Trong quyển sách đã có nhận xét “Tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi không những là một áng “thiên cổ hùng văn” trong lịch sử văn học Việt Nam, nó còn là áng văn chính trị bất hủ c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TỐNG PHƯỢNG THANH
BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO
Luận văn tốt nghiệp đại học
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VĂN HỌC THẾ KỶ XV
1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam
1.1.1 Tình hình xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIV
1.1.2 Tình hình xã hội Việt Nam thế kỷ XV
1.2 Tình hình văn học Việt Nam thế kỷ XV
1.2.1 Một số đặc điểm của văn học Việt Nam thế kỷ XV
1.2.2 Những nội dung chính của xu hướng văn học Việt Nam thế kỷ XV
1.2.2.1 Xu hướng yêu nước, ca tụng tinh thần kháng chiến anh dũng và cổ
võ ý chí xây dựng quốc gia
1.2.2.2 Xu hướng thù phụng, ca ngợi sự thịnh trị của chế độ phong kiến và tài đức của Lê Thánh Tông
1.2.2.3 Xu hướng bất mãn thời thế
Trang 22.4 Khảo sát và bình chú một số từ ngữ trong “Bình Ngô Đại Cáo”
CHƯƠNG III: “BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO” - ÁNG THIÊN CỐ
•
HÙNG VĂN
3.1 “Bình Ngô Đại Cáo” bản anh hùng ca chiến thắng
3.1.1 “Bình Ngô Đại Cáo” là bản tuyên ngôn nhân nghĩa
3.1.2 “Bình Ngô Đại Cáo” là bản tổng kết chiến tranh
3.1.3 “Bình Ngô Đại Cáo” là sự khẳng định nền độc lập thiêng liêng của Tổ quốc
3.2 “Bình Ngô Đại Cáo” - Áng thiên cổ hùng văn
3.2.1 “Bình Ngô Đại Cáo” là sự dung đúc tinh hoa của tư tưởng yêu nước Việt
Trang 3NGUYỄN TRÃI (1380 - 1442)
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay do sự phát triển ngày càng lớn mạnh của xã hội theo hướng hiện đại Nền văn chương chữ Hán - Nôm ngày càng đi vào quên lãng và ít được quan tâm, nghiên cứu học tập Những người biết và hiểu chữ Hán - Nôm bây giờ là rất ít vì văn chương Hán - Nôm không còn được phổ biến như ngày xưa, nhưng những giá trị của nó để lại không thể nào phủ nhận được, đây là nguồn tài liệu phong phú cho tất cả nhũng ai muốn quan tâm và yêu thích Kho tàng văn học chữ Hán - Nôm của một nền văn minh Trung đại trải qua hàng nghìn năm là một kho tàng quý giá của dân tộc Viêt Nam Nó không chỉ là những trang sử vàng bằng thơ ghi lại dấu ấn của một thời đại, mà còn là những áng văn chương tái hiện lại một quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta Một thời đại mang hào khí mạnh
mẽ, quyết liệt và tinh thần dân tộc luôn sáng chói trong mỗi con người.
Chính quá trình dựng nước và giữ nước ấy, đã để lại cho thế hệ chúng
ta hôm nay và mai sau những gì tinh túy và tài hoa nhất được đúc kết thành những áng văn chương bất hủ bằng chữ Hán và chữ Nôm Đây chính là di sản văn hóa thành văn to lớn đối với dân tộc ta, đó chính là những minh chứng cho một thời kỳ hào hùng, một nền văn hiến mấy ngàn năm.
Những di sản trên chính là những tư liệu đặc biệt và quý giá Đối với chúng ta, những công dân Viêt Nam phải biết tìm hiểu, nghiên cứu những giá trị văn hóa tinh thần to lớn ấy, nhằm khơi dậy và tiếp tục nâng cao hơn nữa tinh thần yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc của một thế hệ trẻ năng động, sáng tạo nhưng không lãng quên một thời kỳ hào hùng của lịch sử dân tộc Hơn nữa là một sinh viên của ngành Ngữ Văn, việc phải nghiên cứu tìm tòi lại càng rất cần thiết và đáng quan tâm hơn hết Nhận thấy được tầm quan trọng và bức thiết của việc nghiên cứu
Trang 5của dân tộc được thể hiện trong một áng văn bất hủ mà thế hệ chúng ta ngày nay cần hiểu rõ, vun đắp cho vững vàng, kiên định bản lĩnh và phát huy khí phách của một dân tộc anh hùng trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ đất nước thời mở cửa Góp một phần sức lực của mình vào việc duy trì và phát triển nền văn chương Hán -
Nôm Bình Ngô Đại Cáo - Áng thiên cổ hùng văn là một đề tài lớn nên trong quá
trình nghiên cứu sẽ gây cho chúng tôi không ít những khó khăn, nhưng bằng sự cố gắng hết mình của bản thân, học hỏi từ thầy cô và sự giúp đỡ của bạn bè cùng với một tinh thần nghiên cứu khoa học và nghiêm túc chúng tôi hy vọng công trình ngiên cứu này sẽ là môt tư liệu có ích góp phần gìn giữ nền văn chương dân tộc.
2 Lịch sử vấn đề
Bình Ngô Đại Cáo là tác phẩm tiêu biểu của thiên tài văn học Nguyễn Trãi Hơn năm trăm năm qua, “khúc ca hùng tráng bất hủ ” này đã đem lại biết bao sức mạnh và niềm tin cho nhiều thế hệ Bình Ngô Đại Cáo là tác phẩm văn học
quan trọng không chỉ với lịch sử dân tộc mà còn có ý nghĩa đối với tiến trình văn học sử Việt Nam Trong tác phẩm này, tác giả đã kết hợp một cách uyển chuyển giữa tính chân xác lịch sử với chất sử thi anh hùng ca qua lối văn biền ngẫu mẫu mực của một ngòi bút tài hoa uyên thâm Hán học Chính vì thế, nhận thức được giá trị lớn lao ấy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lớn góp phần xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho ngành Hán - Nôm Đặc biệt đối với Nguyễn Trãi - một tác gia
lớn và Bình Ngô Đại Cáo - một tác phẩm mang tính chất thiên cổ.
* Trong quyển Nguyễn Trãi thân thế và sự nghiệp, NXB Khoa học Hà Nội, 1980 đã đi vào tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp sáng tác của tác gia Nguyễn Trãi, trong đó có những bài viết đi vào nhận xét, phân tích và chứng minh tính chất thiên cổ hùng văn trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo Trong quyển sách đã có nhận
xét “Tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi không những là một áng “thiên
cổ hùng văn” trong lịch sử văn học Việt Nam, nó còn là áng văn chính trị bất hủ của tư tưởng nhân loại, rất tiêu biểu cho sự phát triển của ý thức dân tộc và cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và sự bình đẳng giữa các dân tộc trước cách mạng
xã hội chủ nghĩa”[22; tr.88]
* Quyển Văn học Viêt Nam ( từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII) - NXB
Trang 6một bản tuyên ngôn độc lập Và giá trị của Bình Ngô Đại Cáo không phải chỉ là ở chổ phản ánh cuộc kháng chiến Giá trị chủ yếu của Bình Ngô Đại Cáo là ở chổ phát biểu được chủ nghĩa yêu nước của nhân dân ta”[29; tr.234]
* Trong quyển Nguyên Trãi về tác gia và tác phẩm - NXB Giáo Dục với bài viết Bình Ngô Đại Cáo, bản tuyên ngôn của nước Việt Nam độc lập của Trần Văn Giàu đã đi vào phân tích từng khía cạnh nội dung của bài cáo một cách hệ
thống qua đó cho người đọc thấy được tính chất “thiên cổ hùng văn” của bài cáo
“Là hùng văn bởi vì chỉ cần trong mấy trang ngắn gọn bài cáo trình bày đầy đủ và
có hệ thống cả lịch sử gay go và chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta trong suốt mười năm khởi nghĩa Lam Sơn là hùng văn bởi vì, trong cái tổng thể chiến tranh cứu nước, Bình Ngô Đại Cáo chứa đựng cô đúc, truyền đạt những tư tưởng quân
sự, chính trị và triết lí vĩ đại của dân tộc ta ”[13; tr.345]
* Mai Quốc Liên với bài viết Bình Ngô Đại Cáo, hùng văn muôn thuở được in trong quyển Thơ văn Nguyễn Trãi tác phẩm và dư luận đã vận dụng
những giá trị nội dung của tác phẩm để tôn vinh Bình Ngô Đại Cáo là “áng hùng văn muôn thuở” Bài viết đã nói lên nội dung của Bình Ngô Đại Cáo là tổng kết
ngắn gọn, súc tích lịch sử chiến đấu chống quân Minh xâm lược của dân tộc, là sự tiếp nối những kiệt tác văn chương và những tầm tư tưởng lớn trong quá khứ như
“Thiên đô chiếu” của Lý Công Uẩn, “Hịch tướng sĩ” (Dụ chư tỳ tướng hịch văn) của Trần Quốc Tuấn Bài viết đã nhận xét “ Những đặc sắc của tư tưởng yêu nước Nguyễn Trãi thể hiện trong Bình Ngô Đại Cáo đã làm cho nó trở thành đỉnh cao củ
tư tưởng Nguyễn Trãi Và nếu như nói văn hay nhờ có tư tưởng lớn, thì Bình Ngô Đại Cáo là một áng văn như vậy Sức mạnh của hùng văn trước hết phải là sức mạnh của tư tưởng của trí tuệ lớn”[14; tr.306] Cũng tác giả Mai Quốc Liên trong
Phê bình và tranh luận văn học, NXB Văn học, 1998 với bài viết Bình Ngô Đại Cáo, từ chữ nghĩa đến tầm tư tưởng lớn đã đưa ra cách hiểu mới về một số từ
quan trọng trong Bình - Ngô - Phạt - Cáo - manh lệ, ngoài ra bài viết còn làm sáng
tỏ hoàn cảnh ra đời của Bình Ngô Đại Cáo.
* Cùng trong quyển Thơ văn Nguyễn Trãi tác phẩm và dư luận, NXB Văn học với bài viết “Đại Cáo Bình Ngô” bản tuyên ngôn của một dân tộc anh hùng văn hiến của Vũ Khiêu đã đi vào phân tích và chứng minh bài Cáo là một
“thiên cổ hùng văn” , bên cạnh đó còn làm rõ tính chất là một tuyên ngôn độc lập
Trang 7một áng thiên cổ hùng văn nói lên khí phách anh hùng và tâm hồn cao đẹp của cả dân tộc Việt Nam Đại Cáo Bình Ngô được thể hiện qua ngòi bút thiên tài của Nguyễn Trãi, trở thành sản phẩm tinh thần đẹp nhất của thời đại ông Có thể nói Đại Cáo Bình Ngô là tác phẩm tập thể của toàn thể nhân dân ta dưới sự chỉ đạo tuyệt vời của lãnh tụ Lê Lợi Nói như thế không có nghĩa là làm giảm giá trị của Nguyễn Trãi trong Đại Cáo Bình Ngô mà chính là đặt ông vào vị trí cao nhất trong lịch sử văn học Việt Nam ”[14; Tr.287]
3 Mục đích, yêu cầu
Chọn đề tài “Bình Ngô Đại Cáo - Áng thiên cổ hùng văn” làm đối tượng
nghiên cứu khoa học , chúng tôi xác định được những điều cần đạt được.
- Trọng tâm của luận văn chính là phải tìm hiểu, phân tích, chứng minh
được tại sao Bình Ngô Đại Cáo lại được gọi là “áng thiên cổ hùng văn”.
- Bên cạnh đó để đảm bảo cho việc cho việc phân tích chứng minh đề tài chúng tôi tìm hiểu thêm về bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XV, về tác giả và tác phẩm để hiểu rõ về thời đại mà tác giả sống đây chính là cái nhìn tổng quan giúp nắm vững những kiến thức cơ bản về thời đại tác giả sống và thời gian tác phẩm ra đời để từ đó làm rõ nội dung tư tưởng mà tác giả gởi gắm trong tác phẩm Đây chính là cơ sở để chúng tôi phân tích chứng minh đúng mục đích của đề tài.
- Khảo sát phần dịch nghĩa và bình chú những từ ngữ quan trọng để làm bật
rõ lên tư tưởng của tác phẩm mà tác giả muốn gởi gắm cuối cùng là tổng kết lại vấn đề đã nói.
