1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và ASEAN

27 1,2K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 274,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi gia nhập ASEAN Hơn 10 năm kể từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã để lại ấn tượng khá tốt đẹp đối với các nước ASEAN không chỉ về thành tựu phát triển kinh tế nhất là trong lĩnh vự

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN

BỘ MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ



Bài tiểu luận:

TP.HCM Ngay 19/06/2009

Trang 2

Lời nói đầu

Trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta không thể phát triển nếu không thực sự hòa nhập vào sự phát triền chung của khu vực và Thế Giới

Với tư cách là một nước độc lập, đang phát triển, nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các nước Đông Nam Á ( The Association of Southeast Asian Nations- ASEAN ) từ ngày 28 tháng 7 năm 1995 , tạo cơ hội cho nước ta có thêm cơ hội thuận lợi để thúc đẩy nhanh hơn quá trình hội nhập và tham gia phân công lao động quốc tế của mình

Tuy nhiên, điều đó không chỉ có lợi mà còn là một sự thách thức đối với nền kinh tế nước ta, vì tham gia ASEAN, không chỉ có sự hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực mà còn có cả cạnh tranh

Hợp tác Việt Nam-ASEAN là một sự hợp tác nhiều mặt, nhiều lĩnh vực: thương mại, dịch vụ, đầu tư, công nghiệp, tài chính, ngân hàng, sở hữu trí tuệ

Trong phạm vi bài tiểu luận này, chúng em hướng vào nghiên cứu

“mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và ASEAN” Do nguồn tài liệu thì phong phú nhưng năng lực chúng em có hạn, mong thầy đóng góp ý kiến

để chúng em hoàn thiện bài tiểu luận này

Xin chân thành cảm ơn thầy!!

Trang 3

Mục lục

Lời mở đầu 1

Mục lục 2

I Khái quái quát 3

1/Quá trình hình thành 3

2/Mục tiêu hoạt động 4

3/Nguyên tắc hoạt động 4

II Nội dung 5

1/Giới thiệu tình hình kinh tế của Việt Nam 5

a.Trước khi gia nhập 5

b.Sau khi gia nhập 5

2/ Quan hệ giữa các thành viên của ASEAN với Việt Nam 7

a.Đầu tư 7

-Đầu tư từ các nước thành viên ASEAN vào Việt Nam 7

-Đầu tư từ Việt Nam vào các nước thành viên ASEAN 10

b.Tình hình xuất nhập khẩu 11

- Về tình hình xuất khẩu 11

- Về tình hình nhập khẩu 14

c Viện trợ phát triển chính thức(ODA) 15

3/ Tác động của ASEAN đối với Việt Nam 17

a.Thuận lợi 17

b.Khó khăn 19

c.Vị thế của Việt Nam trong ASEAN 21

d.Thách thức 22

III Ý nghĩa của việc Việt Nam gia nhập ASEAN 23

Lời kết 24

Tài liệu tham khảo 25

Mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và

ASEAN

Trang 4

I Khái quát chung

1 Quá trình hình thành.

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam á (Association of Southeast Asian

Nations-ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng-cốc, Thái Lan, đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực

ASEAN ra đời trong bối cảnh có nhiều biến động đang diễn ra trong khu vực

và trên thế giới, bao gồm cả những thay đổi từ bên ngoài tác động vào khu vực cũng như những vấn đề nảy sinh từ bên trong mỗi nước Để đối phó với các thách thức này, xu hướng co cụm lại trong một tổ chức khu vực với một hình thức nào đó để tăng cường sức mạnh bản thân đã xuất hiện và phát triển trong các nước thành viên tương lai của ASEAN

Khi mới thành lập ASEAN gồm 5 nước là Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Singapore

và Thái Lan Năm 1984, ASEAN kết nạp thêm Bru-nây làm thành viên thứ 6 Ngày 28/7/1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội Ngày 23/7/1997, kết nạp Lào và Mianma Ngày 30/4/1999, Campuchia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN, hoàn thành ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam á, một

ASEAN của Đông Nam Á và vì Đông Nam Á

Các nước ASEAN (trừ Thái Lan) đều trải qua giai đoạn lịch sử là thuộc địa của các nước phương Tây và giành được độc lập vào các thời điểm khác nhau sau Chiến tranh thế giới thứ hai Mặc dù ở trong cùng một khu vực địa lý, song các nước ASEAN rất khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hoá, tạo thành một sự đa dạng cho Hiệp hội

