- Về mặt thực tiễn: việc khảo sát trường nghĩa biểu vật của từ trong truyện cười giúp cho chúng ta hiểu hơn về lối định danh sự vật của người Việt, qua đó thấy được những nét đặc trưng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa nghiên cứu 3
6 Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái quát về nghĩa của từ 4
1.1.1 Nghĩa của từ là gì? 4
1.1.2 Cơ cấu nghĩa của từ 7
1.2 Các mối quan hệ ngữ nghĩa 14
1.2.1 Đa nghĩa 14
1.2.2 Đồng nghĩa 17
1.2.3 Trái nghĩa 20
1.2.4 Trường từ vựng 21
1.3 Khái quát về trường từ vựng - ngữ nghĩa 22
1.3.1 Lí thuyết về trường nghĩa 22
1.3.2 Trường nghĩa biểu vật 25
1.4 Khái quát về truyện cười trong văn học dân gian Việt Nam 26
1.4.1 Thế nào là truyện cười? 26
1.4.2 Vai trò của truyện cười trong đời sống văn hóa của dân tộc 28
CHƯƠNG 2 TRƯỜNG NGHĨA BIỂU VẬT CỦA CÁC TỪ TRONG TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN VIỆT NAM 2.1 Đặt vấn đề 32
2.2 Các trường nghĩa biểu vật của từ trong truyện cười dân gian Việt Nam 33
2.2.1 Trường nghĩa biểu vật chỉ con người 33
2.2.2 Trường nghĩa biểu vật chỉ động vật 42
2.2.3 Trường nghĩa biểu vật chỉ thực vật 47
2.2.4 Trường nghĩa biểu vật chỉ đồ vật 50
Trang 42.2.5 Nghĩa biểu vật chỉ hiện tượng tự nhiên 54
2.2.6 Tiểu kết 58
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG NGHĨA BIỂU VẬT ĐỐI VỚI VIỆC THỂ HIỆN NỘI DUNG CỦA TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN VIỆT NAM 3.1 Đặt vấn đề 60
3.2 Vai trò của trường nghĩa biểu vật đối với đời sống giao tiếp cộng đồng 61
3.3 Vai trò của các trường nghĩa biểu vật của từ trong truyện cười dân gian 64
3.3.1 Mua vui, giải trí 65
3.3.2 Châm biếm, mỉa mai 71
3.3.3 Phê bình, giáo dục 79
3.4 Tiểu kết 84
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa, lý thuyết trường nghĩa đóng góp một phần rất quan trọng vào việc phân chia các lớp từ vựng cũng như vạch ra mối quan hệ bản chất giữa các nhóm từ trong một lớp, giữa các
từ trong một nhóm Khi đi sâu vào phân tích ngữ nghĩa từ vựng, lý thuyết trường nghĩa còn cho chúng ta nhìn nhận một cách hệ thống về quá trình phát triển của nghĩa từ và cơ cấu nghĩa của nó Chính vì thế khi nhắc đến
cơ cấu nghĩa của từ, người ta thường nhắc đến bốn loại nghĩa: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái và nghĩa ngữ pháp Trong luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu nghĩa biểu vật Sở dĩ, chúng tôi chọn loại nghĩa này là vì trước hết nghĩa biểu vật phản ánh sự tri nhận hiện thực khách quan của con người và cách nhìn của cộng đồng ngôn ngữ về thế giới nói chung Đồng thời nghĩa biểu vật cũng phản ánh lối tư duy đặc trưng của một dân tộc, cũng như lối suy nghĩ và cách gọi tên các sự vật của con người
Trong văn học dân gian, có nhiều thể loại: truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyền thuyết,… Tất cả các thể loại đó đều có đặc điểm chung ghi lại lối tiếp cận của con người, và truyện cười là một trong những thể loại mang nhiều đặc trưng văn hóa dân gian hơn cả Đã có nhiều nghiên cứu khái quát, vĩ mô về truyện cười dân gian, song chưa có nhiều đề tài nghiên cứu
về loại nghĩa biểu vật hay trường nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian Chính vì thế mà chúng tôi chọn truyện cười làm đối tượng nghiên cứu, thông qua những câu chuyện cười dân gian để tìm hiểu lối suy nghĩ, lối biểu cảm của người Việt trong việc định danh các sự vật
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là khảo sát các nhóm từ vựng có ý nghĩa biểu
vật trong truyện cười dân gian Từ đó đi tìm hiểu mối quan hệ giữa ý nghĩa
Trang 6biểu vật với việc sử dụng nó vào nội dung của truyện cười dân gian Việt
Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là khảo sát những nhóm từ vựng chỉ ý nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian Việt Nam Trên cơ sở việc phân tích ý nghĩa biểu vật của từ, luận văn muốn tìm lối suy nghĩ về cách gọi tên các sự vật của người Việt Từ đó, luận văn có một cách nhìn nhận
về mối quan hệ của nghĩa biểu vật với nội dung phản ánh của các truyện cười dân gian Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi dựa vào các truyện cười dân gian Việt Nam, thông qua
cuốn: “Truyện cười dân gian Việt Nam chọn lọc”, Nxb Văn học 2011
Cuốn truyện cười chọn lọc gồm 128 truyện cười có độ dài ngắn cũng như nội dung khác nhau
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu của đề tài này là phân tích thành tố ý nghĩa và
miêu tả trường nghĩa biểu vật của từ, để thấy được cách sử dụng các biểu
vật của từ như là một phương tiện thể hiện nội dung trong truyện cười, cũng như tác dụng của các biểu vật ấy trong truyện cười dân gian
Trang 7Ngoài ra, luận văn còn sử dụng nhiểu phương pháp và thủ pháp khác như: thống kê, so sánh và lập sơ đồ bảng biểu,
5 Ý nghĩa nghiên cứu
- Về mặt lý luận: việc tìm hiểu trường nghĩa biểu vật trong truyện
cười dân gian Việt Nam góp phần bổ sung những lí thuyết nghiên cứu về từ vựng ngữ nghĩa, đồng thời đem đến một bức tranh ngữ nghĩa mang đậm văn hóa dân gian của người Việt thông qua những truyện cười dân gian Hơn thế nữa, việc nghiên cứu trường nghĩa biểu vật của từ trong giai đoạn hiện nay, nhất là các phạm trù định danh đã góp phần không nhỏ trong xác định bức tranh ngôn ngữ về thế giới của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ
- Về mặt thực tiễn: việc khảo sát trường nghĩa biểu vật của từ trong
truyện cười giúp cho chúng ta hiểu hơn về lối định danh sự vật của người Việt, qua đó thấy được những nét đặc trưng văn hóa của người Việt xưa, đồng thời cũng góp phần bảo tồn và phát huy vốn văn hóa dân gian của
người Việt Một phần không thể thiếu của đề tài này là bổ sung thêm tư liệu
dạy và học truyện cười trong chương trình phổ thông theo hướng tích hợp
và tích cực
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
- Chương 2: Trường nghĩa biểu vật của từ trong truyện cười dân gian
Việt Nam
- Chương 3: Vai trò của trường nghĩa biểu vật của từ trong nội dung
của truyện cười dân gian Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái quát về nghĩa của từ
1.1.1 Nghĩa của từ là gì?
“Nghĩa của từ” là một trong những khái niệm quan trọng nhất của
ngôn ngữ học Có nhiều cách lí giải khác nhau về khái niệm này Dưới đây
là một số quan niệm, cũng như cách giải thích về nghĩa của từ ở trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1.1 Trên thế giới
A.I.Smirnitckiy quan niệm: “nghĩa của từ là sự phản ánh hiển
nhiên của sự vật , hiện tượng hay quan hệ trong ý thức (hay là sự cấu tạo tâm lí tương tự về tính chất, hình thành trên sự phản ánh những yếu tố riêng rẽ của thực tế ) nằm trong cấu trúc của từ với tư cách là mặt bên trong của từ và so với nghĩa thì ngữ âm của từ hiện ra như vỏ vật chất cần thiết không phải chỉ để biểu thị và trao đổi nghĩa đó với những người khác
mà còn cần thiết cho sự nảy sinh, hình thành, tồn tại và phát triển của nghĩa” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 119])
Với cách lí giải về nghĩa của từ là quy nó về mối quan hệ giữa từ và
đối tượng A A Reformatskiy cho rằng: “Nghĩa, đó là quan hệ của từ với
sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120]). Đồng
quan điểm này, có V.A Arlomov và A.C.Chikobava cho rằng: “Nghĩa của
từ là sự lệ thuộc của nó với sự vật, hiện tượng của thế giới hiện thực. (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120]) Nghĩa của từ là mối liên hệ của từ với sự vật của thực tế” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120])
Quan điểm cho nghĩa của từ là quan hệ nhưng không phải là quan hệ giữa từ và đối tượng mà là quan hệ giữa từ và khái niệm, biểu tượng P A Budagov viết: “ có thể gọi nghĩa của từ là mối liên hệ được hình thành về mặt lịch sử giữa âm thanh của từ và sự phản ánh của sự vật hoặc hiện tượng, sự phản ánh đó nảy sinh trong nhận thức của chúng ta và được biểu
Trang 9hiện trong bản thân từ” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120])
B.N.Golovin cũng phát biểu tương tự: “ sự thống nhất của sự phản ánh vỏ
vật chất của từ và sự vật tương ứng chúng tôi sẽ gọi là nghĩa”. (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120])
Có thể nói, quan niệm này bắt nguồn từ học thuyết của F.de Saussure
về bản chất hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ
Theo F.de Saussure: “nghĩa là quan hệ giữa cái biểu hiện
(significant) và cái được biểu hiện (signifie), trong đó cái biểu hiện không phải là bản thân tổ hợp ngữ âm cụ thể mà là hình ảnh tâm lí của nó và cái được biểu hiện là tư tưởng” [12]
Kế tục F.de Saussure, St Ullman, cho rằng: “nghĩa của từ là mối
liên hệ liên tưởng giữa âm thanh của từ - name và nội dung khái niệm - sense của nó” [53]
Với sự ra đời của chủ nghĩa kết cấu hiện đại, nghĩa của từ lại được quan niệm là mối quan hệ giữa các từ với nhau
Ju.D.Aprecjan viết: " nội dung ngữ nghĩa của từ không phải là cái
gì tự thân Nó hoàn toàn bị quy định bởi những mối quan hệ được hình thành trong hệ thống những sự đối lập của từ này với từ khác cũng thuộc trường ấy” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120])
Những nhà ngôn ngữ học miêu tả Mĩ quan niệm “phân bố theo nghĩa rộng” chính là nghĩa từ vựng Miêu tả nghĩa của từ thực chất là miêu tả sự phân bố của nó
Những người theo thuyết chức năng mà đại diện nổi tiếng của họ là Witgenstein và J.Rile lại cho nghĩa của từ là chức năng, là vai trò từ đảm nhận trong ngôn ngữ Vì vậy, biết một từ nói lên cái gì chẳng qua là biết những quy tắc sử dụng từ này mà thôi
Một quan điểm nữa về ý nghĩa của từ là quan niệm của những người theo chủ nghĩa hành vi Người đại diện của phái này là Morris Ông cho
nghĩa của từ là “khả năng hành động có sẵn”, là “sự sẵn sàng hành động
Trang 10theo một phương thức nhất định do các từ gây nên” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120])
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Trên cơ sở tiếp thu những quan điểm nghĩa của từ của các nhà ngôn ngữ học, cũng như của các trường phái về ngôn ngữ trên thế giới, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng đưa ra cách hiểu của mình về vấn đề này như sau:
Với quan điểm cho rằng nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm hay sự phản ánh, v.v.), Nguyễn Văn Tu cho rằng “Nghĩa
của từ là sự vật, hành động, tính chất ngoài thực tế khách quan mà từ biểu thị” [45], hay Đỗ Hữu Châu cho rằng "nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của sự vật, hiện tượng hay quan hệ trong ý thức " [4]
Trong giáo trình “Ngữ nghĩa học”, Đỗ Việt Hùng nhận định “Nghĩa
của từ là toàn bộ nội dung tinh thần xuất hiện trong suy nghĩ của một người bản ngữ khi người đó tiếp xúc (tạo lập hoặc lĩnh hội) với một hình thức âm thanh ngôn ngữ nhất định” [22]
Nguyễn Thiện Giáp cũng đồng quan điểm với A A Reformatskiy, ông
cho rằng: "nghĩa, đó là quan hệ của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị,
đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ" " [15].
