Khái niệm và lịch sử ra đời mạng Internet: Internet được xem như là một "mạng của các mạng" Network of Network, được tạo ra bằng việc kết nối các máy tính và các mạng máy tính với nhau
Trang 1I Tổng quan về mạng Internet:
1 Khái niệm và lịch sử ra đời mạng Internet:
Internet được xem như là một "mạng của các mạng" (Network of Network),
được tạo ra bằng việc kết nối các máy tính và các mạng máy tính với nhau trong một mạng chung rộng lớn mạng tính chất toàn cầu Các mạng máy tính riêng rẽ đó
có thể là của một trường học, một viện nghiên cứu, một thư viện, một hãng kinh doanh, có thể là một cơ quan Nhà nước hay một tổ chức phi chính phủ,
Mạng Internet ngày nay là một mạng toàn cầu, bao gồm hàng chục triệu người
sử dụng, được hình thành cuối thập kỷ 60, từ một thí nghiệm của Bộ Quốc phòng
Mỹ Tại thời điểm ban đầu đó là mạng ARPANET của Ban quản lý dự án nghiên cứu quốc phòng Mỹ ARPANET là một mạng thử nghiệm phục vụ các nghiên cứu quốc phòng, một trong những mục đích của nó là xây dựng một mạng máy tính có khả năng chịu đựng các sự cố (Ví dụ khi một số nút mạng bị tấn công và phá huỷ nhưng mạng vẫn tiếp tục hoạt động) Mạng cho phép một máy tính bất kỳ trên mạng liên lạc với mọi máy tính khác
Khả năng kết nối các hệ thống máy tính khác nhau đã hấp dẫn mọi người, mặt khác đây cũng là phương pháp thực tế duy nhất để kết nối các máy tính của các hãng khác nhau Kết quả là các nhà phát triển phần mềm ở Mỹ, Anh và châu Âu
bắt đầu phát triển các phần mềm trên bộ giao thức TCP/IP (giao thức đ ược sử dụng trong việc truyền thông trên Internet) cho tất cả các loại máy Điều này cũng hấp dẫn các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu lớn và các cơ quan chính phủ, những nơi mong muốn mua máy tính từ các nhà sản xuất, không bị phụ thuộc vào một hãng cố định nào
Bên cạnh đó các hệ thống mạng cục bộ LAN bắt đầu phát triển cùng với sự xuất hiện các máy để bàn (desktop workstations) – năm 1983 Phần lớn các máy
để bàn sử dụng Berkeley UNIX, phần mềm cho kết nối TCP/IP đã được coi là một phần của hệ điều hành này Một điều rõ ràng là các mạng này có thể kết nối với nhau dễ dàng
Từ chỗ đơn thuần là một mạng máy tính của Bộ Quốc phòng Mỹ, rồi của một
số cơ quan khoa học, nghiên cứu, cơ quan chính phủ Mỹ, nội dung thông tin và dịch vụ trên mạng đã không còn đơn thuần là các thông tin của riêng Bộ Quốc phòng, mạng ARPANET dần dần lan rộng trở thành mạng xuyên quốc gia với nhiều nước truy cập với nội dung và dịch vụ hết sức phong phú với tên gọi mới là mạng Internet như hiện nay
Ngày nay, do sự phát triển quá nhanh và quá rộng ra toàn thế giới, mạng Internet đã không thể có một người quản trị chung, tuy nhiên, một số tài nguyên trên mạng Internet lại chỉ được phép là duy nhất, chẳng hạn như địa chỉ IP, số hiệu mạng, tên miền , thành thử, tổ chức mạng Internet vẫn cần phải được phân cấp quản lý để tránh xung đột cả về kỹ thuật lẫn quyền lợi giữa các thành viên tham gia vào mạng Một tổ chức cần thiết đã được ra đời để quản lý và phân bổ các tài nguyên chung, đó là InterNIC (International Network Information Commitee), hay Hiệp Hội thông tin mạng quốc tế, có trụ sở tại Mỹ Hiệp Hội này có quyền hạn
