Trải qua rất nhiều năm nay, phương thức quản lý đào tạo theo kiểu truyền thống cho thấy sự đóng góp không thể chối cãi trong việc cải thiện chất lượng giảng dạy và học tập.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BỘ MÔN MẠNG MÁY TÍNH
ĐỀ TÀI
Trang 21 Tìm hiểu hệ thống đào tạo trực tuyến
Information
LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua rất nhiều năm nay, phương thức quản lý đào tạo theo kiểu truyền thống chothấy sự đóng góp không thể chối cãi trong việc cải thiện chất lượng giảng dạy và học tập Tuy nhiên, cùng với xu hướng phát triển của công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thống, chính phương thức đó cũng bộc lộ một số yếu kém ảnh hưởng đến việc truyền đạt và tiếp thu nội dung kiến thức, trong đó có thể kể đến việc quản lý hồ sơ khôngđạt hiệu quả cao, nội dung các giáo trình, sách giáo khoa thường khó có thể cập nhật kịp thời, hình thức bài giảng không tạo nên được sự hứng thú học tập cho học viên, việc tra cứu tại chỗ các tài liệu tham khảo rất hạn chế và mất nhiều thời gian, …
Điều đó mang lại hiệu quả học tập không cao mà chi phí cho đào tạo và học tập lại lớn, dẫn đến sự lãng phí không nhỏ cả về thời gian, tiền bạc
Nhận thức được những vấn đề trên, công tác giáo dục đào tạo đã có nhiều thay đổi, cải tiến với các hình thức học tập mới khắc phục những nhược điểm của phương pháp học tậptruyền thống eLearning, được hiểu là học tập điện tử, đào tạo trực tuyến, với sự trợ giúp của các công nghệ mới nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin, là hình thức học tập hứa hẹn sẽ khắc phục tốt những nhược điểm của phương pháp học tập truyền thống eLearning
đã được thử nghiệm và bước đầu hoàn chỉnh ở nhiều nơi trên thế giới
Đề tài “Tìm hiểu hệ thống đào tạo trực tuyến” sẽ nêu rõ những khái niệm và cấu trúc
về hệ thống đào tạo từ xa cũng như ứng dụng các công cụ cho việc soạn bài giảng trực tuyến
Đề tài bao gồm các nội dung chính sau:
Chương 1 Tổng quan: Đặt vấn đề, tình hình phát triển eLearning trên thế
giới và ở Việt Nam Mục tiêu của đề tài
Chương 2 eLearning: Chương này sẽ giới thiệu về những kiến thức, thông
tin cơ bản của hệ thống eLearning bằng cách trình bày định nghĩa về
eLearning, các thành phần cơ bản của eLearning và một số vấn đề quan trọng
liên quan đến các thành phần của hệ thống eLearning
Chương 3 Learning Object (LO): Chương này sẽ trình bày về
LO, chuẩn SCORM, cách đóng gói LOs thành các SCOs Ví dụ thực nghiệm
cách đóng gói này với công cụ đóng gói Reload Editor
Chương 4 Chuẩn SCORM: Chương này sẽ giới thiệu tổng quan về chuẩn, các khái
niệm liên quan và cấu trúc của chuẩn SCORM
Chương 5 LMS và Moodle: Trình bày về hệ thống Quản lý đào tạo và ví dụ
thực nghiệm trên hệ thống quản lý học tập Moodle
Chương 6 Ứng dụng :Tạo gói SCORM và tích hợp gói SCORM trên hệ thống eLearning
Moodle
Chương 7 Tổng kết : những chức năng đã làm được và hướng phát triển của đề tài
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua rất nhiều năm nay, phương thức quản lý đào tạo theo kiểu truyền thống chothấy sự đóng góp không thể chối cãi trong việc cải thiện chất lượng giảng dạy và học tập Tuy nhiên, cùng với xu hướng phát triển của công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thống, chính phương thức đó cũng bộc lộ một số yếu kém ảnh hưởng đến việc truyền đạt và tiếp thu nội dung kiến thức, trong đó có thể kể đến việc quản lý hồ
sơ không đạt hiệu quả cao, nội dung các giáo trình, sách giáo khoa thường khó có thể cập nhật kịp thời, hình thức bài giảng không tạo nên được sự hứng thú học tập cho học viên, việc tra cứu tại chỗ các tài liệu tham khảo rất hạn chế và mất nhiều thời gian, …
Điều đó mang lại hiệu quả học tập không cao mà chi phí cho đào tạo và học tập lại lớn, dẫn đến sự lãng phí không nhỏ cả về thời gian, tiền bạc
Nhận thức được những vấn đề trên, công tác giáo dục đào tạo đã có nhiều thay đổi, cải tiến với các hình thức học tập mới khắc phục những nhược điểm của phương pháp
học tập truyền thống eLearning, được hiểu là học tập điện tử, đào tạo trực tuyến, với
sự trợ giúp của các công nghệ mới nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin, là hình
Trang 4thức học tập hứa hẹn sẽ khắc phục tốt những nhược điểm của phương pháp học tập truyền thống eLearning đã được thử nghiệm và bước đầu hoàn chỉnh ở nhiều nơi trênthế giới.
Đề tài “Tìm hiểu hệ thống đào tạo trực tuyến” sẽ nêu rõ những khái niệm và cấu trúc
về hệ thống đào tạo từ xa cũng như ứng dụng các công cụ cho việc soạn bài giảng trực tuyến
Đề tài bao gồm các nội dung chính sau:
Ch ươ ng 1 T ng quan: ổ Đặt v n đ , tình hình phát tri n eLearningấ ề ểtrên thế
gi i và Vi t Nam M c tiêu c a đ tài.ớ ở ệ ụ ủ ề
Ch ươ ng 2 eLearning: Chương này s gi i thi u v nh ng ki n ẽ ớ ệ ề ữ ế
th c, thôngứ
tin c b n c a h th ng eLearning b ng cách trình bày đ nh ngh a ơ ả ủ ệ ố ằ ị ĩvề
eLearning, các thành ph n c b n c a eLearning và m t s v n đ ầ ơ ả ủ ộ ố ấ ềquan tr ngọ
liên quan đ n các thành ph n c a h th ng eLearning.ế ầ ủ ệ ố
Ch ươ ng 3 Learning Object (LO): Chương này s trình bày vẽ ề
LO, chu n SCORM, cách đóng gói LOs thành các SCOs Ví d th c ẩ ụ ựnghi mệ
cách đóng gói này v i công c đóng gói Reload Editor.ớ ụ
Ch ươ ng 4 Chu n ẩ SCORM: Chương này s gi i thi u t ng quan ẽ ớ ệ ổ
v chu n, các khái ni m liên quan và c u trúc c a chu n SCORM ề ẩ ệ ấ ủ ẩ
Ch ươ ng 5 LMS và Moodle: Trình bày v h th ng Qu n lý đào ề ệ ố ả
t o và ví dạ ụ
th c nghi m trên h th ng qu n lý h c t p Moodle.ự ệ ệ ố ả ọ ậ
Ch ươ ng 6 ng d ng : Ứ ụ T o gói SCORM và tích h p gói SCORM ạ ợtrên h th ng eLearning Moodleệ ố
Trang 5Ch ươ ng 7 T ng k t : ổ ế nh ng ch c n ng đã làm đữ ứ ă ược và hướng phát tri n c a đ tài ể ủ ề
Trang 6CHƯƠNG 3 LEARNING OBJECTs, IMS, METADATA.
3.1 Learning Objects (LOs):
3.1.1 Giới thiệu
3.1.2 Learning Objects:
3.1.2.1 Thuộc tính của LO:
3.1.2.2 Đặc điểm của LOs:
3.1.2.3 Một số yêu cầu chức năng:
3.2 Khái quát về IMS:
3.2.1 Giới thiệu
3.2.2 Các đặc tả của IMS:
3.3 Metadata
3.4 Chuẩn SCORM (Sharable Content Object Reference Model):
3.4.1 Khái quát về SCORM:
3.4.2 Chuẩn đóng gói nội dung trong SCORM
3.4.3 Dạng đóng gói SCOs:
Trang 73.5 Công cụ đóng gói RELOAD EDITOR
3.5.1 Cách đóng gói một bài học, môn học
3.5.2 Mô hình của một LO được đóng gói bởi RELOAD
CHƯƠNG 4 CHUẨN SCORM
4.1 Tổng quan về SCORM
4.1.1 Giới thiệu SCORM
4.1.2 Tại sao lại cần một quy trình chuyển đổi
4.1.3 Quá trình phát triển của SCORM
4.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến SCORM
Trang 8PHẦN 1 NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT MỘT SỐ CƠ
SỞ LÝ THUYẾT CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, cụm từ đào tạo từ xa đã và đang trở nên gần gũi với tất cả mọi người Đào tạo từ xa là một phương thức học tập phân tán, thông qua các phương tiện truyền thông như radio,truyền hình và internet,…Phương pháp học tập này đáp ứng cho nhu cầu học tập tích lũy kiến thức của tất cả mọi người, đồng thời sẽ đem lại những lợi ích to lớn, tiết kiệm được thời gian, công sức và
Trang 9tiền bạc, đồng thời cũng nâng cao chất lượng truyền đạt và tiếp thu kiến thức cho các học viên.