Hoàng Văn Hành cho rằng: “Nghĩa của từ không phải chỉ là hệ quả
của quá trình nhận thức, mà còn là hệ quả của các quá trình có tính chất tâm lí xã hội, có tính chất lịch sử nữa” [21].
Hoàng Phê cũng đến kết luận rằng: “Nghĩa của từ, nói chung là một
tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau; giá trị của các nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cấp bậc), biểu hiện ở
Trang 11khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo; các nét nghĩa có tính độc lập tương đối, biểu hiện ở khả năng độc lập tổ hợp và tác động qua lại với những nét nghĩa của những từ khác khi từ tổ hợp với nhau”[31].
Trong cuốn sách “Những vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà
trường”, Nguyễn Đức Tồn trình bày quan điểm của mình về khái niệm
nghĩa của từ Theo tác giả, “nghĩa của từ là một hiện tượng tâm lí, tinh
thần, nghĩa của từ là cái xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc mọi
người khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy”[43] Tác giả cũng cho rằng, “cũng
có nghĩa là nghĩa của từ không thể nhìn thấy, nghe thấy, hay động chạm đến được… bằng năm giác quan” [43] Để hiểu và nhận biết được nghĩa
của từ, mỗi người chỉ có thể tự cảm nhận trong trí não
Trên đây chưa phải là toàn bộ các quan niệm về nghĩa của từ nhưng
đó là những quan niệm chính đại diện cho các trường phái cũng như các hướng nghiên cứu chính trong ngôn ngữ học Tùy theo mục đích và phương pháp luận nghiên cứu, có thể có những quan niệm khác nhau về nghĩa của từ Nhưng nhìn chung các ý kiến bàn về nghĩa của từ, chúng ta thấy nổi lên hai khuyh hướng sau:
- Cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm,
sự phản ánh,…)
- Cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng hoặc quan hệ của từ với khái niệm,…)
1.1.2 Cơ cấu nghĩa của từ
Cũng từ những quan niệm trên cho chúng ta hiểu: khi nói đến ý nghĩa của từ, ta cần phải hiểu rằng đó là một tập hợp của những thành phần ý nghĩa khác nhau, ứng với các chức năng khác nhau của từ Khi nhắc đến nghĩa của từ, người ta thường nhắc đến 4 loại nghĩa sau: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái và nghĩa ngữ pháp Tùy vào mục
Trang 12đích nghiên cứu của từng đề tài, mà mỗi loại nghĩa này được vận dụng hay làm rõ ở một khía cạnh cụ thể
Trong các sách giáo khoa và sách nghiên cứu về từ vựng ngữ nghĩa, tuy về đại thể , các tác giả giống nhau về quan niệm nhưng cách giải thích, cách minh họa bằng những ví dụ khác nhau
Trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt”, dựa trên ý nghĩa của từ,
Nguyễn Thiện Giáp phân chia thành 4 loại nghĩa chính: nghĩa sở chỉ, nghĩa
sở biểu, nghĩa sở dụng và nghĩa kết cấu Ông giải thích rõ các thành tố ngữ nghĩa: nghĩa sở chỉ là quan hệ với đối tượng mà từ biểu thị; nghĩa sở biểu là quan hệ của từ với biểu tượng, khái niệm; nghĩa sở dụng là quan hệ của từ với người sử dụng; nghĩa kết cấu là quan hệ của từ đa dạng và phức tạp với các từ khác [15]
Đỗ Hữu Châu đi sâu về mặt ngữ nghĩa học và ông cho rằng ba thành phần ý nghĩa (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái) được gọi chung là ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa từ vựng thường được đối lập với thành phần ý nghĩa thứ tư là: ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp Các thành phần nghĩa trên không phải chỉ từ mới có mà các đơn vị ngôn ngữ trong văn bản lớn hơn từ cũng có Tuy nhiên, chúng ta chỉ bàn tới các thành phần ý nghĩa trong từ
Ngoài 4 thành phần ý nghĩa trên, có tác giả còn nói tới nghĩa hành vi Đó là những phản ứng tâm lí, những phản ứng hành động mà một từ có thể gây ra ở người nghe
Có tác giả nói tới ý nghĩa cấu trúc của từ cho rằng ý nghĩa cấu trúc là
do quan hệ giữa từ với từ về mặt ngữ nghĩa trong ngôn ngữ mà có Đúng là các thành phần ý nghĩa kể trên, từ ý nghĩa biểu vật cho đến ý ngữ pháp không phải chỉ do quan hệ giữa từ với những yếu tố ngoài ngôn ngữ mà có Chúng còn do quan hệ về ý nghĩa giữa từ này với từ khác trong ngôn ngữ qui định trên
Các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có tính chất tương đối cố định, bền vững, chúng là những sự kiện thuộc cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn
Trang 13ngữ Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến mặt ý nghĩa biêủ vật của từ
Thực ra khi nói đến nghĩa biểu vật, cũng có nhiều quan điểm được đưa ra Ở trong mỗi một công trình, các tác giả đưa ra những cách hiểu hay những quan điểm khác nhau về vấn đề này Có quan điểm đồng nhất với nhau, nhưng cũng có quan điểm khác biệt nhau hoàn toàn
Trong giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, các tác giả Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến hiểu nghĩa biểu
vật (denotative meaning): “Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hành động, ) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động, đó, người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật (denotat) Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất vật chất hoặc phi vật chất Ví dụ: đất, trời, mưa, nắng, nóng, lạnh, ma, quỷ, thánh, thàn, thiên đường, địa ngục, ”[7]
Theo các tác giả Lê Đình Tư và Vũ Ngọc Cân: “Ý nghĩa biểu vật còn
được gọi là ý nghĩa sự vật hoặc ý nghĩa sở chỉ Đây là thành phần ý nghĩa liên quan đến chức năng biểu thị sự vật/hiện tượng của từ Ý nghĩa này phản ánh bản thân các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan hoặc đặc trưng, tính chất… của chúng” [44]
Tuy nhiên, đối tượng mà từ biểu thị lại không phải là một sự vật hay hiện tượng cụ thể, đơn lẻ nào của thực tế khách quan mà là một sự vật hay hiện tượng mang tính khái quát có thể đại diện cho các sự vật hay hiện tượng cùng loại Thật vậy, từ "bàn" trong tiếng Việt được dùng để chỉ mọi
cái bàn có thể có trong thực tế khách quan, cho dù đó là bàn gỗ, bàn sắt,
bàn vuông, bàn tròn, bàn ba chân, bàn bốn chân… Từ "bàn" chỉ có thể có
được khả năng ấy, nếu nó không gắn với một cái bàn cụ thể nào cả Nói cách khác, “cái bàn” mà từ "bàn" trong tiếng Việt biểu thị là một cái bàn chung chung, một cái bàn đã được khái quát hoá để đưa vào ngôn ngữ Nhờ
đó, trong hoạt động giao tiếp, từ "bàn" sẽ ứng được với tất cả những cái bàn
Trang 14cụ thể, bằng cách gợi lên trong tâm lý người sử dụng ngôn ngữ hình ảnh của những cái bàn mà họ muốn nói tới
Do vậy, có thể nói: ý nghĩa biểu vật của từ là hình ảnh chung nhất của tất cả các sự vật, hiện tượng cùng loại mà từ có thể gọi tên hay gợi ra Hoặc cũng có thể nói theo cách khác: Sự tương ứng giữa từ và sự vật hay hiện tượng là sự tương ứng mang tính tổng loại (toàn loại) chứ không phải
sự tương ứng theo kiểu một – một Điều này cũng đúng với cả những trường hợp mà ý nghĩa biểu vật của từ là một sự vật duy nhất thuộc loại, ví
dụ như trường hợp các từ: mặt trời, mặt trăng hay thượng đế chẳng hạn,
bởi lẽ ngay cả trong các trường hợp này, từ cũng loại bỏ mọi biểu hiện riêng biệt của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, chỉ giữ lại
