DHCP client sử dụng một địa chỉ được đề nghị bởi DHCP servervà bất cứ thông tin tuỳ chọn DHCP được cung cấp khác để cập nhật việc thiết lập định cấu hình IP của nó.. Sự lưu trữ cục bộ cũ
Trang 1Chương I:Tổng quát về DHCP
DHCP (dynamic host configuration protocol)
DHCP là một tiêu chuẩn TCP/IP mà rút gọn sự phức tạp và vai trò quản trị của việc cấu hình địa chỉ IP của mạng client (khách hàng) Microsoft Windows 2000 server cung cấp dịch vụ DHCP, cái mà làm máy tính có thể có chức năng như DHCP server và định cấu hình các máy tính client có khả năng DHCP trên mạng của ta DHCP chạy trên máy tính server, làm có thể sự quản lý tự động hoá và tập trung hoá của các địa chỉ IP và sự thiết lập cấu hình TCP/IP cho các mạng client của ta Dịch vụ DHCP của Microsoft cũng cung cấp sự tích hợp với đường dẫn động dịch vụ đường dẫn và dịch vụ hệ thống tên miền, nâng cấp báo cáo tĩnh và sự kiểm tra cho các DHCP server, các mục đặc biệt của nhà cung cấp và
sự hỗ trợ lớp người sử dụng, sự cấp phát địa chỉ multicast và sự bảo vệ DHCP server yếu
I> DHCP là gì?
DHCP đơn giản hoá sự quản lý quản trị của cấu hình địa chỉ IP bởi việc tự động hoá cấu hình địa chỉ cho các mạng client Tiêu chuẩn DHCP cung cấp sự sử dụng của các server DHCP, cái mà được định nghĩa như bất cứ một máy tính nào đang chạy DHCP DHCP server cấp phát một cách tự động các địa chỉ IP vàliên hệ với việc định cấu hình TCP/IP đối với các DHCP client có thể trên mạng
1- Chức năng:
{ Mỗi thiết bị trên mạng cơ sở TCP/IP phải có một địa chỉ IP độc nhất để truy cậpmạng và các tài nguyên của nó Không có DHCP, cấu hình IP phải được thực hiện một cách thủ công cho các máy tính mới, các máy tính di chuyển từ mạng con này sang mạng con khác, và các máy tính được loại bỏ khỏi mạng
{Bằng việc phát triển DHCP trên mạng, toàn bộ tiến trình này được quản lý tự động và tập trung DHCP server bảo quản vùng của các địa chỉ IP và giải phóng một địa chỉ với bất cứ DHCP client có thể khi nó có thể ghi lên mạng Bởi vì các địa chỉ IP là động hơn tĩnh, các địa chỉ không còn được trả lại một cách tự động trong sử dụng đối với các vùng cấp phát lại
2-Ai tạo ra DHCP ? DHCP được tạo ra như thế nào ?
{DHCP đựơc tạo ra bởi nhóm làm việc cấu hình host động của lực lượng kỹ sư Internet(IETF là tổ chức tình nguyện định nghĩa các giao thức sử dụng trên Internet) Như vậy, sự định nghĩa của nó được ghi lại trong Internet RFC và bo mạch hoạt động Internet (the Internet Activities Board (IAB) ) đang xác nhận trạng thái của nó đối với tiêu chuẩn hoá Internet
{Theo lối viết này (3- 1996), DHCP là giao thức tiêu chuẩn mục đích Internet và
Trang 2{RFC 2132: Các mục DHCP và sự giới hạn nhà cung cấp BOOTP
4.4 Siêu tầm vực (superscope): Một nhóm quản trị các tầm vực được sử dụng
để hỗ trợ các IP logic trên các mạng con vật lý giống nhau Các tầm vực trên chứa danh sách các tầm vực thành viên (hoặc tầm vực con) mà có thể hoạt động như một bộ sưu tập
4.5 Phạm vi độc đáo (Exclusion range): Các địa chỉ IP có sẵn là dạng vùng địa chỉ trong tầm vực Các địa chỉ phân vùng là có sẵn trong việc phân công động bởi DHCP đến các DHCP client
4.6 Thuê bao (lease): Chiều dài thời gian, được chỉ ra bởi DHCP server, một máy tính client có thể sử dụng sự phân công động địa chỉ IP Khi một thuê bao được lập đối với khách hàng , thì thuê bao được xem như hoạt động Trước khi thuê bao kết thúc, client làm mới lại thuê bao của nó với DHCP server Một thuê bao trở nên không hoạt động khi nó hết hiệu lực hoặc bị xoá bởi server Thuê bao trong suốt quá trình định nghĩa khi thuê bao kết thúc và client cần làm mới thuê bao của nó trong DHCP server mấy lần
4.7 Sự đặt trước(Reservation): Tạo ra sự phân công thuê bao địa chỉ thường xuyên từ DHCP server đến client Sự dành riêng đảm bảo rằng các thiết bị phần cứng được chỉ định trên một mạng con có thể luôn luôn sử dụng địa chỉ IP giống nhau Điều này hữu ích cho các máy tính chẳng hạn như các cổng truy cập xa, WIN hoặc DNS server mà phải có địa chỉ IP tĩnh
4.8 Các loại tuỳ chọn (Option types): Các tham số cấu hình khác mà DHCP server có thể phân công khi đề nghị thuê bao địa chỉ IP tới một client Tiêu biểu,
có những loại tuỳ chọn được làm có thể và được cấu hình cho mỗi tầm vực Hầuhết các tuỳ chọn được định nghĩa trước thông RFC 2132, nhưng ta có thể sử dụng sự quản lý DHCP để định nghĩa và thêm các tuỳ chọn khách hàng nếu cần thiết
4.9 Tuỳ chọn Class: Cách mà DHCP server để tiến xa các xoay sở phụ được cung cấp cho các client Các class tuỳ chọn được thêm vào server, clients của lớp có thể được cung cấp các tuỳ chọn chỉ định lớp cho việc cấu hình của chúng
Trang 31.Định dạng của DHCP:
DHCP sử dụng UDP để phân phát thông điệp và broadcast Nếu DHCP không
có mặt trên mạng, thì một tác nhân DHCP relay sẽ định hướng thông điệp giữa client và server.7 field đầu tiên chứa thông tin được dùng cho việc thực thi request
Trang 4Operation Code: Chỉ ra loại thông điệp tổng quát Giá trị 1 chỉ ra thông điệp request, giá trị 2 chỉ ra thông điệp response
· HTYPE :Chỉ ra loại phần cứng mạng
· HLEN: Chỉ ra chiều dài của địa chỉ phần cứng
· HOPS :Chỉ ra bao nhiêu server định hướng yêu cầu Được lập lên 0 bởi client trước khi gửi yêu cầu và được sử dụng bởi các tác nhân relay để điều khiển việcđịnh hướng của các thông điệp DHCP hoặc BOOTP
