Hiện nay đã có nhiều phương pháp xử lí nước, bên cạnh một số phương pháphiện đại như tuyển nổi, phương pháp màng thì phương pháp truyền thống lắng, lọcvẫn được áp dụng rộng rãi cho các n
Trang 1MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Các bể lắng đặc trưng được sử dụng trong xử lý nước
Bảng 2.Tải lượng tràn qua vách ngăn điển hìnhBảng 3 Tiêu chuẩn thiết kế điển hình cho bể lắng ngang hình chữ nhật
Bảng 4 Nồng độ hạt tương đối từ một thí nghiệm sự lắng
DANH SÁCH HÌNH
KẾ HOẠCH THỰC HIỆNĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống, góp phần vào sựthành công trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.Hiện nay, nguồn tàinguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ônhiễm và cạn kiệt.Nguy cơ thiếu nước, đặc biệt là nước ngọt và nước sạch là mộthiểm họa lớn đối với sự tồn vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái
Trang 2định Hiện nay đã có nhiều phương pháp xử lí nước, bên cạnh một số phương pháphiện đại như tuyển nổi, phương pháp màng thì phương pháp truyền thống lắng, lọcvẫn được áp dụng rộng rãi cho các nhà máy xử lí nước và đạt hiệu quả cao.
Trong đó lắng là khâu quan trọng trong dây chuyền công nghệ xử lý nước, là giaiđoạn làm sạch sơ bộ trước khi đưa vào bể lọc để hoàn thành quá trình làm trongnước.Và bể lắng ngang là công trình phổ biến, được sử dụng và thiết kế sớm nhấttrong các công trình lắng nước.Ở chuyên đề này nhóm tập trung tìm hiểu về bểlắng ngag hình chữ nhật
MỤC TIÊU
Mục tiêu chính của đề tài là giới thiệu về bể lắng ngang, cấu tạo, nguyên tắc vậnhành, thiết kế, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình vận hành, và ứng dụng thựctiễn của bể
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Phương pháp nghiên cứu: tìm kiếm, tham khảo các sách, tài liệu nước ngoài, có
chọn lọc những thông tin hay, mới, hiệu quả để dịch xây dựng chuyên đề Ngoài
ra, nhóm còn tham khảo ý kiến giảng viên và trao đổi thông tin với các nhóm có đềtài tương tự để hỗ trợ kiến thức trong quá trình thực hiện
Nôi dung ngiên cứu: Để hoàn thành chuyên đề, nhóm phải thực hiện:
• Dịch tài liệu tham khảo chính, đọc hiểu nội dung chính
• Hình thành ý tưởng dàn bài, cân nhắc các nội dụng cần thiết cho chuyên đề
• Tìm kiếm các tài liệu, sách nước ngoài (trong nước) đã được công bố có liênquan Sàng lọc các thông tin phù hợp và có tính mới lạ
• Tham khảo tài liệu tiếng Việt và giảng viên để nắm chắc thông tin
• Chỉnh sửa bài làm
Trang 3GIẢI TRÌNH
[1] Water and wastewater engineering , Design Principles and Practice,
Mackenzie L Davis, Ph.D., P.E., BCEE, Michigan State University.
Dòng 1-5 trang 385
Dịch hết phần “10-4 SEDIMENTATION BASIN DESIGN” trang 408
[2] Handbook of water and wastewater treatment technologies, Nicholas
P.Cheremisinoff, Ph.D N&P Limited, Boston Oxford Auckland Johannesburg Melbourne New Delhi.
Dịch khung trang 316, bên trái
[3] Macquarie Matrix: Vol.2.2, December 2012, Sedimentation tank design for rural communities in the hilly regions of Nepal, E Wisniewski, Department of
Chemical and Biomolecular Engineering, Melbourne School of Engineering, The University of Melbourne.
Dịch hết phần “Fundamental Design Principles of Sedimentation Units” Trang163,164
[4] Operation of Water Treatment Plants Volume I, Kenneth D Kerri,
University Interprises, Inc.; 6th Edition edition (2008).
