: các bài kiểm tra,bài thi,các thao tác thực hiện của học viên trong quá trình kiểm tra thực hành
*Phương pháp đánh giá : Kiểm tra,thi thực hành đánh giá theo năng lực cá nhân của từng học viên qua hai phần:lý thuyết và thực hành
*Yêu cầu về thái độ:
- Học viên cần phải rèn luyện và thể hiện thái độ nghiêm túc,chính xác,cần mẫn,tỉ mỉ,kiên nhẫn,giữ vệ sinh tốt cho máy và nơi học tập,làm việc
- Đánh giá trong suốt quá trình học tập của học viên
Trang 10Mục tiêu thực hiện :
Trình bày qui trình sản xuất may công nghiệp
Giải thích các đặc điểm và cấu trúc của sản phẩm may công nghiệp
Nội dung chính :
1 Cấu trúc quá trình sản xuất may công nghiệp
2 Đặc điểm và cấu trúc sản phẩm may
3 Điều kiện sản xuất may công nghiệp
Trang 11NỘI DUNG BÀI 1
I Quá trình phát triển ngành may:
1 Công dụng của quần áo:
Từ xa xưa, khi loài người chúng ta còn đang là vượn người, chúng ta đã biết lựa chọn các vật liệu thiên nhiên để che chở, bảo vệ cho cơ thể tránh được gió, mưa, giá rét Những loại trang phục đầu tiên có thể kể là các loại lá cây, vỏ cây, da thú, lông thú Về sau, người ta còn biết lợi dụng các hiện tượng thiên nhiên để tìm ra những loại vật liệu cao cấp hơn phục vụ cho nhu cầu của con người: lấy xơ dứa, lá chuối tước nhỏ bện thành sợi trước khi liên kết chúng thành vải thô; nuôi tằm để lấy tơ dệt vải, nuôi cừu để lấy lông làm thành len; nuôi trâu bò lấy da để làm giày, dép, vật dụng trong gia đình
Trải qua thăng trầm của lịch sử, con người ta đã tạo ra rất nhiều loại trang phục khác nhau Các loại trang phục này, tùy thuộc vào điều kiện sống, điều kiện làm việc, đặc điểm xã hội, giới tính , cho đến nay, chúng vẫn mang đầy đủ các công dụng sau:
- Bảo vệ con người về mặt sức khỏe
- Mang lại cho con người tính thẩm mỹ cao
- Che dấu khuyết điểm cho cơ thể
2 Quá trình phát triển ngành may thế giới:
Kể từ khi phát minh ra máy may gia đình ( giữa thế kỷ 18), các nhà thiết kế chế tạo máy đã không ngừng tìm tòi, cải tiến loại thiết bị này để chúng không chỉ hỗ trợ con người về mặt công sức khi may mà còn giúp nâng cao được năng suất, chất lượng của sản phẩm may Đến nay, thiết bị may không còn là những máy may thô sơ ban đầu mà chúng đã được phát triển mạnh mẽ với nhiều thế hệ, nhiều tính năng, nhiều kiểu dáng và tạo ra được vô số kiểu đường may đa dạng mang tính thẩm
mỹ cao Thiết bị may còn được phát triển vượt bậc khi có sự hỗ trợ to lớn của công nghệ thông tin Các nhà sản xuất thiết bị may và các nhà sản xuất phần mềm, phần cứng đã bắt tay nhau tạo nên những hệ thống CAD, CAM phục vụ rất đắc lực cho ngành may
Xét theo các đặc điểm công nghệ, đến nay, ngành may đã phát triển qua 3 giai đoạn sau:
- Sản xuất may đơn chiếc: trong đó, mỗi người thợ phải tự làm tất cả các công việc có trong quá trình sản xuất như : đo,
vẽ, cắt, may, hoàn chỉnh sản phẩm và sửa chữa sản phẩm chưa đạt (nếu có) Hình thức này ta có thể quan sát dễ dàng ở các căn hộ, vì đây chính là hình thức may mặc gia đình May mặc gia đình cho năng suất thấp nhưng vẫn được ưa chuộng vì
nó tạo ra được những sản phẩm có sắc thái riêng và làm hài lòng những khách hàng muốn được phục vụ theo ý thích
- Sản xuất may đo: trong đó tập hợp một số thợ có tay nghề cùng tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm Hình thức này thường thấy ở các cửa hàng may đo Mỗi người thợ sẽ độc lập may một sản phẩm Vì vậy, chưa có sự chuyên môn hóa Sản lượng làm ra trong mỗi ngày không cao do phải đáp ứng nhu cầu về kiểu dáng, số đo, nguyên phụ liệu cho từng khách
Trang 12hàng khác nhau Chất lượng sản phẩm ở hình thức này cao hơn sản xuất may đơn chiếc do quá trình sản xuất mang tính chuyên nghiệp hơn Tuy nhiên, giá thành sản phẩm loại này khá cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của đại đa số nhân dân lao động
- Sản xuất may công nghiệp: trong đó có một số lượng lớn công nhân cùng tham gia vào quá trình sản xuất Mỗi người thợ chỉ tham gia làm một vài công việc trong quá trình hoàn tất sản phẩm do có sự chuyên môn hóa cao Sản lượng làm ra trong một ngày rất lớn do số đo được phân theo hệ thống cỡ số, đảm bảo đáp ứng về kiểu dáng và màu sắc cho một số lượng lớn khách hàng Hình thức sản xuất này đang ngày càng trở nên phát triển vì những đặc tính ưu việt của nó như: nguyên phụ liệu tốt, giá thành rẻ, chất lượng đường may cao và ổn định, kiểu dáng phong phú và đáp ứng được đòi hỏi về thời gian của người tiêu dùng
Ngành may Việt nam được bắt đầu khoảng năm 1954, là thời điểm Việt nam có đội quân chính qui đầu tiên, đội quân này
đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ Và sau khi chúng ta ký hiệp định Giơ-ne-vơ với chính phủ nước Pháp, đội quân này càng đòi hỏi phải được tinh nhuệ hơn, và cũng đòi hỏi phải có trang phục chuẩn hóa hơn Đến nay, đã trải qua các giai đoạn chính sau:
- Từ năm 1954 – 1975: giai đoạn mà cả nước vừa xây dựng, vừa chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến Được sự quan tâm chăm lo và phát triển của Đảng và nhà nước, ngành Dệt-may đã phát triển nhanh chóng Lực lượng sản xuất tăng nhanh với nhiều nhà máy mới được xây dụng, đội ngũ công nhân đông đảo, hàng vạn người đã hăng say lao động với tinh thần ”mỗi người làm việc bằng hai” theo lời kêu gọi của Bác Hồ để tăng nhanh sản lượng hàng nhằm đảm bảo nhu cầu cơ bản về sợi, vải, chăn màn, bông y tế cho nhân dân và lực lượng vũ trang, từ phong trào thi đua sản xuất và anh dũng chống chiến tranh phá hoại, nhiều cán bộ công nhân ngành Dệt- may đã được Đảng và nhà nước phong tăặg danh hiệu anh hùng lao động và
đã có nhiều tổ đội lao động Xã hội Chủ nghĩa Các doanh nghiệp Dệt – May trung ương gồm toàn bộ các doanh nghiệp lớn đã sản xuất gần 100% sản lượng sợi, vải, quần áo, chăn màn, bông y tế, để cung cấp cho nhân dân theo định lượng và đảm bảo
đủ, kịp thời nhu cầu cho các lực lượng vũ trang với hàng tỉ mét vải, hàng trăm triệu bộ quần áo
- Từ năm 1976 – 1990: Thời kỳ xây dựng hòa bình và hợp tác toàn diện với các nước Xã hội chủ nghĩa Ngành Dệt- may Việt Nam đã phát triển nhanh chóng về năng lực sản xuất do tiếp quản toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp Dệt – May ở phía Nam và tiếp tục xây dựng nhiều nhà máy lớn trên cả nước Ở các kế hoạch 5 năm (1976-1980, 1981 -1985, 1986-1990) bằng nhiều phương thức thi đua lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ngành Dệt-May đã hoàn thành xuất sắc trước kỳ hạn các chỉ tiêu kế hoạch nhà nước giao, đảm bảo các nguyên liệu cho sản xuất vải, quần áo, chăn màn, cho tiêu dùng và là đầu mối xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa theo nghị định hàng năm với các nước Xã hội Chủ nghĩa, tạo việc làm