- Ngoài ra, chúng tôi cũng xác định mục đích của việc nghiên cứu đề tài chính là cơ hội để chúng tôi làm quen với công việc, cách thức nghiên cứu một đề tài khoa học làm cơ sở cho công việc sau này khi ra trường.
4 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Bình Ngô Đại Cáo - Áng thiên cổ hùng văn chúng tôi tập trung đi sâu vào phân tích tác phẩm Bình ngô Đại Cáo nhằm làm rõ những vấn đề
Trang 8Để có được sự thành công cho đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau để nghiên cứu, đảm bảo tính khoa học, logic cho đề tài:
- Phương pháp chứng minh, phân tích đề tài.
- Phương pháp khảo sát đối chiếu, so sánh để làm cơ sở phân tích nội dung làm sáng tỏ yêu cầu đề tài đã đặt ra.
Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng các phương pháp như: tổng hợp,
Trang 9PHẦN NỘI DUNG
•
CHƯƠNG I
Nhà nước phong kiến Việt Nam được xây dựng kiên cố từ thế kỷ thứ XIV trở
về trước, nhưng đến thế kỷ XV mới đạt đến giai doạn cực thịnh của nó Tính chất nhà nước phong kiến đời Hậu-Lê so với đời Lý-Trần có khác; nhà nước đó dựa trên
cơ sở sản xuất và quan hệ sản xuất đã ít nhiều đổi mới tuy rằng vẩn nằm trong khuôn khổ chế độ phong kiến Nền kinh tế thời Lý-Trần nói chung vẫn là nền kinh
tế đại điền trang, nhưng sang đời Lê nền kinh tế tư hữu đã phát triển mạnh Giai cấp thống trị đã có điều kiện để thực hiện chính sách quân chủ tập trung cao độ; ngoài vấn đề về kinh tế và chính trị con chú trọng về văn hóa để làm phương tiện phục vụ triều đình.
1.1 Bối cảnh lịch sử-xã hội Việt Nam
1.1.1 Tình hình xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIV
Trong giáo trình Văn học Việt Nam trung đại 1 của Nguyễn Kim
Châu đã nhận định “chế độ phong kiến Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIV bước vào tình trang suy sụp nghiêm trọng”[3; tr.16] hay trong quyển Lịch sử văn
học Việt Nam tập 2, NXB Giáo Dục, 1978 của Bùi Văn Nguyên cũng đã nhận
định: “cuối đời Trần kinh tế điền trang bắt đầu tan rã, quý tộc đi vào con đường trụy lạc Quan hệ lãnh chúa, nô tỳ và quý tộc trở nên gay gắt”[9; tr.2] Từ những
nhận định trên chúng ta có thể thấy xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIV đã
có những mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến sự sụp đổ của triều đại nhà Trần Các vị vua chúa đời Trần ngày càng phản bội lại lợi ích của nhân dân, tự mãn, ăn chơi sa đọa Chính sách thuế khóa thắt ngặt Bọn quý tộc lợi dụng chế độ đại điền trang để
Trang 10vào tình cảnh cùng khốn, bất mãn và dẫn đến sự bùng nổ của rất nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân và nông nô Một số sĩ phu đại biểu cho giai cấp địa chủ yêu cầu cải cách và củng cố xã hội nhưng bị bọn lãnh chúa quý tộc lạc hậu cự tuyệt Hồ Quý Ly thừa dịp đoạt lấy chính quyền, đã cố gắng bằng hàng loạt những cải cách nhưng không giải quyết được mâu thuẫn nói trên, cuối cùng bị thất bại trước sự xâm lăng của phong kiến nhà Minh Vai trò lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm đã chuyển sang tay giai cấp địa chủ với sự cộng tác đắc lực của các sĩ phu.
Tóm lại với sự rối ren, khó khăn từ nhiều phía đã tạo nên một hoàn cảnh xã hội đầy phức tạp và mâu thuẫn chính là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ tất yếu của triều đại nhà Trần.
1.1.2 Tình hình xã hội Việt Nam thế kỷ XV
Chế độ phong kiến Việt Nam đến cuối thế kỷ XIV lâm vào một thế khủng hoảng với sự phá vỡ của chế độ đại điền trang và chế độ nô tỳ Các cuộc khởi nghĩa của dân nghèo và nô tỳ bùng nổ không ngớt Năm 1400 Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần lập nên nhà Hồ Sau khi lật đổ nhà Trần, Hồ Quý Ly tiến hành hàng loạt các cuộc cải cách như: Thiên đô về Thanh Hóa, tăng cường quân sự võ bị, đề ra chính sách hạn điền hạn nô, phát hành tiền giấy, mở khoa thi chọn người tài với quan điểm trọng chữ Nôm hơn chữ Hán Nhưng trong lúc Hồ Quý Ly đương lúng túng
thì tháng 11 năm 1406, quân Minh lấy chiêu bài “Phù Trần diệt Hồ ” tràn sang xâm
lược nước ta, với sự nội ứng của bọn cựu quý tộc Mạc Thúy, Lương Nhữ Hốt Hồ Quý Ly tiến hành chống giữ nhưng thế yếu, lại không được nhân dân tin theo nên đành chịu thất bại Tháng 4 năm 1407, trận phản công cuối cùng của Hồ Quý Ly cũng đại bại, cha con Hồ Quý Ly và toàn bộ triều thần bị bắt về Trung Quốc Nhà Minh sau khi cướp được nước ta cũng trong năm này chúng đổi tên nước ta là An Nam thành Giao Chỉ, đặt một bộ máy thống trị toàn quan lại xâm lược với một hệ thống pháp luật hà khắc và dã man Trước mối thù không đội trời chung như vậy, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta bùng nổ khắp nơi từ Lạng Sơn, Thái Nguyên , Đông Triều cho đến Thanh Hóa, Nghệ An điển hình là hai cuộc khởi nghĩa của các vị tông thất nhà Trần là Giản Định đế và Trùng Quang đế, nhưng do sứ mệnh lịch sử của nhà Trần đã chấm dứt nên cả hai cuộc khởi nghĩa lớn này điều thất bại Điều kiện kháng chiến lúc bấy giờ có khác thời Lý-Trần: nhân dân
Trang 11đánh du kích vừa xây dựng chính quyền Quá trình kháng chiến đòi hỏi một tinh thần trường kỳ gian khổ Người anh hùng Lê Lợi, xuất thân từ tầng lớp địa chủ bình dân biết dựa và thời cơ, dựa vào nhân dân, đã tập hợp được quần chúng và nhân tài
từ Bắc cho đến Thanh Nghệ từ những sĩ phu yêu nước thuộc dòng dõi quý tộc như Trần Nguyên Hãn, nhà nho như Nguyễn Trãi, đến những người nghèo như Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, đến cả những người dân tộc miền núi như Lê Lai, Lê Lan Lê Lợi đã biết dùng chiến thuật tài tình, đi từ du kích đến trận địa chiến, biết đánh từ nông thôn đến thành thị, đoàn kết và lôi kéo mọi tầng lớp tham gia cuộc khởi nghĩa Nhà nước đời Lê sẽ hình thành dần dần từ tập đoàn những người lãnh đạo cuộc kháng chiến Bộ máy nhà nước ấy độc lập với chính quyền xâm lược mà lớn mạnh lên được thì chính là nhờ vào sự hậu thuẫn của toàn thể dân tộc Nghĩa quân có nguồn gốc từ nhân dân, chiến đấu vì dân tộc nên đi đến đâu cũng được nhân dân ủng hộ Quân Minh bị đánh bại một cách nhục nhã ra khỏi bờ cõi nước ta Công cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi quyết định sự trưởng thành của dân tộc, nó chứng minh một cách hùng hồn sự thất bại hoàn toàn của chính quyền đồng hóa phản động nhà Minh, đồng thời cũng chứng minh một cách hùng hồn sức sống của dân tộc ta, một dân tộc có kỷ cương, có nền văn hiến lâu đời vững chắc, có truyền thống đấu tranh và tinh thần tự cường cao cả Cuộc kháng chiến do Lê Lợi lãnh đạo đã giải phóng ách thống trị tàn bạo của giặc Minh đã mở đường tiến lên cho lịch sử dân tộc Chế độ chính trị phản động của giặc ngoại xâm bị thủ tiêu Nhà
Lê đã hình thành từ cuộc đấu tranh của dân tộc để thực hiện nhiệm vụ mà lịch sử nước ta hồi đầu thế kỷ XV đã đề ra Triều đại đó sẽ trở nên thịnh vượng, trên đà thắng lợi, phục hồi và phát triển sức sản xuất, và trong phạm vi mà điều kiện lịch sử cho phép, quan tâm giải quyết những vấn đề thuộc đời sống nhân dân.
Hòa bình lập lại Lê Thái Tổ lo xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền trên một cơ sở xã hội khác cơ sở xã hội đời Trần Sự nghiệp đó được Lê Thánh Tông kế tục và hoàn thành.
* Về kinh tế:
Có sự thay đổi đó là sự thủ tiêu chế độ đại điền trang vốn lung lay từ cuối thời Trần Sau khi dành độc lập được hơn một năm Thái Tổ định ra phép quân điền Chế độ tư điền manh nha từ cuối thời Trần, nay phát triển mạnh bên cạnh chế độ
Trang 12tư nhân canh tác thời này đánh dấu một bước tiến bộ, nó làm nổi bật vai trò và địa
vị xã hội của các tầng lớp bình dân Quan hệ tốt về ruộng đất là quan hệ địa chủ và
tá điền, chế độ nô tỳ xưa được thay thế bằng chế độ lĩnh canh nạp tô thuế Do tình hình kinh tế phát triển yếu tố kinh tế hàng hóa giản đơn cùng với tiền tệ, vốn có từ xưa thời Lý-Trần nay cũng được phát triển Luật Hồng Đức quy định tiền công nhật (30 đồng một ngày) và quyết định việc thống nhất cân, thước, đấu ở chợ và các cửa hàng Chế độ phường cục được tổ chức chu đáo: các nghề in, thuộc da, tơ lụa , vàng ngọc, khai mỏ khá phát đạt và ngay ở triều đình đã có cục bách công.
Sau khi giải phóng đất nước, triều đại mới ra sức khôi phục lại nề kinh tế vừa
bị phá hoại nghiêm trọng Lê Lợi đã tịch thu ruộng đất của quan lại nhà Minh, bọn theo quân Minh, ruộng đất của quý tộc nhà Trần và ruộng đất của nhân dân bỏ hoang vì chiến tranh đem sung làm ruộng đất công Ruộng đất công do triều đình phong kiến nắm giữ, từ trước vốn là một trong những thành phần quan trọng nhất trong nước Đến nay số ruộng đất đó lại càng tăng thêm Lê Lợi đã chia ruộng đất công cho nông dân sử dụng và nộp tô cho nhà nước Chính sách quân điền của nhà
Lê đối với ruộng đất công của xã thôn dược quy định từ năm 1429, ngay sau khi kháng chiến thắng lợi, lại được bổ sung trong gần một thế kỷ XV Một mặt nó xác định lại quyền sở hữu đất của nhà nước phong kiến đối với ruộng đất công vốn đã
do nhân dân nắm giữ trong thời chiến tranh, và dựa trên cơ sở đó để bóc lột Một mặt nó có tác dụng kích thích sản xuất Với chính sách quân điền bảo đảm cho người dân có đất để sinh sống Do đó họ yên tâm sản xuất và nền nông nghiệp dần dần được phục hồi.
Bên cạnh ruộng đất công, bộ phận tư hữu ruộng đất trong giai cấp địa chủ và tiểu nông cũng đã phát triển Từ cuối thế kỷ XIV đã phát triển mạnh, và khi dến thế
kỷ XV thì đã phát triển cực kỳ mạnh Nhà nước phong kiến đã khuyến khích chế độ
tư hữu ruộng đất Luật Hồng Đức đã công nhận quyền chiếm hữu của địa chủ Việc mua bán, cầm cố ruộng đất được quy định rõ ràng khi chế độ tư hữu phát triển.
