1.2 LÝ THUYẾT QUÁ TRÌNH LỌC NƯỚC Khi lọc nước qua vật liệu lọc, cặn bẩn bị lớp vật liệu lọc giữ lại, còn nước được làm trong.Cặn tích lũy dần trong các lỗ rỗng làm tăng tổn thất thủy lực
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN – GIỚI THIỆU 1.1 LỌC
Nước qua quá trình lắng sẽ không được tinh khiết và có thể chứa một số hạt lơ lửng rấtnhỏ và vi khuẩn trong đó Để loại bỏ hoặc giảm bớt các tạp chất, nước được lọc qua cáctầng vật liệu lọc như cát, than, Quá trình luân chuyển của nước thông qua các tầng vậtliệu dạng hạt như vậy được gọi là lọc Kết quả là sau quá trình lọc, nước sẽ có được chấtlượng tốt hơn bao gồm các mặt vật lý, hóa học và sinh học Lọc thường là một trongnhững bước cuối cùng trong quá trình xử lý nước
Quá trình lọc là quá trình cho nước đi qua lớp vật liệu lọc với một chiều dày nhất định đểgiữ lại trên bề mặt hoặc giữa các khe hở của lớp vật liệu lọc các hạt cặn và vi sinh vậttrong nước Sau một thời gian làm việc thời điểm tổn thất áp lực lớp vật liệu lọc đạt đếntrị số giới hạn hay chất lượng nước lọc xấu đi thì phải tiến hành rửa lọc
Tổn thất áp lực ban đầu trong lớp vật liệu lọc phụ thuộc vào tốc độ lọc, độ nhớt của nước,kích thước và hình dạng của nước lỗ rỗng trong lớp vật liệu lọc, chiều dày lớp vật liệulọc Trong quá trình lọc, số lượng cặn bẩn trong nước do vật liệu lọc giữ lại ngày càngtăng, cho nên tổn thất áp lực qua lớp vật liệu lọc cũng không ngừng tăng lên, khi đến 1 trị
số giới hạn lớp vật liệu lọc bị nhiễm bẩn hoàn toàn
Quá trình lọc được đặc trưng bởi:
− Tốc độ lọc: Lượng nước qua một đơn vị diện tích bề mặt của bể lọc trong một đơn vịthời gian
− Chu kì lọc: Khoảng thời gian giữa hai lần rửa bể lọc
1.2 LÝ THUYẾT QUÁ TRÌNH LỌC NƯỚC
Khi lọc nước qua vật liệu lọc, cặn bẩn bị lớp vật liệu lọc giữ lại, còn nước được làm trong.Cặn tích lũy dần trong các lỗ rỗng làm tăng tổn thất thủy lực của lớp lọc Lọc trong nước
là quá trình làm việc cơ bản của bể lọc, còn tăng tổn thất áp lực của lớp vật liệu lọc là quátrình đi kèm với quá trình lọc nên cả hai quá trình cần phải tính đến khi tính toán, thiết kế
và quản lý bể lọc Hiệu quả lọc nước của mỗi lớp lọc nguyên tố là kết quả của hai quátrình ngược nhau:
− Cặn bẩn tách ra khỏi nước và gắn lên bề mặt của hạt dưới tác dụng của lực dính kết
− Tách các hạt cặn bẩn ra khỏi lớp hạt vật liệu lọc vào nước dưới tác dụng của lớp thủy
Trang 2Quá trình lọc xảy ra cho đến khi cường độ dính kết các hạt cặn bẩn vào bề mặt hạt lớnhơn cường độ tách chúng Do quá trình tích lũy ngày càng nhiều cặn bẩn trong lỗ rỗngcủa cát lọc, cường độ tách cặn do lực thủy động gây ra ngày càng tăng.