Trang 2phân chia tài nguyên cho các NIC khu vực Chẳng hạn như APNIC (Asia Pacific Network Information Center) là trung tâm của khu vực châu á - Thái Bình Dương
từ Afganistan ở Trung Đông tới Picainrn ở Thái Bình Dương, ARIN (American Registry for Internet Number) là trung tâm của khu vực châu Mỹ, biển Caribe và một phần châu Phi, và RIPENCC (Réseaux IP Européens Netwwork Coordination Center) là trung tâm của khu vực châu Âu và xung quanh, gồm có Nga, một phần châu Phi và Trung Đông Mỗi quốc gia khi muốn sử dụng Internet, tuỳ theo khu vực đều phải thực hiện việc đăng ký với các tổ chức này Một siêu mạng chẳng có
ai quản lý cụ thể, nhưng lại được tổ chức hết sức chặt chẽ, bởi về mặt kỹ thuật, chỉ
có một số tài nguyên là duy nhất, nếu ai muốn sử dụng thì phải thực hiện đăng ký thông qua các NIC khu vực, còn lại thông qua duy nhất một giao thức truyền thông chuẩn (TCP/IP), các dịch vụ trên mạng được phát triển một cách tự do Người ta đã tạo lập ra rất nhiều dịch vụ, và quả thực cuộc sống trên mạng đã trở nên hết sức phong phú Chúng ta hãy hình dung thế này: một công ty với sự phân tán của các nhân viên trên khắp toàn cầu vẫn có thể dễ dàng triệu tập một cuộc giao ban với sự hiện hữu đầy đủ cả về hình ảnh và tiếng nói của tất cả các thành viên Dù phân tán, máy tính của các thành viên này vẫn có thể dễ dàng truy cập các tài nguyên của nhau, chạy các ứng dụng Client-Server như trên cùng một mạng cục bộ Những trang quảng cáo với những âm thanh và hình ảnh bắt mắt, chi tiết luôn hiện hữu cho bất kể ai ngoài công ty đang quan tâm tới các dịch vụ của công ty, cũng từ đó việc trao đổi, mua bán được thực hiện ngay tức khắc trong khi công ty chẳng cần phải có người giao dịch và khách hàng thì cũng chẳng cần phải bước chân ra khỏi nhà Sự trao đổi thư từ, công văn tới tất cả các thành viên trong và ngoài công ty không còn phải lo tới sự chậm trễ hay thất lạc của đường bưu chính, thậm chí người ta còn có thể tán gẫu với nhau hàng giờ Nói tóm lại là tất cả các công việc của một văn phòng, một công ty sẽ dễ dàng được điều hành, quản lý và thực hiện thông qua một Virtual Office, một E- Super Market (văn phòng ảo, siêu thị điện tử ) nhờ các dịch vụ của mạng như Web, Mail, FTP, News, Chat, Video Confeerence, Voice Over IP (Sẽ định nghĩa chi tiết các dịch vụ này sau) Mạng Internet đã thực sự được xã hội hoá sâu sắc, và ngày nay, có thể nói không ngoa rằng, không cần phải nói đến sự tham gia của mạng Internet vào cuộc sống như thế nào, mà chỉ cần nói tới việc mỗi tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân đã tham gia gì trên mạng Internet
2 Các dịch vụ tiện ích trên Internet:
Dịch vụ th ư điện tử - Electronic Mail (E-mail)
Giới thiệu dịch vụ
Thư điện tử, hay thường gọi E-mail, là một trong những dịch vụ quan trọng nhất của Internet Được thiết kế ban đầu như một phương thức truyền các thông
điệp riêng giữa những người dùng Internet E-mail là phương pháp truyền văn bản
rẻ tiền nhất có ở mọi nơi ở các nước phát triển, hầu hết mọi người đều sử dụng mail trong các cơ quan và cho các mục đích cá nhân E-mail được coi là công cụ
Trang 3E-giao tiếp mạnh nhất ở Việt Nam, xu hướng sử dụng E-mail trong công tác E-giao dịch, trao đổi công việc cũng như các nhu cầu cá nhân cũng đang trở nên phổ biến