ASEAN có diện tích hơn 4.5 triệu km2 với dân số khoảng 575 triệu người; GDP khoảng 1281 tỷ USD và tổng kim ngạch xuất khẩu 750 tỷ USD Các nước ASEAN có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và hiện nay đang đứng hàng đầu thế giới về cung cấp một số nguyên liệu cơ bản như: cao su (90% sản lượng cao su thế giới); thiếc và dầu thực vật (90%), gỗ xẻ (60%), gỗ súc (50%), cũng như gạo, đường dầu thô, dứa Công nghiệp của các nước thành viên ASEAN cũng đang trên đà phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực: dệt, hàng điện tử, hàng dầu, các loại hàng tiêu dùng Những sản phẩm này được xuất khẩu với khối lượng lớn và đang thâm nhập một cách nhanh chóng vào các thị trường thế giới ASEAN là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với các khu vực khác trên thế giới, và được coi là tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển

Tuy nhiên mức độ phát triển kinh tế giữa các nước ASEAN không đồng đều Mianma hiện là nước có thu nhập quốc dân tính theo đầu người thấp nhất trong ASEAN, chỉ vào khoảng hơn 200 USD Inđônêxia là nước đứng đầu về diện tích và dân số trong ASEAN, nhưng thu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ vào khoảng trên 600 USD Trong khi

đó, Singapore và Brunây là hai quốc gia nhỏ nhất về diện tích (Singapore ) và về dân số (Brunây) lại có thu nhập theo đầu người cao nhất trong ASEAN, vào khoảng trên 30.000 USD/năm

Ở các nước ASEAN đang diễn ra quá trình chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá Nhờ chính sách kinh tế “hướng ngoại”, nền ngoại thương ASEAN đã phát triển nhanh chóng, tăng gần năm lần trong 20 năm qua, đạt trên 160 tỷ USD vào đầu những năm 1990 (nay là 750 tỷ USD) ASEAN cũng là khu vực ngày càng thu hút nhiều vốn đầu tư của thế giới Nếu năm 2005, tổng số vốn đầu tư mà ASEAN thu hút

Trang 5

được tăng 16,9% so với năm 2004, thì năm 2006, tổng số vốn đầu tư đã tăng 27,5%.

ở Đông Nam á (Hiệp ước Ba-li), kí tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ I tại Ba-li năm

-Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

-Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thân thiện;

-Không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực;

-Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả

Nguyên tắc điều phối hoạt động

Việc quyết định các chính sách hợp tác quan trọng cũng như trong các lĩnh vực quan trọng của ASEAN dựa trên nguyên tắc nhất trí (consensus), tức là một quyết định chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua Nguyên tắc này đòi hỏi phải có quá trình đàm phán lâu dài, nhưng bảo đảm được việc tính đến lợi ích quốc gia của tất cả các nước thành viên Đây là một nguyên tắc bao trùm trong các cuộc họp và hoạt động của ASEAN

Một nguyên tắc quan trọng khác chi phối hoạt động của ASEAN là nguyên tắc bình đẳng Nguyên tắc này thể hiện trên 2 mặt Thứ nhất, các nước ASEAN, không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều bình đẳng với nhau trong nghĩa vụ đóng góp cũng như chia xẻ quyền lợi Thứ hai, hoạt động của tổ chức ASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên, tức

là các chức chủ toạ các cuộc họp của ASEAN từ cấp chuyên viên đến cấp cao, cũng như địa điểm cho các cuộc họp đó được phân đều cho các nước thành viên trên cơ sở luân phiên theo vần A,B,C của tiếng Anh

Để tạo thuận lợi và đẩy nhanh các chương trình hợp tác kinh tế ASEAN , trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 ở Singapore tháng 2/1992, các nước ASEAN đã thoả thuận nguyên tắc 6-X, theo đó hai hay một số nước thành viên ASEAN có thể xúc tiến thực hiện trước các dự án ASEAN nếu các nưóc còn lại chưa sẵn sàng tham gia, không cần phải đợi tất cả mới cùng thực hiện

II Nội dung

1 Tình hình kinh tế của Việt Nam

a.Trước khi gia nhập ASEAN

Trang 6

Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng thì hậu quả của cuộc chiến tranh để lại hết sức nặng nề, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, kẻ thù lại ra sức bao vây cấm vận kinh tế nước ta, thiên tai lũ lụt lại xảy ra nhiều, tình hình kinh tế xã hội ở thời kỳ hậu chiến rất phức tạp… Đứng trước tình hình đó nhiệm vụ trước mắt của nhân dân ta là phải nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời củng cố quốc phòng, bảo vệ thành quả của cách mạng.