Các hạt cặn không có khả năng dính kết lên bề mặt lớp vật liệu lọc, sau thời gian lọc, sốlượng cặn tích lũy trong lớp vật liệu lọc tăng lên, số lượng cặn đã bám vào bề mặt các hạtcát lọc bị dòng nước đẩy xuống dưới cũng ngày càng tăng và vai trò các lớp vật liệu nằmgần sát bề mặt trong quá trình lọc giảm dần
Thời gian làm việc mà lớp vật liệu lọc có chiều dày L đảm bảo lọc nước đến độ trong quyđịnh gọi là thời gian bảo vệ của lớp vật liệu lọc
• Than hoạt tính: loại bỏ chất clorua và chất hữu cơ
− Thanh hoạt tính có dạng hạt không được chứa tạp chất vô cơ cũng như hữu cơ hòatan gây độc hại đối với người sử dụng nước
− Than hoạt tính dùng làm vật liệu lọc không được tạo nên bất cứ một thành phần nàotrong nước vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh quy định và các tạp chất trong than hoạt tính nằmtrong giới hạn sau:
+ Chì Pb < 10 ppm
+ Kẽm Zn < 50 ppm
Trang 3+ Cadmi Cd < 1 ppm.
+ Arsenic As < 2 ppm
+ Độ ẩm < 8% tính theo khối lượng
+ Tỷ trọng > 0,36 g/cm3
• Cát Mangan: loại bỏ sắt và mangan
• Oxit Mangan ngậm nước (HMO): hấp thụ kim loại nặng bao gồm cả chất phóng xạ
• Nhiều lớp vật liệu: loại bỏ cặn và chất rắn lơ lửng
• Trung lập hóa: được sử dụng để trung lập hóa nước axit, làm tăng kiềm và độ pH trongnước
• Cát: loại bỏ các hạt và cặn nặng
• Vỏ quả óc chó: loại bỏ dầu ô nhiễm
• Nhôm hoạt tính: loại bỏ chất asen và florua
Để xác định vật liệu lọc phải dựa vào một số chỉ tiêu:
− Độ bền cơ học: là chỉ tiêu chất lượng quan trọng vì nếu vật liệu lọc có độ bền cơ họckhông đạt yêu cầu thì khi rửa lọc, các hạt nằm trong tình trạng hỗn loạn, va chạm vàonhau sẽ bị hao mòn và vỡ vụn, làm rút ngắn thời gian của chu kỳ lọc và chất lượng mứclọc xấu đi
− Độ bền hóa học: là chỉ tiêu quan trọng, đảm bảo cho nước lọc không bị nhiễm bẩn bởicác chất có hại cho sức khỏe con người hoặc có hại cho quy trình công nghệ của sảnphẩm nào đó khi dùng nước
− Hình dạng hạt
− Kích thước hạt
Trang 4CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA BỂ LỌC ÁP LỰC 2.1 GIỚI THIỆU BỂ LỌC ÁP LỰC
Bể lọc áp lực rất giống với bể lọc cát trọng lực ngoại trừ bể lọc được hoàn toàn đóng kíntrong một thùng áp lực như một bể thép, và được hoạt động dưới áp lực Bể lọc áp lựcđược sử dụng trong lĩnh vực cung cấp nước công cộng và không được áp dụng rộng rãi,điển hình là công dụng loại bỏ sắt và mangan từ nước ngầm dưới mặt đất
Bể lọc áp lực được sử dụng để giảm phí lắp đặt và hoạt động Tuy nhiên, bể lọc áp lực ítđược tin cậy hơn bể lọc trọng lực Tỷ lệ lọc lớn nhất của bể lọc áp lực là từ 5 đến 7,5 m/h
Hinh1 Bể lọc áp lực
2.2 CẤU TẠO CỦA BỂ LỌC ÁP LỰC