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay, phương thức đào tạo theo phương pháp eLearning có rất nhiều ưu thế để phát triển Đó là nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và các loại truyềt thông đa phương tiện Phương pháp học tập eLearning trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin cùng cácloại truyền thông đa phương tiện vào việc dạy học và học sẽ là một xu hướng tất yếu trong giáo dục và đào tạo của thế kỉ XXI
eLearning làm giảm chi phí,thời gian và công sức học tập, giúp nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức cho các học viên trên cơ sở sử dụng nền web và các đa phương tiện truyền thông như hình ảnh, âm thanh,video…
Yếu tố chính góp phần làm nên hiệu quả to lớn của phương pháp học tập
eLearning là bài giảng giáo trình trực tuyến Vì vậy yêu cầu đặt ra là phải có một công cụ biên soạn bài giảng để giúp cho các giáo viên có thể soạn thảo bài giảng, giáo trình trực tuyến của mình theo đúng một cấu trúc bài giảng đã đề ra sao cho bài giảng sau khi biên soạn xong có thể đóng gói lại thành các nội dung (SCOs) dựa trên chuẩn SCORM (sharable Content Object Reference Model), có khả năng tái sử dụng và tích hợp trên các hệ thống quản lý học tập trên Moodle
1.2 Tình hình phát triển eLearning:
1.2.1 Ở các nước châu Âu.
eLearning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới eLearning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ, ở châu Âu eLearning cũng rất có triển vọng, trái lại ở châu Á là khu vực chậm tiến đối với công nghệ này Để có cái nhìn tổng quan vềeLearning trên thế giới, chương này lần lượt điểm qua sự phát triển và ứng dụng eLearning ở các châu lục chính như Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á với các dẫn chứng minh hoạ về sự quan tâm hỗ trợ, các biện pháp, chính sách của nhà nước và chính
Trang 10quyền tại các khu vực trên đối với eLearning, sự ứng dụng eLearning trong các cơ sở giáo dục, các công ty, giới thiệu một số đại học ảo …
Tháng 9/2001 Ban Cố vấn về CNTT của Tổng Thống Mỹ (President’s Information Technology Advisory Commitee) cũng đưa ra một bản báo cáo với Tổng thống có tiêu đề “Sử dụng CNTT để thay đổi cách chúng ta học”(“ Using Information
Technology to Transform the Way We Learn”) Bản báo cáo đã kết luận việc sử dụng CNTT nói chung trong công tác giáo dục, sử dụng mô hình dạy học dựa trên Web nói riêng là câu trả lời cho nhu cầu bức bách của xã hội về việc chuyển đổi cáchhọc
Các bang ở Mỹ đang áp dụng nhiều sách lược để phát triển các năng lực tiềm tàng của eLearning trong giáo dục sau trung học (postsecondary education), tập trung vào các đối tượng học tại chức (học trong khi đang đi làm)
- Các bang đang xây dựng các hệ thống phân phối eLearning (delivery system) đếnngười học thông qua mô hình các Đại học ảo (Virtual University), đồng thời đangthiết lập các mô hình thư viện số (Digital Library) để hỗ trợ việc tìm kiếm thôngtin của người học
Trang 11Gần 2/3 số bang trong tổng số 39 bang được hỏi nói rằng họ đều có các trườngĐại học ảo và các thư viện số Một ví dụ về Đại học ảo đó là Đại học ảoMichigan (www.mivu.org/index.asp) Thành lập vào năm 1998 bởi Hiệp hộiPhát triển Kinh tế Michigan (Michigan Economic Development Corporation)cộng tác với một vài ngành công nghiệp chủ yếu của bang, sử dụng nguồn vốn
30 triệu USD MVU (Michigan Virtual University) nhằm cung cấp các chươngtrình đào tạo thuận tiện, giá rẻ, chẩt lượng cao cho người lao động MVUkhông trực tiếp xây dựng các khóa học cũng như cấp bằng Nó môi giới côngviệc này cho các trường đại học hoặc các cơ sở đào tạo tư nhân của bang đểđưa ra các khoá học tốt nhất về kỹ thuật và hàn lâm từ xa, sử dụng Internet,CDROM, Tivi như các phương tiện phân phối Cho đến mùa thu 1999, 16 Đạihọc thành viên đã đưa ra được 124 khoá học cho gần 2000 sinh viên củaMVU Toàn bộ 28 Đại học Cộng đồng của bang Michigan đều tham dự nhưcác “Đại học chủ nhà” (“home colleges”), để cung cấp sự hỗ trợ cho các sinhviên của MVU trong lĩnh vực của họ Thêm vào đó, một chi nhánh của MVU
là Đại học Michigan Virtual Automotive và Manufacturing College(MVAMC), đã ký hợp đồng với các công ty sản xuất để đào nhân viên cho cáccông ty này Năm 1998 MVAMC đã chiêu nạp được 3863 sinh viên trongchương trình đào tạo với hãng ô tô Ford MVU đã nhận được giải thưởng
750000 USD của tổ chức AmeriTech vì đã đưa ra được trường Đại học CNTT
ảo Michigan (Michigan Information Technology College) góp phần nâng cao
kỹ năng CNTT cho lực lượng lao động của bang này
- Các bang cũng đang đầu tư vào nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên để giáo viên
có thể khai thác được các công nghệ mới của eLearning một cách hiệu quả hơn.Chẳng hạn như bang South Dakota đã lập một trung tâm gọi là Center forStatewide eLearning để nâng cao kỹ năng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên.Trung tâm này dựa trên cơ sở trường Đại học Northen State University(NSU) Trung tâm này nhận huấn luyện cho các giáo viên về công nghệ giáo
Trang 12dục từ xa và cung cấp các khoá học cho các trường thông qua phương tiện cầutruyền hình (video conferencing) Tất cả các sinh viên của NSU sẽ học về các
kỹ năng của công nghệ dạy học từ xa để sau này sử dụng công nghệ này trongcông việc của họ Để biết thêm chi tiết xem www.state.sd.us/news/
issues/17.pdf
- Các bang khuyến khích việc sử dụng eLearning bằng việc đầu tư vào cơ sở hạtầng và hỗ trợ về mặt tài chính Gần ¾ số bang được hỏi đều nói là họ có tài trợcho các cơ sở đào tạo sau trung học để nâng cấp cơ sở hạ tầng Cụ thể là:
• Xây dựng các đường truyền cao tốc ảo phục eLearning
Ví dụ mạng truyền thông bang Iowa (Iowa Communications Network ICN) là một mạng thuộc sở hữu và điều hành của bang Mạng này dùngcáp quang, dài 3400 dặm kết nối hơn 750 lớp học hỗ trợ Internet và truyềnthông các dữ liệu đa phương tiện như âm thanh, hình ảnh, các đoạn phimvideo ICN được dùng để truyền hơn 176000 giờ học của nội dung giáodục nâng cao trong năm tài chính 2001, và quân đội Mỹ sẽ đầu tư hơn 80triệu USD trong việc đào tạo và một trung tâm mô phỏng sẽ ra nhập mạngnày Để biết thêm chi tiết xem www.icn.state.ia.us/text/txtindex.html
-• Hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng đào tạo sau trung học (postsecondaryinstitution)
Chẳng hạn như Quỹ Tài trợ Cơ sở Hạ tầng Truyền thông bang Texas(Texas’ Telecommunications Infrastructure Fund - TIF) TIF tài trợ chocác dự án liên quan đến Giáo dục từ xa, bao gồm các trường các việnnghiên cứu y học để phát triển cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho việc học từ xa và yhọc từ xa (distance learning and telemedicine) TIF đã tài trợ 28 triệu USDcho các trường đại học tổng hợp và các thư viện, 14,8 triệu USD cho cácđại học cộng đồng và đại học kỹ thuật, 9,7 triệu USD cho các trường y
Trang 13khoa Để biết thêm chi tiết xem
sự hỗ trợ Những đề xướng cổ vũ việc sử dụng Internet và eLearning là rấtquan trọng bởi vì những nghiên cứu về “khoảng cách số” (“digital divide”)cho thấy trình độ hiểu biết về CNTT và Internet là rất thấp trong một số bộphận nhân dân như những cán bộ cao cấp, những người có thu nhập thấp
Trang 14hay những người ở vùng nông thôn Những khởi xướng thành công tronglĩnh vực này của các bang như California hay Mariland đã có tác dụng mởrộng lực lượng lao động có trình độ cao, giảm được khoảng cách về thunhập gây ra bởi cơ hội đào tạo không không đồng đều.