những gì chung nhất, tức là những cái có tính chất tổng loại Ví dụ: từ "mặt
trăng" chỉ biểu thị một mặt trăng chung chung, mà trong thực tế có thể ứng
với "trăng non", "trăng rằm", "trăng mùa hạ", "trăng mùa thu", v.v…
Như vậy, ý nghĩa biểu vật của từ không phải là sự vật hay hiện tượng đúng như nó tồn tại trong thực tế khách quan mà là một sự vật, hiện tượng thuộc phạm trù ngôn ngữ, là sự phản ánh các sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan vào trong ngôn ngữ Cho nên, sự vật/hiện tượng do từ biểu thị được gọi là "cái biểu vật" (denotat) Cái biểu vật chính là hình ảnh chung nhất về sự vật/ hiện tượng mà từ gợi ra và có thể khác nhau giữa các ngôn ngữ, thậm chí giữa các cá nhân, do đặc điểm hiện thực của mỗi dân tộc hay
của mỗi người Ví dụ: Hình ảnh "cánh đồng" trong tâm trí người Nga, người
Pháp và người Việt không hoàn toàn giống nhau
Trong cuốn sách mới viết gần đây, Đỗ Việt Hùng cho rằng: “Nghĩa
của từ có thành phần biểu vật, tức mối liên hệ với sự vật, hiện tượng…trong thực tế khách quan Nhưng ý nghĩa biểu vật của từ mang tính khái quát, nó được trừu tượng hóa khỏi những biểu hiện cụ thể của sự vật, hiện tượng”[22]
Ông cũng cho rằng, sự khái quát của nghĩa biểu vật trở nên xác định khi từ được sử dụng Khi sử dụng, nghĩa biểu vật của từ tương ứng với
Trang 15những sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất,…cụ thể, xác định Sự tương ứng giữa nghĩa của từ với sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được gọi là sự chiếu vật, hay sự hiện thực hóa nghĩa của từ trong sử dụng
Song, ngay cả khi sử dụng, nghĩa biểu vật của từ vẫn còn chứa
những đặc điểm khái quát Nói “cái bàn này” là từ (cái) bàn đã có nghĩa
chiếu vật vào một đồ vật cụ thể với những đặc điểm riêng của nó Tuy nhiên, người nghe không thể chú ý vào đặc điểm đó mà vẫn tri nhận (cái) bàn với những đặc điểm khái quát
Trong giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu cũng
đã phân tích rất kỹ về ý nghĩa biểu vật, đồng thời ông cũng chỉ ra những quan điểm dễ gây hiểu lầm về nghĩa biểu vật:
“Sự vật hiện tượng, đặc điểm… ngoài ngôn ngữ, được từ biểu thị tạo nên ý nghĩa biểu vật của từ” [3]
Quan niệm này ông cho rằng: ý nghĩa biểu vật trùng hợp hoàn toàn với sự vật, hiện tượng, tính chất…trong thực tế khách quan
Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra rằng trong từ vựng của tất cả các ngôn ngữ, có một bộ phận lớn câc từ mà ý nghĩa biểu vật của chúng trùng hợp với sự vật, biểu vật, biểu tượng tính chất…ngoài ngôn ngữ Đó là các từ nghề nghiệp và thuật ngữ khoa khọc
Nhưng đối với các từ thông thường thì sự chia cắt thực tế khách quan khác nhau trong ngôn ngữ học và ý nghĩa biểu vật Ngôn ngữ học đã phát hiện ra hiện tượng được gọi là sự chia cắt thực thể khách quan khác nhau trong từng ngôn ngữ Thực thể khách quan về cơ bản đồng nhất đối với mọi dân tộc, với mọi ngôn ngữ Song mỗi ngôn ngữ lại có những tên gọi ứng với những bộ phận không đồng đều, ứng với những đoạn cắt không trùng ranh giới của thực thể
Như thế, ý nghĩa biểu vật không phải là sự vật, hiện tượng y như
chúng có thực trong thực tế Chúng chỉ bắt nguồn từ đó mà thôi
Trang 16“Ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật hiện tượng trong thực tế vào ngôn ngữ Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế” [3]
Trong thực tế khách quan, sự vật, hiện tượng tồn tại chỉ trong dạng
cá thể: trong thực tế, chúng ta gặp từng chiếc bàn, từng cái cây, từng con
gà từng hoạt động đi, từng hành động chặt, cắt độc lập với nhau, riêng rẽ
với nhau Trong thực tế chúng ta không gặp “loại” sự vật, hiện tượng trọn vẹn Chúng ta không gặp “loại” bàn, không gặp loại cây, không gặp “loại”
hoạt động đi thế nhưng, ý nghiã biểu vật của các từ bàn, cây, gà, đi, chặt,
cắt lại là loại của những sự vật, hiện tượng đó
Hơn thế nữa, sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan gắn bó chặt chẽ với nhau trong tính cụ thể của chúng Có nghĩa là trong thực tế
những hoạt động như: đi, chạy, nhảy, chặt, cắt, đào, nói, kêu bao giờ cũng
gắn với một sự vật nào đó, bao giờ cũng do một sự vật nào đó tiến hành Không có những hoạt động “lơ lửng” không do một cái gì cả thực hiện Các tính chất cũng thế Tách các sự vật khỏi nhau, tách hoạt động tính chất lơ lửng khỏi các chủ thể của chúng là sản phẩm của tư duy được ghi giữ lại thành ý nghĩa biểu vật của các từ
Không những sự vật, hoạt động, tính chất được tách rời, chúng lại còn bị loại trừ hết mọi biểu hiện cụ thể thực có nữa Cái bàn trong thực tế bao giờ cũng mang những biểu hiện cụ thể: chất liệu gỗ, sắt, nhôm màu sắc: trắng, xanh, đỏ, hồng Cách đi của đứa bé khác cách đi của người lớn; màu xanh của cây ổi khác với màu xanh của cây chuối, khác với màu xanh của tấm vải, của mặt hồ Nhưng, trong ngôn ngữ, ý nghĩa biểu vật của các
từ bàn, đi, xanh bỏ qua những biểu hiện cụ thể, sinh động đó Do tính khái quát mà các ý nghĩa biểu vật không trùng với sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan vốn có đặc trưng là cá thể và cụ thể
Ý nghĩa biểu vật của từ trong ngôn ngữ có tính chất khái quát nhưng cách khái quát không giống nhau Sự khác nhau về mặt này thể hiện ở:
Trang 17- Phạm vi rộng hẹp của các loại mà từ biểu thị: có những từ chỉ những loại rộng, có những từ chỉ loại hẹp và các loại này là những loại nhỏ nằm trong các loại lớn
- Quan niệm riêng của từng ngôn ngữ trong việc khái quát các ý nghĩa biểu vật thành các loại khác nhau Trong các loại do từ biểu thị, có những loại được lập nên theo sự phân loại lôgic, ít nhiều phù hợp với nhận thức
khoa học như loại "đồ đạc” gồm các sự vật như bàn, ghế, giường, tủ đối lập với các loại "dụng cụ” như kìm, búa, vồ, giũa đục, cưa
Ý nghĩa biểu vật và hệ thống cấu tạo từ: mỗi ngôn ngữ có các kiểu cấu tạo từ và hệ thống các hình vị cấu tạo không giống nhau, cho nên mỗi ngôn ngữ có những kiểu ý nghĩa cấu tạo khác nhau Chúng hoặc sẽ tạo điều kiện thuận lợi, làm xuất hiện kiểu ý nghĩa biểu vật này, hoặc cản trở không cho xuất hiện kiểu ý nghĩa biểu vật kia trong một ngôn ngữ nào đấy
Trong từ láy, từ ghép hợp nghĩa các ý nghĩa biểu vật không có trong tiếng Nga vì tiếng Nga không sử dụng các kiểu cấu tạo đó Nhưng với sự sử dụng rộng rãi phương thức phụ gia và với hệ thống các phụ tố cấu tạo từ, tiếng Nga lại có thể tạo ra hàng loạt ý nghĩa biểu vật mà tiếng Việt không có từ tương ứng
Trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt”, Nguyện Thiện Giáp chỉ
ra rằng “Nghĩa sở chỉ (referentive meaning ) là quan hệ của từ với đối
tượng mà từ biểu thị Đối tượng mà từ biêu thị không phải chỉ là các sự vật
mà còn là quá trình, tính chất hoặc hiện tượng thực tế nào đó Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc hiện tượng mà từ biểu thị được gọi là cái sở chỉ (referent ) của từ Mối quan hệ của từ với cái sở chỉ được gọi là nghĩa
sở chỉ”[15].