Trong quyển Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII), NXB Giáo dục, 1997 đã có viết về tình hình phát triển nông nghiệp, thủ công
nghiệp và thương nghiệp thời này như sau: “ phát triển nông nghiệp, nhà Lê đã có chính sách trọng nông thể hiện ở những biện pháp cụ thể như cấm bỏ ruộng hoang,
mở đồn điền để khai khẩn những vùng đất mới, xây dựng và bảo vệ đê điều và các
Trang 13vệ trâu bò, thực hiện chế độ “ngụ binh ư nông” thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng phát triển mặc dầu không được khuyến khích phát triển như nông nghiệp.cũng như mọi triều đại, nhà lê cũng có chính sách ức thương Nhà nước cấm nông dân không được thoát ly ruộng đất để đi làm ăn buôn bán ở các thị trấn đối với ngoại thương nhà nước phong kiến giữ độc quyền Thương nhân chỉ được mua ban ở các nơi quy định Việc mua bán giữa nhân dân và người ngoại quốc rất hạn chế và bị kiểm soát chặt chẽ Tuy nhiên, do tình hình xã hội ổn định đất nước thống nhất, việc giao thông giữa các vùng được mở rộng, thương nghiệp cũng có điều kiện phát triển ”[29; tr.160] Nhìn chung thì trong thời kỳ này với
những biện pháp tích cực như vậy, cùng với sự phấn khởi của nhân dân vừa thoát khỏi ách nô lệ ngoại xâm và được làm ăn trên mảnh đất ổn định - sức sản xuất xã hội phát triển, nền kinh tế hàng hóa đã được mở mang và phát triển hơn thời kỳ trước điều đó chứng minh sự phồn thịnh của nền sản xuất xã hội.
Nói tóm lại, trong thế kỷ XV, Nhà Lê đã có vai trò tích cực đối với lịch sử Sau khi đánh đuổi giặc Minh, Nhà nước phong kiến mới biết sử dụng những điều kiện của một đất nước vừa giành được độc lập, của một dân tộc vừa được giải phóng và thúc đẩy việc phát triển kinh tế trong nước.
* Về chính trị:
Bên cạnh việc hồi phục lại nền kinh tế thì Nhà Lê cũng bắt tay vào việc củng cố chính trị Chính quyền phong kiến thời Lê được tổ chức hoàn bị hơn các thời Lý - Trần Lê Thánh Tông đã chia đất nước ra làm 13 thừa tuyên và qua đó khẳng định sự đồng nhất của cả nước về mặt chính trị cũng như về mặt văn hóa Nhà vua hiệu định quan chế nhằm tăng cường hiệu lực cho chính quyền trung ương, khiến cho nó nắm được một cách chặt chẽ các địa phương trong cả nước Các thứ bậc, nghi lễ, chức trách trong bộ máy quan liêu được quy định rõ rệt làm cho chính quyền trung ương tập chung vào tay vua Trong quyển Lịch sử văn học Việt Nam
tập 2, NXB Giáo dục, 1978 đã có viết: “Triều đình thời Lê Thánh Tông là một triều đình quân chủ tập trung cao độ Hoàng đế nắm toàn quyền bộ máy quan liêu, một bộ máy được tổ chức có hệ thống từ trung ương tới xã Thời Lê Thánh Tông, một quan chế được đặt ra với sự phân chia ngôi thứ rõ rệt, với sự phân công phụ trách tỉ mỉ với sự quy định trách nhiệm liên đới và hướng kiểm soát chặt chẽ thế
Trang 14lực đại quý tộc bị hạn chế, chỉ được coi như quan liêu đại thần, chứ không có đặc quyền về trang ấp, không có quân đội riêng, trong khi đó, sự tham gia của các tần lớp sĩ phu do khoa cử xuất thân ngày càng được chú trọng” [9;tr.45] Từ đó ta thấy
chính quyền đời Lê đã trở thành nhà nước quan chủ chuyên chế, đồng thời là một nhà nước quân chủ quan liêu Nếu như giai cấp địa chủ là giai cấp thống trị trong xã hội thì tầng lớp quan liêu, kẻ đại diện cho nó, là kẻ điều hành bộ máy nhà nước Nho sĩ quan liêu là động lực chính của Nhà nước phong kiến đời Lê.
Chính sách cai trị của Nhà Lê thể hiện rõ rệt trong bộ luật Hồng Đức, một bộ luật có nhiều điểm tiến bộ hơn bộ luật Gia Long sau này Trong quyển Lịch sử văn học Việt Nam tập 2, NXB Giáo dục, 1978 đã đề cập đến việc này như sau: bộ luật đó, tuy chiếu cố đến thân phận của quần chúng, thân phận bình dân, thân phận phụ nữ và những tầng lớp đã ủng hộ kháng chiến, nhưng căn bản vẫn đảm bảo quyền lợi và địa vị cho quý tộc quan liêu Ba điểm nổi bật trong bộ luật đó là: bảo đảm chế độ đại gia đình, vì đó là nền móng của chế độ phong kiến quan liêu; bảo đảm chế độ tư hữu, nhất là tư hữu ruộng đất; bảo đảm trật tự xã hội và quyền lợi công cộng, vì đó là cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội để xây dựng một bộ máy trung ương tập quyền cao độ ”[9; tr.45,46]
Nhìn chung các vua buổi đầu Nhà Lê đã biết điều hòa mâu thuẫn nội tại của chế độ, như vừa đảm bảo quyền cho quý tộc, nhưng lại hạn chế địa vị của chúng, vừa tìm cách ổn đinh thị trường làm cho quan hệ chính trị và kinh tế có điều kiện tương đối ổn định Trên cơ sở một nền kinh tế tương đối thịnh vượng của một chế độ tương đối ổn định, nền văn hóa dân tộc thời này cũng được phát triển ở mọi phương diện và có tác dụng cho chế độ tộc quyền lúc này.
* Về văn hóa-giáo dục:
Về văn hóa:
Nho giáo là một công cụ đắc lực của chính quyền phong kiến, được đề cao trong khi phật giáo và đạo giáo trong chiến tranh tuy có phát triển nhưng nay đã bị hạn chế Lê Thái Tổ kế tục những cải cách của Hồ Quý Ly, quy định thể lệ sát hạch tăng nhân, cấm in sách phật hay tự tiện làm chùa, tô tượng, đúc chuông, cấm bọn cô đồng, bả cốt hoạt động Nhà Lê nảy sinh từ cuộc kháng chiến chống Minh cho nên
Trang 15của triều đình Nhà Lê Nền văn nghệ thời Lê có những điểm không giống thời Trần, thí dụ nghệ thuật kiến trúc thời này không phát triển vì việc xây chùa bị hạn chế Công trình kiến trúc thời Lê có một tầm quan trọng, đặc biệt đó là việc xây dựng cung điện ở Thăng Long hay ở Lam Kinh (Thanh Hóa) Di tích còn lại ngày nay là bia Vĩnh Lăng dựng năm 1433 Riêng về âm nhạc lại khá phát triển với chiều
Lý-hướng độc đáo, đặc biệt là thể loại nhã nhạc cung đình mà bài tiêu biểu là “Bình ngô phá trận ” do Lương Đăng phụ trách soạn Về nghệ thuật sân khấu thời này
dương như ít được phát triển ở cung đình mà chỉ phát triển ở dân gian Ở thời kỳ Nhà Lê này dòng văn học dân gian và văn học viết vẫn phát triển rất mạnh Phong trào Lam Sơn với tính nhân dân sâu rộng đã được phản ánh vào trong truyện cổ tích
lịch sử về Lê Lợi, Nguyễn Trãi những truyện “Ông lão đánh cá và vua Lê”, “Hồ
ly phu nhân”, “Mục Thận và Hồ Hoàn Kiếm” đã làm phong phú thêm kho tàng
truyện dân gian Những câu tục ngữ và những bài ca dao, dân ca phản ánh sự căm thù giặc và sự ủng hộ đối với nghĩa quân Lam Sơn với Nhà Lê lúc buổi đầu phục quốc vẫn còn lưu hành đến ngày nay Những tác phẩm văn học dân gian ấy đã lại lại
những dấu vết trong những tác phẩm như “Lam Sơn thực lục”, thơ nôm Nguyễn
Trãi, thơ nôm đời Hồng Đức nói chung ảnh hưởng của văn nghệ, văn học dân gian vào sự phát triển của văn học viết, văn học chữ Hán, đặc biệt là chữ Nôm rất là quan trọng Ảnh hưởng ấy góp phần không nhỏ vào việc tạo nên tính dân tộc rất cao trong dòng văn học viết, mặc dầu ảnh hưởng của Nho giáo ngày càng có xu hướng
gò bó một số tác giả trong những giáo điều cứng nhắc xa lạ với thực tiễn đời sống dân tộc
Nhìn chung, tuy chính sách văn hóa của Nhà nước phong kiến trong khi có mặt tích cực nhất định thì lại có mặt tiêu cực, tuy trong xu hướng tiến tới một nền quân chủ chuyên chế nhà Lê ngày càng đưa Nho giáo lên một địa vị cao nhằm thống trị văn hóa, tinh thần của xã hội, nhưng trong khí thế của dân tộc vừa chiến thắng ngoại xâm và xây dựng lại đất nước, trong khí thế của nền văn hóa dân tộc vừa phục hưng vừa phát triển, ảnh hưởng của văn hóa văn nghệ dân gian mà những truyền thống tốt đẹp ngày càng được bồi dưỡng thêm, dòng văn học viết thế kỷ XV
đã đạt được những thành tựu rất lớn.
Về giáo dục:
Trang 16Vào thời nhà Lê việc học rất được khuyến khích Ngay từ khi còn tác chiến như năm 1427, Lê Lợi vẫn cho mở khoa thi ở Bồ Đề để chọn nhân tài, chuẩn bị cho việc ây dựng hòa bình Kháng chiến thành công, nhiều khoa thi đặc biệt như Hoành
từ, Minh kinh được tổ chức Trước khi chỉnh đốn những khoa thi Tiến sĩ định kỳ.
Số thí sinh thi hội thời Lê lên rất cao Quyển Lịch sử văn học Việt Nam tập 2, NXB Giáo Dục, 1978 của Bùi Văn Nguyên có viết về việc nay và chúng tôi đã tổng hợp như sau: khoa Đại bảo thứ ba đời Thái Tông mới có 450 thí sinh mà khoa thứ sau đời Nhân Tông đã tăng kên 720; đến khoa Hồng Đức thứ sáu thời Thánh Tông lại tăng lên 3 ngàn người Tỷ lệ trúng tuyển cũng cao hơn cả những đời cuối Lê và Nguyễn sau này, các Tiến sĩ, trạng nguyên đều còn it tuổi Ngoài ra nhà Lê còn chú trọng đến việc phát triển quốc học và tự học Chính sách giáo dục rộng rãi hơn thời nhà Trần rất nhiều Để phát triển bậc đại học ở kinh đô vua cho mở rộng nhà Thái học, lập bí thư khố và xây dựng giảng đường để khuyến khích người học Vua cho đặt ra các nghi thức gọi loa, yết bảng,ban yến , ban áo mũ, khắc bia tiến sĩ Việc học thời kỳ này phát triển và đánh dấu một bước thịnh vượng của Nho giáo ở nước ta.
1.2 Tình hình văn học Việt Nam thế kỷ XV
1.2.1 Một số đặc điểm của văn hoc Việt Nam thế kỷ XV
Văn học thế kỷ XV phong phú hơn văn học các thời kỳ khác về mọi phương diện, cả về nôi dung cũng như hình thức, chữ Nôm cũng như chữ Hán Nền văn học viết nổi bật so với thế kỷ XIV, ở thời kỳ này viết về công cuộc chống ngoại xâm nổi bật và phong phú hơn nhiều Trong thế kỷ XV Nho giáo đã chiếm địa vị độc tôn và lấn át cả phật giáo một cách rõ rệt Nền văn học nước Đại Việt thế kỷ
XV phản ánh tinh thần của một dân tộc đã trưởng thành Ngoài những thành tựu về văn học chữ Hán, thế kỷ này lại đã củng cố cơ sở vững vàng cho văn hoc chữ Nôm, chuẩn bị cho những giai đoạn phát triển về sau.
Những đặc điểm chính của văn học thế kỷ XV:
Do tình hình của lịch sử, văn học trong suốt thời kỳ này đều ca tụng
Trang 17những bài thơ và phú Rất nhiều bài phú với đầu đề khác nhau, nhưng vẫn xoay quanh một vấn đề thống nhất đó là cuộc kháng chiến chống Minh của dân tộc Đại
Việt bất khuất Những bài phú nổi tiếng như Xương Giang phú của Lý Tử Tấn, Lam Sơn giai khí phú, Nghĩa kỳ phú của Nguyễn Mộng Tuân Có khi nhiều người làm một đề tài với nhiều ý giống nhau, tuy câu văn có khác như các bài Chí Linh Sơn phú của Nguyễn Trãi, của Trình Thuấn Du, của Lý Tử Tấn, của Nguyễn Mộng
Tuân Đó là chưa nói lòng yêu nước còn thể hiện trong một số thơ rải rác của Lê
Tánh Tông và đặc biệt là lòng căm thù giặc cháy rực suốt các bài trong Quân trung
từ mệnh tập của Nguyễn Trãi.