Trước những sai lầm về đường lối lãnh đạo và tình hình khủng hoảng kinh tế lúc đó Đại hội lần thứ VI của Đảng dã được triệu tập vào tháng 12-1986 Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Thay đổi cách thức lãnh đạo của nhà nước,đặc biệt là đổi mới nền kinh tế : Phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Xoá bỏ

cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, lâý lợi ích vật chất để khuyến khích sản xuất Xây dựng các kế hoạch từng bước đưa nước ta theo con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa

Kế hoạch năm 5 (1986-1990) : trong những năm 1986-1990 tập trung sức người, sức của để thực hiện 3 chương trình: Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Mở rộng kinh tế đối ngoại và hợp tác quốc tế, hội nhập quốc tế

Kế hoạch 5 năm (1991-1995) : mục tiêu tổng quát trong thời kỳ này là ổn định tình hình kinh tế - xã hội và chính trị, sớm thoát ra khỏi tỉnh trạng khủng hoảng và lạm phát, tạo tiền đề đẩy nhanh sự phát triển trong giai đoạn tiếp theo

Sau những nỗ lực để thực hiện những kế hoạch đề ra nền kinh tế trong thời kỳ này cũng đật được những thành tựu đáng kể : nền kinh tế tăng trưởng nhanh, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng bình quân 8,2%/ năm, công nghiệp 13,3%, nông nghiệp 4,5% Xuất khẩu đạt 17 tỉ USD Quam hệ mậu dịch mở rộng ra hơn 100 nước ngoài Vốn đầu tư nước ngoài tăng 50%/năm

Từ những thành tựu đạt được bước đầu, mặc dù còn nhiều hạn chế và thiếu sót, nèn kinh tế vẫn cồn khó khăn.Nhưng chứng tỏ, đường lối của đảng, nhà nước ta cơ bản là đúng đắn Từ đó, tạo tiền đề cho nước ta tham gia các tổ chức trong khu vực và trên thế giới

b Sau khi gia nhập ASEAN

Hơn 10 năm kể từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã để lại ấn tượng khá tốt đẹp đối với các nước ASEAN không chỉ về thành tựu phát triển kinh tế (nhất là trong lĩnh vực tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo) mà còn trong việc thực hiện cam kết hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

Từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã thực hiện lộ trình AFTA, tích cực chủ động tham gia mọi chương trình hợp tác kinh tế của ASEAN, phù hợp với quyền lợi của đất nước Từ năm 1995 đến nay, Việt Nam đã đưa vào danh sách CEPT 4.233 mặt hàng, chiếm 67% trong tổng số 6.332 mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu ưu đãi MFN

Tháng 2/2001, Chính phủ Việt Nam đã công bố lịch trình tổng thể cắt giảm thuế theo Hiệp định CEPT cho đến 1/1/2006 là thời điểm hội nhập đầy đủ vào AFTA Việt Nam cũng tham gia ký kết Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) ngày

7/10/1998, với mục tiêu tạo ra một khu vực đầu tư tự do trong nội bộ các nước ASEAN vào năm 2010 và cho các nước khác ngoài ASEAN và năm 2020

Việt Nam tham gia ký và thực hiện khá tốt Hiệp định khung về Khu vực tự do hóa mậu dịch ASEAN (AFAS), về “Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN" (AICO), về

"Sáng kiến hội nhập" (IAI), đã chủ động đưa ra và tích cực thực hiện Chương trình hợp

Trang 7

tác phát triển Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS), trong đó có dự án xây dựng các hành lang kinh tế, nhất là hành lang kinh tế Đông-Tây, hành lang lưu thông Côn Minh-Hà Nội-Hải Phòng

Có thể khẳng định rằng, về hợp tác và liên kết khu vực nói chung, và kinh tế nói riêng, Việt Nam đã chủ động đưa ra nhiều sáng kiến, đề xuất, được các nước ASEAN đánh giá cao

Về quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam và các nước trong ASEAN từ thập niên 1990, nhất là từ sau khi Việt Nam vào ASEAN năm 1995, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt trên 20% Năm 1994, tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN chiếm tỉ trọng 21%, đến đầu những năm 2000 chiếm trên 25%

Về đầu tư, đến tháng 6/1995, các nước trong ASEAN đầu tư vào Việt Nam gần 200

dự án với tổng số vốn pháp định trên 2 tỉ USD, chiếm 15% FDI vào Việt Nam thời điểm

đó Đến năm 2004, các nước khác trong ASEAN đã đầu tư trên 600 dự án với tổng số vốn đăng ký trên 10 tỉ USD, chiếm 27% FDI vào Việt Nam.Tính đến hết tháng 5/2007, khu vực ASEAN có 1.179 dự án đầu tư được cấp phép tại Việt Nam, với tổng vốn trên 16

tỷ USD.Trong số này, Xinhgapo vẫn giữ vị trí dẫn đầu với 474 dự án và 9,07 tỷ USD còn hiệu lực, đứng thứ hai trong tổng số 78 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam; tiếp theo là Malaixia với 219 dự án và 1,7 tỷ USD, đứng thứ 10