Bể lọc áp lực: là bể dùng các áp lực của máy bơm, máy thổi khí để giúp khả năng lọcnước thải hoặc nước cấp diễn ra một cách nhanh chóng nhằm tiết kiệm thời gian, diệntích, khối tích các bể lọc thông thường
Bể lọc áp lực là một loại bể lọc nhanh kín, thường được chế tạo bằng thép có dạng hìnhtrụ đứng (cho công suất nhỏ) và hình trụ ngang (cho công suất lớn) Bể lọc hình trụ đứng
có đường kính từ 1 đến 10 ft với sức chứa 300 gpm tại tỷ lệ lọc là 3 gpm/ft2 Bể lọc hìnhtrụ ngang thường có đường kính 8 ft, dài 10-25 ft với sức chứa từ 200 đến 600 gpm.Những bể lọc này được tách ra nhiều ngăn để tiện cho việc rửa bể lọc Nước rửa bể có thểđem vào bể lắng lại hoặc làm mềm để phục hồi chúng
Bể lọc áp lực thường hoạt động với tỷ lệ dòng chảy là 3 gpm/ft2 Bể lọc hai hay nhiều lớpvật liệu được thiết kế cho tỷ lệ 6-8 gpm/ft2 Tại nhiệt độ thường, tỷ lệ nước rửa bể lọc là
Trang 56-8 gpm/ft2 cho vật liệu lọc than antraxit và 13-15 gpm/ft2 cho cát Bể lọc than antraxitliên quan đến quá trình làm mềm nóng yêu cầu tỷ lệ nước rửa lọc là 12-15 gpm/ft2 vì nước
ít dày ở nhiệt độ hoạt động cao Nước lạnh không thể sử dụng để rửa lọc cho bể lọc quátrình nóng Điều đó có thể làm co giãn hệ thống luyện kim, làm cho kim loại bị mỏi.Ngoài ra, nước lạnh có nhiều oxy sẽ đẩy nhanh tiến độ ăn mòn các thiết bị Loại bể nàyđược áp dụng trong dây chuyền xử lý nước mặt cho dùng chất phản ứng khi hàm lượngcặn của nước nguồn lên đến 50 mg/l, độ đục lên đến 80
Hình 2 Bể lọc áp lực hình trụ đứng (trên) và bể lọc áp lực hình trụ ngang (dưới)
Do bể làm việc dưới áp lực, nên nước cần được xử lý được đưa trực tiếp từ trạm bơm cấp
I vào bể rồi đưa trực tiếp vào mạng lưới không cần trạm bơm cấp II
Trang 6Bể lọc áp lực có thể chế tạo sẵn trong xưởng Khi không có điều kiện chế tạo sẵn có thểdùng thép tấm hàn, ống thép, để chế tạo bể Các bộ phận và thiết bị của bể lọc áp lựcvề
cơ bản cũng giống bể lọc nhanh phổ thông
Hình 3 Cấu tạo bể lọc áp lực
1 Áp kế; 2 Ống dẫn nước vào bể (nước thô); 3 Ống dẫn nước đã lọc; 4 Vỏ bể (thùng áp lực); 5 Vật liệu lọc (cát); 6 Lớp sỏi hỗ trợ; 7 Ống dẫn khí; 8 Ống dẫn nước rửa lọc;
9 Hệ thống thu nước trong
2.3 NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA BỂ LỌC ÁP LỰC
Nước được đưa vào bể qua một phễu bố trí ở đỉnh bể, qua lớp cát lọc, lớp đỡ vào hệ thốngthu nước trong, đi vào đáy bể và phát vào mạng lưới Lúc này, các van ống dẫn nước rửalọc được đóng lại, không sử dụng Khi rửa bể, nước từ đường ống áp lực chảy ngược từdưới lên trên theo ống dẫn nước rửa lọc qua lớp cát lọc và vào phễu thu, chảy theo ốngthoát nước rửa ra ngoài
Trang 7Hình 4 Nguyên lý hoạt động của bể lọc áp lực (theo dòng nước chảy màu xanh)
Trang 8CHƯƠNG 3 THAU RỬA MÔI TRƯỜNG LỌC 3.1 GIỚI THIỆU
3.1.1 Khái niệm chung