E-mail cung cấp cho bạn những ưu điểm sau đây
Bạn có thể gửi những tài liệu trực tiếp từ máy tính của bạn, thay cho việc phải
in ra và sau đó gửi fax Tuy không tức thời như fax, thời gian lưu chuyển của mail thường được tính bằng phút, thậm chí bằng giây, ngay cả khi người gửi và người nhận ở tận hai đầu của trái đất Điều này rất thuận lợi và nhanh hơn nhiều so với gửi thư qua đường bưu điện
E-Bạn nhận được những tài liệu dưới dạng văn bản điện tử, do đó bạn có thể trực tiếp chỉnh sửa chúng Nếu bạn nhận một tài liệu bằng thư thường hoặc fax và bạn muốn thay đổi, bạn phải gõ lại văn bản đó vào máy tính Điều này sẽ rất phiền phức và mất rất nhiều thời gian
Bạn có thể dễ dàng cùng một lúc gửi tài liệu đến nhiều người Sử dụng máy fax
để làm điều này thật không dễ dàng
Bạn hoàn toàn tự động lưu trữ những thư từ của bạn trên máy tính Điều này nhanh và đỡ tốn công sức hơn nhiều so với việc lưu trữ các văn bản fax và giấy tờ văn bản thường
Một số dịch vụ E-mail do mạng VNN cung cấp
Dịch vụ thư điện tử VNMail, F-Mail:
- Giải pháp thư điện tử với nhiều mức giá cố định, phù hợp với mức thu nhập của từng cá nhân, chế độ tính cước áp dụng theo cước cài đặt ban đầu và cước thuê bao hàng tháng Dịch vụ thư điện tử độc lập theo chuẩn SMTP Tốc độ gửi, nhận thư nhanh, dễ sử dụng, rất phù hợp với việc gửi, nhận các file dạng text
- Hoạt động trực tuyến 24/24h
- Ngoài ra hiện nay có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) cung cấp dịch vụ thư điện tử miễn phí thông qua các Website của mình (Gọi là Webmail) Dịch vụ này sử dụng hoàn toàn miễn phí, đăng ký tự động, trực tuyến, có khả năng truy nhập mọi nơi, mọi lúc với các trình duyệt Web thông dụng Tuy nhiên, một trong những bất lợi của webmail là dung lượng hộp thư thường bị hạn chế
Dịch vụ thư điện tử Mail Plus:
- Mail Plus là giải pháp hữu hiệu cho các khách hàng đăng ký nhiều địa chỉ mail với một Domain Name chung được đăng ký cùng với một Account VNN/Internet gián tiếp – thực hiện việc kết nối tới Internet và sử dụng các dịch vụ trên internet thông qua mạng điện thoại công cộng (PSTN)
E Dịch vụ thư điện tử Mail Plus hoạt động theo chuẩn SMTP
- Giá cước linh hoạt, tính theo nhu cầu đăng ký sử dụng Account Mail Plus của khách hàng
Trang 4Dịch vụ thư điện tử Mail Offline:
- Dịch vụ Mail Offline là giải pháp thư điện tử hữu hiệu cho khách hàng đã có mạng nội bộ (LAN), có nhu cầu sử dụng thư điện tử với số lượng lớn
- Dịch vụ Mail Offline cho phép một doanh nghiệp có thể sử dụng thư điện tử với một Domain Name chung được đăng ký thông qua một Mail Server và một Account VNN/Internet
Trao quyền cho khách hàng xây dựng và quản lý hệ thống thư điện tử của mình với số lượng người sử dụng không hạn chế, tuỳ thuộc vào khả năng phát triển mạng máy tính của doanh nghiệp
Dịch vụ Mail Offline hoạt động theo chuẩn SMTP
Giá cước linh hoạt, theo nhu cầu sử dụng của khách hàng Cước phí hàng tháng
sẽ được tính trên dung lượng khách hàng đăng ký với mạng VNN (mức 5MB; 10MB; 15MB)
Dịch vụ mạng thông tin toàn cầu WWW (World Wide Web)