Không chỉ hội nhập kinh tế với ASEAN, Việt Nam cùng các nước này mở rộng không gian hợp tác kinh tế với các nước Đông Á (ASEAN+3), với các nước EU trong khuôn khổ ASEM, với các nước Châu Á-Thái Bình Dương trong khuôn khổ APEC.Trong 10 năm qua, Việt Nam luôn phấn đấu phát triển kinh tế đạt tốc độ cao với tỷ lệ tăng trưởng trung bình khoảng 7% Tuy vẫn còn là nước nghèo, nhưng Việt Nam đã rút ngắn được một chút khoảng cách tụt hậu về kinh tế so với các nước ASEAN 6 (Thái Lan, Xinhgapo, Malaixia, Inđônêxia, Philíppin, Brunây) Từ năm 1994 đến nay, Việt Nam đã rút ngắn khoảng cách GDP/đầu người so với các nước trong khu vực (so với Xinhgapo từ 17,1 lần xuống còn 15 lần, với Malaixia từ 5 lần xuống còn 4,2 lần, với Thái Lan từ 4,4 lần xuống còn 3,4 lần, với Philippin từ 2,5 lần xuống còn 1,9 lần, với Inđônêxia từ 2,3 lần xuống còn 1,7 lần)

Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

tỷ trọng các ngành kinh tế khu vực I (nông, lâm, ngư nghiệp) giảm đáng kể, năm 2004 còn 21,76%; khu vực II (công nghiệp, xây dựng) 40,09%; khu vực III (thương mại, dịch vụ) 38,15% Đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt; chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo đã được những thành tựu đáng kể và được cộng đồng quóc tế ghi nhận

Những thành tựu đó đạt được của Việt Nam trong quá trình hội nhập ASEAN là đáng ghi nhận Sự hội nhập đó đã mở ra cơ hội cho Việt Nam tiếp cận với những vấn đề quan trọng nhất của đời sống kinh tế và hợp tác quốc tế, tạo ra những khả năng mới để tăng cường hợp tác đa phương, song phương cùng có lợi với các nền kinh tế lớn vốn là những bạn hàng thương mại và nguồn đầu tư quan trọng của Việt Nam Là thành viên bình đẳng trong ASEAN, hy vọng trong thời gian tới quan hệ kinh tế Việt Nam - ASEAN trên mọi lĩnh vực sẽ được nâng lên tầm cao mới, tương xứng với tiềm năng vốn có của nó

2 Quan hệ giữa các nước thành viên ASEAN với Việt Nam

a.Đầu tư

●Đầu tư từ các nước thành viên ASEAN vào Việt Nam

Trang 8

Các nước ASEAN tuy xuất hiện muộn trên thị trường đầu tư Việt Nam nhưng đã có bước tiến khá dài Từ một số dự án mang tính chất thăm dò thị trường trong đó đi tiên phong là Singapore, Thái Lan, Indonexia vào những năm 1990, dòng vốn này thật sự khởi sắc vào năm 1995 với tổng số 230 dự án và trên 3 tỷ USD.

Đặc biệt, ngay sau khi Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA), tháng 1/1996, tốc độ vốn đầu tư đã tăng nhanh chóng, đạt tới 7,8 tỷ USD vào giữa năm 1997

Tuy nhiên, tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997 đã khiến dòng vốn đầu tư vào Việt Nam của các quốc gia này giảm sút mạnh chỉ trừ Singapore là vẫn giữ được “phong độ”

Giai đoạn từ cuối năm 2000 đến nay được coi là thời kì phục hồi dòng vốn đầu tư từ ASEAN vào Việt Nam Theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài (Bộ kế hoạch và đầu tư), tính đến hết tháng 5/2007 khu vực ASEAN có 1.179 dự án đầu tư được cấp phép tại Việt Nam, với tổng số vốn trên 16 tỷ USD

Singapore

Mặc dù dòng vốn đầu tư từ ASEAN vào Việt Nam qua vẫn còn hạn chế song nguồn vốn này từ các nhà đầu tư Singapore đỗ vào Việt Nam vẫn luôn duy trì dẫn đầu so với sự gia tăng cả về số dự án và vốn đầu tư

Hiện nay, hầu hết các thành viên ASEAN đã có đầu tư vào Việt Nam (trừ Myanmar) Theo số liệu của cục đầu tư nước ngoài (Bộ kế hoạch và đầu tư) trong 7 tháng đầu năm

2007, Singapore đã có 44 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn trên 1,3 tỷ USD Kết quả này đã đưa Singapore đứng vị trí thứ hai trong tổng

số 79 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam

Chất lượng của các dự án đầu tư của Singapore vào Việt Nam cũng cải thiện rõ rệt so với các nhà đầu tư khác Quy mô vốn bình quân mỗi dự án từ Singapore đạt 18,7 triệu USD, cao hơn mức bình quân của các dự án trên toàn quốc, thậm chí gấp 2-3 lần so với quy mô vốn bình quân mỗi dự án của một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác như: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Malaysia…