Khi bể lọc bị tắc nghẽn (bể đạt đến tổn thất áp lực cao nhất) hoặc bể bị thủng, hoặc saumột thời gian dự kiến, quá trình lọc bị ngừng lại và bể lọc tạm ngưng sử dụng để sữa chữahoặc rửa bể lọc Chi tiết quy trình rửa bể lọc phụ thuộc vào mỗi nhà máy và quy chế đặctrưng được cung cấp từ các nhà thầu
Thau rửa môi trường lọc (rửa ngược) là quá trình đảo ngược dòng nước đi xuyên qua cáclớp vật liệu lọc để loại bỏ các chất rắn bị giữ lại Rửa ngược có thể được thực hiện bằngnước, khí và nước liên tiếp hoặc khí và nước kết hợp Phương pháp cuối cùng được biếtđến cách rộng rãi là hiệu quả nhất, nhưng hầu hết bể lọc được thiết kế cho rửa ngược bằngkhí hoặc nước, vì vậy việc thay đổi bể lọc hiện tại để sử dụng hệ thống này là hoàn toànkhó khăn Với cả ba loại rửa ngược, điều kiện của quá trình liên quan đến ngưỡng hóalỏng (lớn nhất) như một điểm tham khảo, ngay cả khí kết hợp với nước Ngưỡng này làđiểm mà tại đó thủy lực (áp suất) thấp trong bể lọc cân bằng tử trọng của vật liệu lọc Tỷ
lệ dòng chảy rửa ngược lớn nhất không nên vượt quá 20 m/h, và tỷ lệ dòng chảy cao hơn
sẽ làm trôi mất đi rất nhiều vật liệu lọc Trong suốt chu kỳ rửa ngược, bể lọc nên giãn nở
ít nhất 10% và nhiều nhất là 20% để chắc chắn rằng bể được rửa sạch đầy đủ
Như đã đề cập ở trên, rửa ngược có thể là một phần khó khăn trong quá trình lọc hơn giaiđoạn lọc Nếu tỷ lệ rửa ngược quá cao, vật liệu lọc có thể bị rửa trôi rất nhanh Nếu tỷ lệ
đó quá thấp, hiệu quả làm sạch sẽ giảm sút rất nhiều, bể lọc sẽ kém bền Trình tự và thờigian rửa ngược phải được lựa chọn để phù hợp với vật liệu lọc đang sử dụng và nhiệt độcủa nước rửa ngược Điều đó có thể cần thiết với nhiều trường hợp để điều chỉnh tỷ lệ rửangược theo từng giai đoạn để duy trì những điều kiện tối ưu mà không làm mất đi vật liệulọc
Nước đã lọc hầu hết ít được sử dụng cho rửa ngược Một bể chứa ở vị trí cao cũng có thểchứa nước để rửa ngược bể lọc Quá trình rửa ngược sẽ sử dụng khoảng 2-4% lượng nướcđầu ra, lượng nước thấp hơn được tổng hợp lại để sử dụng cho phương pháp khí và nướckết hợp
3.1.2 Vai trò của thau rửa vật liệu lọc
Thau rửa vật liệu lọc là quá trình bơm nước ngược lại dòng nước được đưa vào để lọc với
áp suất cao và cường độ lớn theo định kỳ
Trang 9Hiệu quả và tuổi thọ của bể lọc phụ thuộc nhiều vào chế độ vận hành và bảo dưỡng, nhất
là quá trình thau rửa vật liệu lọc Trong thực tế thau rửa vật liệu lọc tốn một phần nướckhông nhỏ Việc tiết kiệm nước rửa lọc dẫn đến vật liệu lọc không được rửa sách, bể lọclàm việc không đạt kết quả mong muốn, chu kì làm việc của bể bị rút ngắn