Cái sở chỉ có thể bao gồm các đối tượng ngoài ngôn ngữ lẫn các đối tượng thuộc ngôn ngữ Các đối tượng thực tế ngoài ngôn ngữ có thể bao gồm các sự vật khác nhau, những thuộc tính, hành động, phẩm chất, quan
hệ vốn có đối với các sự vật ấy lẫn những đối tượng hoang đường như ma quỷ, thần thánh các đối tượng thuộc ngôn ngữ gồm:
Trang 18- Những hiện tượng được biểu thị bằng các thuật ngữ ngôn ngữ học: cụm từ, trọng âm, âm tiết, âm vị
- Những thông báo về các quan hệ trong hệ thống ngôn ngữ được biểu thị bằng các hư từ, tức là bằng các liên từ, giới từ, đại từ
Trong quan điểm của mình, Nguyễn Thiện Giáp đã phân biệt rõ cái
sở chỉ (referent) tức là những sự vật, quá trình, tính chất hoặc hiện tượng
mà từ biểu thị và mối quan hệ của từ với cái sở chỉ được gọi là nghĩa sở chỉ
(referentive meaning) Chính việc phân biệt rõ ràng này đã giúp chúng ta
có cách nhìn dễ dàng hơn về nghĩa biểu vật
Trên đây là mốt số quan điểm về cách hiểu nghĩa biểu vật của từ Cũng từ những phân tích này, có thể thấy việc hiểu và phân loại nghĩa biểu vật với một số loại nghĩa khác không hề đơn giản chút nào nhưng chúng tôi thấy thực sự cần thiết với việc hiểu loại nghĩa này Đó cũng là lí do, mà
chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn “Tìm hiểu nghĩa biểu vật trong
truyện cười dân gian Việt Nam”, để thấy được tính ứng dụng của lý thuyết
ngôn ngữ học trong việc hiểu và tiếp cận những cái hay, cái đặc sắc của những thể loại văn học dân gian Việt Nam
1.2 Các mối quan hệ ngữ nghĩa
Các từ trong vốn từ vựng không tồn tại một cách cô lập mà tạo thành những loại, những nhóm cùng loại có tính chất hệ thống nào đó, cùng với một số từ khác thì được gọi là quan hệ ngữ nghĩa Tính hệ thống này "có mặt trong mọi cấp độ tổ chức từ vựng" và được thể hiện ở các hiện tượng
đa nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, và trường từ vựng-ngữ nghĩa Cụ thể như sau:
1.2.1 Đa nghĩa
Đa nghĩa là hiện tượng một từ có nhiều nghĩa, các nghĩa này có thể
có liên hệ với nhau về mặt lịch sử - dẫn đến sự phân biệt nghĩa gốc hay nghĩa phái sinh, hoặc liên hệ về logic - có nghĩa cụ thể hay nghĩa trừu tượng, nghĩa chính hay nghĩa phụ; các mối liên hệ này lại tạo nên tính hệ thống chặt chẽ giữa các nghĩa trong từ đa nghĩa
Trang 19So với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Việt cũng có những đặc điểm riêng của mình
Để biểu thị những sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm mới ra đời, tiếng Việt có thiên hướng cấu tạo các đơn vị từ vựng mới hơn là phát triển nghĩa của các đơn vị từ vựng đã có từ trước Số đơn vị có nhiều nghĩa cũng như số nghĩa trong những từ đa nghĩa của tiếng Việt đều thấp so với nhiều ngôn ngữ khác Trong khi đó số lượng các đơn vị từ vựng mới tăng lên rất nhanh, đặc biệt là những đơn vị hai âm tiết
Hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt chủ yếu xảy ra ở các từ Các ngữ (các đơn vị từ vựng đa âm tiết) cũng có hiện tượng nhiều nghĩa, song tỉ lệ rất thấp
Hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt có hai kiểu sau:
- Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa, hoạt động tự do
- Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa, hoạt động hạn chế
Các kiểu nghĩa của đơn vị đa nghĩa:
1.2.1.1 Nghĩa trực tiếp và nghĩa chuyển tiếp: căn cứ vào sự khác nhau của
những mối quan hệ với sự vật có thể chia ra:
- Nghĩa trực tiếp là nghĩa phản ánh sự vật một cách trực tiếp, không thông qua nghĩa nào khác của từ này
- Nghĩa chuyển tiếp là nghĩa phản ánh đối tượng gián tiếp thông qua nghĩa khác
Hai kiểu nghĩa này cũng đối lập nhau ở chỗ có thể giải thích được hay không giải thích được Nghĩa chuyển tiếp bao giờ cũng có thể giải thích được qua nghĩa trực tiếp, còn nghĩa trực tiếp không giải thích được
1.2.1.2 Nghĩa đen và nghĩa bóng
Cách chia nghĩa đen và nghĩa bóng dựa trên sự đối lập có tính hình tượng hay không hình tượng Nghĩa đen là nghĩa vốn có của từ, không có tính hình tượng Ngược lại nghĩa bóng có tính hình tượng Thực chất, nghĩa bong cũng là một kiểu nghĩa chuyển tiếp: nghĩa bóng biểu thị sự vật gián tiếp thông qua nghĩa đen Tuy nhiên không phải tất cả các nghĩa chuyển
Trang 20tiếp đều là nghĩa bóng Những nghĩa chuyển tiếp đã mất tính hình tượng tạo
ra các nghĩa đen của từ chứ không phải nghĩa bóng
1.2.1.3 Nghĩa thông thường và nghĩa thuật ngữ
Căn cứ vào sự khác nhau của mối quan hệ đối với nhận thức, có thể chia ra nghĩa thông thường và nghĩa thuật ngữ Nghĩa thông thường và nghĩa thuật ngữ phản ánh trình độ nhận thức khác nhau đối với sự vật, hiện tượng Nghĩa thông thường phản ánh những đặc điểm bên ngoài của sự vật
đủ để phân biệt những đối tượng cùng loại được khái quát trong nghĩa đó với những đối tượng khác Nghĩa thuật ngữ phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng
Nghĩa chính và nghĩa phụ, nghĩa tự do và nghĩa hạn chế
Căn cú vào sự khác nhau của mối quan hệ đối với các từ khác trong ngôn ngữ, người ta phân loại nghĩa của từ đa nghĩa thành: nghĩa chính và nghĩa phụ, nghĩa tự do và nghĩa hạn chế
Nghĩa chính là nghĩa thường dùng nhất Cơ sở của việc phân chia nghĩa chính và nghĩa phụ là nguyên tắc thống kê
Nghĩa tự do là nghĩa liên hệ trực tiếp với sự phản ánh các hiện tượng của thực tế khách quan Mối quan hệ của các từ có nghĩa tự do với các từ khác không phải do quy luật nội tại của hệ thống từ vựng quy định mà do bản thân những mối liên hệ có thật giữa những sự vật, hiện tượng của thực
tế khách quan được các từ này biểu thị quy định
Nghĩa hạn chế là nghĩa được thực hiện trong các thành ngữ Các từ trong những thành ngữ này kết hợp được với nhau không phải do nội dung logic của các từ mà do quy luật nội tại của hệ thống từ vựng Mối liên hệ của các từ có nghĩa hạn chế với đối tượng thực tế được chúng biểu thị không phải là trực tiếp mà là gián tiếp Nghĩa của nó chỉ trở nên rõ ràng khi thay thế bằng các từ đồng nghĩa, có nghĩa tự do
1.2.1.4 Nghĩa gốc và nghĩa phái sinh
Căn cứ vào sự hình thành và phát triển của các nghĩa, có thẻ chia ra:
nghĩa gốc và nghĩa phái sinh Ví dụ: nghĩa gốc của từ tiếng là âm mà tai có
Trang 21thể nghe được, chẳng hạn: tiếng đàn, tiếng trống… Các nghĩa khác của từ
tiếng đều là nghĩa phái sinh: “tiếng” trong “tự do hai tiếng ngọt ngào” có nghĩa là âm tiết; “tiếng” trong “biết nhiều thứ tiếng” có nghĩa là ngôn
A.A Reformatsky viết: “…hai từ cùng gọi tên một sự vật nhưng tương
quan với sự vật đó với những khái niệm khác nhau và chính vì vậy mà qua cách gọi tên bộc lộ ra nhiều thuộc tính khác nhau của sự vật đó” [1].