· TRANSACTION IDENTIFIER: được tổng quát hoá bởi client, và cho phép nó phù hợp request với sự phúc đáp nhận được từ DHCP server
· SECONDS ELAPSED: Chỉ ra bao nhiêu giây trôi qua kể từ khi máy tính khởi động
· FLAGS: điều khiển nội dung của trường OPTIONS
+ Broadcast flag( B): Một client không biết địa chỉ IP sở hữu của nó tại thời điểm
nó gửi yêu cầu thì nó lập cờ này lên 1 Các server này như các chỉ báo tức thời đối với các DHCP server hoặc tác nhân relay mà nhận được request thì nó nên đáp lại (reply) bằng hình thức broadcast
+Reserved: Được lập giá trị 0 hoặc không sử dụng
· CLIENT IP ADDRESS: Trường này được biết đến nếu client biết các địa chỉ IP của nó
· YOUR IP ADDRESS: Được dùng bởi server để cung cấp địa chỉ IP của nó
· SERVER IP ADDRESS :Chứa địa chỉ IP cuả server
· ROUTER IP ADDRESS: Chứa địa chỉ IP của một router mặc định
· CLIENT HARDWARE ADDRESS: Được biết đến nếu client biết địa chỉ phần cứng của nó
· SERVER HOST NAME: Chứa host name cuả server
· BOOT FILE NAME: Chứa tên file của server mà chứa hình ảnh khởi động hợp lệ
· OPTIONS : Bao gồm nhiều tham số yêu cầu cho thao tác DHCP cơ bản
Trường này được chỉ định 64 bytes chiều dài trong BOOTP nhưng nó biền đổi
về chiều dài trong DHCP
So Sánh:
P Không có DHCP:
-Khi cấu hình thủ công, ta phải gán địa chỉ cho mọi máy trạm trên mạng Người dùng phải gọi đến ta để biết địa chỉ IP vì ta không muốn phụ thuộc vào họ để cấuhình địa chỉ IP
-Cấu hình nhiều địa chỉ IP có khả năng dẫn đến lỗi, rất khó theo dõi và sẽ dẫn đến lỗi truyền thông trên mạng
-Cuối cùng ta sẽ hết địa chỉ IP đối với mạng con nào đó hoặc đối với toàn mạng nếu ta không quản lý cẩn thận các địa chỉ IP đã cấp phát
-Ta phải thay đổi địa chỉ IP ở máy trạm nếu nó chuyển sang mạng con khác Người dùng di động đi từ nơi nầy đến nơi khác, có nhu cầu thay đổi địa chỉ IP nếu họ nối với mạng con khác trên mạng
P Có DHCP
-Máy chủ DHCP tự động cho người dùng thuê địa chỉ IP khi họ vào mạng Ta chỉ
Trang 5cần đặc tả phạm vi các địa chỉ có thể cho thuê tại máy chủ DHCP Ta sẽ không
bị ai quấy rầy về nhu cầu biết địa chỉ IP
-DHCP tự động quản lý các địa chỉ IP và loại bỏ được các lỗi có thể làm mất liên lạc Nó tự động gán lại các địa chỉ chưa được sử dụng
-DHCP cho thuê địa chỉ trong một khoảng thời gian, có nghĩa là những địa chỉ nầy sẽ còn dùng được cho các hệ thống khác Ta hiếm khi bị hết địa chỉ
-DHCP tự động gán địa chỉ IP thích hợp với mạng con chứa máy trạm nầy Cũngvậy, DHCP tự động gán địa chỉ cho người dùng di động tại mạng con họ kết nối
II> Hoạt động của DHCP
DHCP hoạt động trên mô hình client/server như minh hoạ trong hình 1
DHCP là một giao thức Internet có nguồn gốc ở BOOTP (bootstrap protocol), được dùng để cấu hình các trạm không đĩa DHCP khai thác ưu điểm của giao thức truyền tin và các kỹ thuật khai báo cấu hình được định nghĩa trong BOOTP,trong đó có khả năng gán địa chỉ Sự tương tự nầy cũng cho phép các bộ định tuyến hiện nay chuyển tiếp các thông điệp BOOTP giữa các mạng con cũng có thể chuyển tiếp các thông điệp DHCP Vì thế, máy chủ DHCP có thể đánh địa chỉ
IP cho nhiều mạng con
Quá trình đạt được địa chỉ IP được mô tả dưới đây:
Bước 1 Máy trạm khởi động với “địa chỉ IP rỗng” cho phép liên lạc với máy chủ DHCP bằng giao thức TCP/IP Nó chuẩn bị một thông điệp chứa địa chỉ MAC (ví
dụ địa chỉ của card Ethernet) và tên máy tính Thông điệp nầy có thể chứa địa chỉ IP trước đây đã thuê Máy trạm phát tán liên tục thông điệp nầy lên mạng chođến khi nhận được phản hồi từ máy chủ
Bước 2 Mọi máy chủ DHCP có thể nhận thông điệp và chuẩn bị địa chỉ IP cho máy trạm Nếu máy chủ có cấu hình hợp lệ cho máy trạm, nó chuẩn bị thông điệp “chào hàng” chứa địa chỉ MAC của khách, địa chỉ IP “chào hàng”, mặt nạ mạng con (subnet mask), địa chỉ IP của máy chủ và thời gian cho thuê Địa chỉ
“chào hàng” được đánh dấu là “reserve” (để dành) Máy chủ DHCP phát tán thông điệp chào hàng nầy lên mạng
Trang 6Bước 3 Khi khách nhận thông điệp chào hàng và chấp nhận một trong các địa chỉ IP, máy trạm phát tán thông điệp nầy để khẳng định nó đã chấp nhận địa chỉ
IP và từ máy chủ DHCP nào
Bước 4 Cuối cùng, máy chủ DHCP khẳng định toàn bộ sự việc với máy trạm
Để ý rằng lúc đầu máy trạm phát tán yêu cầu về địa chỉ IP lên mạng, nghĩa là mọi máy chủ DHCP đều có thể nhận thông điệp nầy Do đó, có thể có nhiều hơn một máy chủ DHCP tìm cách cho thuê địa chỉ IP bằng cách gởi thông điệp chào hàng Máy trạm chỉ chấp nhận một thông điệp chào hàng, sau đó phát tán thông điệp khẳng định lên mạng Vì thông điệp nầy được phát tán, tất cả máy chủ DHCP có thể nhận được nó Thông điệp chứa địa chỉ IP của máy chủ DHCP vừacho thuê, vì thế các máy chủ DHCP khác rút lại thông điệp chào hàng của mình
và hoàn trả địa chỉ IP vào vùng địa chỉ, để dành cho khách hàng khác
Các nhà quản trị mạng thiết lập một hay nhiều DHCP server mà bảo đảm thông tin định cấu hình TCP/IP và cung cấp việc định cấu hình địa chỉ cho các DHCP client có thể theo dạng của một đề nghị thuê bao
DHCP server lưu trữ thông tin việc định cấu hình trong cơ sở dữ liệu, bao gồm:
Các tham số câú hình TCP/IP có giá trị cho tất cả các client trên mạng