Bóng bùn là một khối tròn các vật liệu lọc khác nhau, kích thước đường kính nhỏ bằnghạt đậu đến hai inch hoặc hơn Hình ảnh trên cho thấy một bong bùn rất lớn Bóng bùnhình thành trên bề mặt của bộ lọc do vật liệu kết dính gây ra làm dính các hạt trong nước
và vật liệu lọc lại với nhau Nếu bộ lọc không được rửa ngược đúng và rửa sạch bề mặtvật liệu lọc, các bóng bùn sẽ tiếp tục tích lũy và ngày càng phát triển lớn hơn, cuối cùngchúng chìm vào trong môi trường lọc Bóng bùn trong vật liệu lọc dẫn đến thời gian vậnhành bộ lọc rút ngắn và mất khả năng lọc, vì nước sẽ không thể đi qua các bóng bùn vàchảy loanh quanh chúng
Hình 5 Bóng bùn
Mặt khác, để giảm chi phí quản lý, công tác rửa bể lọc không thường xuyên nên bể lọchoạt động ngày càng kém, dần xuống cấp và không còn tác dụng lọc nước, gây ra tắcnghẽn, tràn bể lọc Điều đó đã làm cho chất lượng nước không đạt yêu cầu, công suất xử
lý nước bị giảm sút nhiều
Vì vậy, thau rửa vật liệu lọc có những vai trò rất quan trọng trong quá trình lọc như:
− Là một nguyên công rất quan trọng và không thể thiếu
− Tách cặn bám ra khỏi bề mặt hạt cát lọc bằng lực ma sát và lực cắt do dòng nước chảyvới cường độ lớn đi qua bề mặt
− Làm giãn nở lớp lọc để tăng thể tích các khe rỗng
− Tạo điều kiện thuận lợi cho các hạt cặn đã tách ra khỏi bề mặt hạt cát chuyển động đilên cùng nước và dẫn ra ngoài
Trang 103.1.3 Quá trình thau rửa vật liệu lọc
Quá trình rửa vật liệu lọc được tiến hành khi tổn thất áp lực trong bể đạt tới giá trị giớihạn hoặc vào thời điểm lượng nước bắt đầu xấu đi Việc xác định thời điểm cần rửa vậtliệu lọc được thực hiện bằng các thiết bị đo báo tự động hoặc do những người vận hành
bể lọc quan sát độ chênh lệch mực nước trước và sau bể lọc khi quản lý vận hành thủcông
Trình tự tiến hành rửa vật liệu lọc như sau:
− Trước khi rửa bể, đóng van cấp nước đầu vào bể cho nước rút xuống ngang với mépmương thu nước rửa lọc
− Sau đó, đóng van trên đường thu nước rửa lọc và cho khí hoặc nước rửa có áp lực đi từphía dưới lên Nước rửa theo hệ thống đường ống khoan lỗ hoặc chụp lọc phân phối đềutheo diện tích bể rồi đi lên phía trên qua lớp vật liệu lọc với cường độ đảm bảo chuyểncác hạt của lớp vật liệu lọc vào trạng thái lơ lửng và theo dòng nước dẫn ra ngoài
Hình 6 Quá trình thau rửa vật liệu lọc
3.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP THAU RỬA MÔI TRƯỜNG LỌC
Có ba phương pháp thau rửa vật liệu lọc chính:
− Thau rửa bằng cách giãn nở nước
− Thau rửa không làm giãn nở lớp lọc bằng khí và nước
− Thau rửa bằng khí và nước kết hợp
Trang 113.2.1 Thau rửa bằng cách giãn nở nước
Chọn lưu lượng nước đủ lớn làm cho vật liệu lọc giãn nở, có nghĩa là làm cho thể tíchbiểu kiến của lớp vật liệu lọc tăng 15% Sự thay đổi độ nhớt của nước tùy thuộc vào nhiệt