Dịch hết phần Inflences on settling in a horizontal flow tank trang 58 cột 2
[6] Sedimentation, Monreo L Weber shirk School of Civil and environmental
engineering , Cornell university
Dịch slile 12, 13, 14,
Trang 4[7] Primary treatment, report of plant tour at 1 S 649 Shaffner Road
Wheaton, IL 60187, Phone: 630-668-1515, Fax : 630-668-5536, Wheaton Sanitary District (web: http://www.wsd.dst.il.us )
Dịch cả trang PLAN TOUR
[8] Simple Methods for the Treatment of Drinking Water, Grabriele Heber,
GTZ; 1985
Dịch ở phần 3.3.2: 3.3.2 Simple Settling Basins dòng 2-6
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
1.1 SỰ LẮNG
Lắng là khâu quan trọng trong dây chuyền công nghệ xử lý nước ( quá trình xử lý
mà trong đó các hạt lơ lửng như bông cặn, cát và đất sét được tách ra từ nước, làmsạch sơ bộ trước khi đưa vào bể lọc để hoàn thành quá trình làm trong nước).Nước cần xử lý được đưa vào bể và giữ lại đó trong suốt quá trình làm việc.Nhờdiện tích tiết diện bể lớn, tốc độ dòng chảy nhỏ mà quá trình xảy ra trong bể gầnnhư ở trạng thái tĩnh.Dưới tác dụng của lực trọng trường, các hạt cặn có khốilượng riêng lớn hơn khối lượng của nước bao quanh nó sẽ tự lắng xuống [1]
Trang 5Khi xét đến khả năng liên kết giữa các hạt trong nước, người ta phân chia quátrình lắng tự do theo hai loại: lắng tự do của hạt không liên kết và lắng tự do khicác hạt có khả năng liên kết với nhau Lắng tự do của các hạt riêng lẻ (không liênkết) xảy ra khi khả năng liên kết tự nhiên của các hạt không đáng kể, ví dụ trườnghợp các hạt cát Trong quá trình này các hạt cặn luôn duy trì tính đồng nhất, khôngthay đổi kích thước, không thay đổi khối lượng riêng và như vậy tốc độ lắng củachúng được xem như không đổi Ngược lại, trong quá trình lắng kèm theo quátrình keo tụ tạo bông thì các hạt tương tác với nhau, tạo ra bông keo và do vậykích thước và trọng lượng chúng có thể thay đổi ( tăng lên), vận tốc lắng cũng dovậy mà thay đổi (nhanh hớn) [1]
1.2 BỂ LẮNG
Để giữ lại các chất không tan hữu cơ đó (ở trạng thái chìm hoặc nổi trên mặtnước), người ta dung phương pháp lắng Công trình thực hiện quá trình lắng đượcgọi là bể lắng
1.2.1 Các loại bể lắng
Có rất nhiều loại bể lắng khác nhau
- theo hình dạng chúng có thể có hình dạng chữ nhật, hình vuông hoặc tròn;
- theo cách đưa nước vào chúng có thể là loại liên tục hoặc gián đoạn;
- theo hướng dòng chảy, có thể có loại nằm ngang hoặc thẳng đứng
Trong đó có 1 số bể lắngphổ biến là : bể lắng hìnhchữ nhật, bể lắng hìnhchữ nhật hai tầng , bểlắng hình vuông hoặctròn với dòng chảy đứng,
bể lắng chất rắn tiếp xúc(còn được gọi là bể lắnglamen) [4]
Trang 6Bể lắng dòng đi lên, bể lắng chất rắn tiếp xúc là những bể độc quyền có kích thước
cơ bản và những thiết kế của nó đã được thiết lập từ trước bởi các nhà sản xuấtthiết bị Chúng không được ưu tiên lựa chọn vì những lí do sau: (1) nhiệt độ daođộng nhỏ ở mức 0,50C có thể gây ra dòng chảy mật độ cao ngắn mạch và (2) cómột sự tổn thất nhanh về hiệu quả nếu thủy lực hoặc chất rắn quá tải Tuy nhiêncũng có những trường hợp chúng có thể thích hợp.Những điều nay được thảo luậnchi tiết bởi Kawamura (2000) Dòng chảy ngang với ống dẫn trung tâm, ống dẫnngoại vi, và những bể lắng dòng đi lên không được khuyến khích vì sự không ổnđịnh về thủy lực của chúng (Kawamura, 2000) [1]