- Các bang đang khảo sát để tìm cách đảm bảo chất lượng của các chương trìnheLearning và thu hút được người học
• Các nguyên tắc vận dụng để đảm bảo chất lượng của eLearning đã đượccác bang mang vào sử dụng
• Để đảm bảo chất lượng các bang công bố danh sách các nguyên tắc trên cơ
sở tôn trọng các nguyên tắc của các ngành công nghiệp bên ngoài cũng nhưtôn trọng nguyên tắc đề ra bởi các đơn vị đào tạo tham gia các hệ thống ảo.Ban Điều phối Giáo dục Đại học Texas (Texas’ Higher EducationCoordinator Board) đã đề ra các nguyên tắc cho các khoá học điện tử.Nguyên tắc liên quan đến chương trình dạy, quá trình dạy cũng như việcđánh giá kết quả học Để biết thêm chi tiết xem www.thecb.state.tx.us
• Một số bang sử dụng các tín chỉ dựa theo năng lực (competency-basedcredentials) trong các chương trình eLearning
Ví dụ một số bang là thành viên của trường đại học tổng hợp WesternGovernor’s University (WGU) Trường này là tiền thân của hiệp hộiWestern Governor’s Association bắt đầu cấp bằng và chứng chỉ vào năm
1998 Sinh viên tham dự học được dạy thông qua một số các kỹ thuật dạyhọc từ xa như Tivi, vệ tinh, Internet Việc kiểm tra nhập học và kết quả tốtnghiệp hoàn toàn dựa theo năng lực (competencies) Để biết thêm chi tiếttham khảo www.wgu.edu/wgu/academics/understan-ding.html
• Một số bang khác thành lập các uỷ ban chuẩn hoá kỹ năng để cổ vũ việcviệc “học dựa trên hiệu quả” (performance-based learning), “học dựa trênđánh giá thẩm định” (assessment-based learning)
Trang 15Chẳng hạn Ban Chuẩn hoá Kỹ năng Texax (Texas Skill Standard Board)
www.tssb.org/ hay Hội đồng Cấp Tín chỉ và Chuẩn hóa Kỹ năng Nghềnghiệp Illinois (Illinois Occupational Skill Standard và CredentialingCouncil) www.standards.siu.edu
- Các bang cũng đang xem xét các vấn đề liên quan đến điều hành khi họ đưa cáchoạt động eLearning vào một hệ thống có tổ chức Họ đang tìm cách đảm bảotính riêng tư, tính an toàn cũng như cách bảo vệ bản quyền tài sản trí tuệ trongmôi trường eLearning
• Về tính riêng tư (privacy): bang Connecticut đã có các chuẩn cấp bang vềviệc truyền thông điện tử (xem www.state.ct.us/cmac/policies)
• Về tính an toàn (security): Đại học Tổng hợp Hawai (University of Hawaii)
đã đề ra các nguyên lý chỉ đạo cho việc sử dụng các tài nguyên CNTT củatrường để vạch rõ sự bảo vệ có hiệu quả, sự truy cập công bằng và nhữngnguyên lý về quản trị Những nguyên lý chỉ đạo này đã bổ sung thêm chocác luật hiện hành và nhấn mạnh vào việc bảo vệ mật khẩu và sự an toàntrực tuyến Để biết thêm chi tiết xem
www.hawaii.edu/infotech/policies.itpolicy.html
• Về sự bảo vệ bản quyền trí tuệ, Đại học Tổng hợp Minnesota (University
of Minnesota) đã có bộ luật về tư cách đạo đức, đưa ra các điều khoản choviệc sử dụng đúng đắn các tài nguyên công nghệ Bộ luật chỉ ra rằng:người sử dụng hệ thống phải không được dính líu hay cho phép các hành viquấy rối hay phân biệt đối xử bất hợp pháp Bộ luật cũng gợi ý rằng nhữngngười soạn giáo trình trong hệ thống các trường đại học phải bảo đảm tínhnguyên bản (originality) của công việc họ làm và phải thừa nhận vàonhững người tham gia đóng góp vào công việc của họ Để biết thêm chi tiếtxem www.umn.edu, www.umn.edu/regents/policies/academic/Conduct.pdf.Trong tình hình eLearning tại Mỹ hiện nay hầu hết các biện pháp trên đây đang được tiến hành trên hầu hết các bang Các bang bắt đầu lợi dụng thế mạnh của vô số
Trang 16các tuỳ chọn được mang lại nhờ các công nghệ học mới khi họ mở rộng khả năng nâng cao trình độ cho lực lượng lao động để chuẩn bị cho nền kinh tế tri thức.
Mặc dù các bang đang bận rộn với việc phát triển các cơ hội của eLearning, họ cũng nhận thấy những khó khăn của việc đưa ra những chuyển đổi lớn của rất nhiều
hệ thống học trong một thời gian ngắn như vậy Các khó khăn đó là: chi phí cho việc xây dựng nội dung học và đào tạo giáo viên, sự mở rộng cần thiết cơ sở hạ tầng, chất lượng của các khoá học, sự hưởng ứng của các cơ sở đào tạo truyền thống, các vấn đềliên quan đến bản quyền sở hữu trí tuệ … Các bang đều coi chất lượng là vấn đề hàngđầu
Khó khăn dường như tăng lên khi các bang đề cập đến các vấn đề bên trong
eLearning Chẳng hạn như vấn đề vươn tới được những người còn ít hiểu biết về CNTT một cách có hiệu quả, hay vấn đề xây dựng lại các hệ thống đào tạo sau trung học công cộng để loại trừ các sự trùng lặp, sao cho những rào cản về các khoảng cáchvật lý giữa các cơ sở thành viên của một đơn vị đào tạo không còn nữa, vấn đề đảm bảo quyền lợi của người học và chất lượng của bài học trong một môi trường đầy biến động mà không gây ra những xáo trộn
Những sự kiện nói trên cho thấy Chính phủ Liên bang cũng như các bang tại Mỹ đãnhận biết được tầm quan trọng, ảnh hưởng cũng như tiềm năng của eLearning đối vớinền giáo dục Mỹ nói riêng và sự phát triển đất nước nói chung Elearning đã giành được sự ủng hộ và khuyến khích từ phía chính phủ liên bang cũng như chính phủ các bang góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển của nó
Tại Canada, ông Alan Rock, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nói: “Chính phủ Cacada tựhào đã giúp đỡ các cơ sở đào tạo Canada và các công ty xây dựng các mô hình dạy học mới dựa trên Internet” Các quan chức chính phủ Canada cho rằng tiền đầu tư chocác dự án eLearning là cần thiết vì chính phủ muốn cổ vũ sự đổi mới trong dạy học trực tuyến
Sự phát triển, ứng dụng eLearning trong các trường học ở Mỹ:
Trang 17Elearning đã bùng nổ thành một trong những ứng dụng hữu ích nhất của Internet Các trường đại học và cao đẳng đang tranh giành nhau để ra nhập vào thị trường eLearning.
Các con số thống kê:
Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development - ASTD) gần 47% các trường đại học và cao đẳng Mỹ đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình học từ xa (distance learning) tại thời điểm năm 2000, tạo nên 54000 khoá học trực tuyến
Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu Quốc tế (International Data Corporation - IDC), vào cuối năm 2004 gần 90% các trường đại học và cao đẳng Mỹ
sẽ đưa ra mô hình eLearning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng từ năm 1999 đến 2004
IDC dự đoán rằng, chi phí của các trường đại học và cao đẳng cho công nghệ học
từ xa (distance learning technology) sẽ tăng 20% mỗi năm, cụ thể là từ gần 300 triệu USD năm 1999 sẽ tăng lên đến 744 triệu USD năm 2004 Thêm vào đó, vốn đầu tư vào việc đào tạo từ xa sẽ đạt đến con số khổng lồ 2,2 tỷ USD vào năm 2004 (trong khi con số này vào năm 1999 là 900 triệu USD)
Một sự tìm kiếm nhanh trên Internet sẽ cho thấy hàng trăm trường đại học và cao đẳng đề xướng mô hình dạy học eLearning, trải từ trường Alcorn State đến trường Zion University Hình như cứ mỗi ngày lại có một chương trình học trực tuyến mới được thông báo Rất nhiều chương trình nhắm tới những mảng thú vị nhất của thị trường mới – đó là các phòng đào tạo của các công ty hay những người học đang khao khát nâng cao trình độ kiến thức
Mỗi trường đều đang tìm cách để giành cho mình một phần thị trường vốn đã đầy rẫy các trường đại học ảo (virtual university) và đủ các loại dự án kinh doanh
eLearning Các trường đại học đang bị quyến rũ vào thị trường này với nguồn vốn trí tuệ muốn được khai thác dưới danh tiếng của trường đó Nhờ có Internet, các trường
Trang 18không còn bị chói buộc vào các vị trí địa lý, ngược lại họ có thể coi toàn cầu như là toàn bộ thị trường của mình.
Tại trường Đại học Standford chẳng hạn, eLearning được xem như là “một sự nỗ lực để mở rộng kinh nghiệm của Standford tới mọi người từng ngày” – theo lời ông Andy DiPaolo, Giám đốc Điều hành Trung tâm Phát triển Nghề nghiệp Đại học Standford
Bốn đại học danh tiếng là Standford, Oxford, Yale và Princeton đã cùng hợp tác trong một dự án dạy học từ xa trị giá 12 triệu USD, cung cấp các khoá học về khoa học, nghệ thuật trực tuyến Dự án mang tên “liên minh các trường đại học cho việc đào tạo suốt đời ” (University Alliance for Life-Long Learning), nhắm tới các cựu sinh viên của trường
Trong năm 2001, Trường Kinh doanh Harvard (Harvard Bussiness School) và Đại học Tổng hợp Standford (Standford University) đã liên kết để mở các khoá đào tạo kinh doanh trực tuyến tập trung vào đối tượng học là các nhà lãnh đạo điều hành của các công ty cũng như của chính phủ trên toàn thế giới Hai trường nói là, họ hy vọng chương trình của họ trở thành tư liệu hàng đầu thế giới về giáo dục quản lý trực tuyến Trước đó Trường Công nghệ Standford (Standford School of Engineering) – đơn vị đi tiên phong trong lĩnh vực dạy học từ xa – đã đào tạo ra 25% số thạc sỹ thuộc ngành này qua đào tào từ xa Sau Harvard và Standford, hai trường đại học nổi tiếng khác là New York và Columbia cũng mở các khoá học tương tự Việc các trường đại học hàng đầu này mở chương trình eLearning cho thấy xu hướng phát triển của mô hình này sẽ rất mạnh mẽ
Đầu năm 2001, Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã tạo ra một điểm sáng khi nó hoàn thành bản kế hoạch đưa gần như toàn bộ giáo trình học của trường lên mạng Internet hoàn toàn miễn phí MIT nói rằng, trong vòng 10 năm tới sẽ cung cấp trên mạng các tài liệu của hơn 2000 khoá học bao gồm các bài giảng, bài đọc, bài kiểm tra, mô phỏng và các bài giảng video Về phương diện nào đó, đề xuất của
Trang 19trường MIT làm tăng thêm quyết tâm của các trường đại học khác đang xem Internet như là một nguồn lợi quyến rũ.