độ Nhiệt độ càng tăng thì độ nhớt càng giảm Dòng chảy nhanh làm giãn nở lớp vật liệulọc và do đó các cặn bẩn lắng trong các khe rỗng bị rửa trôi Vận tốc dòng chảy cần thiết
để đạt mức giãn nở của vật liệu lọc dao động trong khoảng 100 – 120 m/h và phụ thuộcvào nhiệt độ của nước, kích thước và đặt tính của vật liệu lọc
Lớp vật liệu lọc giãn nở là nơi có dòng đối lưu Vật liệu lọc chạy xuống dưới vào mộtvùng nào đó và chạy lên cao trong vùng bên cạnh Thực tế các cục nhỏ của lớp lọc bámchặt bùn tạo nên vỏ bọc bề mặt vật liệu lọc và có thể chìm xuống đáy Dòng đối lưu làmnước xoáy và tạo ra bùn cứng và lớn, gây ra hiện tượng vón cục khi rửa vật liệu lọc Hiệntượng này có thể được khắc phục bằng cách phun nước dưới áp suất lớn bằng các ốngphun quay hay cố định
Phương pháp rửa này đòi hỏi phải thận trọng và đo giá trị giãn nở vật liệu lọc
Hình 7 Quá trình lọc (trái) và quá trình rửa vật liệu lọc (phải)
3.2.2 Thau rửa không làm giãn nở lớp lọc bằng khí và nước
Phương pháp này sử dụng lưu lượng nhỏ nước thu hồi để không gây ra sự giãn nở cát vàđồng thời phun không khí nén Cát không bị giãn nở, còn vỏ bùn bọc ngoài vật liệu lọc sẽ
bị phá hủy bằng khí Trong thời kì thổi khí, lưu lượng nước rửa càng lớn, càng nhanh thìviệc rửa càng hiệu quả Giá trị nhỏ nhất để việc thau rửa có hiệu quả và giá trị lớn nhất
Trang 12không vượt quá để tránh mất mát vật liệu lọc phụ thuộc đồng thời vào vật liệu lọc và côngnghệ lọc.
Khi tháo tạp chất của vật liệu rửa, thu gom vào hố chứa nước và tách ra máng dẫn thải,cần “xúc rửa”, nghĩa là thay nước bẩn trong hố này bằng nước sạch Có nhiều phươngpháp xúc rửa được sử dụng sau khi thổi khí:
− Duy trì không đổi lưu lượng nước hồi lưu cho đến khi nước tháo trong Thời gian củanguyên công này càng ngắn khi lưu lượng nước càng lớn (luôn > 12m/h) và bề dày củalớp nước ở trên vật liệu lọc càng nhỏ
− Tăng lưu lượng nước trong lúc xúc rửa để mang cát hạt ít nhất là 15m/h
− Quét bề mặt lọc bằng dòng nước chảy ngang hoặc nước đã lắng hòa với nước thu hồi
− Loại bỏ nước bẩn nằm trên vật liệu lọc và quét trên bề mặt lọc như phương pháp trên
3.2.3 Thau rửa bằng khí và nước kết hợp
Cách thau rửa này được sử dụng khi mật độ vật liệu lọc không cho phép sử dụng đồngthời, không gây nguy hiểm cho việc kéo theo vật liệu vào máng thải do nước rửa Đó làtrường hợp lớp lọc gồm cát mịn hoặc vật liệu có mật độ nhỏ (antricid, than hoạt tính,biolite) Phương pháp này cũng được sử dụng cho bộ lọc hai lớp vật liệu
Trong pha rửa thứ nhất, chỉ dùng không khí nén phun vào vật liệu lọc có hòa một ít nước