Thống kê của cục đầu tư nước ngoài cho thấy, hiện các nhà đầu tư Singapore có mặt hầu hết các ngành kinh tế của Việt Nam, từ thăm dò, khai thác dầu khí, sản xuất công nghiệp tới chế biến nông-lâm-thủy hải sản, nhưng tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực dịch vụ với 207 dự án đầu tư và tổng số vốn đầu tư là 5,5 tỷ USD chiếm 60,7% tổng vốn đăng kí Tiếp đó là lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với 230 dự án đầu tư với tổng số vốn là 3,3

tỷ USD chiếm 36,4% tổng vốn đăng kí Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-nghiệp.Hiện nay nhiều dự án đầu tư của Singapore đang hoạt động tại Việt Nam rất hiệu quả, trong đó phải kể tới dự án Khu công nghiệp Việt Nam-Singapore Đây là công trình hợp tác của chính phủ Việt Nam và Singapore được hình thành trên ý tưởng của nguyên Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt và nguyên thủ tướng Singapore Goh Chok Tong

Đến nay, KCN đã triển khai xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng của cả 3 giai đoạn với tổng diện tích khoảng 600ha Theo ban quản lí KCN Việt Nam-Singapore, sau 10 năm hoạt động, doanh nghiệp đã thu hút 250 dự án đầu tư với tổng số vốn 1,7 tỷ USD và lấp đầy 97% diện tích đất nông nghiệp theo quy hoạch, trong đó 165 dự án đã triển khai hoạt động, 30 dự án đang xây dựng và lắp đặt máy móc thiết bị với tổng vốn đầu tư thực hiện khoảng 820 triệu USD, số còn lại đang trong giai đoạn hoàn tất các thủ tục sau giấp phép Tính tới nay KCN này cũng tạo ra tổng doanh thu 3,25 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 1,62 tỷ USD Hiện nay, ban quản lý sẽ tiếp tục mở rộng KCN Việt Nam - Singapore

Trang 9

II và đầu tư thêm 2 KCN tại tỉnh Bắc Ninh và Hà Nam để thu hút các nhà đầu tư trong giai đoạn hậu WTO Cụ thể, mới đây Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý chủ trương cho Công ty Liên doanh TNHH Việt Nam - Singapore đầu tư xây dựng KCN,

đô thị và dịch vụ tại tỉnh Bắc Ninh Theo đó, KCN, đô thị và dịch vụ Việt Nam -

Singapore có tổng diện tích khoảng 700ha, trong đó diện tích KCN là 500ha, diện tích khu đô thị và dịch vụ là 200ha Chính phủ cũng bổ sung KCN Việt Nam - Singapore với diện tích trên vào Danh mục các KCN dự kiến ưu tiên thành lập mới đến năm 2015.Theo đánh giá của Cục Đầu tư nước ngoài, thời gian gần đây, các nhà đầu tư

Singapore đang quan tâm lớn đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng của Việt Nam với một lượng vốn khá lớn đổ vào các dự án xây dựng nhà ở, văn phòng, khách sạn

Malaysia

Tiếp theo là Malaysia với 219 dự án và 1,7 tỷ USD tổng vốn đầu tư, đứng thứ 10 trong 78 nước và lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam và đứng thứ tư trong các nước ASEAN đầu tư vào Việt Nam Các dự án của Malaysia chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công

nghiệp với 140 dự án và với tổng số vốn đầu tư đăng kí là 1,19 tỷ USD; tiếp theo đó là lĩnh vực dịch vụ với 47 dự án, tổng số vốn đầu tư đăng kí là 336 triệu USD; lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp có 32 dự án và tổng số vốn đầu tư đăng kí là 208 triệu USD

Tuy nhiên, đầu tư của Malaysia vào Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hợp tác của hai nước, phần lớn các dự án đầu tư của Malaysia vào Việt Nam là các ự án

Indonesia

Indonesia có 13 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư đạt 130 triệu USD; trong đó các dự án của Indonesia tập trung vào lĩnh vực công nghiệp với 11 dự án và 73,8 triệu USD (chiếm 56% tổng vốn đầu tư của Indonesia); 3 dự án trong lĩnh vực dịch vụ với 63,7 triệu USD; không có dự án trong lĩnh vực nông nghiệp

Brunei

Brunei có 37 dự án với tổng vốn đầu tư đạt 125 triệu USD Cũng giống như hai nước trên, đầu tư của Brunei chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp với 31 dự án và 116 triệu USD vốn đầu tư (chiếm 92% tổng vốn đầu tư của Brunei) Nông nghiệp và dịch vụ chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ với 5 dự án và 9,6 triệu USD trong lĩnh vực nông nghiệp và 1 dự án với 120.000 USD trong lĩnh vực dịch vụ