Đây là dịch vụ mới và mạnh nhất trên Internet WWW được xây dựng dựa trên một kỹ thuật có tên gọi là hypertext (siêu văn bản) Hypertext là kỹ thuật trình bày thông tin trên một trang trong đó có một số từ có thể "nở" ra thành một trang thông tin mới có nội dung đầy đủ hơn Trên cùng một trang thông tin, có thể có nhiều kiểu dữ liệu khác nhau như Text, ảnh hay âm thanh Để xây dựng các trang dữ liệu với các kiểu dữ liệu khác nhau như vậy, WWW sử dụng một ngôn ngữ có tên là HTML (Hyper Text Markup Language) Ngôn ngữ HTML được xây dựng trên cơ
sở ngôn ngữ SGML (Standard General Markup Language) HTML cho phép định dạng các trang thông tin và cho phép thông tin được kết nối với nhau
Trên các trang thông tin có một số từ có thể "nở" ra, mỗi từ này thực chất đều
có một liên kết với các thông tin khác Để thực hiện việc liên kết các tài nguyên này, WWW sử dụng phương pháp có tên là URL (Universal Resource Locator) Với URL, WWW cũng có thể truy nhập tới các tài nguyên thông tin từ các dịch vụ khác nhau như FTP, Gopher, Wais trên các server khác nhau
Người dùng sử dụng một phần mềm Web Browser để xem thông tin trên các máy chủ WWW Tại server phải có một phần mềm Web server Phần mềm này thực hiện nhận các yêu cầu từ Web Browser gửi lên và thực hiện yêu cầu đó
Với sự bùng nổ dịch vụ WWW, dịch vụ này càng ngày càng được mở rộng và
đưa thêm nhiều kỹ thuật tiên tiến nhằm tăng khả năng biểu đạt thông tin cho người
sử dụng Một số công nghệ mới được hình thành như Active X, Java cho phép tạo các trang Web động, đang thực sự mở ra một hướng phát triển rất lớn cho dịch vụ này
Trang 5Sử dụng dịch vụ Webhosting, các doanh nghiệp có khả năng đưa thông tin về doanh nghiệp mình, năng lực hoạt động, lĩnh vực hoạt động, cơ hội kinh doanh cùng nhiều thông tin khác theo quy định hiện hành của pháp luật đến khách hàng
và những người quan tâm
Một số lợi ích của dịch vụ Webhosting:
- Giúp doanh nghiệp theo kịp các xu hướng kinh doanh của nền kinh tế thế giới: kinh doanh trên mạng Internet
- Mở ra cơ hội giao dịch thương mại trên toàn thế giới
- Đăng ký sử dụng dịch vụ Webhosting, doanh nghiệp của bạn đã có một văn phòng giao dịch trên mạng với chi phí thấp hơn nhiều so với việc thiết lập một văn phòng giao dịch thông thường nhưng vẫn đem lại hiệu quả cao, hơn nữa việc kinh doanh của bạn còn diễn ra liên tục 24/24h và không bị hạn chế về khoảng cách không gian và khoảng cách địa lý
Đặc biệt, với các tính năng như xây dựng trang Web động, CSDL, chương trình cập nhật thông tin Website của doanh nghiệp thực sự là một cầu nối với người tiêu dùng, đemlại cơ hội giao thương hiệu quả cho các doanh nghiệp
Dịch vụ truyền file - FTP (File Transfer Protocol)
Dịch vụ FTP dùng để truyền tải các file dữ liệu giữa các host trên Internet Công cụ để thực hiện dịch vụ truyền file là chương trình FTP, nó sử dụng một giao thức của Internet là giao thức FTP (File Transfer Protocol) Như tên của giao thức
đã nói, công việc của giao thức này là thực hiện chuyển các file từ một máy tính này sang một máy tính khác Giao thức này cho phép truyền file không phụ thuộc vào vấn đề vị trí địa lý hay môi trường hệ điều hành của hai máy Điều duy nhất cần thiết là cả hai máy đều có phần mềm hiểu được giao thức FTP FTP là một phần mềm như vậy trên hệ điều hành Unix