nghiệp nhà nước, 1979 hợp tác xã và hộ cá thể Năng lực trung bình 860.000 cọc sợi và 2000 roto, 43.000 máy dệt kể cả khung dệt thủ công, 60.000 máy may và thiết bị Đã xây dựng viện công nghệ sợi dệt và trung tâm nghiên cứu may Toàn ngành có trên 2000 tiến sĩ, phó tiến sĩ và kỹ sư công nghệ may Sản lượng thực hiện cuối năm 1990 đạt 50.000 tấn sợi và
Trang 13hơn 450 triệu mét vải (khổ 0,8m), sản xuất 150 triệu sản phẩm may So với toàn ngành, liên hiệp dệt, tổng công ty dệt và liên hiệp các xí nghiệp may Việt Nam với 64 doanh nghiệp thành viên hoạt động trên phạm vi cả nước giữ vai trò chủ đạo, thể hiện
ở các kết quả sau: có hơn 11.000 máy dệt các loại, sản xuất trên 80% vải lụa thành phẩm, hơn 60% thiết bị may, sản xuất trên
50 triệu sản phẩm, kim ngạh xuất khẩu chiếm 100%, đảm bảo 100% bông xơ và sợi cho toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp Dệt – May trong cả nước
- Từ năm 1991-1999: sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường theo định hướng Xã hôi chủ nghĩa, nhưng do mới chỉ làm ra được những sản phẩm chất lượng trung bình và thấp nên khi chuyển sang cơ chế thị trường, ngành Dệt-May Việt Nam đứng trước những khó khăn hết sức to lớn: thiết bị cũ kỹ, lạc hậu đã sử dụng 30-40 năm, máy dệt đa phần khổ nhỏ, tiêu hao năng lượng và lao động cao, thiếu vốn đầu tư đổi mới công nghệ và thiếu kỹ năng quản trị doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Nhưng nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được sự phối hợp của cán bộ ngành trong việc
mở rộng thị trường mới, cùng với tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công nhân các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư nâng cấp thiết bị cũ và mua sắm thiết bị mới để sản xuất ra những sản phẩm theo yêu cầu của thị trường Bên cạnh
đó, với luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, các xí nghiệp liên doanh và 100% vốn nước ngoài bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực Dệt – May Trong vòng mười năm, có gần 170 dự án với số vốn đăng ký hơn 1600 triệu USD, đã góp phần làm cho ngành công nghiệp Dệt- May Việt Nam có sự phát triển mới cả về qui mô, trình độ công nghệ, mẫu mã hàng hóa và đã được đầu tư bằng thiết bị và công nghệ tiên tiến Ngành dệt có công suất kéo sợi 177 nghìn tấn, đã sản xuất gần 100 nghìn tấn, trong đó có các loại vải chi số cao cho hàng dệt kim và dệt vải cao cấp Tổng số lượng vải đạt hơn 500 triệu mét, sản phẩm dệt kim đạt 34 nghìn tấn, khăn bông 10 nghìn tấn, mền chăn 1 triệu chiếc, thảm len hơn 5 triệu mét vuông, sản phẩm may khoảng 250 triệu Tổng số lao động sử dụng gần 1 triệu người, trong đó có trình độ kỹ sư trở lên hơn 300 người Có 2 viện và một trung tâm nghiên cứu, 6 trường đào tạo kỹ sư và công nhân lành nghề Đây là giai đoạn ngành Dệt- May Việt Nam có những thay đổi về chất rất quan trọng về thiết bị công nghệ đến sản phẩm nhất là công nghệ may và sản phẩm may Từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong nước nay đã phát triển lớn mạnh trong lĩnh vực làm hàng xuất khẩu
- Từ năm 2000- nay: xuất khẩu hàng dệt may toàn cầu đã có những tiến bộ vượt bậc Đến hết năm 2005, Tổng Công
Ty Dệt- May Việt Nam đã có hơn 400 công ty may thành viên và xuất khẩu sản phẩm đến hơn 65 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới với tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt hơn 5 tỷ USD
* Những lợi thế và hạn chế của ngành may công nghiệp Việt nam hiện nay:
- Lợi thế: lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, đầu tư không lớn, tạo kim ngạch xuất khẩu hàng năm cao, có điều kiện cạnh tranh tốt trên thị trường thế giới
- Hạn chế: hầu hết các công ty đều thực hiện hình thức gia công cho nước ngoài nên lợi nhuận không cao Nguồn nguyên phụ liệu không ổn định, chất lượng thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng Năng lực sản xuất còn hạn chế, chất lượng sản phẩm còn kém Đang xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện cho khách hàng ép giá Thiết bị ngành may lạc hậu, công nghệ chỉ ở mức trung bình do thiếu vốn đầu tư Trình
độ cán bộ quản lý và cán bộ còn thấp, chưa theo kịp xu hướng phát triển ngành nghề trên thế giới
Trang 14* Những cơ hội và thách thức của ngành May Công nghiệp Việt nam trước ngưỡng cửa WTO:
- Cơ hội: Chúng ta sẽ có một thị trường thế giới rộng lớn không phân biệt đối xử mà trong đó có việc xuất khẩu hàng dệt may mà không cần quota Việc gia nhập WTO có thể coi là một chứng chỉ quốc tế về tiến trình cải cách trong nước Môi trường đầu tư, kinh doanh sẽ thông thoáng hơn, minh bạch hơn, thuận lợi hơn, dễ dự báo hơn Đó sẽ là sức hút với các nhà đầu tư
- Thách thức: Phải chịu áp lực cạnh tranh của các tập đoàn nước ngoài Hàng hóa vào Việt nam sẽ có giá thấp do được giảm thuế, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt nam cần đẩy mạnh tổ chức sản xuất, đổi mới quản lý, tìm ra lợi thế của mình, nâng cao hiệu quả kinh doanh Đặc biệt, các doanh nghiệp cần tỏ ra minh bạch hơn trong việc áp dụng các chính sách và điều kiện lao động Tăng cường hơn trong xúc tiến đầu tư, chuẩn bị một số dự án dệt nhuộm để có vải cho sản xuất hàng may mặc xuất khẩu, đẩy mạnh khâu thiết kế để mỗi doanh nghiệp may ít nhất phải có một thương hiệu Phát huy vai trò của Hiệp hội Dệt- May trong cung cấp thông tin, dự báo thị trường, trong liên kết các doanh nghiệp để đáp ứng những đơn hàng lớn
II CẤU TRÚC QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT MAY:
Trang 15KCS
Các công đọan sản xuất
Chia cắt
Trải
Nguyên liệu
Phụ liệu Thiết kế
chuyền
Bố trí MBPX
Bĩc tập- phối kiện
Ráp nối
Uûi định hình
May chi tiết
Lắp ráp
Tạo dáng
Hoàn tất
Nhiệt ẩm định hình
Eùp tạo dáng
Tính chất
NPL
Định mức NPL
Cân đối
NPL
Thiết kế
Đề xuất- chọn mẫu
Cắt phá Cắt thô Cắt tinh Đánh số
Trải
Nguyên liệu
Ép tạo dáng
Thiết kế
Đề xuất chọn mẫu
Cắt phá Cắt thơ Cắt tinh Đánh số
Thiết kế mẫu
Trang 16III ĐẶC ĐIỂM VÀ CẤU TRÚC SẢN PHẨM MAY:
1 Đặc điểm sản phẩm may:
a Theo nguyên liệu: sản phẩm may từ vải dệt k im, vải dệt thoi, vải không dệt, da
lông tự nhiên, da lông nhân tạo …
b Theo giới tính và lứa tuổi: quần áo nam, quần áo nữ, quần áo trẻ em Quần áo nam,
nữ lại được chia ra quần áo cho thanh niên, cho người đứng tuổi và cho người già Quần áo trẻ em cũng chia ra nhiều loại phục vụ cho nhiều đối tượng như: trẻ em ở tuổi nhà trẻ, trẻ
em ở tuổi mẫu giáo, học sinh phổ thông cơ sở, học sinh phổ thông trung học…
c Theo mùa và khí hậu: quần áo xuân và thu, quần áo mùa hè, quần áo mùa đông
d Theo công dụng: quần áo mặc lót, quần áo mặc thường, quần áo mặc khoác
e Theo chức năng xã hội: quần áo mặc thường ngày, quần áo mặc trong dịp lễ hội,
quần áo lao động sản xuất, quần áo đồng phục, quần áo thể dục thể thao, quần áo trong biểu diễn nghệ thuật…
2 Cấu trúc của sản phẩm may:
a Sản phẩm một lớp :gồm