Thời kỳ này giai cấp địa chủ phong kiến đứng ra lãnh đạo kháng chiến do
đó những thơ văn ca tụng trật tự phong kiến là lẽ tất yếu Tính chất thù phụng thể hiện rõ rệt nhất trong thơ văn ở nửa sau thế kỉ (tức là thơ văn của hội Tao Đàn).
Trong những bài như “Quỳnh Uyển Cửu Ca” của Lê Thánh Tông, một số bài ở
“Thiên Nam Dư Hạ Tập” và “Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập” của hội Tao Đàn hay trong “Bát Giáp Thưởng Đào Văn” của Lê Đức Mao, lòng tự hào dân tộc được thể
hiện rõ nét, nhưng lòng tự hào dân tộc ở đây gắn liền với lòng tự hào của vai trò vua chúa và có khi bị che khuất sau bóng dáng quá đồ sộ của vua chúa Đó là một điểm hạn chế trong văn học nửa sau so với văn học nửa đầu thế kỉ XV.
Trong văn học thời kì này đã có ý thức quốc gia và hình ảnh quần chúng.
Thời này không còn đạo “thần chủ ” giữa nô tì, nông nô và chủ thái ấp, mà đã nổi bật đạo “quân thần” Người ta không còn quan niệm tổ quốc chỉ là thái ấp, bổng
lộc, ruộng vườn, vợ con mà đã có ý thức một quốc gia trừu tượng với kỉ cương phong tục của nó, với cả một nền văn hiến lâu đời của nó Nguyễn Trãi đã thay Lê
Lợi nói rõ ý này trong những bức thư gửi tướng nhà Minh, trong “Bia Vĩnh Lăng” đặc biệt trong “Cáo Bình Ngô ” Cùng với ý thức một quốc gia trừu tượng lần đầu
tiên quần chúng lao động được nhắc đến trong những trang văn học viết Ở nhiều
thơ văn và càng rõ rệt nhất ở bài “Cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi khi bàn về nhân
nghĩa đều có nhắc tới nhân dân Lê Thánh Tông và một số hội viên Tao Đàn cũng đã miêu tả đôi nét đời sống của nhân dân qua thơ văn của mình Việc này cũng
dễ hiểu vì chính quần chúng lao động đã ủng hộ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, ủng hộ chính quyền nhà Lê và một số trong hàng ngũ bình dân xuất thân từ khoa cử và trở thành bề tôi đắc lực trung thành cho vua chúa thời này Do ảnh hưởng của nhân dân
Trang 18qua cuộc kháng chiến thần kì chống Minh mà quan điểm “Nhà nho ” thời này khác với quan điểm “nhân nghĩa” của Mạnh Tử Ở Trung Quốc thời Khổng Mạnh , nguyên lý đạo đức nhân nghĩa chỉ áp dụng cho người “quân tử” (giai cấp thống trị) còn kẻ “tiểu nhân” (giai cấp bị trị) không thể có đức đó Nhưng quan điểm “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi đã mang yếu tố nhân dân, đã phản ánh đời sống của những người dân “đen đầu” những đứa con đỏ Đó là một điểm cách tân và tiến bộ trong ý
thức hệ giai cấp thống trị lúc bấy giờ, do sự hành động của vai trò quần chúng đẩy tới Chẳng những hình ảnh của quần chúng mà tiếng nói của quần chúng cũng được chú trọng trong văn hóa viết Rải rác ta thấy tục ngữ và ca dao được vận dụng trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi.
“Dễ hay một biển sâu cạn Khôn biết lòng người ngắn dài”
(Sông sâu còn có kẻ dò Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng) Hay trong bài “Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn” của Lê Thánh Tông.
“Những nơi dữ lành rằng bởi đất Đất nào hay cãi được người ta”
(Hóa đất còn biết nói năng Thì thầy địa lý hàm răng không còn)
Đặc biệt văn học thời này đã phản ánh ý thức cá nhân và phần nào khuynh hướng trữ tình Thơ của các tác giả thời Lý - Trần cũng có khía cạnh trữ tình nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ tâm sự của tác giả chưa được thể hiện rõ ràng Cuối thế
kỉ XIV Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Lê Cảnh Tuân mỗi người cũng đã khóc với tâm sự của mình Đến đầu thế kỉ XV, Nguyễn Húc lại còn đi xa hơn nữa,
Nguyễn Húc làm thơ kể tự sự của mình trong đau thương của “bệnh tật”, “mưa gió” Lời thơ của Nguyễn Húc thường đẫm lệ Nguyễn Trãi con người của nghĩa
khí, người quân sư của Lê Lợi không phải không có những dòng thơ tâm sự thầm kín Tuy văn học thế kỉ XV chưa thể hiện được cá tính sâu sắc nhưng cũng đã có bóng dáng cá nhân
Văn học thế kỷ XV chủ yếu là do nho sĩ sáng tác nên Các vua Lê Thái Tông,
Lê Thánh Tông là những ông vua chuộng đạo Nho, học đạo Nho Nếu như văn học thời Trần còn phản ánh sự lấn át dần dần của đạo Nho đố với đạo Phật thì văn học
Trang 19thời Lê phản ánh sự thống trị của đạo Nho với tính cách là ý thức hệ chính thống của Nhà nước Nho sĩ là một tầng lớp mạnh Nếu có bị sung vào hàng ngũ quan liêu hay không, họ đều trực tiếp hoặc gián tiếp giúp Nhà nước phong kiến xây dựng chế
độ kỷ cương Họ phấn khởi khi tìm thấy ở chế độ mới những điều kiện thuận lợi để
có thể thực hiện lý tưởng tu, tề, trị, bình Hàng ngũ họ ngày càng đông, tác phẩm họ ngày càng nhiều Nhìn chung, ảnh hưởng của Nho giáo dến văn học viết của thời Lê rất rõ rệt Ảnh hưởng ấy trong thế kỷ XV thì càng mạnh hơn trước kia rất nhiều Ảnh hưởng ấy càng mạnh thì càng bất lợi cho giai cấp thống trị, không sát với yêu cầu của thực tiễn, của đời sống dân tộc, gò bó trí sáng tạo, cảm hứng văn học và cảm hứng mỹ học Với sự phát triển của văn học cử tử trong thời Lê Thánh Tông, ảnh hưởng của những giáo điều ấy càng mạnh mẽ thì văn học viết càng có nhiều hạn chế Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng ảnh hưởng có phần tiêu cực của Nho giáo vẫn không làm mất được tinh thần dân tộc trong văn học thế kỷ XV Các tác giả nửa đầu thế kỷ XV như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Nguyễn Thiên Tích, vì kế thừa được hào khí và truyền thống của văn học thời Trần, lại được trực tiếp nuôi dưỡng trong phong trào dân tộc chống xâm lược, cho nên dầu có mượn những hình thức, những cách phát biểu của Nho giáo mà vẫn cứ vượt ra ngoài, vượt lên trên những hạn chế của ý thức hệ Nho giáo để viết lên những tác phẩm hào hùng
và chân thành, sát với đời sống dân tộc và xứng đáng với dân tộc mà các tác giả sau này không làm được Nhưng không ít người, kể cả Lê Thánh Tông, tuy chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo mà vẫn phần nào hiểu được lý tưởng tu, tề, trị, bình của Khổng, Mạnh theo cái nghĩa phải có ý thức làm chủ đất nước, và lý giải một cách thiết thực những vấn đề của đất nước, của đời sống dân tộc.
Trong một nền văn hóa mặt phồn vinh nhất vẫn là văn học, trong đó có nhiều khía cạnh khác nhau Nửa trước thế kỉ văn học ca ngợi cuộc kháng chiến và thắng lợi vĩ đại của dân tộc Nửa sau thế kỉ văn học ca ngợi cuộc sống thanh bình trong trật tự phong kiến ở giai đoạn thịnh trị Nhưng vì bản thân nó chất chứa nhiều mâu thuẫn nên dần dần trong văn học cũng như xã hội một nội dung phê phán, bất mãn cũng như chớm nở một luồng tư tưởng mới phản ứng trở lại nho giáo ngày càng được độc tôn và trở thành gò bó đối với xã hội.
Trang 201.2.2.1 Xu hướng yêu nước, ca tụng tinh thần kháng chiến anh dũng và cổ võ ý chí xây dựng quốc gia.
Có thể nói xu hướng này bao gồm hầu hết các tác giả nửa đầu thế kỉ trong đó có những người đã từng tham gia kháng chiến như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, bộ ba đỗ đồng khoa, bộ ba cùng tham gia kháng chiến và
bộ ba cùng sáng tác thơ phú với ý tứ giống nhau có khi với đề tài giống nhau, đặc biệt là cả ba có tài văn chương tương đương Cuộc kháng chiến chống Minh thần kì của dân tộc ta thời kì này thật vĩ đại đã tác động đến toàn bộ cuộc sống của nhân dân ta , do đó những đề tài kháng chiến như cảnh gian khổ chiến đấu, gương hi sinh sáng ngời, những chiến thắng vẻ vang và khi hòa bình lập lại thì những đề tài xây dựng hòa bình nhu kêu gọi hiền tài cổ vũ lòng tin tưởng ở ngày mai tất cả những việc đó là nguồn cảm hứng cho thi sĩ văn nhân lúc bấy giờ Cái khí thế đó được biểu hiện trong nhiều thơ phú Ngay cả trong những bài thơ phú ,ngay cả trong các bài
thơ của Lê Thái Tổ làm ra khi dẹp yên vụ Đèo Cát Hãn, một tù trưởng ở vùng Lâm
Thao (Vĩnh Phú) trước đã từng đầu hàng giặc Minh sau được giặc Minh tha tôi chết nhưng rồi lại làm phản:
“Nghĩa khí dẹp tan mù mấy lớp Chán tâm sanphẳng núi muôn trùng”
Cũng như thơ văn của Nguyễn Trãi văn chương của Nguyễn Mộng Tuân cũng chứa chan lòng yêu nước căm thù
“ Ra tay nơi Khôi huyện, Phá Kỳ, giết Quí Đường hoàng từ Trà Lân đưa quân xuất phát có danh Tuyên bố tại Bồ Đằng được trận thắng to khoái chí
Khua ầm sấm sét khắp chín cõi”
( Phú Cờ Nghĩa)
Nguyễn Mộng Tuân ca ngợi vị lãnh tụ Lam Sơn khởi nghĩa, nhưng chính
la ca tụng “chính đạo”, ca tụng tinh thần “nhân nghĩa” theo quan điểm tiến bộ lúc
bấy giờ
“Vì một giận mà yên dân, quét mây mờ cho đỡ nạn
Trang 21Đem sao lành mây đẹp điểm tô vẻ đời mới Đêm dài rét mướt, đêm lại sáng êm Của cải non sông, nhờ thêm rõ rệt
Không dùng gấm vóc bọc núi rừng mà lấy đạo dức làm đẹp Không đem ơn riêng cho lòng mình mà cần chí công vô tư ”
(Phú Lam Sơn giai khí Nguyễn Khách Hanh dịch)
Phản ánh khí thế của nghĩa quân trong cuộc kháng chiến và nói lên tiết tháo của kẻ sỉ đại phu quyết bảo vệ chính nghĩa.
“Cờ nghĩa đã kéo, mây trắng vẫy lên Khiến hào kiệt đi theo như mây cuốn Bầy tâm cam ý chí hẹn hò nhau Lần vết Linh Sơn
Khác gì núi Mang Đăng ủng hộ Lưu Quý Vùng dậy Bồ Già
Giống như đầm Đại Trạch giúp việc Trung Hưng
Một quận dựng nghiệp Nghệ An đã gây nàn Nhật nguyệt soi thấu đến miền Tây
Kết cục thì Quét sạch rác nhơ chốn quan hà
Mở nguồn sáng láng thành nghiệp đế”
Rõ ràng là Nguyễn Mộng Tuân có ý thức về cái đep, cái lớn, cái mạnh trong ý tưởng chiến đấu của nghĩa quân, của Lê Lợi và cũng tức là của bản thân mình.