Các địa chỉ IP có giá trị , được bảo quản trong vùng phân công đối với khách hàng cũng như các địa chỉ đảo lại cho sự phân công thủ công
Trong suốt quá trình thuê bao được đề nghị bởi server thì chiều dài thời gian chođịa chỉ IP có thể được sử dụng trước khi thuê bao làm mới được yêu cầu
Một DHCP client được làm có thể trên sự chấp nhận của một yêu cầu thuê bao nhận:
Một địa chỉ IP có giá trị cho mạng mà nó đang tham gia
Các tham số định cấu hình TCP/IP bổ sung , tham chiếu đến như các tuỳ chọn DHCP
III> Lợi ích của DHCP
Việc định cấu hình an toàn và đáng tin cậy: DHCP giảm thiểu các lỗi của việc định cấu hình là nguyên nhân gây ra bởi địa chỉ IP được phân công hiện tại đangđược tái cấp phát một cách tình cờ cho máy tính khác
Rút gọn sự quản trị mạng:
+ Việc định cấu hình TCP/IP được tập trung hoá và tự động hoá
+ Các nhà quản trị mạng có thể định nghĩa một cách tập trung và các cấu hình TCP/IP chỉ định mạng con
+ Các client có thể được phân công tự động một phạm vi đầy đủ của các giá trị việc định cấu hình TCP/IP bổ sung bởi việc sử dụng các tuỳ chọn DHCP
+ Việc thay đổi địa chỉ cho việc định cấu hình client phải được cập nhật một cáchthường xuyên chẳng hạn như các khách hàng truy cập xa thì thay đổi quanh mộthằng số, có thể được thực hiện một cách hiệu quả và tự động khi client bắt đầu
Trang 7lại trong vị trí mới của nó
+ Hầu hết các router có thể định hướng các yêu cầu việc định cấu hình DHCP, loại trừ các yêu cầu của việc thiết lập DHCP server trên một mạng con, trừ phi không có một lý do nào khác để làm như vậy
IV> Những đặc tính mới của DHCP
Nâng cấp nền tảng sự kiểm tra và các khả năng báo cáo server
Hỗ trợ mở rộng cho các scope multicast và superscope(siêu tầm vực)
Các tầm vực multicast hiện nay cho phép trình ứng dụng có nhận thức multicast
để giải phóng lớp D các địa chỉ IP (224.0.0.0 đến 239.255.255.255) cho sự tham
dự trong nhóm multicast
Hỗ trợ cho các tuỳ chọn DHCP người sử dụng đặc biệt và người cung cấp đặc biệt
Sự hoà hợp của DHCP với DNS.
Một DHCP server có thể cập nhật động trong không gian tên DNS cho bất cứ client DHCP nào mà hỗ trợ sự cập nhật này Các client scope có thể sử dụng DNS với sự cập nhật động để cập nhật địa chỉ tên IP của máy tính của chúng biểu diễn thông tin bất cứ khi nào sự thay đổi xảy ra đến các địa chỉ được cấp phát DHCP của chúng
Sự bảo vệ server DHCP yếu.
Điều này ngăn chặn các server DHCP yếu từ việc tham gia vào mạng DHCP đang tồn tại nơi mà Window 2000 Server và Đường dẫn động bị huỷ Một đối tượng DHCP server được tạo trong đường dẫn động, đường dẫn mà danh sách các địa chỉ IP của các server mà được quyền cung cấp cho các dịch vụ DHCP đến mạng Khi một DHCP server nỗ lực để khởi động trên mạng, đường dẫn động được truy vấn và địa chỉ IP của máy tính server được so sánh với danh sách các DHCP đã được cấp quyền Nếu sự thoả mãn được tìm thấy, máy tính server được quyền như DHCP server và cho phép hoàn tất hệ thống khởi động Nếu không thoả mãn, server được xem như yếu và dịch vụ DHCP shut down một cách tự động
Sự hỗ trợ động cho các client BOOTP
BOOTP động là một sự mở rộng của giao thức BOOTP, cái mà cho phép DHCP server định cấu hình cho BOOTP mà không phải sử dụng cấu hình tường minh, phù hợp địa chỉ Đặc tính này rút gọn sự quản trị của mạng BOOTP rộng bởi việc cho phép sự phân phối một cách tự động của địa chỉ IP là cách giống mà DHCP đã làm
Chỉ đọc sự truy cập điều khiển đối với trình quản lý DHCP
Đặc tính này cung cấp một nhóm cục bộ mục đích đặc biệt, nhóm DHCP Users, cái mà được thêm vào một cách tự động khi dịch vụ DHCP được cài đặt Bằng việc thêm vào các thành viên của nhóm này, ta có thể cung cấp việc truy cập chỉ đọc đối với thông tin liên hệ với dịch vụ DHCP trên máy tính server Sử dụng sự
Trang 8quản lý DHCP , các user trong nhóm này có thể nhìn nhưng không sửa thông tin
và các đặc tính lưu trên DHCP server đặc biệt
Sự hỗ trợ của DHCP client được cung cấp cho các máy tính chạy dươí bất cứ
hệ điều hành Microsoft nào sau đây:
+ Microsoft Windows NT Workstation (tất cả các phiên bản được giải phóng)+ Microsoft Windows NT Server(tất cả các phiên bản được giải phóng)
-Dịch vụ DHCP client Windows 2000 thông qua tiến trình sau để tự định cấu hình client:
1- DHCP client nỗ lực để định vị DHCP server và nhận một địa chỉ và định cấu hình
2- Nếu DHCP server không thể tìm thấy hoặc không đáp ứng thì DHCP client tự định cấu hình địa chỉ IP của nó và subnet mask sử dụng một địa chỉ được chọn lựa từ mạng lớp B dự trữ Microsoft, 169.254.0.0, với địa chỉ subnet mask là 255.255.0.0 DHCP client kiểm tra một địa chỉ xung đột làm đảm bảo rằng địa chỉ
IP đã được chọn thì chưa sẵn sàng trong việc sữ dụng trên mạng Nếu có sự xung đột tìm thấy, client chọn địa chỉ IP khác Client sẽ xem lại việc tự định cấu hình lên đến 10 địa chỉ
3- Khi một DHCP client thành công trong một địa chỉ tự chọn, nó định cấu hình giao diện (interface) mạng của nó với địa chỉ IP Client tiếp tục, trên nền tảng, để
Trang 9kiểm tra một DHCP client trong 5 phút Nếu DHCP sever được tìm thấy sau đó, client loại bỏ thông tin tự định cấu hình của nó DHCP client sử dụng một địa chỉ được đề nghị bởi DHCP server(và bất cứ thông tin tuỳ chọn DHCP được cung cấp khác) để cập nhật việc thiết lập định cấu hình IP của nó