Đại học Tổng hợp Canada (Canadian University) cũng đưa ra khoá học trực tuyến
về đất trồng và phân bón mang tên The Land Với số vốn đầu tư 1 triệu đô la Canada, khoá học hướng tới đối tượng học là các nhà chuyên môn nông nghiệp
Hiện đang có một cuộc chạy đua giữa các trường lớn và nhỏ trong thị trường
eLearning nhằm thu lợi từ thị trường khổng lồ này Một ví dụ là Đại học Trực tuyến Phoenix – đơn vị đang dẫn đầu với hơn 18000 sinh viên Trong 6 tháng từ 9/2000 đến2/2001, trường này đã thu về 70,2 triệu USD, tăng 65% trong đó tiền lãi là 11,6 triệu USD tăng 72% Với 23000 USD, sinh viên có thể đạt được trình độ MBA tại
Phoenix, một món khá hời nếu so sánh với gần 80000 USD phải trả tại Trường Kinh doanh Fuqua - Đại học Tổng hợp Duke (Duke University’s Fuqua School of
Business) – nơi mà một chương trình học trực tuyến cũng được đưa ra Số người đăng ký học tại Phoenix nhiều gấp hai lần của trường Đại học Quốc tế Jones (Jones International University) – là trường đại học hoàn toàn trực tuyến đầu tiên ở Mỹ - đối thủ cạnh tranh hàng đầu của Phoenix Với một mảng rất lớn các khoá học được công nhận giành cho đối tượng vừa học vừa làm, Phoenix đang xông xáo nhắm tới thị trường đại học giành cho các công ty với các chương trình học giá vừa phải, và các tuỳ chọn học mềm dẻo Trường cũng làm việc với các công ty khách hàng để tuỳ biếncác khoá học cho phù hợp với nhu cầu khách hàng Phoenix đã xác nhận là gần một nửa số sinh viên của trường được cơ quan trả học phí
Sau đây là một số đại học trực tuyến:
- Đại học Tổng hợp Maryland www.umuc.edu
Đây là đại học công lập lớn nhất tại Mỹ có các khoá đào tạo trực tuyến Bắtđầu cung cấp dịch vụ từ 1990 Năm 2001 số người đăng ký học trực tuyến lênđến 63000 người, tăng gấp đôi so với năm trước đó Học viên có thể được cấp
70 văn bằng các loại qua mạng Học phí: tương tự như các khoá học trên lớp
Trang 20của trường – 197$ cho một giờ học với sinh viên đại học, 301$ với sinh viênsau đại học Sinh viên nước ngoài phải trả gấp đôi.
- Đại học Trực tuyến Phoenix online.uophx.edu
Đại học trực tuyến lớn nhất nước Mỹ Các lĩnh vực đào tạo bao gồm: cử nhântài chính kế toán, quản trị và marketing, thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA),tiến sỹ về quản lý Việc học và thi cử hoàn toàn qua mạng Học phí: 400$ đến500$ cho mỗi môn học Để lấy được văn bằng MBA học phí khoảng 23000$
- Đại học Quân sự Trực tuyến eArmyU www.earmyu.com
Từ 1/2001, eArmyU cho phép các binh lính Mỹ đăng ký học và lấy văn bằngcủa 24 trường đại học trên khắp nước Mỹ Mỗi người học được cấp một máytính xách tay, một máy in và quyền truy cập Internet Cho tới 12/2001 có
10400 người học, dự tính đến 2003 sẽ áp dụng cho toàn bộ quân đội Mỹ Họcphí: miễn phí cho quân đội, dân thường không được phép đăng ký học
- Đại học Western Governors www.wgu.edu
Đây là đại học trực tuyến được thành lập năm 1997 bởi 19 bang miền Tâynước Mỹ Các khoá học được thiết kế theo trình độ từng học viên dựa theo kếtquả kiểm tra nhập học Nội dung học cho mỗi cá nhân dựa trên mức độ thiếuhụt kiến thức cần bù đắp của cá nhân đó Trường được tài trợ bởi các công tynhư IBM, AOL, Microsoft Học viên phải trả 4500$ cho việc kiểm tra đầu vào
và tiền giáo viên hướng dẫn, ngoài tuỳ thuộc vào nội dung học còn phải trảthêm các khoản thêm nữa
- Đại học Mở Harvard www.extension.harvard.edu
Có 35 khóa học lấy các văn bằng trực tuyến về các nội dung: khoa học máytính, thuật toán máy tính, xây dựng Website Dự kiến sẽ mở rộng hơn nữatrong tương lai Học phí từ 275$ không có tín chỉ cho tới 1750$
- Đại học Cardean www.cardean.edu
Trang 21Được thành lập bởi công ty phát triển các ứng dụng eLearning có tên Unextkết hợp với các đại học Standford, Chicago, Columbia Trường đã cung cấpdịch vụ học trực tuyến cho nhân viên công ty General Motors trong khi nhanhtróng quảng cáo dịch vụ tới đông đảo khách hàng Học phí khoảng 25000$cho văn bằng MBA.
- Đại học Quốc tế Jones www.jonesinternational.edu
Thành lập 1993 bởi Công ty Truyền hình Cáp, trước đó từng cung cấp dịch vụđào tạo từ xa qua TV cáp Trường có hơn 40 chương trình đào tạo cấp đại học
và thạc sỹ Văn bằng MBA học phí khoảng 12000$
- Đại học Capella www.capella.edu
Cung cấp hơn 500 khoá học trong mỗi quý Sinh viên có thể được cấp 15 vănbằng khác nhau từ 80 chuyên ngành Hầu hết trong số 4000 sinh viên đangtheo học về kinh doanh, giáo dục hoặc CNTT Tiền học từ 1150$ đến 1600$cho một khoá học Để lấy bằng thạc sỹ, học phí là 20000$, bằng tiến sỹkhoảng 34000$
Các trường đại học đi theo nhiều hướng khác nhau trong lĩnh vực eLearning
Trường Đại học Tổng hợp New York và Trường Đại học Tổng hợp Mariland nằm trong số các trường thiết lập các bộ phận chuyên trách để kinh doanh eLearning Trong khi đó, các trường như Williams, Amherst, Brown và Cornell thì tham dự vào Nghiệp đoàn Mạng Giáo dục Toàn thể (General Education Network consortium) Những hội liên hiệp học từ xa khác cũng đang được thiết lập giữa các trường đại học với các ràng buộc về địa lý, tôn giáo …
Rất nhiều trường khám phá ra rằng bằng cách hợp tác với các công ty tư nhân họ cóthể bước vào thị trường eLearning với độ rủi ro thấp hơn nhiều nếu họ tự làm một mình Sau đây là một vài sự phát triển gần đây của các trường thực hiện eLearning
Phối hợp với nhau: bốn trường đại học là những thành viên rất tích cực trong lĩnh
vực học từ xa đã nhóm họp thành một đội đặt tên là Alliance of Four để cung cấp các
Trang 22khóa học eLearning cho các khách hàng công ty Đại học The University of
California at Berkeley, đại học Penn State University, đại học University of
Washington và đại học University of Wisconsin đã đưa ra bản kế hoạch vào 1/2001
để cùng nhau xây dựng các chuẩn nội dung nhằm thúc đẩy sự chấp nhận eLearning trong giáo dục thường xuyên của người học và các khách hàng công ty
Tiến tới toàn cầu hoá: đại học Lansbridge University, một trường đại học trực
tuyến tư nhân đặt tại Brunswick, Canada đã hợp tác với Công ty Tư vấn Phát triển Nguồn Nhân lực đặt tại Đài Loan có tên Chain-E, để tiếp thị các chương trình học trực tuyến và cấp bằng của trường cho các sinh viên Đài Loan và Trung Quốc
Lansbridge được thành lập vào 12/1999 bởi công ty LearnSoft Corporation với tư cách là một trường đại học phân phối các khoá đào tạo quản lý mềm dẻo, đủ khả năng
và hướng thị trường (market-driven) tập trung vào các nền kinh tế phát triển nhanh Chương trình của Lansbridge đưa ra ba mô hình về e-MBA (e - Master of Bussiness Administrator) với 92 sinh viên Chain-E cũng ra nhập mạng tuyển dụng bao gồm cáctrường như ArthurD Little School of Management tại Mỹ, Synphonix tại Anh và châu Âu, karROX Technologies tại Ấn độ và Stamford College tại Malaysia
Hợp tác với các ngành công nghiệp: EduPoint (đặt tại San Diego, Mỹ) được coi
như một bạn hàng công nghiệp đầu tiên của tổ chức Alfred P Sloan Foundation, một
tổ chức phi lợi nhuận điều hành một hiệp hội các cơ sở đào tạo đại học có uy tín để đưa ra các chương trình học trực tuyến cấp các văn bằng đại học, sau đại học
EduPoint sẽ đưa vào chương trình có tên Corporate Learning Marketplace 2.0 các khoá học của hơn 80 cơ sở đào tạo uy tín là thành viên của hiệp hội Sloan’s
Asynchronous Learning Network Consortium viết tắt là Sloan-C Chợ bán hàng trực tuyến này cho phép những người học cá nhân và người học là nhân viên các công ty
có thể tìm kiếm, so sánh, đánh giá và đăng ký học một cách hiệu quả Nó thu thập, tổ chức, cập nhật thông tin khoá học từ các trường có uy tín, cũng như các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo
Trang 23Chất lượng của các khoá học tại các đại học trực tuyến là rất khác nhau Đó chính
là lý do tại sao các trường đại học như Phoenix và các công ty tư nhân như UNext lấy làm kiêu hãnh về việc phân phối ra các sản phẩm học chất lượng cao Cả hai đều đangxông xáo tìm cách thu hút các khách hàng công ty
Chẳng hạn Deerfield, chi nhánh của UNext tại Illinois đã đầu tư rất mạnh để cung cấp các chương trình học hàng đầu cho đối tượng là các nhà chuyên môn đang đi làm
Nó đã mở ra trường đại học ảo mang tên Cardean University, một đại học ảo có uy tínđào tạo không cấp tín chỉ cho các khoá học MBA Các khoá học ở đây được xaay dựng bởi các bạn hàng là các trường đại học như Standford University, Columbia University, Carnegie Mellon University, the Universisty of Chicago, London School
of Economics
Chương trình học được modun hoá – theo lời ông Andrew M Rosenfield, một cựu giáo sư, uỷ viên hội đồng quản trị trường đại học University of Chicago, người sáng lập và hiện là chủ tịch công ty Mọi người có thể học chỉ những kỹ năng cũng như chủ đề mà họ cần, không nhất thiết phải theo toàn bộ khoá học Sinh viên có thể học vào lúc thuận tiện nhất với họ, với tốc độ học nhanh chậm tuỳ theo khả năng từng người Ông xác nhận, giáo trình của khoá học ở đây không bao giờ bao là các bài giảng đơn điệu, thay vào đó chúng tôi thử thách sinh viên bằng các bài tập tương tác, các vấn đề, các sự mô phỏng và các thí nghiệm
Khối liên minh gây ấn tượng cùng với các khoá học tương tác của UNext làm cho công ty thu hút được các khách hàng công ty lớn như General Motors (GM) Trong vòng 4 năm 88000 nhân viên của GM bao gồm các nhân viên kỹ thuật, các nhà lãnh đạo điều hành, các nhà chuyên môn sẽ truy cập vào đại học ảo Cardean thông qua trường đại học của công ty mang tên General Motor University
Sự phát triển, ứng dụng eLearning trong tổ chức doanh nghiệp ở Mỹ:
Việc ứng dụng eLearning trong các tổ chức và doanh nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ nhất tại khu vực Bắc Mỹ Không còn nghi ngờ gì nữa, nguyên nhân chính là do sự
Trang 24nhận thức được những lợi ích mà eLearning mang lại cho tổ chức, đó là: tiết kiệm được thời gian và chi phí đào tạo, tăng năng suất lao động, khả năng sinh lợi và nâng cao lòng trung thành của đội ngũ nhân viên.