- Các chi tiết chính: là các chi tiết mà khi thay đổi kích thước của nó sẽ dẫn đến thay đổi kích cỡ của sản phẩm
- Các chi tiết phụ: khi thay đổi kích thước của chi tiết, ta thấy không ảnh hưởng đến kích cỡ của sản phẩm
b Sản phẩm có nhiều lớp: gồm lớp chính và các lớp lót Mỗi lớp lại có các chi tiết chính,
các chi tiết phụ
IV Điều kiện sản xuất công nghiệp may:
Quá trình sản xuất công nghiệp may được phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn công nghệ của từng doanh nghiệp Tuy nhiên, dù theo loại công nghệ sản xuất nào đi nữa, các doanh nghiệp may vẫn phải dựa trên các điều kiện mang tính chất cơ sở sau để có thể triển khai tốt hoạt động quản lý:
a Các yếu tố về cơ sở vật chất:
- Nhà xưởng
- Thiết bị
- Phương tiện vận tải
b Nguyên vật liệu:
- Nguyên liệu
- Phụ liệu
c Nguồn tài chính
d Con người:
- Cán bộ kỹ thuật
- Cán bộ quản lý
- Công nhân trực tiếp sản xuất
- Cán bộ công nhân viên của các phòng ban
e Kỹ thuật
- Qui trình công nghệ ổn định, hiện đại
- Tài liệu kỹ thuật
- Văn bản pháp qui của ngành
f Tổ chức quản lý:
Trang 17- Lập kế hoạch sản xuất
- Tổ chức quá trình sản xuất
- Điều phối quá trình sản xuất
- Lãnh đạo và kiểm tra quá trình sản xuất
Trang 18 Giải thích quá trình chuẩn bị nguyên liệu
Giải thích quá trình chuẩn bị phụ liệu
Nội dung chính :
1 Tìm hiểu về nguyên phụ liệu ngành may
2 Công đoạn chuẩn bị nguyên liệu
3 Công đoạn chuẩn bị phụ liệu
Trang 19Nội Dung Bài 2
I Tìm hiểu về nguyên phụ liệu ngành may:
1 Giới thiệu về nguyên phụ liệu:
- Nguyên phụ liệu ngành may là tất cả những vật liệu cấu thành nên các sản phẩm may
- Trên thị trường hiện nay, có rất nhiều loại nguyên phụ liệu khác nhau Tùy theo yêu cầu của từng sản phẩm mà nguyên phụ liệu có thể được doanh nghiệp tìm mua trên thị trường nội địa hoặc do khách hàng cung cấp toàn bộ bằng cách đặt mua ở nước ngoài hay tại Việt Nam và chuyển giao cho doanh nghiệp
- Với ngành may thời trang, việc lựa chọn nguyên phụ liệu đa dạng hơn tùy theo sức sáng tạo của nhà thiết kế Tuy nhiên, với việc lựa chọn này, việc gia công sản phẩm cũng phức tạp hơn và mang nhiều tính thủ công hơn
- Chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến chất lượng sản phẩm Việc kiểm tra chất lượng nguyên phụ liệu và tìm hiểu kỹ các tính chất của chúng cho phép tổ chức sản xuất nhanh hơn và hiệu quả hơn
- Mỗi loại nguyên phụ liệu lại có thành phần cấu tạo rất khác nhau Vì vậy,việc nắm vững bản chất của các mặt hàng, chính là góp phần sử dụng nguyên phụ liệu hợp lý và hiệu quả nhất Ở nhiều loại nguyên phụ liệu, nhà sản xuất thường đính theo một tờ giấy nhỏ ghi rõ mặt hàng đó thuộc loại gì, tỉ lệ thành phần ra sao, để tiện cho người dùng lựa chọn, xử lý khi có nhu cầu sử dụng Đôi khi, việc ghi chú này còn được trình bày bằng cách in trực tiếp lên các mép vải
- Việc tìm hiểu tính chất của các loại nguyên phụ liệu còn quan trọng ở chỗ: tìm cách để sử dụng các loại nguyên phụ liệu có thành phần, có độ co giãn khác nhau
để chúng cùng có thể kết hợp được với nhau và tạo nên hình dạng xác định cho sản phẩm Đã có nhiều nhà sản xuất may coi thường điều này, dẫn đến sản phẩm bị biến dạng sau một thời gian sử dụng, làm ảnh hưởng lớn tới uy tín của nhà sản xuất
- Hiểu biết về nguyên phụ liệu ngành may còn giúp cho bạn dễ dàng lựa chọn các chất tẩy cho phù hợp và không làm biến đổi các tính chất của nguyên phụ liệu
2 Giới thiệu về nguyên liệu may:
- Nguyên liệu may thường được xác định là các vật liệu có diện tích lớn, nằm trên bề mặt của sản phẩm và tạo nên được hình dạng đặc trưng của sản phẩm đó
- Nguyên liệu thường tồn tại ở dạng tấm, có khổ xác định và chiều dài không xác định Người ta tạo ra nguyên liệu bởi các công nghệ dệt thoi, dệt kim hoặc không dệt Tùy theo nhu cầu sử dụng, nguyên liệu ở sản phẩm này có thể được xem là phụ liệu ở sản phẩm khác
- Với ngành may thời trang, nguyên liệu còn được hiểu rộng hơn: là loại vật liệu chính kết cấu nên sản phẩm Các loại nguyên liệu này có thể không còn ở dạng tấm nữa mà có thể có nhiều dạng cấu tạo khác nhau:
Ví dụ: Thời trang ống hút: ống hút là nguyên liệu
Thời trang giấy báo : giấy báo là nguyên liệu
Thời trang tiền xu : tiền xu là nguyên liệu
Trang 20
3 Giới thiệu về Phụ liệu:
- Tất cả các vật liệu cấu thành nên sản phẩm may, trừ nguyên liệu, đều được gọi là phụ liệu
- Phụ liệu tồn tại dưới nhiều hình dạng khác nhau: dạng tấm, dạng chiếc, dạng cuộn, dạng hạt, dạng sợi, , và được sản xuất ra bởi nhiều công nghệ khác nhau
Có thể kể một vài loại phụ liệu thường dùng như: nút, nhãn trang trí, dây kéo, thun, mex, gòn, nút chặn,
- Phụ liệu còn bao gồm tất cả các vật liệu bao gói sản phẩm để vận chuyển chúng đến tay người tiêu dùng: kim ghim, kẹp nhựa, bìa lưng, khoanh cổ, bướm cổ, giấy chống ẩm, dây đai nẹp nhựa, đai nẹp sắt, băng keo dán thùng, thùng giấy, bao nylon,
- Phụ liệu có tác dụng hỗ trợ cho nguyên liệu về các mặt: tạo liên kết, tạo độ thẩm mỹ, tạo độ bền, tạo độ cứng và làm tăng giá trị kinh tế cho một sản phẩm may
II Tầm quan trọng của việc chuẩn bị nguyên phụ liệu trong ngành may:
Trong một doanh nghiệp may, việc chuẩn bị nguyên phụ liệu là một công tác hết sức quan trọng trước khi sản xuất một mã hàng Nguyên phụ liệu không chỉ được xem là những loại vật tư cần thiết trong quá trình sản xuất mà còn được coi là tài sản lớn của doanh nghiệp Vì vậy, việc kiểm tra nhằm ổn định chất lượng nguyên phụ liệu trước khi sản xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất ở các mặt sau:
- Xử lý và sử dụng nguyên phụ liệu hợp lý
- Hạch toán được nguyên phụ liệu chính xác
- Tiết kiệm được một lượng lớn nguyên phụ liệu dư thừa trong sản xuất
- Hạ giá thành sản phẩm
- Bảo đảm được chất lượng nguyên phụ liệu theo đúng yêu cầu của sản xuất
- Nâng cao uy tín và lợi nhuận cho doanh nghiệp
III Tổ chức, quản lý nguyên phụ liệu:
1 Sơ đồ tổ chức kho nguyên phụ liệu:
Tất cả nguyên phụ liệu nhập về công ty đều phải được cho vào kho tạm chứa Sau đó, người ta tiến hành đo đếm để phân loại nguyên phụ liệu, góp phần xử lý và
sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm nguyên phụ liệu và hạ giá thành sản phẩm
Trong tình hình hiện nay, chất lượng vải chưa cao và không ổn định, cho nên khâu chọn vải vẫn đang chiếm một vị trí rất quan trọng trong quá trình sản xuất
Trong xí nghiệp may thường tồn tại 2 kho chứa nguyên phụ liệu:
+ Kho tạm chứa : chứa nguyên phụ liệu nhập vào chưa qua đo đếm
+ Kho chính thức: gồm nguyên phụ liệu đã được đo đếm, kiểm tra phân loại
số lượng, chất lượng chính xác, hợp qui cách, có thể đưa vào sản xuất được
Trang 21* Dưới đây là sơ đồ tổ chức của kho nguyên phụ liệu:
2 Sắp xếp kho nguyên phụ liệu:
Để góp phần quản lý nguyên phụ liệu trong kho được an toàn và hợp lý, người