Quan điểm của V.G Gak viết: “Khi phân tích cấu trúc của từ với tư cách là yếu tố của hệ thống ngữ ngôn có thể chỉ giới hạn ở mối quan hệ của các ý nghĩa, tức là mối quan hệ của cái biểu hiện với khái niệm Những mối quan hệ đó thường xuyên đối với đơn vị này ở lát cắt đồng đại của ngôn ngữ Khi phân tích nghĩa của từ ở dạng hiện thực hóa, ở lời nói thì bình diện đầu tiên lại là mối quan hệ của các tín hiệu (cái biểu hiện + cái được biểu hiện) với đối tượng Những mối quan hệ này là không thường xuyên, bởi vì khi biểu hiện các tư tưởng trong lời nói, cùng một đối tượng có thể được dẫn đến những khái niệm khác nhau và do đó, nhận được các tên gọi khác nhau”[48]
Dựa vào nghĩa biểu niệm và khái niệm, Ðỗ Hữu Châu cho rằng hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng xảy ra có tính rộng khắp trong hàng loạt từ,
nó xuất hiện khi giữa các từ chỉ cần có một nét nghĩa chung và không có
nét nghĩa đối lập Ông viết: Ðồng nghĩa trước hết là một hiện tượng có
phạm vi rộng khắp trong toàn bộ từ vựng, chứ không chỉ bó hẹp trong những nhóm với một số có hạn những từ nhất định Nói khác đi, đồng nghĩa trước hết là quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ trong toàn bộ từ vựng chứ không phải trước hết là giữa những từ nào đấy Ðó là quan hệ giữa
Trang 22các từ ít nhất có chung một nét nghĩa Cũng có thể nói: quan hệ đồng nghĩa bắt đầu xuất hiện khi bắt đầu xuất hiện một nét nghĩa đồng nhất giữa các
từ [4] Sau đó ông viết tiếp: “Hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng có
nhiều mức độ tùy theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ Mức độ
đồng nghĩa thấp nhất khi các từ ngữ có chung một nét nghĩa chung (nét nghĩa phạm trù) Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì từ càng đồng nghĩa với nhau Múc độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các từ đã có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác ở một hoặc vài nét nghĩa cụ thể nào đó”[4] Tuy rằng cuối cùng tác giả có
phân ra chia nhiều mức độ đồng nghĩa, nhưng nói chung quan niệm này nhìn nhận về hiện tượng đồng nghĩa vẫn quá rộng
Cùng dựa vào nghĩa biểu niệm và khái niệm, Nguyễn Thiện Giáp
viết: Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến hiện tượng đồng nghĩa “là phải nói
đến sự giống nhau của các nghĩa sở biểu Vì vậy, chúng tôi tán thành quan niệm cho từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, nhưng khác nhau
về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm”[17]
Dựa vào cấu trúc nghĩa của từ như ta đã nêu trên, kết hợp với ý kiến của tác giả Ðỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp, có thể nêu lên quan niệm
về từ đồng nghĩa như sau: từ đồng nghĩa là những từ có hình thức ngữ âm
khác nhau nhưng có quan hệ tương đồng về nghĩa biểu niệm
Dựa vào mức độ giống nhau về nét nghĩa giữa các từ đồng nghĩa, có thể chia từ đồng nghĩa thành các loại:
- Từ dồng nghĩa tuyệt đối:
Là những từ đồng nghĩa đồng nhất về ý nghĩa biểu niệm và cả nghĩa biểu thái cũng như phạm vi sử dụng của chúng Ðấy là hiện tượng đồng nghĩa giữa các từ do sự song tồn giữa:
+ Từ cũ và từ mới
Ví dụ: Trăng - nguyệt - chị hằng - gương nga; trực thăng - máy bay lên
thẳng; xe lửa - tàu hỏa - hoả xa; phi cơ - máy bay,
+ Từ địa phương và từ toàn dân
Trang 23Ví dụ: Cha - bố - tiá; mẹ - me - má - vú; thấy - chộ; xa – ngái,…
+ Từ thuần Việt và từ vay mượn
Ví dụ: Bệnh nhân - người bệnh; sử dụng - dùng; mô bi lết - xe máy
+ Thuật ngữ và từ thường
Ví dụ: Trần bì - vỏ quýt; lưu huỳnh - diêm sinh, lân - phốt pho
- Ðồng nghĩa tương đối
Bao gồm những trường hợp đồng nghĩa khác nhau nhiều hay ít trong các thành phần ý nghĩa hoặc khác nhau ở một hoặc vài nét nghĩa nào đó trong ý nghĩa biểu niệm của các từ Cụ thể chúng có thể khác nhau ở các điểm sau đây:
+ Khác nhau về nghĩa biểu thái
Ví dụ: Ăn - xơi - tọng - hốt; trẻ em - con nít; phụ nữ - đàn bà)
+ Khác nhau về phạm vi biểu vật
Ví dụ: Chết - qua đời - mất; lạnh - lạnh lẽo; lạnh - lạnh lùng; diệt - tiêu diệt
- xoá sổ - loại khỏi vòng chiến)
+ Khác nhau ở các nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của các từ
Ví dụ: Nhà lâu đài; ngại sợ kinh; đẹp mỹ lệ; mổ bổ cắt ngắt
-xé,
Hiện tượng đồng nghĩa tương đối xảy ra phổ biến hơn trong ngôn ngữ so với từ đồng nghĩa tuyệt đối Quy luật của ngôn ngữ là tiết kiệm, hiện tượng đồng nghĩa tuyệt đối chẳng những không có tác dụng làm giàu cho hệ thống từ vựng mà ngược lại còn có thể làm cồng kềnh cho hệ thống ngôn ngữ dân tộc Ði vào tìm hiểu các từ đồng nghĩa cụ thể, các từ đồng nghĩa tương đối có thể khác nhau ở nhiều dạng nét nghĩa rất phong phú, đa dạng
Tóm lại, hiện tượng từ đồng nghĩa chứng tỏ sự nhận thức chính xác, tinh tế của dân tộc về hiện thực khách quan Cùng một phạm vi sự vật hiện tượng nhưng trong ngôn ngữ có thể có nhiều từ biểu đạt thể hiện thái độ, tình cảm khác nhau, góc nhìn khác nhau của người nói đối với sự vật, hiện tượng;
do đó vấn đề quan trọng được đặt ra là phải biết chọn lựa từ ngữ cho chính
Trang 24xác Muốn vậy người sử dụng ngôn ngữ cần phải nhận diện và phân biệt được các nét nghĩa trong từ đồng nghĩa
1.2.3 Trái nghĩa
Cũng như quan niệm về hiện tượng đồng nghĩa, về hiện tượng trái nghĩa cũng có nhiều ý kiến khác nhau
Có tác giả cho rằng từ trái nghĩa là những từ khác nhau về ngữ âm, đối
lập đối lập về ý nghĩa biểu hiện khái niệm tương phản về lôgíc, nhưng tương liên lẫn nhau
Do dựa vào khái niệm cho nên tiêu chí mối quan hệ tương liên trở
thành một vấn đề cần được thuyết minh và chiếm một vị trí quan trọng
Thí dụ: Bé và xinh trong Nhà này tuy bé mà xinh; đẹp và lười trong
Cô ấy đẹp nhưng lười xuất hiện trong các cấu trúc ngữ pháp mang ý nghĩa
đối lập nhưng chúng không phải là các từ trái nghĩa vì chúng không có quan hệ tương liên Tương liên là một khái niệm mơ hồ, có thể gây nhiều tranh luận khi giải quyết các trường hợp cụ thể
Có ý kiến lại cho rằng trái nghĩa có quan hệ với hiện tượng đồng
nghĩa.Trái nghĩa và đồng nghĩa là chỉ là những biểu hiện cực đoan của hai
quan hệ đồng nhất và đối lập Tuy nhiên quan điểm này vẫn còn quá chung
chung, chưa cụ thể
Cần phải nhận thấy rằng các từ được xem là trái nghĩa điển hình trước hết phải có các nét nghĩa khái quát trong cấu trúc biểu niệm giống
nhau Chẳng hạn, các cặp từ trái nghĩa to- nhỏ; dài-ngắn giống nhau ở nét
nghĩa phạm trù và nét nghĩa loại Nét nghĩa này có thể thay thế cho tiêu chí
tương liên đã nói ở trên Từ đó có thể đi đến một cách hiểu về từ trái nghĩa như sau:
Từ trái nghĩa là những từ có một số nét nghĩa khái quát trong cấu
trúc biểu niệm giống nhau, bên cạnh đó, nổi bật lên ít nhất một nét nghĩa đối lập
Trang 25Phân loại từ trái nghĩa: Từ sự khảo sát trên, có thể thấy hiện tượng trái nghĩa xảy ra ở hai mức độ khác nhau: trái nghĩa tuyệt đối và trái nghĩa tương đối
- Trái nghĩa tuyệt đối (hay trái nghĩa thực sự):
Ðây là trường hợp trái nghĩa giữa các từ thoả mãn các tiêu chí sau: 1) Bên cạnh những nét nghĩa khái quát giống nhau, giữa các từ có xuất hiện nét nghĩa đối lập; 2) Chúng nằm ở vùng liên tưởng nhanh nhất, mạnh nhất,
có tần số xuất hiện cao nhất Nói nôm na, hễ có A là người ta liên tưởng đối lập ngay tới B
Ví dụ: Dài / ngắn, rộng / hẹp, to/ nhỏ, cao/ thấp, sớm/ muộn, cứng/
mềm, quen/ lạ, yêu/ ghét)
- Trái nghĩa tương đối:
Là trường hợp trái nghĩa giữa các từ chỉ thỏa mãn tiêu chí 1) mà không thỏa mãn tiêu chí 2) Tức đấy là các trường hợp trái nghĩa nằm ở vùng liên tưởng yếu, nghĩa là nói tới A người ta không liên tưởng đối lập ngay tới B
Ví dụ: Nhỏ/ khổng lồ, thấp/ lêu nghêu, cao/ lùn tịt
1.2.4 Trường từ vựng
Trường từ vựng là tập hợp các đơn vị từ vựng có quan hệ với nhau theo một tiêu chí nào đó (quan hệ tuyến tính, quan hệ trực tuyến, quan hệ liên tưởng)
Trang 26biểu vật của các ngôn ngữ Có những miền trong ngôn ngữ này có từ biểu thị, nhưng trong ngôn ngữ kia không có từ biểu thị
+) Do từ có hiện tượng nhiều nghĩa nên mỗi từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau tạo nên hiện tượng giao trường Mỗi trường thường
có một nhóm từ trung tâm có tác dụng quy định đặc trưng ngữ nghĩa của trường
+ Trường biểu niệm: Là tập hợp các đơn vị từ vựng có cùng cấu trúc biểu niệm khái quát
+) Cũng như trường biểu vật, trường biểu niệm có thể được phân thành nhiều miền nhỏ, với mật độ từ ngữ khác nhau
+) Vì cũng có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm nên một từ có thể được nằm trong nhều trường biểu niệm khác nhau tạo nên hiện tượng giao trường