Bảng 1: Các bể lắng đặc trưng được sử dụng trong xử lý nước [1]
Bễ lắng ngang Bể dài hình chữ nhật
Nguồn cấp trung tâm Hình tròn, dòng chảy ngang
Nguồn cấp ngoại vi Hình tròn, dòng chảy ngang
Trang 7Dòng chảy đứng, bễ lắng
chất rắn tiếp xúc Tuần hoàn bùn vớ lớp phủ bùn, độc quyền
Bễ lắng modun tỉ lệ cao Hình chữ nhật, có tấm song song hoặc ống,
độc quyền
Bể lắng cát Bổ sung cát nhỏ, độc quyển
(Nguồn từ Kawamura, 2000)
1.2.2 Vị trí bể lắng trong xử lí nước
Các hình thức phổ biến nhất của quá trình lắng trầm tích là sau đông tụ/kết bông
và trước quá trình lọc Đây là loại lắng trầm tích đòi hỏi phải bổ sung hóa chất(trong đông tụ/kết bông) để loại bỏ các cặn bẩn trong nước Lắng ở giai đoạn này
có thể xử lý loại bỏ 90% các hạt lơ lửng trong nước, trong đó có cả vi khuẩn Mụcđích lắng ở đây là để làm giảm nồng độ của các hạt lơ lửng trong nước nhằm giảmtải xử lý cho quá trình lọc.Có hai giai đoạn lắng trong quá trình xử lý nước
Lắng trong quá trình tiền xử lý được gọi là tiền lắng (presedimentation) Tiền lắngcũng có thể được gọi là lắng trầm tích đơn giản vì quá trình này phụ thuộc chỉ vàotrọng lực của các hạt lơ lững trong nước Nếu không có đông tụ/kết bông, lắng đơngiản chỉ có thể loại bỏ các hạt thô dễ lắng ra khỏi nước mà không có sự bổ sungcủa hóa chất Loại lắng này thường diễn ra trong một hồ chứa, lưu vực sạn, đậpvụn, hoặc giai đoạn đầu vào của quá trình xử lý
Trong khi lắng sau đông tụ/kết bông để loại bỏ hầu hết các hạt lơ lửng trong nướctrước khi nước đến quá trình lọc, tiền lắng sẽ loại bỏ hầu hết các trầm tích trongnước trong giai đoạn tiền xử lý.Vì vậy, tiền lắng sẽ giảm tải việc xử lý trong giaiđoạn đông tụ/kết bông và trong bể lắng, cũng như giảm lượng hóa chất đông tụcần thiết để xử lý nước.Ngoài ra, tiền lắng là rất hữu ích vì nước thô vào nhà máy
từ một hồ chứa thường có chất lượng nước đồng đều mà không một lưu vực nướcnào có được như vậy
Phần còn lại của bài này sẽ quan tâm tới lắng sau đông tụ/kết bông Chúng ta sẽxem xét các loại bể trầm tích và các bộ phận của một bể lắng điển hình, cụ thể ở
Trang 8dụng trong xử lý nước mặt để tránh tắc nghẽn nhanh các bộ lọc cát sau keo tụ và
sự hình thành bông cặn (hình 2 ) [5]
1.3 BỂ LẮNG NGANG
Bể lắng ngang là loại có thiết kế đơn giản nhất, cho phép nước chảy ngang quamột bể lắng khá dài Đây là loại bể thường được tìm thấy trong các nhà máy xử lýnước quy mô lớn.Bể lắng hình chữ nhật có nhiều lợi thế như khả năng dự báo, chiphí hiệu quả, và bảo trì thấp.Ngoài ra, các bể lắng hình chữ nhật ít có khả năngngắn dòng, đặc biệt là khi chiều dài ít nhất bằng hai lần chiều rộng.Một bất lợi của
bể hình chữ nhật đòi hỏi một diện tích đất lớn [4]
Trang 9 Ưu điểm:
o Dễ thiết kế, xây dựng và vận hành
o Áp dụn cho lưu lượng lớn ( > 15.000 m3/ngày)
Khuyết điểm:
o Thời dan lưu dài
o Chiếm mặt bằng và chi phí cao
Ứng dụng: thường áp dụng trong xử lí nước cấp
Hình 3 Bể lắng dòng chảy ngang.[5]
Nước trong bể lắng dòng chảy ngang ( hình 2) được phân bố đều trên diện tíchmặt cắt ngang của bể lắng trong khu vực đầu vào
Sự ổn định (không biến động) của dòng chảy trong khu vực lắng ảnh hưởngnhiều đến sự lắng các chất huyền phù trong khu vực lắng
Bùn được tích lại ở dưới đáy hoặc liên tục được thải bỏ
Trong vùng cửa ra, bùn đặc bị lắng phải được ngăn chặn từ việc lắng lại và rửasạch với nước thải.[5]