Theo ước tính của công ty IDC, thị trường đào tạo trực tuyến cho các công ty năm
2000 tại Mỹ trị giá 2,3 tỷ USD, con số này sẽ tăng lên 18 tỷ USD vào năm 2005.Công ty Maisie Center - một công ty chuyên nghiên cứu về công nghệ đào tạo – đã ước tính có tới 92% các công ty lớn đã triển khai một vài ứng dụng của eLearning trong năm 2001 và cho rằng nhiều trong số này sẽ triển khai eLearning lên toàn tổ chức trong hai năm tới
Tại Canada, có những nghiên cứu cho rằng trong tương việc đào tạo nhân viên theo lối truyền thống sẽ được thay thế bởi eLearning Theo IDC Canada, hơn 60% các công ty lớn của Canada đã triển khai eLearning vào cuối năm 2001
Dưới đây là một vài ví dụ về sự triển khai ứng dụng eLearning tại một số công ty
- Tháng 5/2001, công ty IBM ký hợp đồng với Đại học Quản lý Boston để cungcấp dịch vụ eLearning về đào tạo bán hàng trực tuyến tới 30000 nhân viên IBMtrên toàn cầu Dự kiến mỗi nhân viên sẽ theo học một khoá học 3 tuần trong 1năm 75% các khoá đào tạo cán bộ quản lý mới ra nhập công ty là trực tuyến Nỗlực này đã tiết kiệm cho IBM 350 triệu USD trong ngân sách đào tạo nhờ giảmđược chi phí đi lại, chi phí làm thêm ngoài giờ và các chi phí khác phát sinh nếudùng lối đào tạo truyền thống
- Cisco System – công ty thiết bị viễn thông hàng đầu nhận định: eLearning đangthay đổi cách mà mọi người cung cấp cũng như nhận các thông tin về đào tạo.Bằng cách vượt qua các hạn chế về thời gian và khoảng cách, eLearning đưa tớinhiều cơ hội cho tất cả mọi người trên thế giới Tại công ty này, eLearning đượccoi là yếu tố sống còn, 80% các khóa đào tạo nhân viên ở đây đã chuyển thànhtrực tuyến, hoạt động 24/24 Nó đã tiết kiệm 60% chi phí cho Cisco – theo lờitom Kelly – phó giám đốc Cisco phụ trách lĩnh vực các giải pháp Internet
Trang 25- Từ giữa năm 1997, hãng hàng không Air Canada đã đầu tư 1.5 triệu USD vàoeLearning, nhưng không trông đợi sẽ đem lại hiệu quả tiết kiệm nhanh tróng.Mục đích quan trọng nhất của hãng là giảm chấn thương cho người lao động,giảm hỏng hóc máy bay, thiết bị … Chi phí này chiếm 5% tổng chi phí hoạtđộng Elearning được coi là chiến lược lâu dài của Air Canada.
- Hãng ô tô Ford chọn giải pháp kết hợp cho đào tạo nhân viên Năm 1997, hãngđặt mục tiêu đào tạo 160 giờ cho 20000 nhân viên về các lĩnh vực thiết kế, lắpđặt và bảo trì xe hơi trong thời gian 4 năm Nhưng Ford nhanh tróng nhận rarằng mục tiêu này không thể đạt được nếu chỉ sử dụng cách đào tạo truyềnthống Do đó hãng đã triển khai 7 khóa đào tạo trong số đó dựa trên Web, 7khoá dùng CDRom, chỉ có 5 khóa là theo lối đào tạo truyền thống Sau mỗi khoáhọc dựa trên Web hay dùng CDRom, học viên phải dự lớp hai giờ để gặp gỡ vàthảo luận với giáo viên Giải pháp này đã rút ngắn 30% thời gian đào tạo
- Motorola cũng là công ty sớm nhận ra lợi ích của eLearning và đang có nhữngmục tiêu đầy tham vọng Hãng lên kế hoạch 30% các khoá đào tạo nhân viêntrong 2001 và 50% các khoá đào tạo trong 2002 là trực tuyến Ông Alex Pass,phụ trách dự án đào tạo của hãng nói: eLearning không còn là tiềm năng manglại lợi ích nữa, mà đã trở thành bắt buộc, nó không chỉ phù hợp với hoàn cảnhcủa nhân viên đi học, mà còn thích hợp về khả năng theo học – đó là điểm mấuchốt
- Hãng phần mềm Oracle cũng nhận ra mối liên kết giữa việc đào tạo khách hàng
và sự thoả mãn của khách hàng Đó là lý do tại sao hãng đã triển khai mộtchương trình eLearning để làm tăng tối đa việc đào tạo khách hàng và bạn hàng.Với việc đưa ra hơn 50 khoá học trực tuyến, hãng hy vọng tháo gỡ được rào cảntrong việc đào tạo khách hàng Các lớp đào tạo truyền thống trước đây chokhách hàng, tiền học phí vào khoảng 300$ đến 400$ một ngày bao gồm cả chiphí khách sạn Trong khi đó tiền học cho tất cả các khoá học trực tuyến chỉ còn1195$
Trang 26Thị trường sáng sủa của eLearning cũng đã tạo ra hàng loạt các công ty chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp eLearning Có thể điểm tên một số các công ty dẫn đầu như: Click2learn, DigitalThink, GlobalLearning Systems, Knowledge Planet, Saba, SmartFord, ThinQ…
Tình hình phát triển và ứng dụng eLearning ở châu Âu
Công ty IDC ước đoán rằng thị trường eLearning của châu Âu sẽ tăng tới 4 tỷ USDtrong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm Vào cuối năm 2004, 50% tổng số trênđạt được từ mảng đào tạo trực tuyến với nội dung đào tạo liên quan tới CNTT, số cònlại sẽ là các mảng đào tạo liên quan đến các nội dung như bán hàng, tiếp thị kỹ năng của người lãnh đạo …
Trong những năm gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển CNTT cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục Các nước trong Cộng đồng Châu Âu đều nhận thức được tìêm năng to lớn mà CNTT mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục
Tháng 3/2001, một kế hoạch trị giá 13,3 tỷ USD mang tên “Kế hoạch Hành động eLearning” (eLearning Action Plan) đưa ra bởi Uỷ ban Châu Âu (European
Commision) được trông đợi sẽ thúc đẩy sự phát triển của đào tạo trực tuyến trong cáctrường đại học ở Châu Âu Bản kế hoạch 3 năm này có mục tiêu mở rộng tiềm năng
số hoá ở châu Âu và giảm sự thiếu hụt nhân lực CNTT Chính phủ các quốc gia châu
Âu sẽ cùng nhau cộng tác để thực hiện kế hoạch này Khoản đầu tư trải rộng trong lĩnh vực giáo dục tất cả các cấp, tập trung vào ngôn ngữ; nghệ thuật - văn hoá - nghĩa
vụ công dân; khoa học - công nghệ - xã hội
Trong 2 năm tới, Uỷ ban Châu Âu đang đặt ra một mục đích lâu dài liên quan đến việc sử dụng công nghệ giáo dục mới, chẳng hạn như việc xây dựng và phát triển các
“đại học, lớp học ảo” Để đạt được các mục đích này, Uỷ ban Châu Âu sẽ sử dụng tối
đa các chính sách và các công cụ mà nó điều khiển, ví dụ như các chương trình hỗ trợ
Trang 27đào tạo và giáo dục mới nhất (như các chương trình có tên Socrates, Leonardo,
Youth), hay các chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển lần thứ 5 (còn gọi là IST programme), các chương trình eEurope (như các chương trình mang tên eContent, GoDigital & Ten Telecom), các quỹ tài trợ như Structural Funds, đặc biệt sẽ đầu tư cho các khu vực ít được ưu đãi
Một nhóm 15 công ty châu Âu đã thành lập Hội Công Nghiệp eLearning (eLearningIndustry Group) Hội này sẽ làm việc với Uỷ ban Châu Âu và các chính phủ các quốc gia châu Âu để khuyến khích việc ứng dụng eLearning trong các trường học, cơ quan,doanh nghiệp tại châu Âu Hiệp hội này bao gồm các công ty như: 3Com, Accenture, Apple, BT, Cisco, Digitalbrain, IBM, Intel, Communications, NIIT, Nokia, Online Courseware Factory, Sanom WSOY, Sun Microsystems, Vivendi Universal
Publishing Hội đề ra 4 đề xướng then chốt để thực hiện đó là: xoá bỏ các rào cản đối với mọi người trong xã hội đối với eLearning, tham dự và tuân theo trong việc xây dựng các chuẩn mở về eLearning, tạo điều kiện để duy trì thị trường thương mại cho các nội dung và sự phát triển eLearning, tăng các nguồn đầu tư trong việc nâng cao trình độ liên tục cho các giáo viên để họ có thể hiểu được và phát triển các nguyên lý của eLearning
Những nước châu Âu có lượng người nói tiếng Anh đông và tỷ lệ thâm nhập
Internet cao như Hà Lan, Thụy Điển, Anh là những nước eLearning sẽ trở nên phổ cập nhanh hơn Phần phía Nam châu Âu có xu hướng đi chậm hơn trong lĩnh vực này.Chính phủ Anh đã tài trợ 84 triệu Pound để thành lập Đại học Dịch vụ Đào tạoTrựctuyến Công nghiệp (University for Industry’s Online Training Services - UFI) Đại học này cung cấp các khoá đào tạo dựa trên sự hợp tác giữa một số trường đại học, các doanh nghiệp và các tổ chức Theo khảo sát gần đây của công ty SkillSoft Europe (một công ty về eLearning) khoảng 45% các tổ chức tại Anh sử dụng eLearning thường xuyên Trong các tổ chức này không thể không kể đến hai công ty lớn của Anh đó là hãng hàng không British Airway và hãng tin Anh Reuter Hãng tin Reuter
hy vọng sẽ tiết kiệm được 1 triệu Pound mỗi năm trong chi phí đào tạo sau khi thay