+) Trường biểu niệm có quan hệ với khái niệm nhưng không đồng nhất với tập hợp các khái niệm về thực tế khách quan tồng tại trong tư duy
- Trường liên tưởng tự do
Là tập hợp các đơn vị từ vựng được gợi lên do sự liên tưởng tự do với một từ trung tâm nào đó
+) Các từ trong trường có thể có cùng quan hệ về mặt cấu tạo
+) Các từ trong trường có thể có quan hệ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa hay gần nghĩa
+) Các từ trong trường có thể có khả năng kết hợp trong chuỗi lời nói
1.3 Khái quát về trường từ vựng - ngữ nghĩa
1.3.1 Lí thuyết về trường nghĩa
Từ vựng của một ngôn ngữ không phải là một tập hợp ngẫu nhiên các từ và các đơn vị tương đương với từ mà là cả một hệ thống với những mối quan hệ nhất định Một trong những mối quan hệ mà các nhà khoa học thường tập trung làm rõ là mối quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị từ vựng
Trang 27Các từ ngữ đồng nhất về nghĩa được tập trung thành các nhóm được gọi là trường nghĩa hay là trường từ vựng hoặc trường từ vựng – ngữ nghĩa
Lí thuyết trường nghĩa xuất phát từ tiền đề của trường phái
Humboldt mới và phần nào từ những tư tưởng của F.de Saussure về tính hệ thống của ngôn ngữ và những phương pháp cấu trúc trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm trường nghĩa, nhưng có thể quy vào hai khuynh hướng chủ yếu
Khuynh hướng thứ nhất quan niệm trường nghĩa là toàn bộ những khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện Đại diện cho khuynh hướng này là L Weisgerber và J Trier Hai ông chịu nhiều ảnh hưởng của học thuyết về “hình thái bên trong của ngôn ngữ” của Humboldt mới trong ngữ nghĩa học Đây là trường phái chủ trương sự phân chia từ vựng của ngôn ngữ bị quy định trước “bởi hình thái bên trong của ngôn ngữ” Cơ sở ngôn ngữ học của Weisgerber là khái niệm thế giới trung gian của ngôn ngữ Ông là một tác giả quan tâm nhiều đến mối quan hệ trường nghĩa giữa các
đơn vị từ vựng Theo L Weisgerber cần phải tính đến các “góc nhìn” khác
nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hóa một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống Ông thay thế sự phân tích các từ bằng sự phân
tích các khái niệm trong “tinh thần” của một ngôn ngữ nào đó Ông thừa
nhận sự thống nhất giữa mặt bên ngoài (ngữ âm) và mặt bên trong (khái niệm) của ngôn ngữ nhưng ông lại coi sự thống nhất đó có tính chất song song hoàn toàn và đơn giản Do đó, ông phủ nhận hiện tượng đa nghĩa và đồng nghĩa của các đơn vị từ vựng Nhiều từ (các tên riêng) là ở ngoài ngôn ngữ L Weisgerber không giải thích sự khác nhau của những mô hình cấu tạo từ mà coi đó là kết quả của sự khác nhau trong tư duy các dân tộc
Lí thuyết trường của J Trier phù hợp với luận điểm của Weisgerber
về sự tồn tại trong ngôn ngữ những phạm vi khái niệm được tổ chức một cách có hệ thống Theo J Trier, trường khái niệm là một hệ thống rộng gồm những khái niệm có quan hệ với nhau, được tổ chức lại xung quanh một khái niệm trung tâm Mỗi trường khái niệm được các từ phủ lên trên,
mỗi từ tương ứng với một khái niệm J.Trier cho rằng "Trong ngôn ngữ,
Trang 28mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định, rằng “trường” là những hiện thực ngôn ngữ nằm giữa từ (riêng lẻ) với toàn bộ từ vựng, trường quan hệ với toàn bộ từ vựng cũng như từ quan hệ với trường của mình” […] Mặc dù còn có những điểm cần tranh luận như vấn đề phân biệt giữa ý nghĩa của từ với khái niệm nhưng những đề xuất của J Trier thực sự là nền móng quan trọng cho những nghiên cứu về trường từ vựng – ngữ nghĩa sau này
Khuynh hướng thứ hai cố gắng xây dựng lí thuyết trường nghĩa trên
cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ với nhau về nghĩa Những trường nghĩa được xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ học cũng
rất phong phú và đa dạng Trong cuốn “Giáo trình ngôn ngữ học”, Nguyễn
Thiện Giáp đã trình bày rất cụ thể về khuynh hướng này như sau:
Ipsen đã căn cứ vào hình thái và chức năng của các từ để xây dựng trường nghĩa Theo ông, trường nghĩa bao gồm các từ có quan hệ họ hàng với nhau về tiêu chí hình thái và ý nghĩa
M Konradt – Hicking lại xây dựng trường nghĩa căn cứ vào các từ ghép Mỗi kiểu trường nghĩa, trong đó từ rời với tư cách thành tố của từ ghép đóng vai trò là thành viên của trường Theo ông, trong phạm vi một trường từ vựng duy nhất, tức là trong các từ ghép, chỉ có thể tập hợp các từ thuộc cùng một phạm vi biểu tượng
Một kiểu trường nghĩa khác gọi là “trường từ vựng – cú pháp” do Muller và Porzig xây dựng trường nghĩa căn cứ vào các ý nghĩa ngữ pháp của các quan hệ Các ông cho rằng ý nghĩa của từ lệ thuộc vào những quan
hệ đơn giản gồm động từ hành động và danh từ chủ thể hành động hay danh từ bổ ngữ, tính từ và danh từ,…
Tuy nhiên kiểu trường nghĩa được xem là phổ biến nhất được gọi là
“nhóm từ vựng – ngữ nghĩa” Theo quan điểm của Weisgerber, sự phân chia ngữ nghĩa của một hệ thống ngôn ngữ được xác định không phải bởi những mối quan hệ có thực trong thực tế khách quan, mà được xác định bởi những nguyên tắc nằm trong bản thân ngôn ngữ, trong kết cấu ngữ nghĩa
Trang 29của nó Vì vậy, Weisgerber thích dùng thuật ngữ “trường từ vựng”, “trường ngôn ngữ” hơn
Trên đây là những quan điểm nền tảng về trường nghĩa trong ngôn ngữ học Chúng ta thấy rằng, lí thuyết trường nghĩa là một trong những lí thuyết ngữ nghĩa đã và đang được vận dụng một cách rộng rãi để nghiên cứu từ vựng của rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới
1.3.2 Trường nghĩa biểu vật
Như chúng ta biết, để chỉ ra tính hệ thống của ngôn ngữ, F De Saussure trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra hai dạng quan hệ cơ bản giữa các đơn vị đồng loại của ngôn ngữ, đó là quan hệ ngang và quan hệ dọc Cũng theo hai mối quan hệ này, trường từ vựng ngữ nghĩa cũng được phân loại thành các trường từ vưng - ngữ nghĩa theo quan
hệ ngang và trượng từ vựng – ngữ nghĩa theo quan hệ dọc
Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào giới thiệu trường nghĩa biểu vật (thuộc trường nghĩa dọc) Chúng tôi dựa vào
quan điểm của Đỗ Hữu Châu trong giáo trình “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng
Việt” để trình bày loại trường biểu vật này
Trường nghĩa biểu vật là tập hợp các từ ngữ đồng nhất với nhau về nghĩa biểu vật (về phạm vi biểu vật) Để xác lập trường nghĩa biểu vật, người ta chọn một danh từ biểu thị sự vật làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có cùng phạm vi biểu vật với danh từ được chọn làm gốc
đó Các danh từ này phải có tính khái quát cao gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật, như: người, động vật, thực vật, hiện tượng tự nhiên, đồ vật,…Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế, ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của
từ Như vậy, chúng ta sẽ đưa một từ và một trường biểu vật nào đó khi nét nghĩa biểu vật của nó trùng với tên gọi của danh từ trên
Khi phân lập các trường, chúng ta chú ý đến nghĩa biểu vật chứ không chú ý đến từ Nói rõ hơn, phân lập trường không phải là phân loại
từ Không phải là một từ đã ở trường này thì không thể ở trường kia Vì từ
có tính nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm trong nhiều trường biểu
Trang 30vật khác nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy theo số lượng các
ý nghĩa biểu vật của nó Tuy nhiên, vì có sự phân biệt ý nghĩa biểu vật chính và ý nghĩa biểu vật phụ, cho nên chúng ta có thể phân biệt các trường biểu vật chính và phụ của từ Nếu nghĩa chính của từ nằm trong trường nào thì trường đó là trường biểu vật chính của từ
Các từ có chỉ số trường biểu vật thấp là những từ bị qui định về biểu vật rất mạnh, trái lại nhưng từ càng đi vào nhiều trường thì tính bị quy định
về biểu vật càng yếu, ý nghĩa càng khái quát
Do chỗ các từ đi vào nhiều trường, cho nên các trường biểu vật có thể “thẩm thấu” vào nhau “giao thoa” với nhau Hai trường biểu vật giao thoa với nhau khi một số từ của trường này cũng nằm trong trường kia Căn
cứ vào số lượng các từ chung cho hai trường nhiều hay ít mà chúng ta nói đến tính độc lập tương đối nhiều hay ít giữa hai trường
Như thế, quan hệ của các từ ngữ đối với một trường biểu vật không giống nhau Có những từ gắn rất chặt với trường, có những từ ngữ gắn bó lỏng lẻo hơn Căn cứ vào tính chất quan hệ giữa từ ngữ với trường, chúng
ta nói các trường biểu vật có một cái lõi trung tâm qui định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường gồm những từ ngữ điển hình cho nó Ngoài các
từ trung tâm của trường là các lớp từ khác mỗi lúc một đi xa ra khỏi từ trung tâm, liên hệ với trường mờ nhạt đi