- Nếu DHCP client đã nhận trước sự thuê từ DHCP server:
1- Nếu sự thuê của client vẫn còn có giá trị tại thời gian khởi động hệ thống, client sẽ cố gắng làm mới sự thuê của nó
2- Nếu trong suốt sự nỗ lực làm mới, client thất bại để định vị bất cứ DHCP server nào, nó sẽ nỗ lực để ping gateway mặc định được liệt kê trong sự thuê vàtiến hành theo một trong những cách sau:
* Nếu việc ping là thành công, DHCP client cho rằng nó vẫn còn định vị trên một mạng giống nhau nơi nó nhận được sự thuê hiện tại của nó, và tiếp tục sử dụng
sự thuê Theo mặc định, client sẽ nỗ lực trong nền tảng, để làm mới sự thuê của
nó khi 50% thời gian thuê được phân công được kết thúc
* Nếu việc ping thất bại, DHCP client cho rằng nó đã di chuyển đến một mạng nơi mà các dịch vụ DHCP không có sẵn Client tự định cấu hình địa chỉ IP của
nó như đã miêu tả trước đây Khi client tự định cấu hình, mỗi 5 phút nó nỗ lực đểđịnh vị DHCP server và nhận được sự thuê
VI> Sự lưu trữ cục bộ
Microsoft DHCP hỗ trợ việc lưu trữ cục bộ, cho phép các client lưu thông tin DHCP trên các đĩa cứng của chúng Sự lưu trữ cục bộ thì hữu ích bởi vì khi hệ thống client khởi động, nó nỗ lực đầu tiên để làm mới sự thuê của địa chỉ IP giống nhau Sự lưu trữ cục bộ cũng có nghĩa là một client có thể được shut down và khởi động lại việc sử dụng địa chỉ và cấu hình thuê bao một cách trước tiên, thậm chí DHCP server không thể đạt được hoặc ngoại tuyến tại thời gian máy tính client là khởi động lại Sự lưu trữ cục bộ cũng làm cho có thể khả năng đối với thể hiện việc tự định cấu hình IP
1- Tiến trình thuê bao DHCP
Một client DHCP làm cho có thể nhận được sự thuê bao cho một địa chỉ IP từ DHCP server Trước khi thuê bao kết thúc, DHCP server phải làm mới sự thuê bao cho client hoặc client phải nhận được sự thuê bao mới Các sự thuê bao là tiếp tục dùng trong cơ sở dữ liệu DHCP server xấp xỉ với một ngày sau khi kết thúc Điểm uyển chuyển này bảo vệ sự thuê bao của client trong trường hợp client và server ở các vùng thời gian khác nhau, các đồng hồ bên trong thì khôngđồng bộ, hoặc client thì rớt khỏi mạng khi thuê bao kết thúc
2- Các thông điệp DHCP
*DHCPDiscover :Thời gian đầu tiên một máy tính DHCP client nỗ lực để gia nhập mạng, nó yêu cầu thông tin địa chỉ IP từ DHCP server bởi việc broadcast một gói DHCPDiscover Địa chĩ IP nguồn trong gói là 0.0.0.0 bởi vì client chưa
có địa chỉ IP THông điệp củng là 342 hoặc 576 byte chiều dài-phiên bản cũ hơn của Windows sử dụng khung thông điệp dài hơn
Trang 10*DHCPOffer:Mỗi DHCP server nhận được gói DHCPDiscover client đáp ứng với gói DHCPOffer chứa địa chỉ IP không thuê bao và thông tin định cấu hình
TCP/IP bổ sung(thêm vào), chẳng hạn như subnet mask và gateway mặc định Nhiều hơn một DHCP server có thể đáp ứng với gói DHCPOffer Client sẽ chấp nhận gói DHCPOffer đầu tiên nó nhận được Thông điệp là 342 byte chiều dài
*DHCPRequest: Khi DHCP client nhận được một gói DHCPOffer, nó đáp ứng lại bằng việc broadcast gói DHCPRequest mà chứa yêu cầu địa chỉ IP, và thể hiện
sự chấp nhận của địa chỉ IP được yêu cầu Thông điệp cũng là 342 hoặc 576 byte chiều dài phụ thuộc vào chiều dài của thông điệp DHCPDiscover phù hợp
*DHCPAcknowledge : DHCP server được chọn lựa chấp nhận DHCPRequest client cho địa chỉ IP bởi việc gửi một gói DHCPAck Taị thời điểm này, server cũng định hướng bất cứ các tham số định cấu hình tuỳ chọn Sự chấp nhận trên của DHCPAck, client có thể tham gia trên mạng TCP/IP và hoàn thành hệ thống khởi động Thông điệp này cũng là 342 byte chiều dài
*DHCPNak: Nếu địa chỉ IP không thể được sữ dụng bởi client bởi vì nó không còn giá trị nữa hoặc được sử dụng hiện tại bởi một máy tính khác, DHCP server đáp ứng với gói DHCPNak, và client phải bắt đầu tiến trình thuê bao lại Bất cứ khi nào DHCP server nhận được yêu cầu từ một địa chỉ IP mà không có giá trị theo các scope(tầm vực) mà nó được định cấu hình với, nó gửi thông điệp DHCPNak đối với client
*DHCPDecline : Nếu DHCP client quyết định tham số thông tin được đề nghị nàokhông có giá trị, nó gửi gói DHCPDecline đến các server và client phải bắt đầu tiến trình thuê bao lại
*DHCPRelease: Một DHCP client gửi một gói DHCPRelease đến một server để giải phóng địa chỉ IP và xoá bất cứ thuê bao nào đang tồn tại
*DHCPInform: DHCPInform là loại thông điệp DHCP mới, được định nghĩa trong RFC 2131, được sử dụng bởi các máy tính trên một mạng yêu cầu và nhận thông tin từ DHCP server cho việc sử dụng trong việc định cấu hình cục bộ của
nó Khi thông điệp này được sử dụng, người gửi sẵn sàng việc định cấu hình cho địa chỉ IP của nó trên mạng, cái mà có thể hoặc không thể đã được nhận việc sử dụng DHCP Thông điệp này không được hỗ trợ một cách hiện tại bởi dịch vụ DHCP được cung cấp trong các version trước đây của Windows NT Server và có thể không được nhận ra bởi sự thực thi phần 3 của phần mềm DHCP
3- Hoạt động của tiến trình thuê bao
Thời gian đầu tiên DHCP client khởi động và nỗ lực để gia nhập mạng, nó theo dõi việc khởi tạo tiến trình một cách tự động để nhận được sự thuê bao từ DHCP server
Trang 11DHCP client yêu cầu một địa chỉ IP bởi việc broadcast thông điệp DHCPDiscover