Trang 10CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO- HOẠT ĐỘNG BỂ LẮNG NGANG
2.1 CẤU TẠO
2.1.1 Các bộ cơ bản
Các bể lắng ngang có thể được xây dựng trên mặt đất với việc xây kín, bê tônghoặc bê tông cốt thép Ngoài ra, các bể xấy dưới đất có thể được sử dụng vớinhững bức tường thẳng hay nghiệng kín nước theo chiều dọc hoặc bên trong dốc.Cấu tạo bể lắng ngang bao gồm bốn bộ phận chính Mỗ khu vực có hoạt động đặctrưng riêng:
1.Khu đầu vào (Inlet zone) : Trong khu vực này, nước được dẫn vào trong bể vớidòng chảy ổn định và xáo trộn thấtp trên toàn bộ mặt cắt ngang của bể
2 Khu vực lắng (Settling zone) : Một phần của bể nơi xảy ra quá trình lắng đọngtrầm tích
3 Khu đầu ra (Outlet zone) : Chậm thống nhất hòa-off của nước làm rõ từ vùnggiải quyết Sự phát triển bên ngoài của dòng chảy sẽ không làm phiền các prozessgiải quyết
4 Khu vực chứa bùn( Sludge zone): Nơi thu thập , tập trung bùn Nếu bùn để bùn
tự trượt xuống khu thu bùn này, sàn của bể nên có độ dốc 45º Việc hút bùn (cặn)xảy ra tại ống hút bùn (8)
Hình 4 Bốn khu vực chính của bể lắng ngang
Trang 112.1.2 Các bộ phận cấu tạo chi tiết của một số loại bể lắng ngang
Hình 5a Cấu tạo của bể lắng ngang hình thông thường
(1) Mương dẫn nước thải vào bể
(2) Máng phân phối nước
Trang 12Hình 5b Cấu tạo bể lắng ngang với nhiều hố tập trung cặn
(1) Mương dẫn nước thải vào bể (5) Mương dẫn nước thải ra khỏi bể(2) Máng phân phối nước (6) Các hố thu cặn
(3) Tấm chắn nửa chìm nửa nổi (7) Các ống thu cặn
(4) Máng thu nước sau lắng
Hình 5c Cấu tạo bể lắng ngang kết hợp bể phản ứng có lớp cặn lơ lửng
(1) Ngăc tách khí (4) ống phân phối nước vào
(2) Bể phản ứng có lớp cặn lơ lửng (5) Máng thu nước bề mặt
(3) Bể lắng ngang (Hình 4a) (6) Ống xả cặn
Trang 13Hình 5d Cấu tạo chi tiết bể lắng ngang co hệ thống thu cặn cơ khí.[1]
2.1.3 Đặc điểm cấu tạo chung
- Chiều sâu công tác của bể có thể từ 2 - 3,5 m
- Chiều dài bể tối thiểu gấp 10 lần chiều sâu
- Bể lắng ngang thích hợp cho các trạm có công suất lớn (trên 30.000 m3/ngđ)
- Đòi hỏi diện tích xây dựng rộng và thường xây dựng ở ngoài trời
- Để phân phối nước vào bể cũng như thu nước, cách thông thường là dùng các vách ngăn đặt cách vách bể 1 - 2m
- Vận tốc vào 0,2 - 0,3 m/s và vận tốc nước ra 0,5 m/s
- Nước sau lắng được thu bằng máng tràn
- Đáy thường được thiết kế có độ dốc về phía đầu bể đễ dễ dàng khi xả cặn và tránh xáo trộn bùn
- Cặn có thể được thu bằng biệt pháp cơ khí hoặc thủ công :
• Độ dốc đáy bể lá 1% khi thu cặn bằng cơ khí
• Độ dốc là 5 – 10% khi thu cặn bằng thủ công
2.2 QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA BỂ
Sau qua trình đông tụ kết bông.Nước sẽ theo máng phân phối đều vào bể quavách tràn thành mỏng hoặc tường đục lỗ xây dựng ở đầu bể tới khu vực lắng của
bể Sau khi qua khu vực lắng nước sẽ tiếp tục di chuyển đến máng thu nước ở khuvực đầu ra Tại đây các cặn nổi cũng một phần giữ lại nhờ màng thu chất nổi, cònlượng nước sau khi lắng cặn sẽ tới máng thu và theo ống thoát nước dẫn ra ngoàichuẩn bị cho quá trình lọc Các cặn lắng (bùn lắnh) sẽ được thu gom lại tại hố thucặn và cũng được xả ra ngoài theo ống xả cặn
Trang 14CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ BỂ LẮNG NGANG
3.1 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA THIẾT KẾ MỘT ĐƠN VỊ LẮNG.