Muốn sử dụng dịch vụ này trước hết bạn phải có một đăng ký người dùng ở máy remote và phải có một password tương ứng Việc này sẽ giảm số người được phép truy cập và cập nhập các file trên hệ thống ở xa Một số máy chủ trên Internet cho phép bạn login với một account là anonymous, và password là địa chỉ E-mail của bạn, nhưng tất nhiên, khi đó bạn chỉ có một số quyền hạn chế với hệ thông file
ở máy remote
Để phiên làm việc FTP thực hiện được, ta cũng cần 02 phần mềm Một là ứng dụng FTP client chạy trên máy của người dùng, cho phép ta gửi các lệnh tới FTP host Hai là FTP server chạy trên máy chủ ở xa, dùng để xử lý các lệnh FTP của người dùng và tương tác với hệ thống file trên host mà nó đang chạy
FTP cho phép bạn tìm kiếm thông tin trên server bằng các lệnh thông dụng như ls hay dir Khi người dùng đánh các lệnh này, FTP sẽ chuyển lên cho server, tại server sẽ thực hiện lệnh này và gửi về thông tin danh sách các file tìm được
Dịch vụ hội thoại trên Internet - IRC
Internet Relay Chat (IRC - Nói chuyện qua Internet) là phương tiện "thời gian thực", nghĩa là những từ bạn gõ vào sẽ xuất hiện gần như tức thời trên màn hình
Trang 6của người nhận và trả lời của họ của xuất hiện trên màn hình của bạn như vậy Thay vì phải chờ vài phút hay vài ngày đối với các thông điệp, bạn có thể trao đổi tức thời với tốc độ gõ chữ của bạn IRC có thể mang tính cá nhân như E-mail, người lạ không khám phá được nội dung trao đổi của bạn, hoặc bạn có thể tạo
"kênh mở" cho những ai bạn muốn cùng tham gia Cũng không hiếm các kênh IRC
có từ 10 người trở lên tham gia hội thoại Ngoài việc trao đổi lời, người dùng IRC còn có thể gửi file cho nhau như hình ảnh, chương trình, tài liệu hay những thứ khác
Cũng như các dịch vụ khác của Internet, phạm vi hội thoại trên các kênh IRC là rất rộng, có thể bao gồm cả những chủ đề không phù hợp với trẻ em, vì vậy cần có biện pháp giám sát những trẻ em muốn sử dụng dịch vụ này
Dịch vụ văn phòng ảo (Virtual office)
Virtual Office dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ Internet phát triển cho công tác quản lý văn phòng, nhân sự và các tiện ích cho hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp
Hình 1.8: Mô hình hoạt động của hệ thống Virtual Office
Hệ thống Virtual Office được xây dựng cho phép truy cập theo sự điều khiển của hệ thống Người quản lý hệ thống sẽ gán và tạo ra các quyền truy cập với mỗi vai trò của người sử dụng trong hệ thống Trong trường hợp những báo cáo và tài liệu cần đảm bảo sự an ninh, thì chỉ những người có trách nhiệm thì mới được quyền truy cập vào đó Việc bảo mật và theo dõi hệ thống được cấp phát theo quyền Login và password của mỗi người
Hệ thống Virtual Office dựa trên nền Web-base cho phép các nhân viên có thể kết nối liên tục với hệ thống trong suốt quá trình làm việc Không chỉ khi ở trong cơ quan, người sử dụng có thể kết nối vào hệ thống ngay cả khi đi công tác, làm việc ở nhà Điều này thực sự thuận tiện cho những người thường xuyên phải đi công tác ra ngoài Do đó, họ có thể theo dõi và cập nhật mọi hoạt động, mọi thông tin của cơ quan mình trong thời gian làm việc xa văn phòng
Dịch vụ Video Conference
Là cầu truyền hình được thiết lập giữa các máy tính thông qua mạng Internet với sự trợ giúp của các thiết bị ghi hình số
Dạng: Thiết bị ghi, hiện hình số > Mạng Internet > Thiết bị ghi, hiện hình số.