để gỡ các tạp chất được giử trên mặt vật liệu lọc Lượng nước nhỏ có sẵn ban đầu quátrình rửa sẽ giúp áp suất khí đi xuyên qua các khe hở của lớp vật liệu lọc hơn Trong phathứ hai, một dòng nước hồi lưu với cường độ mạnh và lưu lượng lớn được phun vào, bảođảm giãn nở lớp vật liệu lọc, cho phép tách các chất thải nặng hay rất khó loại bỏ ra khỏivật liệu lọc Nguyên công này được lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến lúc nước trên bề mặttrong hẳn Lưu ý ở đây là người vận hành cần quan sát có hiện tượng cát tràn vào mángthu hay không, nếu có phải đóng bớt van nước lại
Ưu điểm của phương pháp:
− Loại trừ được hiện tượng vón cục do không hoặc ít xuất hiện dòng đối lưu
− Lớp vật liệu lọc không bị phân loại thủy lực
− Các cỡ hạt phân phối với tỷ lệ như nhau trong suốt chiều dày lớp vật liệu lọc nên loạitrừ được hiện tượng tạo chân không trong lớp lọc
− Sử dụng phối hợp rửa bằng không khí và nước lắng có thể giảm từ 20 – 30% lượngnước tiêu thụ so với chỉ rửa riêng bằng nước
Trang 133.3 TẦN SỐ RỬA VÀ TIÊU THỤ NƯỚC RỬA
Tần số rửa phụ thuộc vào bản chất của nước cũng như số lượng MES được giữ lại Quátrình thau rửa được bắt đầu khi tổn thất tải đạt giá trị cực đại hay khi bộ lọc bắt đầu bục
ra Thực tế thau rửa thường bắt đầu sau khi đã lọc một thể tích nước nào đó Thời điểmnày cần xác định theo điều kiện vận hành và kinh nghiệm của người sử dụng
Tiêu thụ nước rửa chủ yếu tùy theo bản chất và trọng lượng cặn bị giữ lại trên 1m3 vậtliệu lọc Sử dụng phối hợp rửa bằng khí và nước lắng có thể giảm từ 20 – 30% lượngnước tiêu thụ so với chỉ rửa riêng bằng nước Mức tiêu thụ nước cũng tăng khi sử dụngthiết bị rửa bề mặt
Tiêu thụ nước rửa càng nhiều khi:
− Bề dày nước trên mặt vật liệu lọc càng lớn
− Lưu lượng nước thu hồi càng nhỏ
− Máng tháo bùn càng cách xa nhau
− Số lượng bùn thải càng lớn
− Độ keo tụ và mật độ bùn càng cao
Trang 14(2)
CHƯƠNG 4
MÔ HÌNH LỌC 4.1TÍNH TOÁN QUÁ TRÌNH GIẢM ÁP ĐỐI VỚI VẬT LIỆU LỌC HAY BÁNH LỌC
4.1.1 Định nghĩa của quá trình kháng lọc và bánh thấm: Công thức Darcy
Quá trình chống lại dòng vật liệu xốp (vật liệu lọc hoặc bánh lọc) có thể được mô tả bởiđịnh luật Darcy (công thức 1) Hãy xem xét một dòng chất lỏng đi qua một bánh lọc (hoặcmột dòng nước thấm qua đất như miêu tả của Darcy) Sự sụt giảm áp lực ∆p của dòng chấtlỏng này là tỷ lệ thuận với:
− Lưu lượng trên mỗi đơn vị diện tích V/A (Lưu lượng riệng hoặc vận tốc lọc)
Đôi khi nó là thuận tiện hơn để xác định độ dày bánh theo khối lượng rắn m trên một đơn
vị diện tích lọc αm (đơn vị kg/m2).Điều này dẫn đến định nghĩa khác nhau về bánh chốnglọc Một phương trình tương ứng với phương trình Darcy có thể được viết với hằng số αm(m/kg) mô tả sự chống lại của bánh
Sau đó, các biểu thức sau đây được lấy thay cho phương trình (1)