Trong những bài Chí Linh sơn phú, Nghĩa kỳ phú, những tư tưởng tích cực đại loại như trên có thể gặp thấy ở từng câu, từng vế Cũng như Lam Sơn giai khí phú, các bài phú này ít hoặc nhiều, tỉ mỉ hoặc đại cương, đã vẽ lại những chặng đường gian khổ mà cuộc kháng chiến của Lê Lợi trải qua và đã nêu cao đại nghĩa
Trang 22dân tộc Văn của Nguyễn Mộng Tuân có cái khí thế hùng hồn na ná như của
Nguyễn Trãi Mở đầu bài “ Nghĩa kỳ phú ” (Phú cờ nghĩa) ông viết:
“Khí thế quân Ngô tai hại chừ tràn lan khắp chốn
Cư xử bậy bạ tanh tởm chừ xông lên tới trời.
Khen Cao Hoàng trượng nghĩa, Mong rửa nhục trừ hung,
Đã trỏ vẫy nhằm hai kinh khôi phục, Khiến Vương Thông chịu Hàng.
Tha tù binh hàng mười vạn, Lặp công to để muôn đời,
Nghĩa khí tràn lan,
Đó là lá cờ nghĩa của Thánh Tổ, Đặt Hán, Đường xuống bậc thứ hai”
Và thật hào hùng những đoạn sau đây trong bài Chí Linh sơn phú (Phú
núi Chí Linh)
“Vua ta khởi nghĩa núi Lam, thế mạnh bừng bừng như lửa Hào kiệt theo tựa mầy ùn, hiệu lệnh vang như sấm rỡ
Mất giữ lại được, nguy đổi thành an.
Đội quân tình thiết cha con, thân cùng can khổ, Tướng sĩ sức dư hùng hổ, sắt luyện tâm can
Đến như phá vòng khốn quẫn, tạo cuộc hanh thông, Chín phần tử, một phần sinh, tuy ở chốn hiểm nghèo mà có
ngất trời khí thế Bao nhiêu nghịch, bấy nhiêu thuận, khéo tùy cơ lợi dụng
thật là tột bậc anh hùng Thần giùm mưu chước, người mến uy phong.
Cột chống nhà cao, mong thu cả tài năng mọi mặt.
Đá ra tay luyện, quyết vá lại trời xanh muôn trùng.”
Trang 23Phải là một người đã tham gia vào phong trào, đã trải qua những cơn chiến đáu hiểm ngèo và anh dũng, đã hòa nhịp điệu sống hùng mạnh của nghĩa quân thì mới có được khí văn như vậy Nguyễn Mộng Tuân là một người yêu nước yêu đời Thái độ tích cực đó cũng thường thể hện trong thơ Đại diện cho một thế hệ trí thức nguyễn Mộng Tuân đã phát biểu lên khát khao muốn thực hiện lý tưởng của mình ở ngay cõi đời này, muốn thiết thực giúp ích cho dân tộc cho tổ quốc .Cũng một tấm lòng yêu nước như Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn một trong bộ ba đã
cùng “nếm mật nằm gai” trong những ngày kháng chiến, cùng một khí phách hào hùng như nhau Trong bài “Xương giang phú ” tác giả trước hết tả cảnh sông Hương rồi kể chuyện giặc Minh sang lập trại đắp thành ở bờ sông đó để “chiếm giữ đất cát, tàn hại sinh linh”, việc Lê Lợi “thấy dân cực khổ động mối thương tình, bèn theo lòng trời bèn họp nghĩa binh” để đánh đuổi giặc , quá trình chiến đấu gian khổ đó
đã được đền đáp bằng chiến thắng oanh liệt
“ Bốn cõi mây mờ quét sạch, Giữa trời ánh sáng huy hoàng”
Nhìn chung, Lý Tử Tấn đã phản ánh khí thế của nghĩa quân Lam Sơn của
dân tộc Đại Việt hồi đầu thế kỉ XV Xưa kia Trương Hán Siêu trong bài “Phú sông Bạch Đằng” mới chỉ so sánh trận chống Nguyên của dân tộc ta có giá trị như trận
Hợp Phì, trận Xích Bích Nhưng nay, Lý Tử Tấn lại cho rằng trận chống Minh của
ta trên sông Xương Giang còn hơn hẳn các trận Hợp Phì , Xích Bích Thật vậy ở thời kì này, lòng tự hào dân tộc của nhân dân ta được biểu hiện một cách sâu sắc.
Phải có những ý chí mạnh dạn như vậy mới có sức lay tỉnh nhũng “Sĩphu gàn” kiểu Lý Tử Cấu cứ khư khư ôm một mối “Cô chung không tưởng”, chưa nhận thấy
cái khí thế quật cương của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo tài tình của người anh hùng đất Lam Sơn Đất nước đi vào con đường hòa bình ổn định và phát triển Các tác giả thời kì này cũng ca ngợi công cuộc xây dựng đất nước, nêu được ý chí của người anh hùng khi đã đấu tranh giành độc lập lại cho dân tộc đất nước thì giờ đây cần phải phòng ngừa, giữ vững và phát triển nó hơn nữa.
“Phòng ngừa bờ cõi cần ra sức Giữ vững cơ đồ phải gắng công”
I.2.2.2 Xu hướng thù phụng, ca ngợi sự thịnh trị của chế độ phong
Trang 24Trong Giáo trình văn học Việt Nam trung đại I của Nguyễn Kim Châu
đã nhận định "văn học Việt Nam nửa sau thế kỉ XV chưng kiến sự bộc phát cả về số lượng và chất lượng của tác phẩm Lực lượng sáng tác chủ yếu là nho sĩ quan liêu, nhất là các triều thần được Lê Thánh Tông tuyển chọn vào hội Tao Đàn Các nhà thơ sáng tác được sự chỉ đạo chặt chẽ của nhà vua về đề tài, cảm hứng”[3; tr.22].
Do ở thời kì này, những nhà thơ lại là quan laị của triều đình tất nhiên ít nhiều họ đều ca tụng chế độ đương thời nhưng do nhà vua chỉ đạo chỉ đạo chặt chẽ trong
những vấn đề như "đề tài, chủ đề, cảm hứng” nên thường họ ca tụng một cách thụ
động có lúc mù quáng Trong quyển Lịch sử văn học tập 2, NXB Giáo Dục, 1978
của Bùi Văn Nguyên đã nhận định " Những nhà thơ xếp vào xu hướng thù phụng, thường ca tụng chế độ đương thời một cách thụ động, đôi khi mù quáng đó là những nhà thơ ở đầu thế kỉ như Trình Thanh, Nguyễn Trực hay những nhà thơ nửa sau thế kỉ như Nguyễn Bảo hay Thân Nhân Trung hay Đỗ Nhuận.trong hội Tao
Đàn”[9;tr 56].
Trong thơ Nguyễn Bảo chủ yếu là cái khí vị của lễ giáo phong kiến, luôn
tỏ một lòng chung với vua "nguyện đem cái chất đã thuần để báo đáp ơn lớn”, bên
cạnh đó còn có những nhà thơ ít chịu sự gò bó theo khuân mẫu của văn hóa cung đình và đã có những nét tiến bộ trong nội dung sáng tác như Thái Thuận chú ý đến cái bình dị của đời sống vùng quê, ông muốn có dịp sống với thiên nhiên Tuy trong thơ có tính chất thù phụng ca ngợi chế độ nhưng vươn ra khỏi tính chất thù phụng tầm thường Tóm lại, nhìn chung các tác giả của xu hướng thù phụng ca ngợi chế độ
có điểm giống nhau là thỏa mãn với hiện thực, nhưng mức độ từng người có khác nhau do đó chất lượng và nội dung trong thơ cũng khác nhau.
I.2.2.3 Xu hướng bất mãn thời thế
Ngay trong thời cực thịnh của nhà Hậu Lê vẫn có một số sĩ phu tiết tháo, khao khát đem tài trí phục vụ, giúp đời nhưng bị vùi dập phải trở về con đường ở
ẩn Ngay như Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn những người có công lao với cuộc kháng
chiến, những tác giả của ngững áng văn bất hủ như "Bình Ngô Đại Cáo”, "Phú Xương Giang” cung không phải không có những tâm sự ưu uất trong cuộc đời
mình Những tâm sự trong một con ngời đó phần nào phản ánh được tính mâu thuẫn nội tại của chế độ phong kiến mà chúng tôi đã nói ở trên Nguyễn Húc, Nguyễn Phu
Trang 25Tư tưởng địa vị, nghi kỵ lẫn nhau đã nảy sinh trong thời kỳ cực thịnh của Thái Tổ, Thaí Tông Các công thần phải bỏ mình dưới lưỡi gươm oan nghiệt, chắc hắn vì lẽ
“vẽ rắn thêm chân ” như Lý Tử Tấn đã nói Đạo lý phong kiến đã nói: “làm tôi phải trung thực, nhưng có ai dũng cảm can gián vua, vạch ra sai trái, thì kẻ đó không bị vua ghét cũng bị kẻ khác xu nịnh, ám hại và may ra không mất đầu thì cũng bị mất chức ”.
Họ bất mãn trước cuộc sống của triều đại mới khi có việc sát hại bạc đãi nhân tài, nhất là khi đám quần thần chống lại chủ trương huê dân của những người
yêu nước, thương dân Trong “Cung Từ” của Lê Thiếu Dĩnh có sự ngụ ý của những
người bề tôi bạc bị bạc đãi:
Tân hoa hoàn hướng lạc hoa khai Đắc sủng nguyên tong thất sủng lai
Vị hứa quân ân trung đạo tuyệt Thả tương chi phấn cưỡng an bài”
(Hoa mới nở đã vào chỗ hoa cũ rụng Người này được thương yêu vì người kia bị ruồng bỏ Không muốn để ơn vua giữa chừng bị đứt đoạn Thế thì hãy đem son phấn gương điểm tô)
Tất nhiên Lê Thiếu Dĩnh không thể hạ mình xuống để gương điểm tô như vậy Ông chọn con đường rút lui để giữ tròn thanh giá Và ông luôn tự hào mình vẫn mãi giữ được tấm lòng son.
“Oánh triệt linh đài vô nhất lụy Hiểu lai khởi thụy khởi lạc vu vu”
(Trong suốt tấm lòng không chút lụy Sáng đến tỉnh dậy vui ngẩn ngơ)
(Hán đề sở cư - Lê Thiếu Dĩnh) Hay trong bài “Trạch thôn cố viên ”
“Mạn thiếu sinh nhai đô tảo tan, Nhất đan tâm ngoại cánh vô dư”
(Buồn cười mọi kế sinh nhai đều bị quét sạch Ngoài một tấm lòng son thì chẳng có gì)
Trang 26Hay như Nguyễn Thiên Tích đỗ thứ hai khoa Hoành từ một lần với Trình Thanh, ông vốn là một người tiết tháo nhưng bị vùi dập nhiều lần, có lúc chán đời
nghĩ mình như “cánh hoa rơi ” rồi than thở
“Nực cười công danh như đàn bà xếp giấy
Sợ thay con tạo như trẻ đùa với cát”
Nhưng để thấy rõ một con người đau đớn, một tâm hồn ưu uất đã bộc lộ bằng những lời thơ cảm thán và bi thương thì phải tìm đến Nguyễn Húc Tâm sự Nguyễn Húc buồn và cô đơn trong thơ ông hay nói đến bệnh tật, lòng sầu, mưa gió, mùa thu, đến hoa tàn, lá rụng
“Đêm qua nghe mưa gió dập dìu Rèm châu nhẹ cuốn hắt hiu bên lầu Tần ngần khóc tủi, than sầu Sáng ngày lệ ngấn đượm màu áo xiêm”
Nhìn chung, đây không phải là một văn phái riêng biệt, mà đây chỉ là một chiều hướng tư tưởng, tình cảm ngược chiều trong hàng ngũ công thần, quan lại của
Trang 27CHƯƠNG II
ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIA NGUYỄN TRÃI,
SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI
CỦA TÁC PHẨM “BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO”
2.1 Đôi nét về tác giả Nguyễn Trãi và sự nghiệp sáng tác
2.1.1 Nguyễn Trãi - Anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa
thế giới
Nguyễn Trãi 1^^(1380 - 1442) hiêu Ức Trai, quê làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), sau dời đến làng Ngọc Ôi, xứ Sơn Nam Thượng, huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Tỉnh Hà Tây) Nguyễn Trãi sinh ra ở Thăng Long, sống trong một giai đoạn lịch sử sôi động từ cuối đời Trần, trải qua đời Hồ, thời đấu tranh chống ách Minh thuộc (của nhà Hậu Trần các phong trào nhân dân khắp nước của nghĩa quân Lam Sơn) cho tới đầu thời Nhà Lê.