ta phải biết cách sắp xếp kho sao cho thật gọn gàng, khoa học và đảm bảo cấp phát thật chính xác
Khi xếp hàng trong kho, cần lưu ý xếp sao cho có thể dễ dàng lấy được từng thứ khi cần và phải quay vị trí của miếng giấy ghi thông tin về mỗi loại nguyên phụ liệu (dán trên từng loại hàng) ra ngoài để có thể nhận biết khi lấy hàng
*Có 2 cách xếp kho như sau:
a Kiểu 1: sắp xếp kho theo chủng loại nguyên phụ liệu:
Trong kiểu này, kho được trang bị những kệ lớn có nhiều tầng bằng sắt cao gần tới nóc nhà.Nguyên phụ liệu sẽ được xếp gọn gàng vào các khu vực riêng biệt Thông thường, giữa khu vực để nguyên liệu và phụ liệu sẽ có lối đi để tiện việc lấy hàng Chiều rộng của lối đi phải bằng khổ vải lớn nhất cộng thêm 0,5 m
* Ưu điểm:
+ Kho sạch sẽ, gọn gàng + Diện tích kho nhỏ do tận dụng được chiều cao
* Nhược:
+ Dễ nhầm lẫn khi cấp phát nếu nguyên phụ liệu của 2 mã hàng khác nhau lại gần giống nhau và được đặt gần nhau
+ Tốn nhiều thời gian sắp xếp để kho lúc nào cũng gọn gàng
+ Khó kiểm tra được lượng hàng tồn
+ Đòi hỏi đầu tư nhiều hơn do có thê cần trang bị thêm xe nâng để lấy hoặc xếp vật liệu nặng nằm ở trên cao
Phân loại
Hàng hợp qui cách
Kho chính thức
Chờ xử lý Hàng
không hợp qui cách
Trang 22b Kiểu 2 : sắp xếp kho theo chủng loại mã hàng:
Kiểu xếp kho này rất đơn giản: chia diện tích kho thành nhiều phần, mỗi phần có kê các tấm pallet dùng để chứa nguyên phụ liệu cho một mã hàng Giữa các phần cần có lối đi để lấy hàng Bên cạnh đó, ở mỗi khu vực, cần cắm thêm bảng mốc ghi tên mã hàng để dễ nhận thấy khi cấp phát
* Ưu điểm:
+ Cấp phát chính xác, không nhầm lẫn
+ Dễ kiểm tra hàng tồn kho
+ Tốn ít thời gian xếp kho
+ Đơn giản, rẻ tiền, không đòi hỏi đầu tư thiết bị
*Nhược:
+ Diện tích kho phải lớn
+ Trông kho không gọn gàng
Tùy theo điều kiện của từng doanh nghiệp mà người ta có thể chọn kiểu xếp kho sao cho phù hợp nhất nhưng phải sử dụng thêm những biện pháp hạn chế nhược điểm để phát huy hết tác dụng của công tác quản lý kho
Với kiểu 1, người ta thường làm những tấm bảng phân khu vực để từng mã hàng
và dán lên ngăn kệ Bên cạnh đó, người ta còn dùng giấy màu khác nhau dán lên từng nguyên phụ liệu khác nhau để tránh nhầm lẫn khi cấp phát và dễ dàng kiểm tra lượng hàng tồn kho
Với kiểu 2, để trông kho đỡ bừa bộn, người ta thường đóng các vách ngăn bằng ván ép có chân đẩy để che các khu vực chứa nguyên phụ liệu cho các mã hàng Khi cấp phát, người ta đẩy các vách ngăn sang một bên để cấp phát
Trang 23
IV Các nguyên tắc kiểm tra, đo đếm nguyên phụ liệu:
1 Tất cả các hàng nhập kho, xuất kho phải có phiếu giao nhận ghi rõ số lượng, phải ghi sổ và ký nhận rõ ràng để tiện việc kiểm tra sau này
2 Tất cả các nguyên phụ liệu phải được tiến hành đo đếm, phân loại màu sắc, số lượng, chất lượng, khổ vải, trước khi cho nhập kho chính thức
3 Đối với các loại hàng cao cấp như nỉ, dạ, nhung, băng lông, phải dùng những dây mềm để bó buộc, không được dùng những dây cứng như dây đay, thừng, gai, Trong khi xếp không được ấn mạnh tay, gây xô lệch; khi vận chuyển phải nhẹ nhàng, không được nhấc mạnh, không được dẫm đạp lên nguyên liệu
4 Đối với một số mặt hàng có độ co giãn lớn, chỉ được xếp cao 1m Cần phải phá kiện trước 3 ngày và xổ vải cho ổn định độ co ít nhất 1 ngày trước khi đưa vào sản xuất
5 Khi đo đếm xong, phải ghi đầy đủ ký hiệu, số lượng, khổ vải, chất lượng của cây vải vào một miếng giấy nhỏ đính vào đầu cây vải theo qui định Sau đó, chịu trách nhiệm báo cho phòng kỹ thuật hoặc phòng kế hoạch trước 3 ngày để tiện cân đối cho khâu thiết kế và giác sơ đồ Đồng thời, phải chuẩn bị đầy đủ số lượng vải cho phân xưởng cắt ít nhất trước 1 ngày để nơi đây có thể chủ động sản xuất
6 Khi cấp phát nguyên phụ liệu cho phân xưởng cắt, phải thực hiện phân loại theo từng bàn cắt và theo phiếu hạch toán số liệu giác sơ đồ của phòng kỹ thuật nhằm sử dụng nguyên phụ liệu hợp lý, tránh phát sinh đầu tấm
7 Đối với vải đầu tấm, cần phải được kiểm tra, phân chia theo từng loại khổ, chiều dài, màu sắc, Sau đó, làm bảng thống kê, gửi phòng kỹ thuật và có kế hoạch nhận lại số vải này về kho để có thể quản lý và lên kế hoạch tận dụng vào việc tái sản xuất
8 Đối với các loại hàng cần phải đổi như sai màu, lỗi sợi, lẹm hụt đều phải có biên bản ghi rõ nguyên nhân sai hỏng và số lượng cụ thể đối với mỗi loại, làm cơ sở làm việc lại với khách hàng
9 Tất cả các phụ liệu phát sinh do quá trình phá kiện như bao bì, dây đai, giấy gói, hòm gỗ, , đều phải xếp gọn gàng, thống kê vào sổ sách để có thể sử dụng lại khi cần
10 Tất cả các loại nguyên phụ liệu đều phải có sổ giao nhận hàng của kho Sổ này phải ghi rõ ràng chính xác, đầy đủ, không được tẩy xóa và phải lưu trữ để tiện việc kiểm tra theo dõi sau này
11 Tất cả nguyên phụ liệu trong kho cần phải được sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng,
đề phòng mối mọt, chuột bọ, và phải có đầy đủ các biện pháp phòng cháy chữa cháy và phòng gian bảo mật
12 Các nhân viên coi kho phải làm tốt tất cả các yêu cầu, nội qui mà công ty đã
đề ra và chịu sự phúc tra của ban thanh tra khi cần
V Công đoạn chuẩn bị nguyên liệu :
1 Phá kiện:
Kiện hàng: là một đơn vị bao gói hàng hóa Trong một kiện, ta có thể không xác định trước được số lượng hàng trong đó, nhưng có thể chắc chắn được rằng trong một kiện hàng chỉ có một chủng loại hàng hóa mà thôi
Trang 24Để ổn định độ co giãn cơ lý của nguyên liệu, đảm bảo việc đo đếm được chính xác, tất cả các loại nguyên liệu đều phải được dỡ kiện trước 3 ngày với số lượng dự trữ 2-3 ngày Có 2 phương pháp để phá kiện:
Đối với những kiện hàng bằng thùng gỗ có đai nẹp bằng sắt hoặc nylon: quan sát thông tin ở ngoài thùng để xác định nắp thùng và di chuyển kiện hàng sao cho nắp thùng ở trên Dùng kềm cắt đai nẹp ở và mở nắp thùng theo đúng qui định, tránh xeo cạy bừa bãi, gây thủng rách nguyên liệu, hư hỏng thùng Kiểm tra sơ bộ số lượng, màu sắc, ký hiệu hàng hóa trong kiện và thông tin ghi ngoài kiện xem có khớp nhau tương đối hay không trước khi lấy hàng ra khỏi kiện Khi lấy hàng, cần lấy lần lượt theo trình tự và xếp hàng theo đúng qui định
Đối với những kiện hàng hình trụ bằng vải, bao cước hay bao nylon: dựng kiện hàng đứng lên, mở mối dây khâu miệng bao Sau đó, kiểm tra so sánh lượng hàng trong bao và thông tin ghi ngoài bao rồi lấy hàng ra như qui định Tuyệt đối không được dùng dao hay kéo rạch bao gây hư hỏng bao hoặc rách nguyên liệu
Trong khi phá kiện, nếu phát hiện thấy không đúng chủng loại nguyên liệu hoặc không đúng số lượng ghi trên phiếu (hoặc với thông tin ghi bên ngoài kiện hàng), phải kịp thời báo cáo để có biện pháp xử lý kịp thời đối với từng kiện hàng,
Tất cả bao bì sau khi đã dỡ bỏ các nguyên phụ liệu cần được tập trung, phân loại, báo cáo cho phòng kế hoạch để có phương thức tận dụng sao cho hợp lý