để định vị mạng con
Client được đề nghị một địa chỉ khi DHCP server đáp ứng với thông điệp
DHCPOffer chứa địa chỉ IP và thông tin định cấu hình cho thuê bao đối với client.Nếu không có DHCP đáp ứng đối với yêu cầu client, client có thể tiến hành theo
+ Client chỉ ra sự chấp nhận của đề nghị bởi việc chọn lựa địa chỉ được đề nghị
và việc đáp ứng đối cho server với một thông điệp DHCPRequest
+ Client đựơc phân công địa chỉ và DHCP server gửi một thông điệp DHCPAck, chấp nhận sự thuê bao Thông tin tuỳ chọn DHCP khác có lẽ được bao gồm trong thông điệp
+ Khi client nhận được sự chấp nhận, nó định cấu hình các đặc tính TCP/IP của
nó sử dụng bất cứ thông tin tuỳ chọn DHDP nào trong sự trả lời, và gia nhập mạng
Trong các trường hợp hiếm thấy, DHCP server có thể trả lại sự chấp nhận phủ định đối với client Điều này có thế nếu một client yêu cầu một giá trị vô nghĩa hoặc trùng Nếu một client nhận một sự đáp ứng phủ định(DHCPNak),client phảibắt đầu toàn bộ tiến trình thuê bao trở lại
VII> Các trạng thái DHCP client trong tiến trình thuê bao
Các DHCP client quay vòng tròn thông qua 6 trạng thái khác nhau trong suốt tiến
Trang 12trình thuê bao DHCP, như minh hoạ trong hình 4.3
1> Trạng thái khởi tạo:
Trạng thái này xảy ra lần đầu tiên khi xếp chồng giao thức TCP/IP(protocol stack) được khởi tạo trên máy tính DHCP client Client chưa có địa chỉ IP để yêu cầu từ các DHCP server Trạng thái này cũng xảy ra nếu client đựơc từ chối địa chỉ IP nó đang yêu cầu hoặc địa chỉ IP nó đã được giải phóng một cách trước tiên Hình 4.5 thể hiện trạng thái khởi tạo
Khi DHCP client trong trạng thái này, địa chỉ IP của nó là 0.0.0.0 Để nhận được một địa chỉ có gía trị, client broadcast một thông điệp DHCPDiscover từ cổng UDP 68 đến cổng UDP 67, cái mà địa chỉ nguồn của 0.0.0.0 và đích đến của 255.255.255.255(client chưa biết địa chỉ của bất cứ DHCP server nào) Thông điệp DHCPDiscover chứa địa chỉ điều khiển truy cập đa phương tiện của DHCP client và tên máy tính
2-Sự chọn lựa
Kế tiếp, client di chuyển trong trạng thái chọn lựa, nơi mà nó chọn DHCPOffer Tất cả các DHCP server mà nhận thông điệp DHCPDiscover và có địa chỉ IP có giá trị để đề nghị DHCP client đáp ứng với thông điệp DHCPOffer được gửi từ cổng UDP 68 đến cổng UDP 67 DHCPOffer được gửi qua sự điều khiển truy cập đa phương tiện và broadcast IP bởi vì DHCP client chưa có giá trị IP đúng
Trang 13để có thể được sử dụng như đích đến DHCP server duy trì địa chỉ IP để ngăn chặn nó từ việc được đề nghị tới DHCP client khác.Thông điệp DHCPOffer chứađịa chỉ IP và subnet mask thỏa mãn, một thành phần DHCP server(địa chỉ IP củaviệc đề nghị DHCP server) và trong suốt sự thuê bao Hình 4.6 thể hiện trạng thái chọn lựa
3-Yêu cầu
Sau khi DHCP client đã nhận được thông điệp DHCPOffer từ DHCP server, client di chuyển trong trạng thái yêu cầu DHCP client biết địa chỉ IP nó muốn thuê, vì thế nó broadcast một thông điệp DHCPRequest đến tất cả các DHCP server Client phải sử dụng một sự broadcast bởi vì nó vẫn không có một địa chỉ
IP được cấp phát Hình 4.7 thể hiện trạng thái yêu cầu
4-Sự ràng buộc(Binding)
DHCP server đáp ứng thông điệp DHCPRequest với thông điệp DHCPAck
Trang 14Thông điệp này chứa một thuê bao có giá trị cho địa chỉ IP đàm phán, và bất cứ các mục tuỳ chọn DHCP được cấu hình bởi sự quản trị DHCP
5-Sự làm mới
Theo mặc định, các DHCP client cố gắng làm mới thuê bao của nó khi 50% của thời gian thuê bao đã hết Để làm mới thuê bao của nó DHCP client gửi một thông điệp DHCPRequest đến DHCP server từ cái mà nó đã nhận thuê bao ban đầu
DHCP server làm mới thuê bao một cách tự động bằng việc đáp ứng lại thông điệp DHCPAck Thông điệp DHCPAck chứa thuê bao mới cũng như bất cứ tham
số tuỳ chọn DHCP nào Điều này đảm bảo DHCP client có thể cập nhật việc thiếtlập TCP/IP của nó trong trường hợp người quản trị mạng đã cập nhật bất cứ một
sự thiết lập nào trên DHCP server
Hình 4.9 minh hoạ trạng thái làm mới
Trang 156-Sự tái ràng buộc (Rebinding)
Nếu DHCP client thì không thể liên lạc với DHCP server từ cái mà nó nhận được
sự thuê bao của nó và 87.5% của thời gian thuê bao của nó kết thúc, nó sẽ nỗ lực để liên hệ với bất cứ DHCP server nào bằng việc broadcast các thông điệp DHCPRequest Bất cứ DHCP server có thể đáp ứng với một thông điệp
DHCPAck, làm mới thuê bao hoặc một thông điệp DHCPNack, bắt buộc DHCP client để khởi tạo và khởi động lại tiến trình thuê bao Hình 4.10 thể hiện trạng thái tái ràng buộc.Hình 4.10 thể hiện trạng thái tái ràng buộc
VIII> Khởi động lại DHCP client
Khi client được thuê sự khởi động lại địa chỉ IP trước, nó broadcast thông điệp DHCPRequest thay vì một thông điệp DHCPDiscover Thông điệp
DHCPRequest chứa một yêu cầu cho một địa chỉ IP được cấp phát trước
Nếu địa chỉ IP được yêu cầu có thể được sử dụng bởi client, DHCP server đáp ứng với một thông điệp DHCPAck
Nếu địa chỉ IP không thể được sử dụng bởi client bởi vì nó không còn giá trị nữa,
Trang 16bây giờ nó được dùng bởi client khác, hoặc là không có gía trị bởi vì client đã được di chuyển một cách vật lý đến một subnet khác, DHCP server đáp ứng lại với một thông điệp DHCPNak Nếu xảy ra, client khởi động lại tiến trình thuê bao.