Các thiết kế của hệ thống dòng là dựa trên nguyên tắc của trọng lực lắng xuống Trọng lực của sự lắng xuống xảy ra trong bể nước với các khu vực mặt cắt nganglớn, nơi chảy đến nhỏ và dòng chảy ra ngoài tạo ra một trạng thái thụ động thực
sự trong hệ thống Dưới ảnh hưởng của trọng lực, các hạt có tỉ trọng cao hơn sovới các chất lỏng xung quanh sẽ chìm (trầm tích) trong khi các hạt có tỉ trọng nhẹhơn sẽ đi lên hay còn gọi là nổi (Huisman, 1986) Các hạt trong hệ thống sẽ đượclớp bùn ở đáy hồ giữ lại Điều này cho thấy nước khi đi ra khỏi hệ thống trongtrạng thái đã được làm trong (Huisman, 1986) Tỷ lệ tăng hay giảm của các hạtphụ thuộc vào kích thước hạt và mật độ tương đối của hạt so với chất lỏng.Hạt lớnhơn xuống nhanh hơn so với các hạt nhỏ hơn.Kích thước của hạt có thể được thayđổi bằng cách kết hợp Điều này cho thấy có 2 cách tách riêng việc lắng thành hailoại (Hình ): sự lắng rời rạc và sự lắng kết bông
Sự khác biệt hiển thị sơ đồ giữa sự lắng rời rạc và sự lắng kết bông
Hình 6.Sự khác biệt giữa sự lắng rời rạc và sự lắng kết bông.[9]
Sự lắng rời rạc xảy ra trong các hệ thống có nồng độ hạt nhỏ, nơi tập hợp hạt làkhông đáng kể và sự lắng xảy ra bởi các lực tự nhiên (lực trọng trường ) Trong sựlắng rời rạc,tốc độ đầu cuối hoặc tỷ lệ lắng của các hạt có thể được tính bằng cách
Trang 15sử dụng định luật Stokes’s (phương trình 1) trong đó giả sử tỷ lệ chỉ phụ thuộcvào kích thước của hạt, hình dạng (cầu thể) và mật độ cũng như độ nhớt và mật độcác chất lỏng xung quanh.định luật Stokes’s là:
Ut=So=Trong đó :
Đối với tỷ lệ loại bỏ thấp, không đáng kể thì kết quả tăng khu vực bể là một cảitiến lớn trong việc loại bỏ hạt, tuy nhiên nếu loại bỏ tỷ lệ lớn đạt yêu cầu, tăng độrộng của bể ngược lại diện tích mặt cắt cũng được yêu cầu (Camp, 1946),cái này làbất tiện trong trường hợp quỹ đất là nhỏ
Các thiết kế điển hình của một bể lắng liên quan đến bốn thành phần chính (hình2) (Huisman, 1986)
3.2 BỐN KHU VỰC CHÍNH BỂ LẮNG NGANG[4]
Tất cả các bể trầm tích có bốn khu vực – khu vực đầu vào, khu vực lắng, khu vựcchứa bùn, và khu vực đầu ra.Mỗi khu vực có sự chuyển tiếp thông suốt giữa khuvực trước và khu vực sau.Ngoài ra, mỗi khu có mục đích riêng của nó
Các khu vực có thể được nhìn thấy dễ dàng nhất trong một bể lắng ngang hình chữnhật
Trang 163.2.1 Khu vực đầu vào
3.2.1.1 Chức năng
Hai mục đích chủ yếu của khu vực đầu vào của một bể lắng là để phân phối nước
và kiểm soát tốc độ của nước khi nó đi vào bể.Ngoài ra, các thiết bị khác ngay khuvực đầu nhằm để giảm bớt dòng chảy rối của nước vào bể làm cho dòng chảy ổnđịnh hơn, phục vụ cho việc lắng thêm hiệu quả
3.2.1.2 Yêu cầu thiết kế