Xuất thân trong một gia đình nho học Cha là Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh(1356 - 1429) Mẹ là Trần Thị Thái, con Trần Nguyên Đán, một qúy tộc đời Trần Lên sáu tuổi mẹ mất, lên mười tuổi ông ngoại qua đời, ông về ở Nhị Khê nơi cha dạy học Năm 1400, để cứu vãn chế độ phong kiến đang khủng hoảng trầm trọng, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần và tiếp tục thi hành các cải cách như chính sách hạn nô, hạn điền, tổ chức lại giáo dục, thi cử và y tế Cũng năm 1400, sau khi lên ngôi Vua, Hồ Quý Ly mở khoa thi Nguyễn Trãi ra thi, ông đỗ Thái học
Trang 28Quan (Hà Nội) Năm Mậu Tuất (1418), Nguyễn Trãi cùng Trần Nguyên Hãn trốn thoát vào Lam Sơn, tham gia cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi lãnh đạo Trong suốt 10 năm kháng chiến cứu nước, Nguyễn Trãi đã tỏ ra là người có tài về chiến lược quân
sự, ngoại giao góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi Nguyễn Trãi đã dâng
cho Lê Lợi tập “Bình Ngô Sách” (theo Ngô Thế Vinh — nửa đầu thế kỉ XIX thì phương châm sách cơ bản trong đó là “không nói dánh thành mà giỏi bàn về cách đánh lòng” - Ức Trãi hi văn tập) Tư tưởng, chiến lược này chính là một trong
những nhân tố quyết định thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn Trong thời kháng chiến Nguyễn Trãi đã giúp Lê Lợi trù hoạch quân mưu Ông lại góp phần xây dựng chính quyền dân tộc đối lập với chính quyền xâm lược Nguyễn Trãi đã nhân danh
Lê Lợi viết những thư từ giao thiệp với tướng Minh, với ngòi bút sắc bén ông đã phối hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, góp phần đuổi quân ra khỏi đất nước, giành lại độc lập cho tổ quốc Năm 1427 cuộc kháng chiến giành thắng lợi Nguyễn Trãi đã thay Lê Lợi viết bài Bình Ngô Đại Cáo nổi tiếng tuyên bố cho toàn quốc cuộc đấu tranh chính nghĩa đã thắng lợi Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi hoàng đế ban thưởng cho 227 công thần, Nguyễn Trãi được phong làm Triều liệt đại phu, nhập nội hành khiển, lại bộ thượng thư, tước quan phục hầu và được ban quốc tính gọi là Lê Trãi Nguyễn Trãi có vai trò rất lớn trong công cuộc kháng chiến quân Minh và những ngày đầu độc lập.
Năm 1429 ông thay vua viết “Chiếu Cầu Hiền Tài” Năm 1430, ông thay nhà vua viết “Chiếu cấm các đại thần tổng quản cùng các quan ở viện, sảnh ,cục, tham lam lười biếng Năm 1431 ông thay nhà vua viết “Chiếu cho Tư Tề quyền nhiếp quốc chính” Năm 1433 Tư Tề vì cuồng dại ngớ ngẩn không đưa nổi việc nước bị giáng xuống làm quận vương, ông thay nhà vua viết tờ “Chiếu giáng
Tư Tề làm quận vương”, lập con thứ là Nguyên Long nối nghiệp Ông cũng thay nhà vua làm tờ “Chiếu về việc làm bài hậu tự huấn để răn bảo thái tử”, “Chiếu bàn
Trang 29là rất lớn và ông đã từng bị Lê Lợi hạ ngục nhưng sau đó lại được tha Có lẽ vì ông
là nhân vật tối cần thiết cho việc xây dựng bộ máy chính quyền mới.
Trong thời kì này mọi cố gắng của Nguyễn Trãi là đấu tranh để chính quyền mới không phản bội lại nhân dân Nguyễn Trãi có tính tình cương trực nên bị bọn quyền thần Lê Sát ghen ghét Sang thời Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi đã đấu
tranh với những quyền thần Lê Sát, Lê Ngân để thực hiện đường lối “Giản chính khoan hình” Lê Thái Tông còn trẻ tuổi “Lê Thái Tông lên ngôi năm 11 tuổi”
thường cùng bọn cận thần chời bời phóng phiếm .Nguyễn Trãi đã cùng Trình Thuấn
Du, Phan Thiên Tước .khuyên ngăn nhà vua và Nguyễn Trãi được chỉ định cùng năm văn thần khác vào cung giảng dạy cho nhà vua học Nguyễn Trãi cùng Đào Công Soạn, Nguyễn Liễu .chống lại những nghi thức của hoạn quan Lương Đăng trong quyển Văn học Việt Nam (từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII), NXB
Giáo dục, 1997 có nói “ Trong một cuộc tranh cãi trong triều, Nguyễn Liễu đã mắng rằng hoạn quan làm nát thiên hạ” Lê Thái Tông thấy mình bị gián tiếp xúc phạm đã khép Nguyễn Liễu vào án chém, sau giảm xuống đi đầy ở Viễn Châu, thích chữ vào mặt”[29; tr.217] Trước tình hình như vậy Nguyễn Trãi đã thấy rằng ở lại
triều đình thì trước sau gì cũng rước họa vào thân và ông đã dâng sớ lên về ở ẩn ở Côn Sơn (Côn Sơn là nơi quê tổ Nguyễn Trãi đã từng sống với ông ngoại) Tuy tuổi
đã già và rút lui về sống thanh đạm với thú điền viên, nhưng tẫm lòng ưu ái đối với đất nước không bao giờ cạn Lúc nào ông cũng lo nghĩ về dân, nước và buồn vì một nỗi chưa thực hiện được lí tưởng của mình Năm 1440, Lê Thái Tông đã trưởng thành đã hiểu và nhận thấy ở Nguyễn Trãi là một người có tài có đức, đã vời ông ra làm quan và phong cho ông chức Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, Hàn Lâm Thừa Chỉ Học Sĩ coi việc tam quán và kim chức hành khiển Đông Bắc Đạo, phụ trách quân dân bạ tịch hải dương, an quản Nguyễn Trãi đã tin rằng đây là lúc nhà vua đã thấy
ai là trung thần vì nước vì dân và bọn quyền thần đã bị dẹp thì chắc rằng có thể thi thố được hoài bão của mình Lúc này Nguyễn Trãi đã 61 tuổi Trong bài biểu tạ ân dâng lên nhà vua ông viết những tâm sự của mình:
“ Thương thần như ngựa đến tuổi già, còn kham rong ruổi Cho thần như thông qua năm rét càng dạn tuyết sương
Thánh ý cứ bền tín nhiệm
Trang 30Khiến cho suy nát trở lại quang hoa ”
Chính những suy nghĩ đó ông đã nỗ lực trong nhiệm vụ mới được giao Đến năm 1442 ông về kinh đô làm chủ khảo kì thi Hội Người vợ thiếp của ông là Nguyễn Thị Lộ tài sắc vẹn toàn được giữ chức Lễ nghi nữ học sĩ để dạy cung
nữ Nhưng mâu thuẫn lại xảy ra giữa nguyên phi Nguyễn Thị Anh và Nguyễn Trãi Nguyễn Thị Anh thấy nàng Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao có mang, sợ đứa con sinh ra
có thể giành ngai vàng của con mình bèn vu cho Ngô Thị Ngọc Dao có liên quan đến việc bùa cúng bái của Huệ Phi và xin vua khép vào tội voi giày Nguyễn Trãi đã bảo Nguyễn Thị Lộ khuyên vua đừng nghe lời xúc xiểm độc hại ấy và tìm cách đưa Nguyễn Thị Ngọc Dao đi trốn Nguyễn Thị Anh biết được và tìm cách trả thù.
Năm 1442, Lê Thái Tông đi Đông Triều, duyệt vũ ở thành Chí Linh, nhân tiện ghé vào Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi lúc trở về nhà vua bị chết ở vườn vải Nguyễn Thị Anh nhân cơ hội này đã dựa vào bọn quyền thần buộc tội cho Nguyễn Trãi là âm mưu với Nguyễn Thị Lộ đầu độc giết vua Nguyễn Trãi bị kết vào tội thí nghịch và bị chu di tam tộc Năm ấy ông 63 tuổi Ông chết khi chưa thực hiện hết lý tưởng của mình Đến năm 1462 Lê Thánh Tông mới thấu hiểu nỗi oan của, nhà vua
đã phục hồi cho ông tước Tân trù bá (và đến thời Tương Dực mới đưa lên tước Tế văn hầu đồng thời cho tìm con cháu của ông để bổ dụng).
* Nguyễn Trãi - Anh hùng dân tộc & danh nhân văn hóa thế giới
Trước khi trở thành một danh nhân văn hóa thế giới, bao giờ cũng phải là danh nhân của một dân tộc cụ thể Trên từng phương diện khác nhau Nguyễn Trãi đều được định vị những cống hiến hết sức lớn lao đối với lịch sử văn
hóa nước nhà Trước hết ồng là “người anh hùng của dân tộc”, “nhà văn nhà anh hùng dân tộc”, “người trí thức từ tinh hoa của dân tộc” Tài năng của ông trong
quân sự cũng như trong sáng tác văn chương không phải đến thế kỷ này người ta mới phát hiện ra được, mà ngay từ thế kỷ của ông người ta đã đề cao cái tài, cái đức của một bậc danh nhân Quyển Trên đường tìm hiểu sự nghiệp thơ văn của Nguyễn trãi, NXB văn học có viết về nhận xét của vua Lê Nhân Tông về Nguyễn
Trãi: “Nguyễn Trãi là người trung thành, giúp đức Thái Tổ dẹp giặc, giúp đức Thái Tông sửa sang thía bình Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi các danh tướng cảu bản triều không ai sánh bằng ”[26;tr.56] và Lê Thánh Tông cũng đã
Trang 31Tuân người bạn cùng thời đỗ tiến sĩ với ông vì ngưỡng mộ tài năng của ông mà có viết
“Hoàng các thanh phong ngọc thư tiên Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền Nhất thời từ hán suy văn bá Lưỡng đạo quân dân ái chính quyền ” (Ông ngồi trên gác vắng, phong cách thanh cao như một vị tiên trên lầu ngọc
Có tài kinh bang tái thế làm rạng rỡ cho đất nước từ trước đến nay chưa có ai được như thế.
Văn tứ nổi tiếng một thời mọi người phải tôn ông là bậc văn bá.
Ông cầm chính quyền, coi giữ việc quân dân hai đạo Đồng Bắc)
Từ những nhận xét cửa các bậc thời xưa cho đến những nhà phê bình thời nay cho thấy rằng Nguyễn Trãi là người có tài cao, trí lớn vào bậc nhất trong lịch sử Việt Nam Hơn nữa đọc qua tác phẩm của ông ta còn thấy ở đó là một con người có đạo đức lớn.
Nhân 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi nhân dân ta đã tổ chức lễ
kỉ niệm tưởng nhớ đến ông một người anh hùng, một tinh hoa của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới Tên tuổi ông mãi sáng ngời bên cạnh tên tuổi của Lê Lợi, của các tướng lĩnh và nghĩa quân Lam Sơn Các anh hùng củ lịch sử đều góp phần vẻ vang của mình vào sự nghiệp chung Nguyễn Trãi còn là ngôi sao sáng của văn học yêu nước đầu thế kỉ XV Ông đã để lại cho chúng ta những tác phẩm thơ văn vô cùng quí giá, phản ánh những giai đoạn tiến bộ về văn học và nghệ thuật lúc đương thời Kế thừa truyền thống tốt đẹp hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc, đặc biệt là những thành tựu văn học rực rỡ thời đại Lý - Trần Nguyễn Trãi đã có những cống hiến lớn lao trong việc phát triển nền văn học Đại Việt lên một bước mới Đó
là nền văn học yêu nước tiến bộ có tính dân tộc và nhân dân sâu sắc, có giá trị hiện thực to lớn, có tính chiến đấu cao, thể hiện một cách đầy đủ nhất, mạnh mẽ nhất chủ nghĩa yêu nước trong văn học thế kỉ XV.