Nếu client thất bại để định vị DHCP server trong suốt tiến trình làm mới lại, nó nỗlực để ping gateway mặc định được liệt kê trong thuê bao hiện tại, với các kết quả như sau:
+ Nếu việc ping của một gateway thành công, DHCP client cho rằng nó vẫn còn được định vị trên một mạng giống nhau nơi mà nó nhận thuê bao hiện tại của nó
và thuê bao tiếp tục sử dụng thuê bao hiện tại Theo mặc định, sự nổ lực của client trong nền tảng để làm mới thuê bao hiện tại của nó khi 50% thời gian thuê bao được phân công của nó đã kết thúc
+ Nếu việc ping của gateway mặc định thất bại, DHCP client cho rằng nó đã được di chuyển đối với mạng khác nhau, nơi các dịch vụ DHCP không có
sẵn(chẳng hạn như mạng ở nhà) Theo mặc định, client tự định cấu hình địa chỉ
IP của nó như đã mô tả trước đây, và tiếp tục(mỗi lần 5 phút trên nền tảng) cố gắng định vị DHCP server và nhận được sự thuê bao
IX> Sự làm mới thuê bao
Tiến trình làm mới lại xảy ra khi client sẵn sàng có một thuê bao và cần làm mới một thuê bao với server
Tiến trình làm mới xảy ra như sau:
1- Client gửi một yêu cầu cho DHCP server, đòi hỏi một sự mở rộng và sự làm mới của thuê bao địa chỉ hiện tại của nó Client gửi một yêu cầu trực tiếp cho DHCP server với tối đa 3 lần thử tại thời điểm 4, 8 hoặc 16 giây
+ Nếu DHCP server được định vị, nó gửi thông điệp chấp nhận DHCP một cách phổ biến cho client Điều này làm mới thuê bao
+ Nếu client không thể liên lạc với DHCP server ban đầu của nó, client chờ cho đến 87.5% thời gian thuê bao của nó trôi qua Rồi thì client đi vào trạng thái ràngbuộc lại(tái ràng buộc), broadcasting( với tối đa là 3 lần thử ở thời điểm 4,8 và 16giây) một thông điệp DHCPDiscover đối với bất cứ DHCP server nào có sẵn để cập nhập thuê bao địa chỉ IP hiện tại của nó
2- Nếu serverđáp ứng với thông điệp DHCPOffer để cập nhật thuê bao client hiện tại, client làm mới thuê bao của nó dựa trên server đề nghị và sự điều hành liên tiếp
3- Nếu thuê bao kết thúc và không có server nào được liên hệ, client phải cắt ngay việc sử dụng địa chỉ IP của nó Rồi thì client thiến hành theo dõi tiến trình tương tự được sự dụng giống nhau của nó cho đến khi sự khởi tao của nó đạt được thuê bao địa chỉ IP mới
X> Sự quản lý các tầm vực(managing scopes)
Một scope phải được định nghĩa và hoạt động trước khi DHCP client có thể sử dụng DHCP server cho việc cấu hình TCP/IP động Một tầm vực DHCP là một
Trang 17bộ sưu tập quản trị của các địa chỉ IP và các tham số cấu hình TCP/IP mà có sẵn cho thuê bao đối với DHCP client Người quản trị mạng tạo ra một
scope(tầm vực) cho mỗi mạng logic hoặc vật lý
Một scope có các đặc tính như sau:
+ Tên scope, được hình thành khi scope được tạo ra
+ Một giới hạn của các địa chỉ IP có thể từ cái mà bao gồm và loại trừ các địa chỉđược sử dung trong các đề nghị DHCP thuê bao
+ Một subnet mask duy nhất, cái mà định nghĩa subnet cho địa chỉ IP cho trước.+ Các giá trị của quá trình thuê bao
Mỗi subnet có thể có một tầm vực DHCP đơn với giới hạn tiếp tục đơn của các địa chỉ IP Để sử dụng nhiều giới hạn địa chỉ trong một tầm vực hoặc mạng subnet đơn, ta phải định nghĩa tầm vực đầu tiên rồi thì thiết lập các ranh giới loại
bỏ
XI> Sự đặt trước (Reservation)
Một nhà quản trị có thể đặt trước địa chỉ IP cho việc cấp phát thuê bao vĩnh viễn đối với các máy tính hoặc các thiết bị trên mạng Sự đặt trước đảm bảo rằng mộtthiết bị phần cứng đựơc chỉ ra trên subnet có thể luôn luôn sử dụng địa chỉ IP giống nhau Sự đặt trước nên được tạo ra cho các thiết bị DHCP có thể mà phải luôn luôn có địa chỉ IP giống nhau trên mạng của ta, chẳng hạn như các server máy in, các bức tường lửa hoặc các router
Việc xoá các mục (entry) Có thể có nhiều lần khi một tầm vực cần được sửa đổi
để xoá thuê bao của một DHCP client Lý do chính cho việc làm như vậy là để xoá thuê bao mà xung đột với một ranh giới loại trừ địa chỉ IP hoặc một địa chỉ duy trì mà ta muốn chỉ ra Việc xoá một thuê bao có ảnh hưởng giống như nhau như thể thuê bao của một client kết thúc, thời gian kế tiếp của hệ thống client khởi động, nó phải thông qua tiến trình của yêu cầu thuê bao Không có gì cả, tuy nhiên ngăn chặn client từ việc nhận một thuê bao mới cho địa chỉ IP giống nhau
Để ngăn chặn điều này, ta cần tạo địa chỉ không có sẵn trước khi client có thể yêu cầu một thuê bao khác bằng việc xoá nó từ một tầm vực và việc thiết lập sự duy trì hoặc sự loại bỏ Xoá bỏ các mục tầm vực chỉ cho các client mà không còn
sử dụng thuê bao DHCP được phân công nữa hoăc phải được di chuyển ngay lập tức đến một địa chỉ mới Việc xoá một client chủ động có thể dẫn đến kết quảtrong các địa chỉ IP trùng lắp trên các mạng bởi vì các địa chỉ được tái phân công một cách tự động cho các client mới
Sau khi ta xoá thuê bao client từ một tầm vực và lập một sự đặt trước hoặc sự loại bỏ, ta nên luôn luôn thực thi ipconfig/release tại dấu nhắc command trên máy client, để bắt buộc client giải phóng địa chỉ IP của nó với thông điệp
DHCPRelease
1-Nguyên tắc 80/20
Ta có thể sẽ cài nhiều hơn một DHCP server đề mà sự thất bại của bất cứ một server riêng lẽ nào sẽ không ngăn chặn các DHCP client từ việc khởi động Tuy nhiên, DHCP không cung cấp cách thức cho các DHCP server để hợp tác trong việc đảm bảo rằng các địa chỉ được phân công là duy nhất Vì vậy, ta cần phải
Trang 18phân chia cẩn thận vùng địa chỉ có sẵn trong số các DHCP server để ngăn chặn
sự phân công địa chỉ trùng lắp
Để cân bằng trong việc sử dụng DHCP server, sử dụng luật 80/20 để chia tầm vực các địa chỉ giữa các DHCP server
DHCP server 1 được cấu hình đối với hầu hết các thuê bao (khoảng 80%) của các địa chỉ có sẵn DHCPC server 2 được cấu hình đối với thuê bao mà địa chỉ còn lại (khoảng 20%) Nguyên tắc này cho phép DHCP server cục bộ(DHCP server 1) để đáp ứng lại các yêu cầu từ các DHCCP client cục bộ khác hầu hết các thời gian DHCP server xa (remote) hoặc quay về (backup)(DHCP server 2) phân công các địa chỉ đối với các khách hàng trên các subnet khác chỉ khi servercục bộ không có sẵn hoặc nằm ngoài các địa chỉ Luật tương tự này có thể được