Thái Lan

Đầu tư của Thái Lan vào Việt Nam đã tăng nhanh trong thời gian gần đây Hiện nay, với 153 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng kí là 1,54 tỉ USD, Thái Lan đứng thứ 12 trong tổng số 79 nước và vùng lãnh thổ và đứng thứ 3 trong số các nước ASEAN đầu tư vào Việt Nam

Trang 10

Các dự án của Thái Lan tập trung chủ yếu vào xây dựng hạ tầng cơ sở cho khu công nghiệp, trung tâm đô thị mới tại Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội và TP.HCM Theo Cục Đần Tư nước ngoài (Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư), gần 67% các dự án của Thái Lan tại Việt Nam là 100% vốn nước ngoài, chiếm 56% số vốn đăng kí và 27,6% các dự án là các công

ty liên doanh, chiếm 43% vốn đăng kí

Lào

Tính đến tháng 12/2008, Lào có 7 dự án đang hoạt động tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký gần 17 triệu USD, trong đó đã thực hiện được khoảng 5,5 triệu USD, tập trung vào các lĩnh vực: Bưu điện, Giao thông vận tải

Các công trình của Lào đầu tư tại Việt Nam mặc dù quy mô chưa lớn, nhưng bước đầu đã xuất hiện, đóng góp một phần vào việc tăng cường tiềm lực kinh tế của mỗi bên

Campuchia

Tính đến 20/12/2005, Campuchia có 4 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với số vốn 4 triệu USD, đứng thứ 59 trong tổng số 74 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Năm

2008, Campuchia không có thêm dự án đầu tư mới vào Việt Nam

Biện pháp thu hút đần tư

Để thu hút hơn nữa đầu tư của các nước trong khu vực, đặc biệt là những đối tác tiềm năng, các cơ quan chức năng của Việt Nam đang thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng trong việc rà soát, phân loại các dự án từ các quốc gia ASEAN để có biện pháp hỗ trợ, giải quyết triệt để các khó khăn đặt ra trong quá trình đầu tư như thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng…

Cụ thể trong trường hợp của Singapore, việc thúc đẩy các dự án đã được cấp phép triển khai thực hiện sớm đang là ưu tiên của Chính phủ Hiện hai bên cũng đang xúc tiến điều chỉnh “Cơ chế chấp thuận nhanh trong cấp Giấy chứng nhận đầu tư” giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam và Cơ quan Phát triển kinh tế Singapore để phù hợp với điều kiện mới

Đối với Malaysia, chính phủ hai nước đã thông qua cơ quan quản lí hoạt động FDI tiếp tục hỗ trợ các dự án đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư ngưng đang gặp khó khăn trong quá trình hoạt động

Chúng ta chủ trương xúc tiền đầu tư từ Malaysia vào Việt Nam trong một số lĩnh vực như dầu khí, luyện kim, hóa chất, xây dựng khách sạn, khu đô thị mới, sản xuất đồ gia dụng, chế biến gỗ, chế biến thực phẩm, chế biến, nuôi trồng hải sản, giáo dục, đào tạo, kể

cả đào tạo ngắn hạn để cung cấp lao động sang Malaysia

Về đối tác đầu tư, ngoài các công ty Malaysia, hướng vận động đầu tư vào tập đoàn lớn đang đầu tư tại Makaysia nhằm đưa Việt Nam vào hệ thống sản xuất trong khu vực của các công ty đa quốc gia, các tập đoàn lớn đang được các ban ngành của Việt Nam hết sức chú ý

Mặt khác, trong thời gian tới, một biện pháp nữa đang được triển khai nhằm thúc đẩy hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên là khuyến khích và hỗ trợ đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam sang các nước ASEAN thông qua đại diện ngoại giao tại các nước ASEAN bằng hình thức hội thảo, trao đổi thông tin của doanh nghiệp các nước hoặc tổ chức các đoàn doanh nghiệp hai nước đi khảo sát thị trường lẫn nhau

●Đầu tư từ Việt Nam vào các nước thành viên ASEAN

Tính đến tháng 12 năm 2008, qua gần 20 năm thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài, Việt Nam có 368 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư

Trang 11

đăng ký hơn 4,39 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 1,2 tỷ USD, chiếm 27% tổng vốn đăng ký.

Quy mô vốn đầu tư bình quân 11,9 triệu USD/dự án và tăng dần qua từng giai đoạn, điều này cho thấy tác động tích cực của khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam cũng như sự trưởng thành về mọi mặt của doanh nghiệp nhà nước tham gia vào hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Các quốc gia tiếp nhận đầu tư của các Việt Nam chủ yếu là Lào, Camphuchia và Malaysia

Lào

Lào là quốc gia dẫn đầu về đầu tư Việt Nam ra nước ngoài Tính đến tháng 12/2008, Việt Nam và Lào đã có 142 dự án đầu tư tại Lào với tổng giá trị hơn 758.609.396 USD Trong đó, phía Việt Nam đầu tư 91 dự án 100% vốn ( chiếm 42% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài) và 51 dự án liên doanh với Lào