Ngoài ra Nguyễn Trãi còn là người chiến sĩ xuất sắc trên mặt trận văn hóa Gắn liền mọi hoạt động với sự nghiệp cứu nước, cứu dân, dùng ngòi bút của mình như một vũ khí chiến đấu, dùng sức mạnh của văn chương để tập hợp lực
Trang 32vĩ đại của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Với lòng yêu nước, thương dân, lòng nhân ái rộng lớn, chủ nghĩa nhân đạo cao cả, thơ văn Nguyễn Trãi ca ngợi tình yêu thương đồng bào cốt nhục, cuộc sống tốt đẹp, yên vui, chống lại sự chà đạp lên nhân phẩm của con người và những hành động bất nhân, bất nghĩa Thơ văn của ông chiến đấu vì chân lí, vì lẽ phải, vì đời sống ấm no hạnh phúc của nhân dân, vì nền thái bình muôn thuở, vì sự hòa hiếu của các dân tộc.
2.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Sau khi Nguyễn Trãi bị thảm họa tru di tam tộc, tác phẩm của ông phần
lớn đã bị thất lạc Trong hoàn cảnh chế độ phong kiến, tác phẩm của một “kẻ phản nghịch ” như vậy là đồ quốc cấm đủ để gây tai vạ lớn cho ai chứa chấp nhưng cũng
có người đã dám tàng trữ là vì quý mộ tài đức của ông Cũng nhờ vậy mà vua Lê Thánh Tông sau này mới có đều kiện tập hợp những tác phẩm còn sót lại để truyền đến ngày nay Trong quyển Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến nữa đầu thế kỷ
XVIII), NXB GD, 1997 có dẫn “theo Đại Việt sử kỷ toàn thư, năm Quang Thuận thứ tám (1467) Lê Thánh Tông sau khi rửa oan cho Nguyễn Trãi đã hạ chỉ sưu tầm
di cảo thơ văn của ông Công việc này, Nguyễn Khắc Kiệm đã phải để hơn mười năm mới hoàn thành Ức Trai thi tập (1480) về sau cũng thất lạc Sang thế kỷ XIX Nguyễn Năng Tĩnh, Dương Bá Cung, Ngô Thế Vinh lại cùng nhau sưu tập các tác phẩm của Nguyễn Trãi và cho xuất bản vào năm 1868 với cái tên Ức Trai thi tập
”[29;tr 219] trên những văn bản hiện còn, mấy năm gần đây các nhà nghiên cứu sử học, văn hoc Việt Nam đã xuất bản một số công trình nghiên cứu về sự nghiệp và thân thế của Nguyễn Trãi Các tác phẩm của ông cũng đã được phiên dịch, phiên âm
Trang 33công văn có nội dung thời sự nhưng vẫn được người đời xem như kiểu mẫu của thể văn này.
Quân trung từ mệnh tập: Phần quan trong của tập sách là những thư từ bình
định vương giới cho tướng lĩnh nhà Minh sau này được chép lại dưới mục: Đữ minh
nhân vãng phục thư tín “Quân trung từ mệnh tập ” bao gồm trên dưới bảy mươi bài
văn từ lệnh viết trong thời kháng chiến Phần lớn các thư từ đó là thư thừ giao tiếp với các tướng Minh: Sơn Thọ, Mã kỳ, Phương Chính, Vương Thông, Thái Phúc với những bọn ngụy quan như Lương Nhữ Hốt và bè lũ Nội dung chính của các bức thư là cuộc biện luận giữa người Việt Nam và người Minh nhằm mục đích dàn xếp cuộc hòa bình lâu dài giữa hai nước Thư từ là hình thức nói chuyện bằng bút Nói chuyện là cả một nghệ thuật Trên sân khấu người giàu nói chuyện bằng miệng hay bằng bút cũng là một cuộc đấu chính trị Nguyễn Trãi là một bậc thầy trong nghệ thuật nói chuyện bằng chữ Hán vói người Minh Lúc nói chuyện với bọn Sơn Thọ,
Vương Thông thường được gọi là “Đại nhân ” Viên tướng biết điều như Thái Phúc được gọi là “Hiền huynh” Còn thư gửi Phương Chính, một tay chấn thủ khét tiếng hiếu chiến thì luôn mở đầu với câu “Bảo cho mày Phương Chính, thằng kẻ cướp hung dữ” Trong quyển Tác giả Nguyễn Trãi trong nhà trường, NXB Văn học
có nhận xét “lối viết giản dị, câu cú sáng sủa là văn khi phần trần, khẩn khoản, khi thì biện bạch thuyết phục, khi thi truy bức dọa dẩm và không bao giờ quên mục đích của chính sách ngoại giao Thúc ép đối phường phải thừ nhận hòa bình do Đại Việt
đề ra” [25; tr36] Qua các lá thư người độc thấy rõ là nhà chiến lược hiểu rõ tình
hình đất nước, tin tưởng tuyệt đối vào tinh thần yêu nước cảu đồng bào ta, vào chính nghĩa và kháng chiến thắng lợi của dân tộc Việt Nam.
Một nét đặc sắc của ngồi bút Nguyễn Trãi là vận dụng để khái niệm đạo đức được xem xét như thiên kinh địa nghĩa truy nhân, sinh quan truyền thống của Trung Hoa Với những tên tướng giặc hung hãn như Phương Chính, Nguyễn Trãi đã giảng giải cho chúng biết thế nào là đúng Với những tướng soái cấp cao hơn như Sơn Thọ, Vương Thông và ngay cả với triều đình vua Minh, Nguyễn Trãi đã lập đi lập lại năm lần, bảy lượt rằng trong quan hệ giữa người và người, giữa nước này và
nước khác, nguyên lí chỉ đạo của khổng giáo là chữ “nhân”, chữ “nghĩa”, chữ
“thánh”, chữ “tín” Nguyễn Trãi đã lột được mặt nạ đạo đức giả của bọn xâm lược
đi cướp nước.
Trang 34Đối với bọn thổ quan đầu hàng người Minh và đang phục vụ trong quân đội xâm lược, với bọn theo quân cướp nước hèn nhát Nguyễn Trãi chỉ kêu gọi những tình cảm sơ đẳng của con người, như tình cảm đối với quan hệ đất nước để khuyên bọn chúng hối cải vì quyền lợi và tính mệnh của bản thân, kết quả là lời lẽ của Nguyễn Trãi cũng đã thuyết phục được những phần tử khá ngoan cố trong bọn chúng.
Ngoài ra, Nguyễn Trãi cũng đã viết nhiều bài dụ, bài chiếu dưới chữ ký của Bình Định Vương để kêu gọi hào kiệt, hiền tài trong nước, góp sức vào sự nghiệp cứu quốc Với lời lẻ giản dị, cô đọng Nguyễn Trãi luôn nhắc nhở với đồng bào tội
ác của giặc Minh và nhiệm vụ của người dân Đại Việt Nguyễn Trãi không hề giấu
họ những khó khăn đang ngổn ngang trên con đường tranh đấu, nhưng trước hết đã khêu gợi trong tâm hồn mỗi người dân niềm tự hào dân tộc, lòng tin vững chắc vào
tiền đồ của Tổ Quốc Văn bản “Quân trung từ mênh tập ” đã phản ánh được tình
hình địch và ta trong các giai đoạn chính của cuộc kháng chiến, cũng thể hiện được
chiến lược và sách lược của nghĩa quân, bên cạnh đó “Quân chung từ mệnh tập”
cũng là một trong những tác phẩm phát biểu lên chủ nghĩa yêu nước và tinh thần nhân nghĩa của Nguyễn Trãi.
Sau khi đất nước giành chiến thắng, Nguyễn Trãi đã viết “Bình Ngô Đại Cáo”, viết sau ngày quân Minh rút về nước, thay lời vua Lê Thái Tổ thông báo cho
cả nước tin thắng của cuộc kháng chiến mười nắm chống giặc Với ngòi bút của Nguyến Trãi khi hào hùng, khi thống khiết, khi phẫn nộ, khi hùng tráng lẫm liệt nhưng vẩn luôn sang trọng Bắt đầu nhắc lại lịch sử vinh quang của của nước Đại Việt ta từ ngày giành quyền tự chủ tiếp tục trình bày nỗi nhục và sự chịu đựng đau khổ của cả nước trong những năm bị giặc xâm chiếm, kể lại đời sống của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn anh dũng, đã vượt qua muôn vàng khó khăn, gian lao trước khi đi đến thành công toàn thắng Cả bài Cáo đã toát lên được tinh thần chủ nghĩa nhân văn sáng suốt, tỉnh táo, mênh mông - ngay cả đối với kẻ thù khi chúng đã bị kiêt quệ Kết thúc bài Cáo là một khúc ca khải hoàn và một diễn vọng về ngày mai tươi sáng của một nước văn hiến Bài Cáo là một bản tuyên ngôn độc lập, một áng hùng văn bậc nhất trong lịch sử nước nhà “Bình Ngô Đại Cáo” đã phát triển một cách hệ thống chủ nghĩa yêu nước của Nguyễn Trãi.
Trang 35Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi chưa dừng ở đó, sau ngày Lê Thái
TÔ mất Nguyễn Trãi van ấp ủ hy vọng phò tá Lê Thái Tông trong việc xây dựng xây dựng nền thịnh trị của nước nhà Nguyễn Trãi còn để lại những bài tấu, bài biểu nhằm bồi dưỡng những người có quan chức đứng đầu trong nhà nước Xây dựng một chế độ tốt, đào tạo những người tôi có tư cách, tài năng, cần thiết cho nghiệp giúp vua, trị dân để đưa nước nhà tiến tới một đời sống chính trị, thái bình Những tác phẩm này phát biểu những quan điểm nhân nghĩa, cần kiệm của Nguyễn Trãi trong van đề trị quốc, yên dân.
Ngoài ra về văn phải kể đến những bài như: Chí Linh Sơn Phú, Băng hồ di
sự lục, Văn bia Vĩnh Lăng Cuốn Lam sơn thực lục do Nguyễn Trãi viết và Lam Sơn động chủ (Lê Lợi) đề tựa năm 1432, là tập ký sự về cuộc khởi nghĩa lam sơn và
cuộc kháng chiến quân Minh trường kì Những sự kiện lịch sử mà tác giả đã chứng kiến được trình bày một cách hệ thống với một lối văn súc tích, ngắn gọn và sinh
động, chứa chan tình cảm chân thành Trong Lam sơn thực lục có những đoạn ít
nhiều mang tính chất dân gian như lời sấm truyền báo trước việc Lê Lợi làm vua.
Nếu trong Lam Sơn thục lục là một bộ sách có tính chất sử học thì trong Dư địa chí
thì có giá trị về mặt địa lí, lịch sử và dân tộc học Trong Tác giả Nguyễn Trãi
trong nhà trường - NXB Văn học có nói: “về nội dung đây là một tập sách toát ý, rất ngắn gọn nhằm mục đích tóm tắt ngắn gọn cho nhà vua trẻ tuổi Lê Thái Tông, những kinh nghiệm cơ bản về lịch sử nước Việt Nam Trước khi nhà Lê thành lập,
về những chính sách đối ngoại của triều Lê là về địa lý của các khu vực chính trị và kinh tế của nước nhà trong trong thời gian này”[25; tr.39] Sách viết khoảng năm
1435, Nguyễn Trãi đã phỏng theo lối văn của Vũ Cống trong kinh thư nên sách “Dư địa chí” Tác giả trình bày địa thế núi sông, số khu vực hành chính và sự thay đÔi
tên của nước ta, tên các khu vực hành chính qua các thời đại, các sản vật, các nghề
nghiệp ở từng vùng Dư địa chí là bộ sách cô nhất ở nước ta viết về địa lý, nó thể
hiện niềm yêu mến quê hương, niềm tự hào về sông núi, về sự giàu có của đất nước.