Trang 28thế đào tạo truyền thống bằng eLearning Anh cũng là nước có nhiều dự án eLearningtrong môi trường đại học so với các nước ở châu Âu Trường Đại học Tổng hợp Manchester (Manchester Metropolitan University) đã có dự án xây dựng hệ thống eLearning cung cấp các nội dung học về CNTT, còn trường Đại học Tổng hợp
Liverpool (Liverpool University) có các khoá học trực tuyến trình độ Master về CNTT cho những người học đã có 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này Có thể tìm thấy rất nhiều Website hỗ trợ học trực tuyến của các trường đại học tại Anh như:
www.hvmba.edu của đại học Heriot-Watt University, www.nottingham.ac.uk của đại học University of Nottingham, www.lon.ac.uk của đại học University of London External Programme… Nước Anh còn trở thành bãi đổ bộ cho các nhà bán sản phẩm eLearning của Mỹ trong một tham vọng hướng tới thị trường châu Âu Ví dụ công ty eLearning của Mỹ, SkillShoft đã xây dựng cơ sở của công ty tại Anh, hợp tác với các nhà thiết kế bài học châu Âu để đưa ra các sản phẩm học phù hợp cho châu Âu
Thuỵ Sỹ cũng đang đứng trước các thử thách của một xã hội thông tin Nước này đóng vai trò rất tích cực trong lĩnh vực xúc tiến eLearning nhất là trong việc nghiên cứu và chuẩn hoá Hơn nữa Thuỵ Sỹ cũng đầu tư rất nhiều để phát triển eLearning trong các trường đại học Ví dụ như chương trình dạy học trực tuyến Swiss Virtual Campus (http://www.virtualcampus.ch/), với các môn học hấp dẫn nhiều sinh viên Hay chương trình Eduswiss (http://www.eduswiss.ch/) là một đại học ảo với hơn 100 khoá học về các nội dung như khoa học máy tính, truyền thông và đa phương tiện, quản lý môi trường , tự động hóa với sự tham gia của hơn 40 trường đại học và tổ chức doanh nghiệp
Theo nghiên cứu của Trường Quản lý, Đại học Tổng hợp Muynich - Đức
(University of Munich’s School of Management), khoảng 1/3 các công ty tham gia thịtrường chứng khoán C-Dax (Đức) đào tạo nhân viên theo mô hình eLearning Khoảngmột nửa các công ty ở Đức hiện chưa dùng eLearning đang có kế hoạch sử dụng côngnghệ này trong tương lai
Trang 29Tại Pháp, chính phủ sẽ kết nối mạng tất cả các trường đại học trong nước và tạo ra một khu trường sở số hoá (digital campus), khu digital campus này sẽ được kết nối với tất cả các trường đại học ở Pháp Hiện nay phần lớn nội dung đào tạo về CNTT đều được các trường sử dụng mô hình đào tạo trực tuyến Một số các Website đào tạotrực tuyến của các trường ở Pháp như: www.univ-reims.fr/ctu của trường University
of Reims, telesup.univ-mrs.fr của trường University de Rouen, www.univ-lille3.fr củatrường University Charkes de Gaulle II…
Chính phủ Nauy đã tạo ra mạng quốc gia dựa trên Internet (national internet-based learning network) phục vụ cho mục đích đào tạo và giáo dục cho dân chúng nước này.Mạng này mang tên Competence Network, là kết quả của sự hợp tác giữa hai tổ chức Liên hiệp Thương Mại Liên Bang Nauy (Norwegian Federation of Trade Unions) và Liên hiệp Doanh nghiệp và Công nghiệp Nauy (Confederation of Norwegian
Bussiness and Industry) Đứng đằng sau là chính phủ và các trường đại học, mạng này có thể vươn tới 4 triệu người Nauy Hơn 40 nhà cung cấp nội dung học sẽ đưa ra các chương trình học phù hợp cho sinh viên truy cập tại các công sở, hiệp hội thương mại, các trường học và các công ty tư nhân
Tại Hy Lạp, công ty phần mềm eLearning mang tên European Dynamics đã giới thiệu một phần mềm eLearning sẽ được dùng bởi các khoa tự nhiên của trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Athen Phần mềm này dựa trên Internet và hỗ trợ giáo dục đào tạo điện tử, người dùng có thể trao đổi các tài liệu học cũng như các vấn đề liên quan đến nội dung học trực tuyến cũng như tham gia các hội nghị từ xa qua video conference
Tại Cộng hoà Belarus, Đại học Tổng hợp Belarut về Thông tin và Điện tử (The Belarus State University of Informatics and Radio eletronics) cũng là đơn vị đào tạo đầu tiên tại nước này được cho phép đào tạo từ xa từ Bộ Giáo dục và Đào tạo
Belarus Học phí cho một năm học từ xa của trường là 377$ Các khóa học từ xa ở đây dự định cho 70 sinh viên, sẽ học 13 môn học Trường sử dụng công nghệ học từ
xa của 1 công ty của Nga có tên là Prometheus để phân phối các chương trình học
Trang 30Các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực eLearning Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE Đây là mạng eLearning của
36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty eLearning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu
1.2.2 Tình hình phát triển và ứng dụng eLearning ở châu Á
Tại châu Á, eLearning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công vì một số lý do như: các quy tắc luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hoá châu Á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu Á… Tuy vậy đó chỉ là những rào cản tạm thời, do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu Á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi được mà eLearningmang lại Một số các quốc gia đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu Á cũng đang có những nỗ lực thể hiện sự nhận thức đối với eLearning
Theo nghiên cứu của công ty IDP Education Australia, số sinh viên đại học ở các nước châu Á sẽ đạt 45 triệu vào 2010 Các công ty châu Á cũng nhận ra rằng để có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các nhân viên của họ phải có các kỹ năng và tri thức đầy đủ, được cập nhật thường xuyên Nhu cầu học tập tăng nhanh ở châu Á đã được các nhà bán sản phẩm eLearning và các đại học phươngTây chú ý đến Châu Á rõ ràng đang là thị trường đào tạo rất lớn chưa được khai phá đối với các cơ sở đào tạo phương Tây
Quốc gia được các nhà cung cấp sản phẩm eLearning phương Tây quan tâm hàng đầu tại châu Á là Trung Quốc - nước rất thành công trong việc xây dựng cơ sở hạ
Trang 31tầng truyền thông với lượng người truy cập Internet tính đến cuối năm 2000 là 6,7 triệu người Các công ty eLearning hàng đầu phương Tây như SmartForce, Saba, Skillsoft, IBM Mindspan, NETg đã mở các văn phòng đại diện tại Trung Quốc hoặc Hồng Kông Tháng 7/2001 công ty SmartForce đã ký được 1 hợp đồng hàng triệu đô
la với công ty Neusoft - một công ty phát triển phần mềm lớn nhất của Trung Quốc đểcung cấp sản phẩm eLearning cho các nhân viên của công ty này với nội dung đào tạo
là CNTT và kinh doanh Tuy vậy các công ty phương Tây cũng đang vấp phải sự cạnh tranh ngày càng tăng của một nhóm nhỏ các công ty châu Á Được thành lập bởicác nhà điều hành giày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, các công ty
eLearning châu Á không có vốn tài chính và danh tiếng bằng các công ty phương Tây Tuy vậy, các công ty eLearning châu Á vẫn thu hút được khách hàng nội địa bởi những sản phẩm phù hợp thị hiếu Dẫn đầu trong số này phải kể đến NetDimension
và Go4It Technologies Thành lập vào năm 1999, với sản phẩm là Hệ thống Quản trị Học (Learning Management System - LMS) mang tên Enterprise Knowledge
Platform, NetDimension đã thu hút được một số các khách hàng lớn như hãng hàng không Cathay Pacific Airways, The Hongkong and Shangai Banking Corporation - một tổ chức tài chính hàng đầu thế giới, ING - tổ chức tài chính hàng đầu châu Âu có nhiều hoạt động kinh doanh ở châu Á
Công nghệ giáo dục còn là điều mới mẻ với nhiều người ở châu Á, nhưng chừng nào họ nhìn thấy và trải qua họ sẽ thấy cực kỳ thích thú – ông Andrew Silvers – phụ trách phát triển eLearning cho khu vực châu Á, Thái Bình Dương thuộc công ty Hewlett-Packard - một công ty đã có các sản phẩm eLearning hướng tới các nước nhưMalaysia, China, Hong Kong, Singapore và Đài Loan – đã nói như vậy
Trong thời gian gần đây đã có một luồng gió mạnh trong các hoạt động hợp tác giữa phương Đông và phương Tây trong lĩnh vực eLearning Hãy xem xét các sự kiệnsau:
- 12/2000, OnlineLearning.net, nhà phân phối các khoá học trực tuyến của trườngĐại học mở California - UCLA, đã hợp tác với 1to80.com, một chi nhánh của
Trang 32hãng sản xuất máy tính Acer đặt tại Singapore để tạo ra sản phẩm gọi là “cổngtri thức trực tuyến”(online knowledge portal), cung cấp các khoá học trực tuyếnbằng các ngôn ngữ khác nhau cho các vùng địa lý khác nhau.