Internet Connectio
Trang 7Thiết bị ghi và hiện hình số có thể là thiết bị chuyên dụng hoặc chỉ đơn giản là một PC nối kết với mạng Internet và được trang bị đầy đủ Multimedia (SoundCard, loa, mic, camera, phần mềm Netmeeting ) Khi đó, mỗi máy tính sẽ đóng vai trò
là một máy thu phát hình ảnh và sử dụng môi trường truyền dẫn là mạng Internet thay vì sử dụng các máy thu phát hình truyền thống
II Hướng dẫn truy nhập và sử dụng hiệu quả trình duyệt web: Internet ngày nay là một mạng toàn cầu, là một kho tàng thông tin và giải trí rộng lớn ở chương trước, bạn đã được hướng dẫn cách cài đặt, kết nối vào Internet Việc kết nối vào Internet cũng như việc bạn đã mở được cánh cửa vào thế giới Internet Chương này sẽ hướng dẫn bạn cách sử dụng các dịch vụ trên Internet, cách tìm kiếm thông tin trên Internet và cung cấp một số thông tin hữu ích cho khách hàng của mạng VNN
1 World Wide Web, các chức năng cơ bản của trình duyệt Internet
Phương thức thâm nhập vào mạng Internet thì có rất nhiều như Gopher hay Telnet, nhưng phương thức thâm nhập vào những nguồn dữ liệu khổng lồ trên Internet phổ biến nhất, nhiều nhất là Trang tin toàn cầu (World Wide Web, viết tắt
là www hay còn gọi là Website) Website là phần phát triển mạnh nhất và lý thú nhất của Internet Khi người dùng duyệt Website thì có thể xem các Website đa phương tiện bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh và video Website sử dụng các liên kết siêu văn bản cho phép người dùng di chuyển từ nơi này đến nơi khác trên mạng Website hoạt động trên nguyên tắc khách/chủ, phần mềm máy chủ chạy trên một máy chủ Web, còn phần mềm khách là bộ trình duyệt Web chạy trên máy tính của người dùng Bộ trình duyệt Web là chương trình phần mềm cung cấp khả năng điều khiển Internet, định vị dữ liệu Dưới đây sẽ giới thiệu hai bộ trình duyệt
phổ biến nhất hiện nay là Microsoft Internet Explorer (MSIE) và Netscape Communicator
1.1 Hướng dẫn sử dụng trình duyệt MSIE:
- Khởi động trình duyệt MSIE: MSIE là một bộ trình duyệt Web của hãng Microsoft, để mở một trang Web trên Internet dùng trình duyệt IE có hai cách:
- Cách 1 : Nhấn đúp vào biểu tượng của trình duyệt trên
màn hình desktop:
- Cách 2 : Vào Start /Programs/ Internet Explorer
Trang 8Hình 3.1: Khởi động trình duyệt MSIE
- Các thanh công cụ trên màn hình MSIE:
duyệt, trang chủ (homepage) sẽ hiển thị như hình 3.2
- Thanh tiêu đề (Title bar): Hiển thị tên chương trình và trang Web hiện hành Bạn
có thể thu nhỏ, phục hồi hoặc đóng IE bằng cách sử dụng các nút trên bên phải của thanh tiêu đề
- Thanh menu (Menu bar): Hiển thị các menu đang có sẵn
- Thanh công cụ (Toolbar) : Hiển thị các lệnh thường dùng