Các dự án đầu tư của Việt Nam sang Lào tập trung nhiều nhất trong lĩnh vực công nghiệp với 77 dự án, tổng vốn đầu tư là 1,05 tỷ USD (chiếm 52,7% số dự án và 69% vốn đầu tư); tiếp theo là lĩnh vực Nông-Lâm nghiệp với 47 dự án (chế biến gỗ, trồng và khai thác mủ cao su), tổng vốn đầu tư là 427,2 triệu USD (chiếm 32% số dự án và 28% vốn đầu tư); lĩnh vực Dịch vụ có 22 dự án với tổng vốn đầu tư là 44,9 triệu USD (chiếm 15%

Các nhà đầu tư Việt Nam đã tập trung vào những lĩnh vực như thủy điện, khai khoáng

và viễn thông, với nhiều dự án lên đến hàng trăm triệu USD

Việc các nhà đầu tư Việt Nam đẩy mạnh đầu tư vào Campuchia trong những năm qua đã giúp quan hệ hợp tác thương mại giữa hai nước tăng nhanh: năm 2001, kim ngạch thương mại giữa hai nước chỉ ở con số 184 triệu USD, đến năm 2006 đã tăng lên 940 triệu USD; và năm 2007, tăng lên mức kỷ lục là hơn 1,1 tỷ USD

Biện pháp đẩy mạnh đần tư ra nước ngoài

Đầu tư ra nước ngoài là xu hướng tất yếu, khách quan của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Để thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài thì:

-Nhà nước khẩn trương xây dựng đề án về cơ chế hỗ trợ, khuyến khích để thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp trong nước theo chỉ đạo của Thủ tướng Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư và nghiên cứu thị trường, luật pháp, chính sách, tìm hiểu môi trường và cơ hội đầu tư để hướng các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư

có hiệu quả tại những thị trường này

-Trong thời gian tới các cơ quan chuyên môn sẽ trình Chính phủ việc phân cấp quản

lý đầu tư ra nước ngoài để các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài dễ hoạt động Đồng

Trang 12

thời yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ làm cơ sở đánh giá tình hình thực hiện các dự án đầu tư ra nước ngoài để có chính sách phù hợp, kịp thời

về phía cơ quan quản lý nhà nước sẽ liên tục tổ chức thu thập thông tin về môi trường đầu

tư tại các nước để cung cấp cho các doanh nghiệp trong nước đang có ý định đầu tư ra nước ngoài về như: chính sách thu hút đầu tư, các dự án kêu gọi đầu tư, luật pháp chính sách liên quan đến hoạt động đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tiềm năng và cơ hội đầu tư trong một số ngành, lĩnh vực cụ thể tại nước mà doanh nghiệp Việt Nam muốn đầu tư vào Công bố thông tin về các dự án đầu tư cụ thể đã được Chính phủ Việt Nam ký với nước ngoài

-Nhà nước sẽ hỗ trợ nguồn vốn đầu tư cho những dự án thực hiện tại nước ngoài mà

có tác động tới sự phát triển kinh tế của nước ta như: dự án điện để xuất khẩu điện về Việt Nam, dự án khai thác khoáng sản để thay thế nhập khẩu phục vụ sản xuất chế biến trong nước

b.Tình hình xuất nhập khẩu

Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, với những tác động tích cực từ chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước theo hướng thị trường, mở cửa và hội nhập kinh tế, năng lực sản xuất của nền kinh tế đã được giải phóng, lực lượng sản xuất trong nước phát triển mạnh mẽ Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng tích cực, dần dần từ sản xuất nhằm thay thế hàng nhập khẩu sang sản xuất nhằm mục đích xuất khẩu Sản xuất hàng xuất khẩu đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm hàng hóa Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là tư liệu sản xuất phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu Thị trường xuất - nhập khẩu cũng tăng trưởng nhanh theo hướng đa dạng hóa

Đi đôi với quan hệ hợp tác đầu tư, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước

ASEAN cũng không ngừng phát triển, đặc biệt là kim ngạch trao đổi thương mại tăng lên nhanh chóng Đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam cũng như các nước thành viên ASEAN

Đá quý, kim loại & sản phẩm: kim ngạch mặt hàng này trong 4 tháng đầu năm nay là

1,00 triệu USD với thị trường nhập khẩu thuộc ASEAN duy nhất là Thái Lan

Dầu thô: xuất khẩu đạt 1,2 triệu tấn, giá trị xuất khẩu dầu thô là 834 triệu USD Thị

trường nhập khẩu: Singapore: 1,16 triệu tấn, Malaysia: 942 nghìn tấn, Thái Lan: 196 nghìn tấn và Indonesia: 74,90 nghìn tấn