Dòng chảy vào trong một bể lắng phải được phân bố đều trên chiều rộng của bể đểngăn chặn sự ngắn dòng Ngắn dòng là một vấn đề, trong đó nước đi qua bể theodòng chảy bình thường đến đầu ra không đủ thời cần thiết ngậm nước trong bể dẫnđến việc lắng không hiệu quả Chúng ta sẽ thảo luận ngắn dòng trong bài tiếp theo.Ngoài việc phòng tránh ngắn dòng, cửa đầu vào sẽ điều khiển vận tốc của dòngchảy vào bể Nếu vận tốc nước là lớn hơn 0,5 ft/giây, thì các kết bông sẽ bị vỡ ra
do khuấy mạnh của nước Các cục kết bông bị vỡ trong bể lắng sẽ làm cho việclắng ít hiệu quả
Nước sau khi keo tụ kết bông phải được dẫn đến bể lắng, vận tốc dòng chảythường được dùng là trong khoảng 0,15-0,6 m/s Vận tốc này phải được giảmxuống và dòng chảy trải đều qua tiết diện của bể lắng Một bức tường khuếch tán
là cách hiệu quả nhất để thực hiện điều này.Các bức tường khuếch tán được đặtkhoảng 2m phía hạ lưu của đường ống nạp vào.Sự hao hụt cột áp qua các lỗ nên từ4-5 lần vận tốc của dòng chảy đến Vận tốc qua các lỗ thông thường phải khoảng
từ 0,20-0,30 m/s cho đủ hao hụt cột áp Các lỗ có đường kính khoảng 0,10-0,20mcách nhau khoảng 0,25-0,60m Chúng được phân bố đều trên tường Các lỗ thoátnước thấp nhất nên khoảng 0,6m phía trên sàn của bể (Willis, 2005).[1]
Có hai loại cửa đầu vào được hiển thị dưới đây Thứ nhất là vách ngăn có lỗ(Stilling Wall), kéo dài toàn bộ thiết diện bể từ trên xuống dưới và từ bên này sangbên kia Nước qua đầu vào và tiến vào vùng lắng của bể lắng qua các lỗ cách đềunhau trên vách ngăn
Trang 17Hình 7 Hai loại cửa đầu vào của bể lắng ngang
Loại thứ hai của cửa đầu vào là cho phép nước vào bể bằng cách chảy qua các lỗcách đều nhau phía dưới cùng của một khoang ( Channel or Flume) và sau đó chảytheo vách ngăn ở phía trước của khoang Sự kết hợp của khoang và vách để phânphối đều nước vào bể
3.2.2 Khu vực lắng
3.2.2.1 Chức năng
Khu vực lắng chỉ đơn giản là một khu rộng lớn để lắng các bông cặn trong nước.Sau khi qua khu vực đầu vào, nước tiến vào vùng lắng với vận tốc nước giảm đángkể.Đây là nơi mà phần lớn các kết bông lắng xảy ra và khu vực này là khu vực lớnnhất của bể lắng.Để đạt hiệu quả tối ưu, các khu lắng đòi hỏi dòng nước phải chảychậm
3.2.2.2 Yêu cầu thiết kế
Tỷ lệ tràn là các thông số thiết kế chính cho điều chỉnh kích thước tỷ lệ bể lắng.Các tỷ lệ này thường duy trì đủ để mà khu vực đầu vào không phải bổ sung thêmchiều dài được tính toán cho khu vực lắng này Nếu tỷ lệ tràn dựa trên nghiên cứuthí điểm, sau đó chiều dài của khu vực đầu vào sẽ được thêm vào chiều dài đượctính toán từ tỷ lệ tràn
Trong lý thuyết thì độ sâu bể lắng [còn gọi là độ sâu mặt bên của nước(SWD)]không nên là một thông số thiết kế bởi vì hiệu quả loại bỏ dựa trên tỷ lệ tràn Tuy
Trang 18Ngoài ra, độ sâu có thể là một thông số kiểm soát để giới hạn vận tốc dòng chảyqua và / hoặc xói của các hạt từ lớp phủ bùn Bể với thiết bị loại bỏ bùn cơ khíthường từ sâu 3 đến 5m (MWH, năm 2005, và Willis, 2005).