sử dụng trong một kịch bản đa subnet để đảm bảo rằng sự có sẵn của một DHCP server khi một client yêu cầu một thuê bao
2- Quản lý các sự đặt trước(Managing reservations)
Bằng việc sử dụng các sự đặt trước, ta có thể đặt trước các địa chỉ IP chỉ ra cho một sự sử dụng lâu dài bởi máy tính hoặc thiết bị có thể có DHCP
Nếu nhiều DHCP server được cấu hình từng cái với các tầm vực mà bao phủ một giới hạn các địa chỉ mà cần phải được duy trì, các ranh giới duy trì phải được chỉ ra trên mỗi DHCP server Nếu không, những địa chỉ đó có thể phân phát cho các DHCP server khác
Nếu ta muốn thay đổi một địa chỉ duy trì cho một client, sự duy trì địa chỉ tồn tại của client phải được xoá bỏ trước khi sự duy trì mới được thêm vào Thông tin tuỳ chọn DHCP có thể được thay đổi trong khi vẩn giữ địa chỉ IP được duy trì Việc duy trì địa chỉ IP tầm vực không bắt buộc một cách tự động đối với khách hàng hiện đang sử dụng địa chỉ để dừng việc sử dụng nó Nếu ta đang duy trì một địa chỉ mới cho một client hoặc một địa chỉ mà khác với địa chỉ hiện tại của client, ta nên kiểm tra rằng địa chỉ chưa sẵn sàng được thuê Nếu địa chỉ sẵn sàng cho việc sử dụng, client sử dụng địa chỉ phải giải phóng nó bởi việc cấp phát một yêu cầu DHCPRelease Để làm được điều này, chạy ipconfig/release tại dấu nhắc command
Việc duy trì một địa chỉ không bắt buộc đối với client cho những client nào mà sựduy trì được tạo ra để duy chuyển việc sử dụng địa chỉ duy trì Client phải cấp phát một yêu cầu làm mới để di chuyển địa chỉ duy trì một cách mới mẻ Để làm được điều này, chạy ipconfig/renew tại dấu nhắc command
Khi một thuê bao hay một sự làm mới hoàn tất, client duy trì được thuê địa chỉ IPduy trì một cách mới nhất cho việc sử dụng lâu dài của nó
XII> Siêu tầm vực(Superscopes)
Một siêu tầm vực cho phép DHCP server cung cấp các thuê bao từ nhiều hơn một tầm vực đối với các client trên một mạng vật lý đơn Trước đây, ta có thể tạomột tầm vực, ta phải sử dụng sự quản lý DHCP để định nghĩa tất cả các tầm vựcđược bao gồm trong siêu tầm vực Các tầm vực được thêm vào đối với các siêu tầm vực gọi là các tầm vực thành viên Các siêu tầm vực có thể quyết định dịch
vụ DHCP cấp phát theo nhiều cách khác nhau., những điều này cấp phát bao
Trang 19gồm các vị trí là:
+ Sự hỗ trợ là cần thiết cho các DHCP client trên một phân đoạn mạng vật lý đơn chẳng hạn như phân đoạn LAN Ethernet đơn, nơi mà miều mạng IP logic được sử dụng Khi nhiều hơn một mạng IP logic được sử dụng trên một mạng vật lý, những cấu hình này cũng được biết như multinets
+ Vùng địa chỉ có sẵn cho tầm vực hoạt động hiện tại là được làm suy yếu một cách gần nhất và nhiều máy tính cần được thêm vào đối với phân đoạn mạng vật lý
+ Các client cần được di chuyển đến một tầm vực mới
+ Sự hỗ trợ là cần thiết cho các DHCP client trên miền khác của các tác nhân BOOTP relay, nơi mà một mạng trên miền khác của một tác nhân relay có nhiều subnet logic trên một mạng vật lý
Một mạng chuẩn với một DHCP server trên một subnet vật lý đơn được giới hạn
để thuê địa chỉ đối với các client trên subnet vật lý Hình 4.12 thể hiện Subnet A trước khi một siêu tầm vực được thực thi
Để bao gồm nhiều multinet trên Subnet B trong ranh giới các địa chỉ được thuê bởi DHCP server được thể hiện trên hình 4.12, ta có thể tạo ra một siêu tầm vực
mà bao gồm các tầm vực 2 và 3 cho Subnet B trong việc thêm vào đối với một tầm vực cho Subnet A
Hình 4.12 : Các DHCP server trong việc sử dụng các tầm vực đơn
Hình 4.13 thể hiện việc định cấu hình siêu tầm vực
Để bao gồm nhiều multinet trên các mạng ở xa trong ranh giới các địa chỉ được thuê bởi DHCP server, ta có thể định cấu hình một siêu tầm vực bao gồm thành viên tầm vực 1, tầm vực 2, tầm vực 3)
Trang 20Hình 4.14 thể hiện việc định cấu hình mà bao gồm nhiều multinet trên các mạng
wizard(phi thường)) của việc tạo ra một siêu tầm vực
A> Việc xoá các tầm vực.
Các tầm vực nên được xoá khi một subnet không còn được sử dụng nữa hoặc khi ta cần đếm lại mạng của ta sử dụng một ranh giới địa chỉ IP khác nhau
Ta phải khử hoạt tính (làm cho không hoạt động – deactive) một tầm vực trước khi xoá nó Điều này có thể làm cho các client sử dụng tầm vực để làm mới thuê bao của chúng trong các tầm vực khác nhau Nếu không, các client làm mất các
Trang 21thuê bao của chúng và truy cập mạng một cách có thể (nếu chúng không tự địnhcấu hình).
B> Ngăn chặn các xung đột địa chỉ.
Windows 2000 có cả bảo vệ sự xung đột bên phía client và server để ngăn chặn các địa chỉ IP trùng lắp trên mạng của ta
B1> Sự bảo vệ xung đột server
DHCP server bảo vệ sự xung đột bằng cách ping một địa chỉ IP trước khi đề nghịđịa chỉ đó cho các client Nếu việc ping là thành công (một đáp ứng được nhận
từ máy tính), một sự xung đột được đăng kí và địa chỉ đó không được đề nghị cho các client yêu cầu một thuê bao từ server DHCP server chỉ ping các địa chỉ
mà chưa được thuê một cách thành công và một cách trước tiên Nếu một client nhận được một thuê bao trên một địa chỉ IP nó sẵn sàng có hoặc là yêu cầu làm mới lại, DHCP server không gửi ping
B2>Sự bảo vệ xung đột client
Các máy tính client Windows 2000 hoặc 98 cũng kiểm tra để quyết định liệu một địa chỉ đã sẵn sàng sử dụng trước khi hoàn tất việc định cấu hình địa chỉ với DHCP server Nếu client bảo vệ sự xung đột, nó gửi thông điệp DHCPDecline đối với DHCP server DHCP server gắn giá trị địa chỉ tồi đối với địa chỉ IP trong tầm vực như chi tiết trong “sự bảo vệ xung đột phía server” Client bắt đầu tiến trình thuê bao trở lại và nó được đề nghị địa chỉ có sẵn kế tiếp trong tầm vực
XIII> Sự quản lý các tuỳ chọn DHCP