- KnowledgeWindow.com, nhà cung cấp dịch vụ eLearning của Đại học Princeton(Mỹ) đã đặt chân đến Thailand Công ty gần đây đã đạt được một thoả thuận vớinhà cung cấp dịch vụ Internet Thailand có tên Loxley Information Services đểcung cấp sản phẩm mang tên Vlearn Công ty tập trung vào lĩnh vực đào tạoAnh ngữ trực tuyến cho các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp châu Á trong đó
có công ty Merica Chain- một công ty chuyên đào tạo về ngôn ngữ của ĐàiLoan Merica đã sử dụng Vlearn để dạy tiếng Anh qua Internet cho các sinhviên Đài Loan, Trung quốc, và các nước khác vùng viễn Đông
- 20/3/2001, công ty Hewlett-Packard cũng đưa ra đưa ra đề xướng về việc họctích hợp (integrated learning initiative) cho các nước châu Á – Thái BìnhDương Công ty con mang tên HP Education có văn phòng tại nhiều nơi củachâu Á sẽ đưa ra các khoá học trực tuyến về các nội dung liên quan đến CNTTnhư: Unix, Java, Networking và Microsoft Application
Chính phủ một số nước châu Á cũng đang có các nỗ lực nhất định Tháng 3/2001 chính phủ Thái Lan đã tán thành một văn bằng nước ngoài đầu tiên được cấp qua đào tạo từ xa Điều này xảy ra sau khi đại học mang tên Chiang Mai University ở phía Bắc Thái Lan muốn thuê một giáo viên có tên là Taweechai Ông này đã lấy bằng Master về Công nghệ Truyền thông sau khi tham dự khoá học từ xa qua vệ tinh của trường đại học National Technological University tại Fort Collins Mỹ Pakistan cũng thông báo sẽ mở đại học trực tuyến quốc gia
Tại Nhật Bản, mức độ ứng dụng và phát triển eLearning còn quá ít so với tầm vóc kinh tế của đất nước này Một số chuyên gia vẫn tin tưởng vào tiềm năng của
eLearning tại Nhật Bản với lý do: hệ thống giáo dục hiện nay rất chặt chẽ và nghiêm ngặt với những kì thi quốc gia để lấy chứng chỉ, để vượt qua những kỳ thi này người học phải tham dự các khoá huấn luyện rất đắt tiền và đó chính là mảng thị trường lớn
Trang 33cho eLearning nhằm đưa đến cho người dự thi các nội dung đào tạo tập huấn với giá
rẻ hơn Một số công ty eLearning của Mỹ đã bước đầu thâm nhập vào thị trường này Năm 2000, công ty eLearning hàng đầu của Mỹ click2learn đã hợp tác với tổ chức Tokyo’s Softbank Corp - một tổ chức có quan hệ với hơn 300 công ty Internet tại Nhật Bản để cung cấp sản phẩm đào tạo dựa trên Web của nó Với vốn đầu tư gần 5 triệu USD, dự án này cung cấp các sách bằng tiếng Nhật và các phần mềm đào tạo trực tuyến Việc ứng dụng eLearning trong các trường đại học Nhật Bản phần lớn dùng công nghệ truyền thông qua vệ tinh và videoconferencing Ví dụ hệ thống trao đổi giáo dục, truyền thông qua vệ tinh Space Collaboration System - SCS bao gồm
150 trạm mặt đất được cài đặt trên tổng số 123 trường đại học và cơ sở đào tạo ở Nhật Số các trường đưa ra các khoá học từ xa theo đường Internet cũng ngày càng tăng lên Trung tâm Nghiên cứu Thông tin và Đa Phương tiện thuộc Đại học Tổng hợp Kyoto (Center for Information and Multimedia Studies of Kyoto University) hợptác với Đại học Tổng hợp California (UCLA) đưa ra khoá học về phương tiện lưu giữtin mang tên “information media study” hay về vật lý như “Astrophysics” và
“Introduction to physics” sử dụng đường truyền thuê bao ATM
Tháng 3/2001, Hàn Quốc đã triển khai 9 đại học trực tuyến, cấp các văn bằng khoa học qua Internet Chính phủ Hàn Quốc hứa sẽ hỗ trợ mạnh mẽ để năm 2001 trở thành năm đầu tiên của “kỷ nguyên đại học trực tuyến” Ba trường lớn trong 9 đại học kể trên là: Kyung Hee Cyber, Seoul Digital University và Seoul Cyber thu hút tổng số
6670 sinh viên Các nội dung học chủ yếu là Quản lý Vốn Kinh doanh, CNTT Số người theo học không phân biệt tuổi tác phần đông là các nhà quản lý, luật gia, giới doanh nghiệp Việc học lấy chứng chỉ MBA qua các đại học trực tuyến ngày càng trở nên thông dụng với những người không có nhiều thời gian rảnh rỗi ở Hàn Quốc Trường Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học Tổng hợp Ajou trở thành trường đầu tiên
ở Hàn Quốc cấp chứng chỉ này qua Internet vào năm 2000 Trường Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học Quốc gia Seoul đã kết hợp với nhà cung cấp dịch vụ Internet Credu.com để giới thiệu các khoá học MBA trên Internet
Trang 34Tại Đài Loan, một quan chức trong ngành giáo dục đã nói rằng: mô hình dạy học dựa trên Web đang được áp dụng bởi một số ngày càng lớn các trường đại học ở nước này với 124 khoá học có cấp chứng chỉ Bộ Giáo dục Đài Loan đang trợ cấp chocác cơ quan giáo dục đại học để đưa ra các chương trình học từ xa Đại học Quốc gia Sun Yat-sen ở Kaohsiung cũng có những khoá học kết hợp giữa mô hình truyền thống
và mô hình trực tuyến Hơn 2000 sinh viên đã được cấp chứng chỉ sau khi tham dự các khoá học như vậy
Tại Singapore, ngày 22/10/2001, Đại học Tổng hợp Quốc gia Singapore (NUS) đang mở rộng phạm vi toàn cầu của nó bằng việc tham gia đại học trực tuyến hàng đầu thế giới có tên U21global Đây là một dự án liên doanh giữa hãng Thomson Learning và 15 trường đại học trên thế giới, trị giá 90 triệu đô la Singapore Đại học
ảo này sẽ cung cấp các khoá học cho khoảng 32 triệu sinh viên trên toàn thế giới, tập trung vào nhu cầu học chưa được thoả mãn của sinh viên khu vực châu Á Giám đốc NUS, giáo sư Shih Choon Fong nói rằng: U21global cho phép NUS đẩy mạnh các chương trình đào tạo của nó cũng như chiêu sinh hiệu quả hơn trong kỷ nguyên của công nghệ và toàn cầu hoá Ông này cũng thấy rằng U21global là một nền tảng để kếtnối giữa sinh viên ở các đại học nước ngoài với các sinh viên và giáo sư tại
Singapore
1.2.3 Ở Việt Nam
Hiện nay tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về eLearning ở Việt Nam không nhiều Rải rác đây đó có một vài bài viết ngắn xuất hiện trên các báo chuyên ngành như Tạp chí Tin học và đời sống (Trong một số báo ra nămg 2001), Tạp chí Bưu chính Viễn Thông (số tháng 7/2001 – bài “Xây dựng hệ thống đào tạo từ xa trên Web” - với nội dung nhằm giới thiệu và nhấn mạnh tầm quan trọng của WBT song song với các hình thức đào tạo khác), Tạp chí Công tác khoa giáo (số tháng 11/2001) – bài Internet và giáo dục đào tạo từ xa - với nội dung giới thiệu về khả năng đào tạo sử dụng Internet như một môi trường tự học và học từ xa
Trang 35Gần đây một số hội nghị, hội thảo như Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo Đại học Quốc gia Hà nội năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội thảo khoa học Quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT.rda 2/2003 đã có đề cập đến eLearning và các ứngdụng của nó, cho thấy đã có một ý thức về việc áp dụng loại hình đào tạo này Trên các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí gần đây cũng có những chuyên mục đề cập và cổ vũ cho việc phát triển ứng dụng elearning.