Để cung cấp dòng chảy nguyên khối và giảm thiểu ngắn mạch, 1 tỷ lệ độ dài đốivới chiều rộng tối thiểu (L: W) là 4: 1 được khuyến khích Tỉ lệ tối ưu nhất là L:W6:1 (Kawamura, 2000)
Những bể lắng được mở lớn hơn 30m chiều dài đặc biệt rất dễ bị ảnh hưởng củagió Đối với bể dài hơn, thiết bị chắn sóng ( mương tháo nước hoặc vách ngăn)được khuyến nghị đặt cách khoảng 30m Độ sâu bể thường được tăng thêm
khoảng 0,6m để cung cấp freeboard linh hoạt để hoạt động như một rào cản gió.
Vận tốc dòng chảy ngang phải được kiểm soát để tránh sự hỗn loạn không đáng cólại khuấy trộn hay sói các hạt từ bùn GLUMRB (2003) khuyến cáo rằng vận tốcphải không quá 0.15m / phút Vận tốc 0,6 đến 1,2 m / phút được tìm ra là có thểchấp nhận cho độ sâu bể từ 2 đến 4 3 m (Willis, 200 5) Những con số củaReynolds và Froude có thể được sử dụng để kiểm tra sự rối loạn và phát tán lại
3.2.3 Khu vực đầu ra
3.2.3.1 Chức năng
Khu vực đầu ra điều khiển nước chảy ra khỏi bể lắng.Như khu vực đầu vào, khuvực đầu ra được thiết kế để tránh sự cố ngắn dòng trong bể.Ngoài ra, một cửa ratốt sẽ đảm bảo rằng chỉ có nước được lắng rời khỏi bể và đi vào bể lọc.Cửa racũng có thể được sử dụng để kiểm soát mức độ nước trong bể
Hình 8.Khu vực đầu ra của bể lắng ngang.[1]
Trang 193.2.3.2 Yêu cầu thiết kế
Cửa ra được thiết kế để đảm bảo rằng nước chảy ra khỏi bể lắng có tối thiểu lượngkết bông lơ lửng trong nó.Nước chất lượng tốt nhất thường được tìm thấy ở phầntrên cùng của bể lắng, vì vậy cửa ra thường được thiết kế sao cho nước chỉ lướtqua cửa để ra khỏi bể lắng
Một khu đầu ra điển hình bắt đầu với một vách ngăn ở phía trước của dòng thoátra.Vách ngăn này ngăn cản các vật liệu nổi thoát ra ngoài bể lắng và làm tắc nghẽncác bộ lọc Sau vách ngăn rồi đến cấu trúc dòng thoát ra, thường bao gồm mộtmáng có khoét hình răng cưa nước tràn và đường ống nước thoát Một cấu trúcnước thoát ra điển hình được hiển thị dưới đây:
Hình 9a Cấu trúc thoát nước dạng máng tràn
Thành phần chính của cấu trúc nước thoát là máng thu nước, các rảnh răng cưacho phép nước chảy ra khỏi bể lắng và hướng nó vào đường ống nước thoát Mụcđích của các rảnh răng cưa giữa các vách nhằm ngăn nước chảy không kiểm soátvào máng, mặt khác để điều chỉnh lưu lượng nước hoạt động qua trong bể lắng.Các vách chắn nhằm để lướt đều nước ra khỏi bể và tiếp tục ngăn các bông kết tủakhông lắng được nổi trên bề mặt nước
Nước chảy qua các lỗ (rảnh răng cưa) tràn vào máng thu nước Sau đó, nước chảyvào cửa ra và tới ống nước thoát Ống này dẫn nước ra khỏi bể lắng và sang bướctiếp theo trong quá trình xử lý
Trang 20Cấu trúc nước thoát ra có thể nằm ở phần cuối của một bể lắng hình chữ nhật hoặcnằm xung quanh các cạnh của một bể lắng tròn Ngoài ra, cấu trúc nước thoát ra cóthể bao gồm vách tràn như các ngón tay (Finger Weirs) , một sự sắp xếp của mángthu nước mở rộng trong bể lắng như hình dưới đây.