Than đá: lượng xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2009 là 264,74 nghìn tấn với giá trị xuất

khẩu 25,82 triệu USD Với thị trường xuất khẩu: Thái Lan: 163 nghìn tấn, Indonesia: 52,74 nghìn tấn, Lào: 28,98 nghìn tấn, Malaysia: 19,15 nghìn tấn

Trang 13

Hàng dệt may: trị giá xuất khẩu trong nhóm hàng này là 59,44 triệu USD Thị trường

nhập khẩu thuộc ASEAN lớn nhất là Indonesia: 15,81 triệu USD, tiếp đến là Singapore: 11,92 triệu USD…

Giày dép các loại: do trùng hợp về cơ cấu xuất khẩu nên Việt Nam khó có khả năng

thâm nhập mạnh vào thị trường ASEAN Tuy vậy trị giá giày dép xuất khẩu đạt 16,61

triệu USD Trong đó, xuất sang Malaysia: 6,01 triệu USD, Singapore: 3,81 triệu USD, Thái Lan: 3,20 triệu USD…

Gỗ và sản phẩm gỗ: Trong quý đạt được 6,25 triệu USD, Malaysia: 4,39 triệu USD… Gạo: kim ngạch xuất khẩu trong quý I/2009 đạt 700 triệu USD với sản lượng 1,36 triệu

tấn Có thể nói, ASEAN tiếp tục là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu gạo ở Việt Nam Đặc biệt là Philipines: 993 nghìn tấn, Malaysia: 268 nghìn tấn, Singapre: 86 nghìn tấn,

Indonesia: 17 nghìn tấn… đây là những nước thường xuyên xuất khẩu gạo của Việt Nam

Do lợi thế về vận tải và nhu cầu gạo phẩm cấp thấp, phù hợp với sản xuất của Việt Nam nên thị trường ASEAN vẫn được xác định là thị trường xuất khẩu gạo quan trọng của Việt Nam

Hàng hải sản: Tuy các nước ASEAN cũng xuất khẩu thủy sản, nhưng Việt Nam vẫn có

thể thâm nhập vào thị trường này dễ dàng Hết quý I/2009, xuất khẩu 58,35 triệu USD Với thị trường nhập khẩu: Thái Lan: 21,52 triệu USD

Tuy nhiên, để đẩy mạnh xuất khẩu, ngoài vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, việc ký thoả thuận về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm giữa các cơ quan quản lý chất lượng các nước ASEAN là rất cần thiết

Cao su: trong quý đạt 3,97 nghìn tấn, giá trị xuất khẩu: 5,29 triệu USD Thị trường nhập

khẩu: Malaysia: 3,44 nghìn tấn…

Cà phê: xuất khẩu trong quý là 25 nghìn tấn, đạt kim ngạch 38 triệu USD Thị trường

nhập khẩu: Singapore: 9,18 nghìn tấn, Philipines: 7,44 nghìn tấn…

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Đây là mặt hàng chủ yếu do các công ty

liên doanh tại Việt nam sản xuất và xuất khẩu sang các nước ASEAN trong quý xuất khẩu 153 triệu USD Thị trường nhập khẩu: Thái Lan: 73 triệu USD, Singapore: 40,88 triệu USD, Philipines: 22,99 triệu USD, Malaysia: 10,46 triệu USD…

Như vậy, trong suốt 4 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Philipines

là 685 triệu USD, tiếp đến là Singapore với 664 triệu USD và đứng thứ ba là Malaysia

596 triệu USD

Thực hiện Hiệp định CEPT/AFTA, hầu hết thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu của các nước ASEAN chỉ còn ở mức từ 0-5% Đây là lợi thế mà các doanh nghiệp Việt Nam

có thể sử dụng để đưa hàng hóa của Việt Nam vào các nước trong khu vực Các mặt hàng

có kim ngạch xuất khẩu khá lớn khác sang ASEAN là linh kiện điện tử, vi tính, hải sản, hàng dệt may , hầu hết đều được Việt Nam và các nước ASEAN đưa vào trong danh mục IL để thực hiện CEPT/AFTA từ khá sớm, nhưng kim ngạch xuất khẩu sang các nước ASEAN không ổn định, năm tăng năm giảm Điều đáng chú ý là các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN gồm: nông sản, hải sản và khoáng sản thô, sơ chế có giá trị thấp, hàm lượng giá trị gia tăng không cao Những mặt hàng này tuy hầu hết đều được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi CEPT tại các nước nhập khẩu nhưng do có giá trị thấp, giá

cả phụ thuộc vào biến động trên thế giới, nên kim ngạch xuất khẩu không ổn định Trừ mặt hàng linh kiện điện tử và vi tính, hàng công nghiệp tiêu dùng có hàm lượng chế biến

và giá trị gia tăng như may mặc, giày dép chỉ chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN

Ngày đăng: 13/12/2015, 01:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w