* THƠ CA:
Bao gồm Ức Trai thi tập (chữ Hán), Quốc âm thi tập (chữ Nôm) Ức trai thi tập gồm ba quyển 105 bài thơ ngũ ngôn và thất ngôn Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi giàu chất chữ tình tả cảnh thiên nhiên như Mộ xuân tức sự, Hải khẩu hạ bạc hữu
Trang 36tâm tình: Côn sơn ca, Loạn hậu đáo côn sơn; tả ý chí: Đề hoàng ngự sử Mai tuyết hiên, thư cúc Pha
Ức Trai thi tập là một tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Trãi cũng là tập thơ hay vào bậc nhất của dòng thơ chữ Hán Việt Nam Tập thơ đã giúp người đọc hiểu thêm nhiều điều về thân thế, tâm hồn và tài năng của Nguyễn Trãi, đồng thời cũng đánh đấu bước chuyển của chặng đường thơ chữ Hán Việt Nam, từ thời Trần sang thời
Lê sơ Thơ của Nguyễn Trãi vừa kế thừa được những thành tựu thơ đời Trần, vừa dựa vào những nét mới riêng của ông và thời đại ông Trong quyển Thơ văn Nguyễn Trãi tác phẩm và dư luận, NXB Văn học của nhiều tác giả với bài viết
của Trần Thị Băng Thanh có nhận xét: “Ức Trai thi tập gần gũi với thời Trần mà lại mới mẻ Gần gũi vì không kể đề bài, đề tài đã trở thành cổ điển cho thơ chữ Hán nói chung như mạn thuật tức sự, ngẫn hứng, tùng, cúc, trúc mai ở đây người đọc còn gặp lại những chân lí, quan niệm đã được nhân dân ta xây dựng từ những thế
kỷ trước, gặp lại những cảnh, những người, những sự kiện lịch sử và đôi khi cả những mô típ nghệ thuật từng quen thuộc với thơ đời Trần”[14; tr.227] Đọc thơ
văn Nguyễn Trãi ta thấy trong đó là tấm lòng yêu nước thiết tha, ý thức về một quốc gia hoàn toàn đôc lập và tự chủ, ngang hàng với các nước khác Đó cũng là một tâm hồn có tình yêu với thiên nhiên của tổ quốc mà trong đó mỗi tấc đất, dòng sông, ngọn núi đều gắn liền với những trang lịch sử của dân tộc, vận mệnh của đất nước
và công sức khai phá, giữ gìn của người dân bao thế hệ Ở phần thơ chữ Hán này
Nguyễn Trãi “giữ lại” nét hào hùng, kiên nghị, khí phách của các nhà thơ lớn chống quân Nguyên thời trước Nguyễn Trãi cũng “giữ lại” tính triết lí sâu sắc mà
phóng khoáng táo bạo của tinh thần thiền đời thịnh Trần, đồng thời với sự tiếp thu nét ưu tú thương dân, băn khoăn về trách nhiệm kẻ sĩ của các nhà thơ cuối Trần mà nỗi bật hơn cả là Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh.
Ta bắt gặp một tấm lòng vững tin vào tiền đồ ủa dân tộc khi đã đuổi được
bọn giặc Minh ra khỏi bờ cõi đất nước Mừng trở về Lam Sơn:
Sóc tầm dĩ thanh kình lãng tức, Nam Châu vạn cổ cựu giang san
(Hạ quy Lam Sơn) (Yếu khí phương Bắc đã tan, sóng kình đã lặng Nam châu vẩn non nước xưa nghìn thuở )
Trang 37Đánh tan bọn xâm lược để giành lấy “non sông nghìn thuở” ấy ta cũng bắt
gặp trong trang thơ văn đời Trần Ở đây người đọc cũng bắt gặp niềm hân hoan vui sướng khi thấy bốn biển thanh bình.
“Hồ việt nhất gia kim hanh đỗ
Từ minh tong thử tức kình ba”
(Qua thần phù hải khẩu).
(Hồ Việt một nhà, nay may mắn được thấy, Bốn biển từ đây lặng sống kình.)
Tâm hồn yêu thương dân còn thể hiện trong những ngày cả nước chìm trong nỗi nhục mất nước, nhân dân đau khổ trong cảnh lầm than trong tư tưởng của nhà yêu nước ấy vẫn tồn tại một băn khoăn đó là làm thế nào để cứu lấy muôn họ và niềm vui ấy đã đến khi Nguyễn Trãi thấy được trăm họ sống trong cảnh thái bình.
Ức trai thi tập gần gũi với thơ thời Trần đó chính là mảng thơ về thiên nhiên.
Nguyễn Trãi đã viết về thiên nhiên với một vẻ thanh đạm, tuyệt đẹp như một bức tranh thủy mặc, êm đềm như một tâm hồn ẩn dật Ta thấy ở đó một giọng thơ hồng hòa và một sức sống kỳ diệu Ở những bậc tiền bối thời Trần như Trương Hán Siêu có ngòi bút nghiêm trang mà khỏe khoắn, siêu thoát mà chân chất của những cảnh chùa núi, cảnh chiều hôm của Trần Nhân Tông, cảnh sông hồ bát ngát và tươi tắn của Mạc Đỉnh Chi Cái đẹp của non sông đất nước trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi thường gắn chặt với những trang sử vẻ vang của dân tộc Chính trong thời đại của tác giả, thời đại mà đất nước đang chìm trong đàn áp, đô hộ của giặc Minh và chính cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đưa đất nước ra khỏi cảnh lầm than ấy Để đạt được những thành công ấy dưới sự lãnh đạo của những nhà chính trị, quân sự tài ba cùng với nhân dân Đại Việt những chiến công vang dội ấy được kết tinh bằng mồ hôi nước mắt, bằng máu, trí tuệ nghị lực của hàng triệu con người Chính họ đã viết lên một trang sử hào hùng và huy hoàng, để lại dấu ấn ngàn năm trong hàng ngũ các thế hệ sau Nguyễn Trãi đã biểu dương sự nghiệp ấy qua những lời thơ hùng tráng.
“ Quốc thù tãy tân thiên niêm sĩ Kim thủy chung táng van thế công Chỉnh đốn kiền khôn tùng thử hễu Thử đấm anh hùng dễ mấy ai”.
(Hận nước nghìn năm vừa rủa sạch
Trang 38Hòm vàng muôn thuở chắc không phai
Thử đấm anh hùng dễ mấy ai).
Những lời ca ngợi chiến thắng ấy đều hiển hiện dưới hình thức ca ngợi, tán tụng vua Lê Thái Tổ Trong tâm hồn thời đại Lê Lợi chính là nhân vật truyền kỳ đã thể hiện ước mong và ý chí độc lập của dân tộc Cuộc gặp gỡ của Lê Lợi và Nguyễn Trãi như một định mệnh sắp xếp, một mối duyên hội ngộ của một cái tôi tài chí, được một nhà vua anh minh tín nhiệm Đến ngay hòa bình lập lại Nguyễn Trãi đã thấy được một chân trời mới dang hé mở cho hoài bão vì nước vì dân của mình Nguyễn Trãi có thể viết:
“Thành tâm dục dữ dân hưu túc Văn trị trung tu tri thái bình”.
(Quân diệt thủy hận).
(Lòng vua muốn cùng nhân dân nghỉ ngơi Cuối cùng phải dùng văn trị mà xây dựng cảnh thái bình).
Nguyễn Trãi sống trong những ngày vui mừng và đầy hứa hẹn của một nước nhà vừa sống lại Vị công thần ấy luôn có một hoài bảo là cùng vua tôi xây dựng một vương triều mới vì hạnh phúc của nhân dân Nhưng chẳng bao lâu thất vọng đã đến với con người đã lên tới đỉnh cao của danh vọng và dang ấp ủ những hoài bảo cao cả Nguyễn Trãi bị thất sủng ngay từ thời Lê Thái Tổ và càng tệ hơn nữa ở thời
Lê Thái Tông Trong những lúc ấy trong tâm hồn Nguyễn Trãi cũng đã nảy sinh những ý nghĩ chua chát.
Nhưng không chính vì thế mà Nguyễn Trãi bi quan Dường như người bạn thơ thâm niên bao giờ cũng làm dịu lại tâm hồn của ông, đem đến cho tâm hồn
ông sự bình tỉnh và thanh thản Cuộc đời Nguyễn Trãi có nhiều đau buồn, “thắt nặng tâm tư” nhưng những sầu tư của ông không buồn bi lụy, chán trường mà có
chăng đó chính là cái tĩnh lặng, suy tư trong một tâm hồn yêu nước thương dân.
“Nhàn trung tận nhật bế thư trai, Môn ngoai toán vô tục khách lai.
Đỗ vã thanh trung xua hương lão, Nhất đính sơ vũ luyện hoa khai ”
Trang 39(Trong lúc nhàn nhã suốt ngày chép cửu phong văn Ngoài của không một khách tục nào tới.
Trong tiếng quốc kêu, xuân sắp tàn, Đầy sân mưa phùn nhẹ, khi hoa sen nở.)
Rõ ràng ta thấy cảnh vật ngày cuối xuân không đi đến xu hướng tàn lụi, bế
tắc Trong cái vắng lặng ấy một sự vật này đang tàn đi “xuân hướng lão”, màu xuân đang già đi, thì sự vật khác lại nảy nở, khỏe khoắn “nhất đình sơ vũ luyện hoa khai”
Yêu thương dân, suốt dời lo nghĩ thực hiện một phương sách tề nước, trị dân yên là một nét lớn trong tác phẩm chính trị của Nguyễn Trãi Thơ ông cũng là một đặc điểm mới so với thơ đời Trần Ở thời Trần, Minh Tông đã từng nói đến dân:
“Sinh dân nhất thị ngã bào đồng
Vị vương hủ phí nhuận thanh hồng.”
(Dân chúng đều là đồng bào của ta
Nỡ lòng nào khiến bốn bể khốn cùng Tướng Tiêu Hà đã hiểu ý đã hiểu ý Hán cao tổ
Đã phí tiền trang điểm xanh, đỏ cung Vị Vương).
Nhưng Minh tông chỉ dừng lại ở ý đừng bắt dân khốn cùng vì việc xây dựng cung điện xa hoa Trần Nguyên Đán tiến thêm một bước: yên dân lo cho dân nhưng đến khi mùa màng thất bát:
“Niên lai hạ han hưu thu lâm Hoa cỏ miêu thướng hại chuyển thâm Tam vạn quyển thư vô dụng xứ Bạch đầu không phụ ai dân tâm ”
(Nhâm Dần niên lục Nguyệt tác).
(Mấy năm nay hết màu hè hạn lại mùa thu mưa dầm Lúc khô, ma thúi tai hại càng nhiều
Đọc ba vạn quyển sách mà chẳng biết dùng được vào đâu
Trang 40Đến lúc bạc đầu chỉ âm xuông tấm lòng yêu dân.)
Nhưng chỉ đến Nguyễn Trãi, quan niệm về dân mới toàn diện, sâu sắc Ông
thấy rõ vai trò của người “cùng dân ” trong việc dựng nước và giữ nước Ông thông
cảm với từng cảnh người dân trong chiến tranh loạn lạc.
“Thần châu nhất tự khỡi câm qua Vạn tính ngao ngao khã nại hà ”
nói được rõ như phần thơ chữ Nôm và trong văn chính luận, nhưng lòng “lo trước” của ông chính là vì nhưng người “dân đen”: “Thương sinh tại niệm độc tiên sư”
(Mạn hứng, bài 2) Và đó là một ý nghĩ thường trực trong thơ Nguyễn Trãi Đọc Ức Trait hi tập có thể hình dung khá rõ Nguyễn Trãi là một con người đằm thắm trong tình cảm gia đình, bè bạn; sâu nặng trong nghĩa nước tình dân; phóng khoáng và hòa mình vào thiên nhiên; thanh đạm và nhàn dật Nét đặc trưng cơ bản của thơ Nguyễn Trãi đó là sự bộc lộ mình chân thành, tha thiết .Tất cả những nét riêng và chung đó chứng tỏ Ức Trai thi tập không đứt đoạn với truyền thống thơ chữ Hán các triều đại trước mà là bước kế tục, phát triển là một đỉnh cao.
“Quốc âm thi tập”, bao gồm 253 bài và chia làm bốn phần như sau: Vô đề:192 bài; Thời lệnh môn (đề tài và thời tiết, khí hậu, cảnh sắc bốn mùa):21 bài; Hoa mộc môn (đề tài về các loại hoa cỏ, thảo mộc): 33 bài; Cầm thú môn (đề tài về các loại chim muông):7 bài.
Nhiều bài trong “Quốc âm thi tập” có tính giáo huấn luân lý rõ rệt Tất nhiên
đây là nền luân lý Nho giáo trong xã hội phong kiến xưa với khung cảnh sinh hoạt gia đình, thôn dã Tác giả đưa ra những bài học ăn ở cho người ta Trong gia tộc thì “Có tông, có tộc mạ sơ thay