Hình 9b Cấu trúc thoát nước dạng ngón.
Khu vực thu nước đầu ra bao gồm các ống thoát nước chạy song song theo chiềudài của bể (Hình 9a, 9c) Các ống phải trải dài một phần ba và tốt nhất là lên đếnmột nửa chiều dài bể nước
Như trong hình 9a chúng được cách quảng đều trên toàn chiều rộng của bể
Nếu sử dụng các ống có lộ, một hệ thống lỗ tháo được đặt nằm giữa các váchngăn Máng tràn có ba lợi thế:
(1) giảm dần vận tốc dòng chảy về phía cuối của bể,
(2) giảm thiểu tác động của sóng gió,và
(3) thu gom nước được làm sạch nằm ở giữa của bể khi mật độ dòng chảy xảy ra Mực nước trong bể được kiểm soát bởitường chịu lực cuối hoặc máng tràn Mángtràn có rãng răng cưa hình chữ V được gắn với hệ thống thu nước Lỗ ngập nước
có thể được sử dụng trên hệ thống thu nước Những bộ phần này được sử dụng đểtránh việc vỡ các bông cặn mong manh khi các bộ lọc cát nhanh thông thườngđược sử dụng
Mặc dù tải lượng thủy lực tràn qua vách ngăn tối ưu phụ thuộc vào thiết kế của cácquá trình trước và sau đó, tỷ lệ tảitràn điển hình được đưa ra trong Bảng 10-3.GLUMRB (2003) xác định rằng việc nước tràn qua không được vượt quá 250m3/d · m của mương thoát nứơc, các lỗ ngập nước không được đặt thấp hơn 1 mdưới dòng chảy và vận tốc lối vào qua lỗ ngập không được vượt quá 0,15 m/s [1]
Trang 21Bảng 2.Tải lượng tràn qua vách ngăn điển hình
Loại bông cặn Tải lượng tràn qua vách ngăn, m3 /d ·m
Cặn chứa ít phèn
Cặn chứa nhiều phèn hơn
(nước đục nhiều hơn) 180–270
Một hố (cống) thu bùn được thiết kế ở dưới cùng của lưu vực cho phép bùn được
dễ dàng thoát ra khỏi hồ Đáy hồ nên có độ dốc về phía hố thu bùn để tạo thuận lợicho việc loại bỏ bùn
3.2.4.2 Yêu cầu thiết kế
Trong một số nhà máy, loại bỏ bùn được thực hiện liên tục bằng việc sử dụng thiết
bị tự động Trong các nhà máy khác, bùn được loại bỏ bằng tay Nếu tháo bùnbằng tay thì lưu vực này nên được làm sạch ít nhất hai lần mỗi năm, hoặc thườngxuyên hơn nếu bùn tích tụ quá mức Tốt nhất là nên làm sạch các bể lắng khi nhucầu nước thấp, thường là vào tháng mưa và tháng có khí hậu tương đối mát lạnh.Các nhà máy nên có ít nhất hai bể lắng trầm tích để nước có thể tiếp tục được xử
lý trong khi một bể kia đang được làm sạch, bảo trì và kiểm tra
Nếu bùn không được loại bỏ trong bể lắng thường xuyên, hiệu quả (sử dụng được)khối lượng của bể sẽ giảm, làm giảm hiệu quả của quá trình lắng trầm tích.Ngoài
ra, bùn đóng trên đáy hồ có thể trở nên tự hoại, có nghĩa là nó đã bắt đầu phân