2 Kiểm tra về số lượng:
Đối với vải xếp tập: dùng thước đo chiều dài của một lá vải, sau đó đếm số lớp trên cây vải, rồi nhân số lớp này với chiều dài của một lá vải (cộng thêm lá lẻ-nếu có), để có tổng chiều dài toàn bộ cây vải Kiểm tra xem số lượng này
có khớp với phiếu ghi ở đầu cây vải hay không
Đối với vải cuộn tròn: cần dùng máy kiểm tra độ dài Trong điều kiện ta chưa
có phương tiện đầy đủ, tạm thời dựa vào số lượng ghi trên phiếu ở đầu cây vải là chính, trong đó có nhận xét, phân tích theo cảm tính, nếu thấy có hiện tượng nghi vấn thì phải xổ cây vải ra, đo lại toàn bộ Cũng có thể dùng một trong 2 cách sau:
+ Dùng thước đo bán kính của cây vải để xác định chiều dài cây vải (một cách tương đối) Phương pháp này không chính xác, đòi hỏi người thủ kho phải
có nhiều kinh nghiệm, đã có quá trình kiểm tra vải bằng cách đo nhiều lần cùng chủng loại vải với nhiều cây vải có chiều dài khác nhau để rút ra bán kính cây vải bình quân
+ Dùng trọng lượng để xác định chiều dài (cân vải): để sử dụng phương pháp này, cây vải cần có trọng lượng riêng sai biệt không đáng kể và chiếc cân phải có độ chính xác cao Ta tiến hành cân 1m vải, sau đó cân khối lượng của cả cây để tính ra tổng số m vải của toàn bộ cây vải
3 Kiểm tra về khổ vải:
- Khổ vải: là khoảng cách nhỏ nhất mà ta có thể đo được giữa 2 điểm nằm trên
2 biên vải Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất vải, dù sợi vải đã được ổn định nhiệt
để bền hình dạng, nghĩa là giảm độ co xuống tối thiểu, thế nhưng, khi dệt trên máy, sợi vẫn bị căng ra ở các mức độ khác nhau (phụ thuộc vào kiểu dệt), nên vải thành
Trang 25phẩm vẫn bị co giãn không đều nhau Vì thế, biên vải thường không song song với nhau mà có dạng gợn sóng
- Trong sản xuất may công nghiệp, việc xác định chính xác khổ vải sẽ là một yếu tố rất quan trọng giúp nhà sản xuất sử dụng hiệu quả nguyên phụ liệu và tiết kiệm nguyên phụ liệu cao Do đó, người ta thường chọn phương pháp đo khổ nhiều lần rồi lấy trị số trung bình
- Để tiến hành đo, ta sử dụng thước cây để tránh sự co giãn Thước phải đảm bảo 3 điều kiện sau:
+ Có độ chính xác cao, chữ số rõ ràng
+ Thước phải trơn láng để đảm bảo chất lượng bề mặt của vải trong quá trình đo
+ Chiều dài của thước đo phải lớn hơn chiều dài của khổ vải định đo thì khi
đo mới đảm bảo độ chính xác
- Cách đo khổ vải: đặt vải lên bàn phẳng, dùng thước đặt vuông góc với chiều dài cây vải, cứ 5m đo một lần Tùy theo từng loại mép vải có biên trơn, xù hay lỗ kim, phải báo cáo cụ thể về kích thước biên cho phòng kỹ thuật để có kế hoạch trừ hao khi giác sơ đồ
+ Đối với vải in bông: phần vải được in bông, in màu là khổ thực tế
+ Đối với vải trơn: phần khổ vải thực tế giới hạn trong 2 biên có lỗ kim hoặc keo
+ Đối với vải lưới hoặc ren: khổ vải sử dụng được là những phần ren và lưới chính (trừ biên dệt không giống ren và lưới)
+ Đối với các loại vải in sọc, dệt sọc, in bông theo chu kỳ thì cần báo cáo thêm số liệu về chu kỳ ngang, dọc để tiện việc giác sơ đồ sau này
- Nếu không có thời gian, sau khi kiểm tra bằng mắt thường thấy không có khác biệt đáng kể về kích thước của khổ vải, cũng có thể lấy số đo như sau:
+ Với vải xếp tập: đo lần 1 ở đầu cây, lần 2 ở giữa cây, lần 3 ở cuối cây + Với vải cuộn tròn: đo lần 1 ở đầu cây, lần 2 lùi vào 3m, lần 3 lùi vào 5m
- Trong quá trình đo, nếu thấy khổ vải nhỏ hơn ở phiếu ghi quá nhiều, phải báo cho phòng kỹ thuật để có hướng giải quyết ngay trong ngày, tránh để qua ngày hôm sau
4 Kiểm tra về chất lượng vải:
a Phân loại vải:
+Vải loại 1: bình quân 2-3m/ lỗi
+ Vải loại 2: bình quân từ 1-2m/lỗi
+ Vải loại 3: dưới 1m/lỗi
b Các dạng lỗi:
* Lỗi do quá trình dệt:
+ Sợi ngang không săn, không đều màu
+ Khổ vải không đều hay bị rách
Trang 26+ Tạp chất bẩn trong sợi
+ Thưa đường sợi dọc trên toàn bộ tấm vải
+ Các mối gút chỉ, vết bẩn hay lỗ thủng
+ Nhảy sợi, dạt sợi, chập sợi, mất sợi,
* Lỗi do quá trình nhuộm:
+ Lệch hoa, sai màu hay lệch màu trên toàn bộ cây vải
+ Những đường nhuộm song song quá to
+ Lệch trục hoa, không đồng màu hay quá nhạt
* Lỗi trong quá trình vận chuyển, bảo quản:
+ Có lỗ thủng hay rách vải
+ Mặt vải bị bẩn
+ Mặt vải bị co rút
+ Gián, chuột gặm nhấm
c Các phương pháp đánh dấu lỗi:
* Mục đích của việc đánh dấu lỗi: để kịp thời phát hiện những chi tiết cần thay thân đổi màu sau quá trình cắt Với mỗi loại lỗi vải sẽ có cách xử lý khác nhau Riêng với những đoạn vải có quá nhiều lỗi cần phải được cắt bỏ để không ảnh hưởng đến thời gian sản xuất sau này
* Phương pháp đánh dấu lỗi: có thể dùng một trong các cách sau:
+ Dùng phấn phản màu đánh dấu trực tiếp vào chỗ có lỗi
+ Dùng decal giấy phản màu dán trực tiếp vào chỗ có lỗi
+ Dùng kim khâu khâu chỉ phản màu trực tiếp vào lỗi vải, cắt chừa đầu chỉ từ 1-2cm để làm dấu Tuy nhiên, ở các loại vải cao cấp, nếu dùng chỉ khâu trực tiếp vào lỗi vải, sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của bề mặt các lớp vải liên tiếp nhau Do đó, người ta thường khâu ở ngoài mép biên ngang với vị trí có lỗi
d Các phương tiện chọn vải:
- Đối với vải cuộn tròn, ta dùng máy soi vải có đèn chiếu sáng từ dưới lên, cho máy chạy chậm, đều, cuốn vải sang trục khác để kiểm tra Cũng có thể dùng giá thủ công có 2 trục lăn, lồng cây vải vào 1 trục và cuốn đều vải sang trục thứ 2 để kiểm tra
- Đối với vải xếp tập: có thể dùng giá cao 2m tương tự như trên để kiểm tra hoặc để tập vải lên bàn phẳng, 2 người ngồi 2 bên lật từng lá để kiểm tra
- Đối với vải loang màu: khi chiếu sáng từ dưới lên sẽ khó phát hiện được, do
đó phải dùng đèn chiếu sáng từ trên xuống hoặc dùng ánh sáng mặt trời để kiểm tra Cũng có thể đặt vải lên trên bàn có màu sẫm tối, dùng mắt quan sát hay chập từng đoạn 2m lại để so màu
- Riêng đối với vải ca-rô bị lệch sọc ngang: lệch sọc 4% xem như không đủ điều kiện để đưa vào sản xuất được nữa
VI Công đoạn chuẩn bị phụ liệu:
Trang 271 Phá kiện: tương tự như đối với nguyên liệu
3 Kiểm tra số lượng:
- Với các phụ liệu có khổ và chiều dài tương tự nguyên liệu: cách kiểm tra tương tự như nguyên liệu
- Với những phụ liệu có thể đo đếm dễ dàng (dây kéo, đệm vai, bo cổ, cuộn nhãn trang trí, cuộn thun, ): ta tiến hành kiểm nghiệm mẫu khoảng 20%, nếu thấy các hộp mẫu hay cuộn mẫu đủ số lượng, có nghĩa là các hộp khác và cuộn khác cũng đủ số lượng Sau đó, nhân tổng số hộp hay cuộn để tính được số phụ liệu nhập
về
- Với những phụ liệu khó đếm do quá nhỏ (nút, kim ghim, nút chận, mắt cáo, ): thường dùng phương pháp cân khoảng 200g rồi đếm lại số lượng phụ liệu trong
200 g đó để tính được số lượng phụ liệu nhập về theo phương pháp tính tỉ lệ thuận
4 Kiểm tra chất lượng:
- Với các phụ liệu có khổ và chiều dài tương tự nguyên liệu: cách kiểm tra tương tự nhưnguyên liệu