Sau đây là một số trường học/đơn vị đã bước đầu ứng dụng eLearning
- Đại học Đà Nẵng: Ứng dụng thư viện điện tử (e-library) với công nghệ củaCisco vào giảng dạy và nghiên cứu Kết nối Internet với đường truyền 128Kbps(thông tin tháng 03-2001)
- Đại học Quốc gia TPHCM: Đã triển khai chương trình đào tạo từ xa cử nhânCNTT bằng 1 và bằng 2 Học viên đăng ký học sẽ được nhận giáo trình (giấy),đĩa CD tài liệu (phần mềm do Trung tâm CNTT của ĐHQGHCM phát triển),được cấp một tài khoản (username/password) để trao đổi nội dung học tập vớigiáo viên qua mạng Học viên có thể được bố trí một số thời gian nhất định đểgặp gỡ, trao đổi với giáo viên Thời gian học cho bằng 1 là 4 năm, chia làm 3học kỳ, theo giáo trình chính quy của ĐHQGHCM Thời gian học cho bằng 2 là2.5 năm Học phí học cho cử nhân bằng 1 là 700.000VND/học kỳ, bằng 2 tínhtheo học phần với giá 650.000VND/học phần (bao gồm 8 học phần) Hình thứcthi hết môn: tương tự như hệ thi chính quy (tức là thi tập trung tại địa điểm dotrường quy định, không phải là thi qua mạng) (Theo website
www.triduc.com.vn) Trung tâm phát triển CNTT Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh cũng mở một Website đào tạo trực tuyến tại địa chỉ
http://dttx.netcenter-vn.net/ với một số môn học về Tin học có một số minh họavideo
- Đại học Bách khoa Hà Nội: gấn đây đang tích cực triển khai một số đề tài vềeLearning Trong đó nổi bật là hệ thống đào tạo từ xa BKview trong khuôn khổ
Trang 36của đề tài cấp nhà nước KC.01.09 Hiện nay đề tài vẫn đang ở giai đoạn thựchiện Khác với phần lớn các hệ thống eLearning khác ở Việt Nam, BKview làmột hệ thống eLearning hoàn chỉnh với đầy đủ các chức năng nhờ vào việcBKview dựa trên hệ thống nền nhập ngoại đó là hệ Virtual-U của VirtualLearning Environment (http://virtual-u.cs.sfu.ca/vuweb/VUenglish).
- Đại học Cần Thơ: Chương trình đào tạo từ xa về CNTT với sự hợp tác của Đạihọc Cần Thơ và các trường đại học Vương quốc Bỉ (địa chỉhttp://dec.ctu.edu.vn/dttuxa.htm) Cung cấp một số giáo trình như: “Tin học cănbản”, “Tiếng Anh dành cho nông nghiệp”, “Thuỷ sản” Một số tài liệu thể hiệndưới dạng sách điện tử tham khảo (dạng trang Web, đểu là tài liệu tiếng Anh),một số tài liệu nâng cao có các bài tự kiểm tra kiến thức đã học (như Tin học cănbản, Tiếng Anh chuyên nghành nông nghiệp) Sau khi kiểm tra có đánh giá kếtquả và hướng dẫn người học bổ sung kiến thức còn khiếm khuyết (các giáo trìnhTin học căn bản)
- Công ty Phát triển Phần mềm – VASC (Bộ Bưu chính Viễn thông) đã mở mộtWebsite cho dịch vụ luyện thi trực tuyến tại địa chỉ www.truongthi.com.vn TạiWebsite này người dùng có thể tham gia các chuyên mục như: Lớp luyện thitrực tuyến, với nội dung bài học dưới dạng văn bản và dưới dạng âm thanh; Thưviện kiến thức, phục vụ việc tra cứu kiến thức liên quan đến việc luyện thi nhưcác bộ đề thi; Tư vấn hướng nghiệp, cung cấp các thông tin tư vấn của cácchuyên gia về các vấn đề như phương pháp học tập, hướng nghiệp, thông tin vềcác suất học bổng, các trường đại học trên thế giới; Thông tin – Tin tức cung cấpcác thông tin mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tuyển sinh, các trường đạihọc, quy chế tuyển sinh của các trường… Ngoài ra học sinh có thể tham gia mụcCâu lạc bộ để trao đổi thảo luận với những người dùng khác dưới hai hình thức
là Diễn đàn (forum) và Trao đổi trực tuyến (chat) Các ý kiến góp ý hoặc thắcmắc được gửi tới người chịu trách nhiệm thông qua chức năng Hỗ trợ trựctuyến – Góp ý Đây không phải là dịch vụ hoàn toàn miễn phí, để sử dụng các
Trang 37chức năng nâng cao như bài giảng trực tuyến, thư viện kiến thức … người dùngphải mua thẻ truy cập dịch vụ của công ty.
- Trung tâm công nghệ thông tin - Học viện Bưu chính Viễn thông (CDIT) cũng
có một Web site tương tự www.truongthi.com.vn đặt tại địa chỉ
http://www.khoabang.com/
- Trung tâm Công nghệ Kỹ nghệ Sài gòn (SaigonCTT): Kết hợp với công ty Ciscothực hiện các khoá đào tạo dài hạn (8 học kỳ tương đương 560 giờ học) về cáccông nghệ mạng của Cisco Học viên được học về cách thiết kế, xây dựng vàbảo trì hệ thống mạng máy tính và sẽ được cấp chứng chỉ quốc tế (CCNA) saukhi tốt nghiệp Nội dung bài học được chuyển tải qua Web sử dụng công nghệeLearning của Cisco Mô hình này gồm sách và tài liệu điện tử; giả lập và phòngthí nghiệm ảo; giao tiếp đa phương tiện; hợp tác và cộng đồng; quản lý chấtlượng học viên và hệ thống quản lý trên web
- Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam (Vietnam Development InformationCenter – VDIC, http://www.vdic.org.vn): Trung tâm có một phòng học chuyêndụng phục vụ cho mục đích học từ xa qua hệ thống cầu truyền hình(videoconferencing) Phòng học tương tác hiện đại, được trang bị một hệ thốngcầu truyền hình hội thảo 2 chiều, các máy tính kết nối Internet, các nguồn đàotạo trực tuyến, hệ thống phiên dịch đồng thời và các thiết bị hỗ trợ khác Họcviên có thể đưa ra câu hỏi, nhận xét hoặc thảo luận với giáo viên và học viên ởcác trung tâm đào tạo từ xa khác trên thế giới Các khoá đào tạo từ xa tại Trungtâm hiện do Mạng Đào tạo Phát triển toàn cầu (Global Development LearningNetwork - GLDN) cung cấp Đây là một mạng lưới đang phát triển mạnh mẽ,gồm các tổ chức học thuật và phát triển, cung cấp các khoá đào tạo từ xa về cácvấn đề liên quan tới các quốc gia đang phát triển Mỗi khoá học như vậy với thờilượng khoảng 40 giờ được ấn định vào những khoảng thời gian được nhất định.Người học cần phải có mặt tại phòng học vào thời gian ấn định của lớp học, dogiới hạn của phòng học nên mỗi buổi học tối đa chỉ được 40 học viên tham dự
Trang 38Ngoài những khoá học từ xa có giáo trình cụ thể, thiết bị cũng cho phép tổ chứctrao đổi kiểu hội nghị với các cơ sở có thiết bị tương tự ở các nước khác.
- Trường “Anh ngữ và Kỷ nguyên mới” (TPHCM) kết hợp với công ty IIS (Mỹ)giới thiệu chương trình học tập qua mạng (eLearning and E-training) dành chocác doanh nghiệp (tin tháng 12/2001, website
www.thegioigiaoduc.saigonnet.vn)
- Trung tâm eLearning Việt - Nhật: Đây là một dự án CNTT kết hợp giữa chínhphủ Nhật và Việt nam nhằm bồi dưỡng nâng cao trình độ cho các kỹ sư CNTTViệt Nam Học viên được tổ chức thi sát hạch và đào tạo theo tiểu chuẩn NhậtBản, có sự tham gia của phía Nhật Bản Dự án này có mục đích là đào tạo ranhững kỹ sư CNTT theo một tiêu chuẩn chất lượng chung của thế giới Tuynhiên, dù mang tên là eLearning nhưng đây không phải là một hình thức đào tạotrực tuyến như là tên gọi đã gợi tới
- Trung tâm Pháp Việt Đào tạo về quản lý (CFVG- TPHCM): Theo báo cáo đã cócác triển khai thử về đào tạo trực tuyến theo như một báo cáo (“eLearning dướigóc độ người đào tạo”) trong “Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo năm 2001”,mặc dù không đề cấp cụ thể đến kết quả đạt được
- Công ty Xi măng Sao mai: Qua website (www.saomai.com) Cty cho biết đangtriển khai việc huấn nghiệp qua mạng cho các nhân viên với mục đích nâng cao
kỹ năng nghề nghiệp (Sao mai là một công ty xi măng liên doanh với Thụy Sĩ,chủ yếu cung cấp xi măng cho các thị trường phía Nam)
- Trung tâm tin học và ngoại ngữ Trí Đức (www.triduc.com.vn) : Cung cấp cáckhoá học qua mạng Người học đăng ký học qua mạng sẽ được nhận mộtaccount để kết nối vào mạng của công ty (hoặc nếu không có điều kiện thì có thểđến tận công ty để học) Giáo trình bao gồm các tài liệu học, có thực hiện việc tựkiểm tra trong quá trình học, có giáo viên hướng dẫn nếu học tại công ty Trợgiúp cho người học được thực hiện qua hệ thống diễn đàn, email hoặc trợ giúp