1.4 Khái quát về truyện cười trong văn học dân gian Việt Nam
1.4.1 Thế nào là truyện cười?
Trong các giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, trước kia cũng như hiện nay, truyện cười được coi là một loại truyện, và dĩ nhiên là truyện dân
gian, nên khi giới thuyết khái niệm này, nhiệm vụ chủ yếu và gần như duy
nhất của các nhà nghiên cứu là chỉ ra dấu hiệu tiêu biểu để tách nó ra khỏi những loại truyện dân gian khác (như truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn ),
đó là yếu tố gây cười Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, Đinh Gia Khánh viết: "Truyện cười, nó một cách đơn giản, là truyện làm cho
người ta cười ( ) Trong truyện cổ tích cũng đã có nhiều yếu tố gây ra
Trang 31tiếng cười( ) Song tiếng cười ở đây chỉ có vai trò điểm xuyết, làm cho truyện thêm duyên dáng, đậm đà mà thôi chứ không chiếm vị trí trung tâm trong sự phát triển của truyện Giữa truyện ngụ ngôn và truyện cười thì có
sự thâm nhập sâu hơn Một số truyện vừa có thể coi là truyện ngụ ngôn mà lại vừa có thể coi là truyện cười ( ) Tuy nhiên, truyện ngụ ngôn không nhằm mục đích gây ra tiếng cười Truyện cười trái lại bao giờ cũng nhằm mục đích ấy Đằng sau mục đích gây ra tiếng cười có thể còn mục đích khác sâu sắc hơn Nhưng trước hết phải đạt mục đích gây cười đã” [26]
Với cách hiểu này thì “truyện” nói chung và “truyện dân gian” nói riêng được coi như là những khái niệm có sẵn, ổn định, không có gì đáng bàncãi
Thế nhưng thời gian gần đây, trong việc sử dụng thuật ngữ lại có hiện
tượng, cái mà từ trước tới nay gọi là truyện dân gian thì một số nhà nghiên cứu gọi là chuyện dân gian
Cái cười, xét chung có ba loai: 1- cái cười có nguyên nhân về thể xác (do cảm giác nhột…), 2- cái cười có nguyên nhân về mặt nhân tâm lý, tình cảm (do sự vui sướng…), cái cười do hiện tượng buồn cười gây ra Ở đây
nói về cái cười do hiện tượng buồn cười gây ra Và hiện tượng buồn cười nói ở đây là hiện tượng buồn cười được kể thành truyện cười
Trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa truyện cười là
“chuyện kể dân gian dùng hình thức gây cười để giải trí, hoặc để phê phán
nhẹ nhàng” [31]
Tuy đây chỉ là cách hiểu thông thường về khái niệm "truyện cười”, song vẫn là một quan niệm đáng được tham khảo
Theo cách hiểu đầy đủ nhất truyện cười được hiểu như sau:
Truyện cười (còn gọi là truyện tiếu lâm) là một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức tạp bao gồm những hình thức được gọi bằng những danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài hước
Trang 32Tiếng cười trong sinh học mang tính bản năng, vô thức phát ra do phản ứng của cơ thể một cách đơn thuần Trong khi, tiếng cười tâm lý xã hội biểu thị thái độ, bộc lộ tư tưởng, tình cảm con người Tiếng cười tâm lý
xã hội có hai loại nhỏ: tiếng cười tán thưởng và tiếng cười phê phán
phán biểu thị sự khinh ghét, sự phủ nhận
từ cái đáng cười Cái đáng cười chứa đựng cái hài hiểu theo nghĩa triết học, nghĩa là có mâu thuẫn bên trong Ðó là mâu thuẫn giữa cái xấu và cái đẹp, giữa hình tượng và ý niệm, giữa sinh động và máy móc
1.4.2 Vai trò của truyện cười trong đời sống văn hóa dân tộc
Truyện cười là một thể loại văn học dân gian, nó ra đời nhằm mục đích phục vụ tập thể, chứ không đơn thuần là phục vụ một cá nhân cụ thể nào Những chủ đề mà nó hướng tới thường cũng rất gần gũi với đời sống của nhân dân lao động Dưới đây là những chủ đề chính thường được đề cập trong truyện cười dân gian Việt Nam
1.4.2.1 Vai trò mua vui, giả trí
Như chúng ta biết, truyện cười là sản phẩm của một tập thể những con người lao động Vì thế mà đối tượng được truyện cười phản ánh thường là những người lao động, những cảnh sinh hoạt của người dân diễn
ra hàng ngày trên chính mảnh vườn, bờ ruộng, sân đình, giếng nước của họ Nội dung trong truyện cười không sâu sắc hay phải tập trung vào một vấn
đề nào đó, nó thường là những nội dung đơn giản, gần gũi với chính đối tượng mà nó phản ánh Đôi khi đơn giản chỉ là những câu chuyện ngắn gọn sau một ngày làm việc mệt nhọc và tiếng cười được tạo ra để mua vui và nó được coi như một liều thuốc tinh thần, một cách giả trí không tốn tiền mà vẫn đem lại hiệu quả rất cao cho con người Tiếng cười thoát ra giải tỏa mọi lo âu, buồn phiền, mọi bực bội trong lòng Thay vào đó là tinh thần sảng khoái, thoải mái, tin tưởng vảo cuộc sống và sẵn sàng đương đầu với
Trang 33những khó khăn thử thách phía trước để đón nhận những công việc mới Khi ấy con người có thể dễ dàng tha thứ cho nhau những sai sót, nhất là các mối quan hệ xã hội rộng mở, con người xích lại gần nhau thêm Và hiệu quả đem lại là sự nhanh nhạy, sáng tạo, linh hoạt của một con người sau khi được giải tỏa tâm lý bị đè nặng
Trong truyện cười dân gian Việt Nam, những truyện cười mua vui, giả trí chiếm một số lượng nhỏ hơn so với truyện cười đả kích, châm biếm
Những không vì thế mà chúng ta phủ nhận vai trò “mua vui, giả trí” mà nó
đem lại cho con người, đặc biệt là những đối tượng lao động vất vả sau một ngày làm việc mệt nhọc thì những tiếng cười mua vui có giá trị vô cùng to lớn
So với truyện cười dân gian Việt Nam, truyện cười hiện đại chủ yếu
là nhằm mục đích mua vui giả trí hơn là mục đích đả kích, phê phán Điều
đó cũng dễ hiểu khi mà truyện cười dân gian ra đời để phản ánh cái xã hội
cũ – xã hội phong kiến, thực dân nửa phong kiến, cái xã hội chất chứa bao mâu thuẫn gay gắt giữa tầng lớp nhân dân lao động với bọn địa chủ, và ngay cả trong nội tại của các giai cấp thống trị cũng có những xung đột với nhau
1.4.2.2 Vai trò châm biếm, mỉa mai
Vai trò chính của truyện cười trong đời sống văn hóa của dân tộc là châm biếm, mỉa mai, trào phúng Đây là vai trò to lớn mà bất cứ truyện cười nào cũng hướng tới Một truyện cười có giá trị hay về nội dung, ngoài việc mua vui, giả trí thì truyện cười cần phải có sự châm biếm, mỉa mai và cùng với đó là nghệ thuật trào phúng của truyện
Chúng ta đều biết rằng, “tiếng cười” trong truyện cười không phải là tiếng cười mua vui đơn giản, nó là tiếng cười mang tính giáo dục cho nên
nó là một phương thức phê phán nhẹ nhàng có tính chất “châm biếm”
Chung quanh từ “châm biếm” và gần gũi với nó người ta thường nhắc đến
“trào phúng”, “mỉa mai” và một số từ khác như: chế giễu, giễu cợt, mà
sắc thái ý nghĩa không dễ phân biệt một cách rạch ròi
Trang 34Truyện cười là tiếng cười của nhân dân, của những người dân lao động nghèo khổ, của giai cấp tầng lớp thế yếu nhằm mục đích phản ánh thái độ bất bình, và sự đấu tranh chống lại giai cấp thống trị - tầng lớp trên
Trong câu chuyện “Sang cả mình con” là một ví dụ điển hình, chúng ta
thấy được thân phận đi ở của cậu bé trong câu chuyện đó có một cảnh sống trái ngược hoàn toàn với tên nhà giàu Nhìn cảnh sống này, chúng ta thấy rộng hơn một cái xã hội đầy dẫy những bất công, chế độ người bóc lột người, trong đó sự sung sướng, thỏa mãn của kẻ này xây dựng trên đau khổ của người khác Đó cũng là một cách thể hiện ý thức về kẻ thù của giai cấp,
ý thức về quyền làm người,…
Trước hết, truyện cười nhằm mục đích đả kích, châm biếm chế độ vương quyền, bao gồm cả một hệ thống nhân vật phong phú, đa dạng: từ tên sai nha, lính lệ cho đến bọn cường hào, địa chủ, quan huyện, quan phủ, không trừ một ai kể cả Vua chúa – người đứng đầu bộ máy cai trị thời
phong kiến Trong truyện “Bẩm, chó cả”, chúng ta thấy nhà Nho bất bình
trước lối sống của quan lại thời bấy giờ và nhân tiện bữa cơm mời, ông đã
ngầm chửi cả bè lũ quan lại là một lũ chó “Đây là chó, kia cũng là chó,
bẩm, toàn là chó cả” Hay là những tiếng chửi rủa sâu sắc, chua sót với các
truyện: Quan huyện thanh liêm, Quan lớn mua vàng, Hai kiểu áo,Bẩm toàn
muối, Thậm chí tiếng chửi còn thể hiện bằng hành động khi sự uất ức của
tầng lớp dưới không còn kìm nén được nữa, thì ngay lập tức hành động được đáp trả bằng “cái tát hợp lô gic” và tên quan trong truyện "Con ruồi
và quan huyện” không có lí do gì để trách mắng hay phạt vợ chồng nhà anh
ta nữa
Chế độ phong kiến tồn tại không phải dựa vào chiếm hữu ruộng đất của cải, không chỉ nhờ vào bạo lực của chính quyền phong kiến, mà còn nhờ vào cả một bè lũ tay sai Tăng lữ và một số nhà nho sĩ giả đều là những
kẻ phục vụ đắc lực cho chế độ phong kiến Thậm chí khi chế độ phong kiên suy vong thì các tầng lớp này vần bộc lộ rõ những bản chất xấu xa của