- Với các phụ liệu đơn giản, có thể kiểm tra bằng mắt thường (nhãn trang trí, nút, khoanh cổ, bướm cổ, .): kiểm nghiệm mẫu khoảng 20%, nếu thấy đạt chất lượng, có nghĩa là chất lượng của loại phụ liệu này đạt
- Với các phụ liệu phải qua quá trình kiểm tra phức tạp (mex, dây kéo, dây thun, ): cần làm các thử nghiệm như trong quá trình gia công và sử dụng, đồng thời kiểm tra độ bám dính, độ bền kéo, thì mới có thể đánh giá được chất lượng của chúng
Trang 28Bài học trang bị cho học viên những kiến thức cần thiết về công đoạn trải, cắt vải
và những công nghệ đi kèm Ngoài ra, học viên còn được tìm hiểu thêm một số kiến thức để tổ chức phân xưởng cắt một cách hiệu quả
Mục tiêu thực hiện :
Giải thích công đoạn trải vải
Giải thích và thực hiện được công đoạn sang mẫu
Thực hiện công đoạn cắt vải
Nhận biết và thực hiện được công đoạn chỉnh sửa,hoàn tất sau khi cắt
Giải thích và thực hiện được công đoạn ép mex(ép dán,ép keo) trên bán thành phẩm
Nội dung chính :
1 Công đoạn trải vải
+ Nhận vải, kiểm tra chất lượng nguyên liệu
+ Các phương pháp và công nghệ trải vải
2 Công đoạn sang mẫu
3 Công đoạn cắt vải
+ Các phương pháp cắt vải(Cắt bằng kéo,cắt bằng dao,cắt bằng bàn dập)
+ Ảnh hưởng của vật liệu, điều kiện kỹ thuật đến công đoạn cắt
4 Công đoạn chỉnh, sửa, hoàn tất chi tiết sau cắt
5 Công đoạn ép
+ Cấu trúc và tính chất mex
+ Đặc điểm quá trình công nghệ
+ Ảnh hưởng của tính chất vật liệu đến quá trình công nghệ
Trang 29Nội Dung Bài 3
I Công nghệ trải vải:
1 Khái niệm:
Trải vải là cách đặt chồng lên nhau nhiều lớp vải có cùng khổ và chiều dài bàn cắt để sang sơ đồ trên bàn vải Sau đó cắt theo sơ đồ nhằm mục đích: khi cắt 1 chi tiết sản phẩm, ta được cùng một lúc số chi tiết bằng số lớp của bàn vải
2 Nhận vải, kiểm tra chất lượng nguyên phụ liệu:
Trước khi tiến hành trải vải ít nhất là 1 ngày, phân xưởng cắt cần chuẩn bị mặt bằng tập kết nguyên phụ liệu tại xưởng, đồng thời cử người sang kho để nhận hàng Việc nhận hàng thường được căn cứ theo phiếu hạch toán bàn cắt do phòng Kế hoạch cung cấp Tuy nhiên, phân xưởng cắt vẫn cần phải làm một công việc rất quan trọng, đó là kiểm tra thật kỹ những nguyên phụ liệu đã nhận về theo kế hoạch, nhằm kịp thời phát hiện ra những bất hợp lý trong sản xuất và giúp xí nghiệp khắc phục
Thông thường, các nhà sản xuất đặt mua loại vải với khổ vải có lợi nhất cho mặt hàng mà họ cần sản xuất Việc kiểm tra cẩn thận nguyên liệu trước khi sản xuất giúp phân xưởng cắt xác định những cây vải nào có khổ nhỏ hơn khổ vải qui định để quyết định trả lại kho hoặc lựa chọn những cây nào phù hợp nhất cho nhu cầu sử dụng
Việc kiểm tra vải trước khi sản xuất còn giúp phân xưởng cắt chọn ra được những cây vải có khổ lớn hơn khổ vải cần sản xuất (theo sơ đồ đã có) để yêu cầu bộ phận giác sơ đồ giác bổ sung sơ đồ mới phù hợp hơn với những cây vải này Có như thế, hiệu quả sử dụng vải sẽ cao hơn, mang nhiều lợi nhuận cho xí nghiệp hơn Khi kiểm tra nguyên phụ liệu, cần lưu ý một số điểm sau:
- Cây nguyên phụ liệu có biên vải căng hay chùng để có biện pháp xử lý bấm biên hay cắt bỏ biên
- Cây nguyên phụ liệu co giãn như thế nào để có kế hoạch chọn sức căng trải vải cho phù hợp
- Có khả năng phải sử dụng vải đầu khúc hay nối vải đầu khúc không để có kế hoạch chọn đầu khúc phù hợp với chiều dài bàn vải hoặc tìm phương án nối vải hiệu quả nhất
- Biên vải có bị cuộn quanh mép không để có biện pháp xử lý mở biên khi trải
- Có cần lót giấy để tăng ma sát giữa các lớp vải hay không
- Nếu có điều kiện, cần kiểm tra vải bằng máy soi vải để phát hiện kịp thới những sai sót
Máy soi vải
Trang 303 Dụng cụ thiết bị trải vải:
a Bàn trải vải:
Bàn trải có thể có nhiều kích thước khác nhau và nhiều loại khác nhau
Mặt bàn phải trơn láng để tránh trầy xước vải khi trải hay di chuyển trên mặt bàn Có 2 loại như sau:
- Loại bàn đơn giản: mặt bàn thường được làm bằng gỗ hay ốp mi ca phẳng Tùy theo điều kiện của doanh nghiệp, bàn trải sẽ dài từ 6-16m, rộng khoảng 2m và cao khoảng 0,9m
- Loại bàn phức tạp: mặt bàn có các lỗ khoan nhỏ và hệ thống khí hút - đẩy
để vải có thể được giữ chặt xuống bàn hay di chuyển tới vị trí cắt mới một cách dễ dàng
b Các dụng cụ thường dùng trong trải vải thủ công:
- Thước gỗ dài nhỏ: được chuốt láng, dùng để gạt lớp vải khi trải
- Thước dây
- Thước rút (thước cuộn)
- Vật kim loại nặng dùng chặn 2 đầu bàn vải sau mỗi lần trải
- Kéo hoặc dao cắt đầu lớp vải
- Giá đỡ trục cây vải
- Kim ghim (có cài những miếng vải khác màu nguyên phụ liệu đang trải): để giữ cho các lớp vải không bị xô lệch
- Kẹp sắt: dùng cố định nhiều lớp vải lại hoặc dùng để canh mép biên
- Bàn chông: dùng hỗ trợ việc canh sọc trên các lá nguyên phụ liệu
- Máy cắt đầu bàn cầm tay
c Máy trải vải:
Trên thiết bị có gắn một động cơ đặt trên một đường ray được định vị song song dọc theo bàn trải vải để có thể di chuyển theo suốt chiều dài bàn vải Đa số các máy có bộ phận điều chỉnh biên vải, bộ phận đo chiều dài và bộ phận cắt đầu bàn tự
Trang 31động Một số máy còn có bệ ngồi cho công nhân để công nhân có thể di chuyển theo máy với tốc độ nhanh hơn
4 Các phương pháp trải vải:
Tùy theo tính chất của loại vải như: vải có 2 mặt giống nhau, vải có mặt phải mặt trái, vải có chiều , ta có thể áp dụng những phương pháp trải vải sau:
a Trải vải zigzac (trải vải liên tục):
Trong cách trải vải này, các lớp vải được đặt 2 mặt phải úp vào nhau, 2 mặt trái úp vào nhau từng đôi một, không cắt đầu bàn Chiều vải của mỗi lớp ngược với nhau
* Ưu điểm:
- Kiểu trải này chỉ thích hợp với loại vải uni, hoa văn tự do Không thích hợp với loại vải nhung và vải có hoa văn 1 chiều
- Tận dụng được công suất trải vải
- Thời gian trải một bàn vải nhanh
* Nhược điểm:
- Không thích hợp với loại vải nhung và vải có hoa văn 1 chiều
- Dễ gây nhầm lẫn mặt vải khi đánh số và may (với loại vải có mặt phải và trái giống nhau)
- Hao phí đầu bàn nhiều
- Khó đánh số và dễ nhầm lẫn trong quá trình may
Trang 32b Trải vải cắt đầu bàn có chiều (trải vải 1 chiều):
Các lớp vải được đặt mặt phải và mặt trái chập vào nhau, các lớp vải đi cùng chiều Lớp vải trải xong sẽ được cắt đầu bàn, công nhân đi về điểm xuất phát Một lượt đi về của công nhân là không tải
* Ưu điểm:
- Kiểu trải này thích hợp với tất cả các loại vải: uni, hoa văn tự do, đặc biệt thích hợp với các loại vải nhung, vải có hoa văn 1 chiều
- Giảm được hao phí đầu bàn
- Ít nhầm lẫn mặt vải khi đánh số và may
* Nhược điểm:
- Công suất trải vải thấp
- Thời gian trải một bàn vải lâu
c Trải vải cắt đầu bàn không chiều (trải vải gián đoạn)
Là kiểu trải vải tương tự như kiểu zigzac, nhưng đến đầu bàn phải cắt đứt (cắt ở cả 2 đầu)
* Ưu và nhược điểm: kết hợp ưu và nhược điểm của 2 phương pháp trên
Trang 335 Những điều cần lưu ý trước khi trải vải:
- Trước khi tiến hành trải vải, công nhân phải kiểm tra kỹ về chủng loại nguyên phụ liệu cần dùng: tên nguyên phụ liệu, màu sắc, tên mã hàng, theo đúng bảng tác nghiệp màu do phòng kỹ thuật gửi tới
- Phải nắm rõ tính chất của nguyên phụ liệu như chiều hoa văn, chiều tuyết, độ
co giãn của vải, và đặc biệt là phải phân biệt được mặt phải của nguyên phụ liệu sẽ sử dụng
- Nếu ở kho nguyên phụ liệu chưa thực hiện qui trình xổ vải cho ổn định độ co vải, phân xưởng cắt phải thực hiện thao tác này Tốt nhất, nên nhận vải về trước 1 ngày, xổ vải theo đúng yêu cầu cho vải nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi tiến hành trải cắt
- Kiểm tra kỹ tài liệu kỹ thuật một lần nữa để chắc chắn thấu hiểu phương pháp trải nguyên phụ liệu mà mã hàng cần sử dụng, tránh những hậu quả đáng tiếc
về sau
6 Công nghệ trải vải:
a Lấy chiều dài bàn vải:
- Chiều dài bàn vải là chiều dài đúng theo sơ đồ đã giác cộng thêm phần tiêu hao cho 2 đầu bàn
- Trải sơ đồ lên giữa tâm của mặt bàn, vuốt sơ đồ cho phẳng, mép sơ đồ song song với mép bàn cắt, dùng bút chì hay bút lông lấy dấu chính xác chiều dài Đường lấy dấu cần đảm bảo vuông góc với cạnh bàn (nếu sơ đồ không vuông góc thì phải báo với phòng kỹ thuật để xử lý)
- Cuộn sơ đồ lại và trải một lớp giấy lót (trong khoảng lấy dấu) trên mặt bàn để giảm độ ma sát của vải lên mặt bàn nếu cần
b Tiến hành trải vải:
- Xem xét, cắt bỏ phần đầu dấu ở đầu cây vải thẳng theo canh sợi ngang, đảm bảo độ vuông canh thẳng sợi ở đầu cây
- Hai người đứng hai bên của bàn vải, tay nắm mép biên và cùng lúc dẫn vải sang phía đầu bàn bên kia Khi đến đầu bàn, cùng đặt lớp vải chính xác xuống dấu gạch đầu bàn đã có và dùng vật nặng chặn giữ cho lớp vải không
bị xô lệch Trong lúc quay trở lại, cùng với việc bắt biên hai bên cho thẳng mép, phải dùng que gạt gạt phẳng toàn bộ mặt vải Khi sử dụng cây gạt, để thước nằm ngang và gạt nhẹ theo chiều dọc của lớp vải, không được dùng cây đẩy, sẽ làm biến dạng canh sợi vải
- Khi trở về đến điểm xuất phát ban đầu, dùng kéo cắt chính xác đầu bàn vải theo gờ cắt (nếu sử dụng phương pháp trải vải 1 chiều) rồi dùng vật nặng chặn giữ đầu lớp vải Sau đó, nắm đầu cây vải hoặc giữa cây vải (nếu dùng phương pháp trải vải zigzac) để tiếp tục dẫn lớp thứ hai Thao tác lặp lại đúng như lớp thứ nhất Cứ thế, lặp đi lặp lại cho các lớp vải tiếp theo Lưu ý: sau khi trải một lớp vải, cần ghi nhận vào sổ để tiện theo dõi, tránh nhầm lẫn số lớp vải khi trải
- Trong quá trình bắt biên và làm phẳng mặt vải, đồng thời với việc kiểm tra chất lượng nguyên phụ liệu, nếu phát hiện nguyên phụ liệu bị lỗi thì dùng giấy
Trang 34phủ lên vị trí có lỗi để dễ thay thân sau này Nếu vải có lỗi nặng thì xử lý cắt
bỏ đoạn đó hoặc báo với lãnh đạo xí nghiệp để có hướng giải quyết cụ thể
- Khi bàn vải đã trải được 5 lớp, phải trải sơ đồ lên bàn vải kiểm tra lại chiều dài, khổ vải xem có vấn đề gì không Nếu đạt yêu cầu thì trải tiếp 10 lớp nữa
và lại phủ sơ đồ lên kiểm tra lần cuối Sau đó, tiếp tục trải cho đến khi xong bàn vải Kiểm tra lại số lớp đúng theo tác nghiệp bàn cắt đã có
- Tùy theo qui định mà ta áp dụng phương pháp sang sơ đồ lên bàn vải và dùng kim ghim hoặc kẹp sắt để giữ chặt các lớp vải, không để vải bị xô lệch khi cắt
7 Yêu cầu kỹ thuật của một bàn vải:
Một bàn trải xong phải đạt các yêu cầu kỹ thuật sau:
- Chiều dài bàn vải phải chính xác theo chiều dài sơ đồ và cộng hao phí đầu bàn Khổ vải phù hợp với khổ sơ đồ (khổ vải phải lớn hơn khổ sơ đồ để đảm bảo an toàn khi cắt)
- Bàn vải phải đứng thành, thẳng cạnh một bên mép biên Hai đầu bàn cắt ổn định và vuông góc
- Toàn bộ lá vải phải ngay canh thẳng sợi, đúng mặt vải qui định và phải thẳng toàn bộ
- Bàn vải phải đúng số lớp qui định
- Nếu sử dụng nhiều cây vải trên một bàn vải, cần dùng giấy ngăn tầng giữa các cây vải khác nhau, tránh nhầm lẫn về sau và dễ hạch toán bàn cắt sau này
- Bàn vải không được nghiêng vệ đê, nghiêng lợi chậu hoặc gù tang trống (mép bàn vải không được nghiêng sang trái hoặc sang phải, bên trong mặt bàn, vải các lớp không được nhấp nhô, gợn sóng)
8 Trải vải bằng máy trải:
Trang 35II CÔNG ĐOẠN SANG SƠ ĐỒ LÊN BÀN VẢI:
Có nhiều cách sang lại sơ đồ trên bàn vải, nhưng có 3 phương pháp được sử dụng ở nước ta hiện nay:
1 Phương pháp xoa phấn:
- Sơ đồ giác xong được đem đi đục lỗ bằng dùi đục hay súng đục lỗ Các lỗ đục phải nằm trên chu vi của chi tiết, cách nhau tối đa 2cm Đường kính lỗ đục thường từ 0,1- 0,3 cm
- Đặt sơ đồ lên bàn vải, chặn giữ để sơ đồ không bị xô lệch
- Xoa phấn lên sơ đồ theo đường đã đục lỗ
- Lấy sơ đồ ra, trên vải hiện lên sơ đồ được vẽ bằng bụi phấn
* Ưu điểm:
- Năng suất sang sơ đồ cao
- Giảm được lao động giác sơ đồ
- Một sơ đồ cắt được nhiều bàn vải
* Nhược điểm:
- Dơ bề mặt vải
- Bụi phấn làm ảnh hưởng đến sức khỏe người sang sơ đồ
* Lưu ý:
- Khi lấy sơ đồ ra, ta gấp đôi 2 đầu sơ đồ, mặt có phấn ở trong, rồi mới cuộn sơ
đồ lại, để mặt phải sơ đồ không bị dơ khi sang dấu bàn vải khác
- Một sơ đồ chỉ nên sử dụng tối đa 50 bàn vải, nếu nhiều hơn, sơ đồ sẽ bị nhàu nát, co lại, không còn chính xác nữa
2 Phương pháp vẽ lại mẫu trên sơ đồ:
- Nhìn theo sơ đồ mini đã giác, đặt lại rập cứng lên sơ đồ
- Vẽ lại sơ đồ lên bàn vải bằng phấn ăn màu thật mảnh
* Ưu điểm: sơ đồ có độ chính xác cao
* Nhược điểm:
- Tốn nhiều thời gian sang sơ đồ
- Dễ bị dơ bề mặt vải nếu không cắt nát đường phấn
3 Phương pháp cắt nát sơ đồ cùng bàn vải:
- Đặt sơ đồ đã giác lên bàn vải, dùng kim ghi thật chắc và cắt sơ đồ cùng bàn vải
* Ưu điểm:
- Tránh dơ bề mặt vải
- Dễ phát hiện sai hỏng là do người giác sơ đồ hay do người cắt vải
- Độ chính xác của bàn vải cao
Trang 36* Nhược điểm: tốn công sao lại nhiều sơ đồ
III Công đoạn cắt vải:
Đây là công đoạn có ảnh hưởng hết sức quan trọng đến chất lượng sản phẩm
Có rất nhiều phương pháp cắt vật liệu khác nhau được sử dụng trong ngành may
như: cắt cơ khí, cắt bằng tia nước, cắt bằng cơ nhiệt, cắt bằng nhiệt vật lý Tuy
nhiên, dưới đây chỉ trình bày những phương pháp cắt cơ khí – là phương pháp cắt
thông dụng trong thực tế ngành may Việt nam hiện nay
1 Các dụng cụ - thiết bị cắt vải:
a Kéo, dao: dùng cho cắt thủ công, chỉ cắt được cho một số lớp vải, độ chính
xác không cao Người thợ sử dụng kéo để cắt chi tiết theo các đường cắt đã định
Hình thức này tốn nhiều thời gian và năng suất cắt thấp Chất lượng cắt phụ thuộc
nhiều vào tay nghề của công nhân
- Hiện nay, việc sử dụng kéo, dao cắt vải chỉ còn phổ biến ở công đoạn chế
thử mẫu, ở công đoạn cắt (cắt đầu bàn và thay thân chi tiết) và ở công đoạn may
(cắt gọt phần vải thừa)
b Máy cắt : Có các loại máy cắt như sau:
- Máy cắt sử dụng đĩa dao: dùng cho cắt phá
- Máy cắt di động (máy cắt tay): dùng cho cắt phá, cắt thô Gồm có 2 loại dao:
dao thẳng và đĩa dao
Trang 37- Máy cắt cố định (máy cắt vòng, máy cắt dập): dùng cho cắt gọt và cắt tinh
Máy cắt vòng gồm có 3 loại: 2 puli, 3 puli và 4 puli Máy cắt dập được cắt dựa trên
dao cắt chính là các khuôn gang để dập
Trang 38- Máy cắt vải tự động: dùng cắt tất hoàn tất cả bàn vải với độ chính xác cao
Nói chung: độ sắc của dao cắt phụ thuộc vào các thông số hình học, gồm góc nhọn và cạnh dao, góc lượn và cạnh dao Khả năng dao xâm nhập vào vật liệu cắt phụ thuộc vào thông số cắt: tốc độ cắt, vật liệu cắt, tính chất cơ lý của vật liệu, sự chuyển động tương đối giữa dao và vật liệu, chất lượng gia công dao và độ mài mòn của lưỡi dao
2 Các phương pháp cắt:
a Cắt phá: là phương pháp chia nhỏ bàn vải thành nhiều nhóm chi tiết nhỏ, giúp người công nhân dễ dàng xoay trở nhóm chi tiết và máy cắt để cắt các chi tiết dễ dàng hơn Một sơ đồ đạt yêu cầu còn phải là sơ đồ có nhiều phân đoạn dễ dàng cho cắt phá Sơ đồ giác theo kiểu zigzac thì quá trình cắt phá sẽ khó thực hiện và tốn nhiều thời gian hơn
b Cắt thô: là phương pháp cắt sử dụng máy cắt tay cho các chi tiết lớn ngay trên bàn vải Lúc này, bàn vải cố định và máy cắt được di chuyển xung quanh chu vi chi tiết Các chi tiết ở giai đoạn này thường có độ chính xác không cao vì chất lượng cắt phụ thuộc vào tay nghề công nhân Tuy nhiên, phương pháp này cho phép giải phóng mặt bàn nhanh và thích hợp cắt các chi tiết lớn vì chúng có dung sai cho phép khi gia công lớn
Trang 39c Cắt gọt: là phương pháp cắt sử dụng máy cắt vòng để cắt lại các chi tiết nhỏ sau khi đã cắt thô Lúc này, tập vải được kẹp chặt và được công nhân xoay chuyển xung quanh dao cắt cố định Các chi tiết ở giai đoạn này có độ chính xác cao hơn vì trọng lượng của tập vải nhỏ, dễ dàng xoay trở trên mặt bàn cắt
d Cắt tinh: là phương pháp cắt sử dụng máy cắt dập Lúc này, tập vải và dao cắt đều cố định Vì thế, phương pháp này cho chất lượng cắt cao nhất Tuy nhiên, phương pháp này lại được sử dụng rất hạn chế do doanh nghiệp không đủ điều kiện trang bị tất cả các kích cỡ cho các loại khuôn dập và năng suất cắt theo phương pháp này không cao
3 Ảnh hưởng của vật liệu, điều kiện kỹ thuật đến công đoạn cắt :
a Vật liệu cắt: Vật liệu cắt thường là các sản phẩm có được thông qua công nghệ dệt Mỗi loại vật liệu lại có nguồn gốc, tính chất cơ lý khác nhau Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của quá trình cắt Cụ thể như sau:
- Chi tiết có thể bị xơ mép, mép vải bị răng cưa hay bị xù, vết rách hay sợi trong vải có thể bị rút ra do cắt vải không đúng cách, dùng sai dao cắt, do kết cấu của vải, tính chất của vải hoặc do phương pháp hoàn tất vải
- Mép vải bị chảy hay bị cháy: do lượng nhiệt từ dao cắt sinh ra quá nhiều hoặc dao bị cùn, đặc biệt khi cắt với những loại vải kém bền nhiệt Có 2 dạng chảy mép vải: các mép chảy riêng biệt và không dính với nhau hoặc các mép chảy
bị dính với nhau Trường hợp thứ 2 thường xảy ra hơn và rắc rối hơn Những lớp vải kế tiếp nhau dính chặt với nhau gây khó khăn cho công nhân may trong thao tác lấy chi tiết ra để may Trong thực tế, người ta mong đợi hình thức chảy mép không dính với nhau giữa các lớp vải hơn vì vô tình, nó đã hạn chế việc tuột các mép vải Mặc dù vậy, việc chảy mép vải cũng dẫn đến hiệu ứng làm tăng độ cứng và độ giòn của mép vải, cản trở quá trình may và gây khó chịu cho người mặc Để tránh hiện tượng này, trên máy cắt cầm tay thường được trang bị thêm bộ phận có khả năng làm nguội dao hoặc bộ phận làm giảm tốc độ cắt tối đa
- Mật độ sợi và độ cứng của vải cũng cần được chú ý vì nếu mật độ sợi và độ cứng của vải càng cao thì đòi hỏi công suất và tốc độ cắt càng cao Mức độ tải của máy cắt được tính bằng chiều cao của bàn trải nhân với mật độ của bàn trải Đây là lực cản của vật liệu mà dao phải thắng Chiều cao càng lớn
và mật độ càng lớn thì năng lượng cần thiết để cắt càng lớn Nếu công nhân không đủ sức khỏe để điều khiển máy cắt, chất lượng cắt sẽ không cao
b Điều kiện kỹ thuật:
- Số lớp vải trong bàn cắt sẽ ảnh hưởng đến năng suất cắt Số lớp vải lớn sẽ cho thời gian cắt lâu và thao tác cắt khó khăn hơn
- Số lớp vải được trải tối đa trong 1 bàn cắt phụ thuộc vào đặc tính của máy cắt, bề dày của vải, các tính chất biến dạng của vải Thông thường, số lớp vải không được quá 200 đối với vải dệt thoi, 100 lớp đối với vải dệt kim Tổng chiều cao của các lớp vải không được quá mỏng hoặc quá dày, chỉ được phép dao động trong khoảng 25-100 mm
- Độ sắc của dao cắt cũng ảnh hưởng tới chất lượng của bán thành phẩm: chi tiết sẽ có kích thước chính xác và không bị biến dạng khi phải co giãn quá lớn sau cắt
Trang 40- Trình độ và tay nghề công nhân khác nhau sẽ cho kết quả công đoạn cắt khác nhau
4 Nguyên tắc cắt vải:
- Phải nắm rõ yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm khi tiến hành cắt một bàn vải
- Chịu trách nhiệm hoàn toàn về chất lượng của các bán thành phẩm do mình làm
- Vệ sinh bàn cắt và máy cắt trước khi trải và cắt vải
- Kiểm tra yêu cầu kỹ thuật của một bàn vải, đảm bảo an toàn cho quá trình cắt
- Kiểm tra sơ đồ có phù hợp với chiều dài và khổ của bàn vải không
- Đọc kỹ hướng dẫn cắt cho các chi tiết để thực hiện đúng các yêu cầu đã có
- Kiểm tra việc vận hành máy đảm bảo cho hoạt động cho an toàn
- Quan sát tổng thể bề mặt bàn vải để lựa chọn vị trí cắt phá cho phù hợp
- Tiến hành cắt phá từng phần của bàn vải Sau cắt phá, phải kẹp nhóm chi tiết lại trước khi có thể di chuyển nhe chúng sang một bên cho dễ cắt thô sau này
- Cắt thô cho các chi tiết lớn Khi cắt, nên chọn bắt đầu từ một cạnh thẳng nếu có thể, cắt liên tục, không dừng dao khi chưa cắt hết một đường để đảm bảo độ chính xác cho các chi tiết
- Đối với các chi tiết cần cắt tinh: ta dùng kẹp sắt kẹp chặt tập vải lại và đặt lên xe đẩy hoặc bê sang máy cắt vòng thật cẩn thận, tránh gây xáo trộn các lớp vải Sau
đó, đặt rập cứng lên trên từng tập vải, dùng kẹp giữ chặt để vải không bị xô lệch trong quá trình cắt Khi cắt cũng nên bắt đầu bằng đường chu vi thẳng nếu có thể và cắt liên tục, không dừng dao Sau khi cắt đường nào, phải tiến hành kẹp ngay đường
đó và chỉ kẹp 1 lần, không được mở ra kẹp lại
- Cắt tinh muốn chính xác phải dùng máy cắt dập
- Các chi tiết cắt xong, đều phải được kiểm tra hình dạng, kích thước, ký hiệu trước khi chuyển sang bộ phận khác
- Sử dụng máy khoan để tạo các lỗ dùi trên các chi tiết hoặc dùng máy cắt tay để tạo dấu bấm xung quanh chi tiết bán thành phẩm theo yêu cầu kỹ thuật của mã hàng
6 Các yêu cầu kỹ thuật sau cắt:
- Các chi tiết cắt xong cần phải sạch, đúng kích thước, đúng nhu cầu canh sợi
- Mép cắt của các chi tiết không bị rách, xù, răng cưa hay lẹm hụt
- Các dấu bấm, dấu dùi cần được đảm bảo đúng vị trí, kích thước và không bị xô lệch giữa các lớp vải