Trang 9- Thanh địa chỉ (Address bar): Hiển thị địa chỉ trang Web hiện hành Đây chính là chìa khoá để bạn thâm nhập vào Internet thông qua trình duyệt này Bạn chỉ cần gõ
đúng địa chỉ của trang Web mà bạn muốn truy nhập, nhấn Enter, trang Web đó sẽ hiện ra trên màn hình của bạn
1.2 Hướng dẫn sử dụng trình duyệt Netscape Communicator:
- Khởi động trình duyệt:
Ngoài trình duyệt MSIE, bạn cũng có thể sử dụng trình duyệt Netscape Communicator để truy nhập vào các trang Web Trình duyệt Netscape commuincator của hãng Netscape cũng là một bộ trình duyệt mạnh được sử dụng phổ biến Để khởi động trình duyệt có hai cách:
Cách 1 : Nhấn chuột đúp vào biểu tượng của trình duyệt trên màn hình desktop:
- Cách 2 : Vào Start /Programs/ Netscape Communicator/
Hình 3.3: Khởi động trình duyệt Netscape Communicator
- Giới thiệu các thanh công cụ của màn hình Netscape Communicator :
Khi bạn kích hoạt trình duyệt, trang chủ (homepage) sẽ hiển thị như hình 3.4
Màn hình trong trình duyệt Netscape Communicator có các thanh công cụ tương
tự như trong trình duyệt Microsoft Internet Explorer
Trang 10- Thanh tiêu đề (Title bar): Hiển thị tên chương trình và trang Web hiện hành Bạn có thể thu nhỏ, phục hồi hoặc đóng trình duyệt Netscape bằng cách sử dụng các nút trên bên phải của thanh tiêu đề
- Thanh menu (Menu bar): Hiển thị các menu đang có sẵn
- Thanh công cụ (Tools bar): Hiển thị các lệnh thường dùng
- Thanh địa chỉ (Address bar): Hiển thị địa chỉ trang Web hiện hành Đây chính chìa khoá để bạn thâm nhập vào Internet thông qua trình duyệt này Bạn chỉ cần gõ
đúng địa chỉ của trang Web mà bạn cần truy nhập, nhấn Enter, trang Web đó sẽ hiện ra trên màn hình của bạn
2 Một số lệnh thường dùng trong trình duyệt web (MSIE và Netscape)
Trang 11
Trong IE Trong Netscape
- Đến trang Web”tìm kiếm” (search) đặt sẵn trong trình duyệt :
Trong IE Trong Netscape
2.2- Điều khiển quá trình nạp (tải, download) dữ liệu trên Web
- Ngừng việc nạp (download) dữ liệu:
Trong IE Trong Netscape
- Nạp lại trang Web hiện đang được mở:
Trong IE Trong Netscape
2.3- Lưu lại các địa chỉ Web ưa thích, sử dụng tính năng Favorities (Bookmark)
Đây là tiện ích của trình duyệt, cho phép người sử dụng lưu lại các địa chỉ các trang Web ưa thích một cách có hệ thống, theo chủ đề, theo tính chất sử dụng, theo sở thích cá nhân
Trong MSIE: Tính năng này được gọi là Favorites (/Favorites/Add to
Favorites, Organize Favorites)
Trong Netscape: Tính năng này được gọi là Bookmarks (/Go/Bookmarks)
2.4- Thay đổi kích thước Fonts chữ
Trong MSIE : View/Text Size
Trong Netscape: /View/Increase Font hoặc View/Decrease Font
2.5- Mở một lúc nhiều Website
Trong MSIE : /File/New/Windows