chúng Những truyện về thầy đồ dốt chữ, thầy đồ tham ăn: Về đi cày, Trò
hơn thầy, Chó cắn, Tam đại con gà,…những truyện về thầy lang băm chữa
Trang 35bệnh theo sách: Chỉ có một con ma, Bốc thuốc theo sách,…là những truyện
mang ý nghĩa phê phán, châm biếm sâu sắc
Không những đả kích, châm biếm vào hệ thống vương quyền của bộ máy cai trị phong kiến mà truyện cười còn bóc trần cái vẻ bề ngoài trang nghiêm, thiêng liêng một cách giả tạo của hệ thống thần quyền: tôn giáo,
mê tín dị đoan,…Những truyện châm biếm như thầy bói nói láo, nhà sư phá
giới: Nhà có động, Lá húng, lá húng, Nam mô boong, Thầy lang và thầy
bói, Hai thầy đi làm đám,…cho đến những truyện về những thành hoàng,
về tượng, các bà chúa: Trả lễ thành hoàng, Tượng cũng mất thiêng,…Truyện đã phê phán những lễ giáo phong kiến cổ hủ, lạc hậu và bịp bợm “giả đạo đức” ấy
1.4.2.3 Vai trò phê bình, giáo dục
Truyện cười ngoài hai vai trò trên, thì nó còn có vai trò "phê bình, giáo dục” Trong tuyển tập truyện cười dân gian Việt Nam chọn lọc, chúng tôi thấy có rất nhiều truyện có nội dung phê bình, giáo dục cao, đối tượng chính của truyện chủ yếu là phê phán những thói hư tật xấu của người chung quanh trong xã hội đương thời, như: thói hà tiện, trong các
truyện (Cưỡi ngỗng mà về, Thà chết còn hơn, Sao dám hẹn trước, Cá
gỗ,…), thói sợ vợ của những anh chồng vô tích sự (Lại chuyện anh sợ vợ, Giở miếng cọp vồ mồi, Chích máu ăn thề, Chiêm bao, Chẳng phải tay ông,…), thói khoác lác của những kẻ ăn không ngồi rồi (Uổng công tôi quá, Con rắn vuông, Qủa bí, cái xanh, Nói khoác gặp nhau, Mắt tinh, tai tinh,Thi nói khoác,…)
Trang 36CHƯƠNG 2 TRƯỜNG NGHĨA BIỂU VẬT CỦA CÁC TỪ TRONG TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN VIỆT NAM
2.1 Đặt vấn đề
Trường nghĩa là một vấn đề vô cùng rộng lớn, nghiên cứu các trường nghĩa trong truyện cười cũng là một vấn đề như vậy Chính vì thế khi tiến hành nghiên cứu trường nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian Việt Nam, chúng tôi chỉ trình bày những trường nghĩa biểu vật cơ bản nhất, gắn
bó với đời sống hàng ngày của con người, như những sự vật hiện tượng tồn tại trong thế giới tự nhiên mà giác quan của con người có thể tiếp cận được các sự vật, hiện tượng tự nhiên đó, ví dụ như: nhà, chó, mèo, mưa, gió…
Nhiệm vụ trọng tâm của chương 2 là sau khi tập hợp và phân loại trường nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian Việt Nam, chúng tôi đi
miêu tả cấu tạo của các trường từ vựng: trường nghĩa biểu vật chỉ con
người, trường nghĩa biểu vật chỉ đồ vật, trường nghĩa biểu vật chỉ động vật, trường nghĩa biểu vật chỉ thực vật, trường nghĩa biểu vật chỉ hiện tượng tự nhiên, trên cơ sở mặt cấu tạo của từ (từ đơn, từ ghép, từ láy ) Tuy
nhiên việc tập hợp và phân loại các nhóm từ biểu vật trong truyện cười không hề đơn giản Bởi vậy, để có thể đưa ra danh sách nhóm từ biểu vật một cách tương đối chính xác và đầy đủ là điều vô cùng khó khăn, chúng
tôi đã sử dụng cuốn “Truyện cười dân gian Việt Nam chọn lọc của nhà
xuất bản văn học” để có thể dễ dàng hơn trong việc phân loại này Qua đó,
có thể tổng hợp thành từng nhóm từ mang nghĩa biểu vật trong truyện cười
như: nhóm từ mang ý nghĩa biểu vật chỉ động vật, nhóm từ mang ý nghĩa
biểu vật chỉ thực vật, nhóm từ mang ý nghĩa biểu vật chỉ hiện tượng tự nhiên, nhóm từ mang ý nghĩa biểu vật chỉ con người, nhóm từ mang ý nghĩa biểu vật chỉ đồ vật dùng trong sinh hoạt thương ngày…Sau khi có
một cái nhìn tổng quát về các nhóm từ biểu vật trong truyện cười, chúng tôi
đã phân loại các nhóm biểu vật trên thành các trường nghĩa biểu vật để từ
đó thấy được cách sử dụng các biểu vật mang đặc trưng văn hóa dân gian trong truyện cười
Trang 372.2 Các trường nghĩa biểu vật của từ trong truyện cười dân gian Việt Nam
2.2.1 Trường biểu vật chỉ con người
Trong số 128 truyện cười dân gian Việt Nam mà chúng tôi tiến hành khảo sát, đã tìm ra 1036 từ chỉ con người, chiếm 58% trên tổng số Một điều dễ nhận thấy, là có rất nhiểu trường nghĩa biểu vật có liên quan đến con người, nhưng trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tiến hành tìm hiểu những trường nghĩa chính có liên quan đến đặc điểm sinh học và đặc điểm
xã hội của con người như: trường nghĩa chỉ đặc điểm ngoại hình; trường
nghĩa chỉ bộ phận con người; trường nghĩa chỉ hoạt động con người; trường nghĩa chỉ tầng lớp, giai cấp; trường nghĩa chỉ tính cách, đạo đức con người Trên cơ sở của việc phân loại các trường, chúng tôi tiến hành
miêu tả cấu tạo của từng trường nghĩa đưa ra, cùng với đó là việc thống kê
số lượng cũng như tính tỉ lệ phần trăm giữa các tiểu trường với nhau, để qua đó thấy được những loại trường nghĩa biểu vật nào được sử dụng nhiều
và là nét đặc trưng trong văn hóa truyện cười dân gian Việt Nam
2.2.1.1 Trường biểu vật chỉ đặc điểm, ngoại hình con người
Trong truyện cười dân gian, những nghĩa biểu vật thuộc trường nghĩa biểu vật chỉ đặc điểm, ngoại hình con người tuy không nhiều nhưng những nghĩa biểu vật đó mang ý nghĩa đặc trưng cao Nó góp phần khắc họa rõ nét
vẻ bề ngoài cũng như nội tâm của nhân vật trong truyện Truyện cười là kiểu truyện kết cấu không dài, nội dung đơn giản, chính vì thế mà nhân vật xuất hiện trong mỗi câu chuyện phải tạo một dấu ấn riêng, đặc trưng, để có thể tác động mạnh đến tâm lý độc giả, và từ đó có thể gây cười Với số lượng 126/1036 biểu vật, chiếm 12% trong tổng số biểu vật chỉ con người
Xét về mặt cấu tạo của từ, chúng chiếm tỉ lệ cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Bảng thống kê tần số xuất hiện của từ có nghĩa biểu vật xét
về mặt cấu tạo
Trang 38Đặc điểm
Cấu tạo
Số lƣợng
tò mò, thật thà, lù khù,…
Trong trường này, đa số biểu vật được cấu tạo từ từ láy (chiếm 70%) Trong từ láy, phần lớn những nghĩa biểu vật trong từ láy là những biểu vật chỉ đặc điểm con người, hay nói cách khác số lượng biểu vật là từ láy chỉ đặc điểm con người (lôi thôi, tò mò, lạ lùng, lù khù, thật thà,…) nhiều hơn biểu vật là từ láy chỉ ngoại hình con người (mập mạp) Biểu vật có cấu tạo
là từ đơn chiếm số lượng ở mức trung binh (40%), trong biểu vật là từ đơn, chủ yếu là những biểu vật chỉ ngoại hình con người (cao, to, thấp, béo,…)
2.2.1.2 Trường biểu vật chỉ bộ phận cơ thể con người
Trường biểu vật chỉ bộ phận con người với tần số xuất hiện 121/1036, chiếm 12% trên tổng số biểu vật chỉ con người Trong trường biểu vật này,
có 121/121 biểu vật là từ đơn tiết, chiếm 100% Chúng được cấu tạo trên cơ
sơ sử dụng một tổ hợp âm tố biểu thị đặc trưng nào đó được chọn lựa từ trong số các đặc trưng của bộ phận cơ thể Chẳng hạn như: tay, chân, đầu, tai, mắt,…
Dưới đây là bảng phân loại cấu tạo về mặt cấu tạo từ của trường nghĩa này:
(Bảng 2.2 Bảng thống kê tần số xuất hiện của từ có nghĩa biểu vật
xét về mặt cấu tạo
Trang 39Đặc điểm
Cấu tạo
Số lƣợng
121 biểu vật được tìm thấy, có rất nhiều biểu vật được lặp lại nhiểu lần, hay nói cách khác tần số xuất hiện của chúng khá cao
Chẳng hạn như biểu vật “đầu”, chúng tôi tìm thấy biểu vật này xuất hiện trong rất nhiều truyện: Cái bụng cổ, Còn gì bằng, Lại nói đấy nhé!,
Tam đại con gà, Tiệt, Con rắn vuông, Nói khoác gặp nhau,…và biểu vật
“mắt” trong các truyện: Túng không nuôi nổi con vịt, Thần còn sợ, Mắt
tinh tai tinh, Bánh tao đâu?, Tương tự như các biểu vật khác cũng vậy,
như: tay, chân, tai, ruột, mặt, mũi,…
2.2.1.3 Trường biểu vật chỉ hoạt động con người
Trong các trường chỉ con người, trường chỉ hoạt động đứng ở vị trí thứ nhất về số lượng biểu vật xuất hiện trong truyện 374/1036, chiếm 36% tổng số Đây cũng là trường có nhiểu tiểu trường nhất: trường biểu vật chỉ hoạt động của trí tuệ, trường biểu vật chỉ hoạt động của các giác quan để cảm giác, trường biểu vật chỉ hoạt động của con người tác động đến đối tượng, trường biểu vật chỉ hoạt động dời chỗ, trường biểu vật chỉ hoạt động thay đổi tư thế Trên cơ sở phân chia thành các tiểu trường, chúng
Trang 40tôi lập bảng biểu để thấy được số lượng biểu vật xuất hiện trong các tiểu trường như thế nào
Bảng 2.3 Bảng thống kê tần số xuất hiện của từ có nghĩa biểu vật xét về
mặt cấu tạo trong các tiểu trường
Tỉ lệ (%)
Trường biểu vật chỉ hoạt động trí tuệ
Trường biểu vật chỉ hoạt động của các giác quan để cảm giác
Trường biểu vật chỉ hoạt động của con người tác động đến đối tượng