Trong Netscape: /File/New/Navigator Windows
Trang 122.6- Tăng tốc trình duyệt Web
Nếu bạn chỉ muốn đọc nhanh trên trang Web những nội dung thông tin mà
không muốn mất thời gian chờ đợi thì bạn có thể “tăng tốc” trình duyệt Web bằng
một số thủ thuật đơn giản:
Chỉ lấy chữ (Text) mà không lấy về các hình ảnh, âm thanh, hình ảnh động Việc này sẽ làm cho trang Web trở nên kém thú vị và một số trang Web sẽ được
“vẽ” không chính xác nhưng bạn sẽ có được cái bạn muốn: tốc độ, thông tin
Trong MSIE : /Tools/Options /Advanced/Multimedia
Trong Netscape: /Edit/Preferences/Appearance
Tăng bộ nhớ dành cho trình duyệt, đặc biệt có ích khi bạn vào những Website
có sử dụng Visual Basic hay Java scripts, Java applet
III Hướng dẫn sử dụng dịch vụ thư điện tử
Một số điều cơ bản các bạn cần nhớ khi sử dụng thư điện tử là bạn phải yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) cho bạn biết:
1 Tên hộp thư (E-mail Address) Ví dụ: support1@vnn.vn
2 Tên máy chủ thực hiện nhiệm vụ gửi thư (Outgoing mail SMTP server) Ví
dụ: smtp.hn.vnn.vn (đối với các địa chỉ th ư điện tử có dạng
xxxx@hn.vnn.vn)
3 Tên máy chủ nhận, lưu trữ các thư đến (Incoming mail POP3 server) Ví dụ
: mail.hn.vnn.vn (đối với các địa chỉ th ư điện tử có dạng xxxx@hn.vnn.vn)
4 POP3 account: thường là trùng với tên truy nhập mạng của bạn Ví dụ: support1
5 Mật khẩu hộp thư của bạn (chú ý khác với mật khẩu truy nhập mạng)
1 Hướng dẫn sử dụng phần mềm Outlook Express
Dưới đây là các bước cơ bản để cài đặt và sử dụng phần mềm Outlook Express
1.1 Cài đặt ch ương trình Outlook Express
Bước 1: Chọn Start/Program/Outlook Express, hoặc nhấn vào biểu tượng Outlook Express trên màn hình để khởi động chương trình (Hình 4.1) là giao diện
chính của Outlook Express sau khi khởi động
Trang 13H×nh 4.1: Giao diÖn Outlook Express
B−íc 2: Chän menu/Tools/Account (H×nh 4.2)
H×nh 4.2: Cöa sæ thiÕt lËp c¸c th«ng sè E-mail
B −íc 3: Chän tiÕp môc Mail/Add/Mail, Outlook sÏ lÇn l−ît hái b¹n vÒ tõng
th«ng sè vµ h−íng dÉn b¹n theo tõng b−íc B¹n h·y lÇn l−ît ®iÒn vµo (H×nh 4.3)
Trang 14Hình 4.3: Khai báo các thông số E-mail
Display name: Tên đầy đủ của bạn Ví dụ: Ho Tro Dịch Vụ-VDC1
Hình 4.4: Khai báo các thông số E-mail
E-mail address: Địa chỉ E-mail của bạn Ví dụ: support1@vnn.vn (Hình 4.4)
Trang 15Hình 4.5: Khai báo Mail server
Incoming mail (POP3) server: Gõ địa chỉ Mail Server chứa hộp th− nhận
về của bạn (Địa chỉ này tuỳ thuộc vào ISP bạn đăng ký) Ví dụ: mail.vnn.vn
Outgoing mail (SMTP) server: Gõ địa chỉ Mail Server chứa hộp th− gửi
đi Ví dụ: mail.vnn.vn (Hình 4.5)
Sau đó bạn nhấn vào Next>, sẽ xuất hiện cửa sổ cho hình 4.6
Hình 4.6: Khai báo tên truy nhập Mail Server