-Các tuỳ chọn DHCP có thể được định cấu hình cho các giá trị chỉ định và làm cho có thể đối với sự phân công và phân phát đối với các DHCP client dựa vào server, tầm vực, lớp hoặc các mức client chỉ rõ Sự chỉ định hầu hết chuyển quyền ưu tiên cho sự chỉ định thấp nhất Trong hầu hết các trường hợp, các giá trị client đã cung cấp được lấy ra từ bảng dialog các đặc tính các tuỳ chọn DHCPtrên DHCP server Những đặc tính này có thể được định cấu hình và lập cho toàn bộ tầm vực hoặc một client tầm vực duy trì đơn
-Các tuỳ chọn có thể được sử dụng cho sự liên lạc DHCP giữa máy server và các máy client
-Các tuỳ chọn có thể được quản lý sử dụng các mức khác nhau được phân côngcho mỗi DHCP server được quản lý, bao gồm :
Các tuỳ chọn toàn cục mặc định
Các tuỳ chọn tầm vực
Các tuỳ chọn class
Các tuỳ chọn client đặt trước
²Nhìn chung, các tuỳ chọn được chấp nhận tại mỗi DHCP server ở mức server hoặc tầm vực
Các tuỳ chọn có thể được sử dụng để chia sẽ và phân phát các tuỳ chọn xấp xỉ cho các client với sự cần thiết của việc định cấu hình là đặc biệt hoặc giống nhau Ví dụ, các DHCP client trên nền giống nhau có thể được phân công thành
Trang 22viên trong lớp tuỳ chọn giống nhau ( đó là, định cấu hình với giá trị IP lớp DHCP giống nhau) Lớp này có thể được dùng để phân phát dữ liệu tuỳ chọn khác nhau hoặc bổ sung trong suốt tiến trình thuê bao, việc chồng lên bất cứ một tầm vực nào hoặc các tuỳ chọn mặc định được cung cấp một cách toàn cục
Danh sách các tuỳ chọn DHCP mặc định được sử dụng bởi các client Microsoft Windows 2000:
Code Tên tuỳ chọn
1 Subnet mask: Chỉ ra subnet mask của mạng con client
3 Router:Chỉ ra danh sách của các địa chỉ IP cho các router trên mạng con của client
6 Các DNS server: Chỉ ra danh sách các địa chỉ IP cho các server tên DNS có sẵn cho các client
15 Tên miền:Chỉ ra tên miền DNS mà client nên sử dụng cho sự quyết định tên của máy tính DNS
44 Các server WINS/NBNS : Chỉ ra danh sách các địa chỉ IP cho các server tên NetBIOS (NBNS)
46 Kiểu nút WINS/NBT: Cho phép NETBIOS cấu hình trên các client
TCP/IP(NetBT) để được định cấu hình như đã miêu tả trong RFC 1001/1002 nơi
mà 1 = b-node, 2 = p – node, 4 = m – node và 8= h-node Trên các máy tính multihomed, loại nút được phân công đối với toàn bộ máy tính, không phải cho các bộ thích ứng mạng cá nhân
47 ID tầm vực NetBIOS:Chỉ ra một chuỗi text mà là NetBIOS trên ID tầm vực TCP/IP cho client như đã chỉ ra trong RFC 1001/1002
51 Thời gian thuê bao: Chỉ ra thời gian, bằng giây, từ sự cấp phát địa chỉ cho đến khi thuê bao của client trên toàn bộ địa chỉ
58 Sự làm mới giá trị thời gian (T1):Chỉ ra thời gian bằng giây từ sự phân công địa chỉ cho đến khi client bước vào trạng thái làm mới
59 Giá trị thời gian tái phục hồi(T2): Chỉ ra thời gian bằng giây từ sự phân công địa chỉ cho đến khi client bước vào trạng thái phục hồi
Các tham số tuỳ chọn DHCP
*DHCP server: Phân phối và định cấu hình cho các tuỳ chọn DHCP chung phổ biến nhất bao gồm: gateway, router, DNS và các tham số WINS
*Client có thể được định cấu hình bởi:
Các tuỳ chọn thông tin: Ta có thể định cấu hình các loại tuỳ chọn này một cách
Trang 23tường minh và bất cứ giá trị đựơc gán đã cung cấp cho các client.
Các tuỳ chọn giao thức nội:Ta có thể định cấu hình các loại tuỳ chọn này được
sử dụng bởi dịch vụ DHCP được dựa trên server và các việc thiết lập các đặc tính tầm vực.Ta có thể sử dụng trình quản lý DHCP để định cấu hình các đặc tính này và lập chúng cho toàn bộ tầm vực hoặc cho một tầm vực client đơn, duytrì Trình quản lý LAN cho client OS/2 không hỗ trợ DHCP hoặc WINS
Ngoài ra còn có:Các tuỳ chọn cho các client truy cập từ xa
- Khi một client truy cập từ xa nhận được một thuê bao địa chỉ IP từ một server truy cập từ xa, chạy Winipcfg.exe ( cho Windows 95) hoặc Ipconfig.exe ( cho Windows 2000 hoặc Windows NT) để trình bày thông tin về thuê bao
- Khi một server truy cập từ xa phân công một địa chỉ IP đối với một client truy cập từ xa, từ vùng địa chỉ tĩnh của chính nó hoặc từ vùng địa chỉ DHCP được giấu kín của nó, không có thời gian thuê bao hiệu quả cho địa chỉ IP bởi vì nó được giải phóng khi client ngắt kết nối
XIV> Các lớp tuỳ chọn
Các lớp tuỳ chọn DHCP cung cấp cách để cấu hình mạng client một cách dễ dàng với các tham số cần thiết để đáp ứng các yêu cầu đặc biệt của các trình ứng dụng khách hàng
1- Các lớp nhà cung cấp
Các lớp nhà cung cấp có thể được sử dụng bởi các client DHCP để định ra loại nhà cung cấp của các user và sự định cấu hình đối với DHCP server khi nhận được một thuê bao Đối với client để định ra lớp nhà cung cấp của nó trong suốt tiến trình thuê bao, client cần bao gồm tuỳ chọn ID lớp nhà cung cấp(tuỳ chọn code 60) khi nó yêu cầu hoặc chọn một thuê bao từ một DHCP server
Thông tin định danh lớp nhà cung cấp là chuỗi dữ liệu kí tự được thông dịch bởi các DHCP server Các nhà cung cấp có thể chọn để định nghĩa các định danh lớp nhà cung cấp đặc biệt để chuyển việc định cấu hình đặc biệt hoặc thông tin định danh về client Ví dụ, bộ xác nhận có thể mã hoá cấu hình phần cứng hoặc phần mềm của khách hàng Hầu hết các loại nhà cung cấp được phân phối từ tiêu chuẩn dự trữ phần cứng và các mã viết tắt loại hệ thống điều hành được liệt
{Nếu tầm vực chứa các tuỳ chọn được định cấu hình một cách chỉ định cho sự
sử dụng với các client trong lớp nhà cung cấp đã định nghĩa, server trả lại các tuỳ chọn đó sử dụng loại tuỳ chọn lớp nhà cung cấp chỉ định ( tuỳ chọn mã 43) như một bộ phận của thông điệp chấp nhận
2-Các lớp người sử dụng
Các lớp user cho phép DHCP client phân biệt chính nó bởi việc chỉ ra chúng là
Trang 24loại client gì, chẳng hạn như một máy tính desktop hay truy cập từ xa Đối với các hệ thống Windows 2000, ta có thể định nghĩa các thành phần định danh của lớp người sử dụng để chuyển thông tin về việc định cấu hình phần mềm của client, vị trí vật lý của nó trong xây dựng, hoặc về sự tham chiếu user của nó Ví
dụ, một thành phần định danh có thể chỉ ra rằng các client DHCP là các thành viên của lớp định nghĩa cho người sử dụng được gọi là “tầng 2, phía đông” cái
mà cần cho việc thiết lập đặc biệt của router, DNS và việc thiết lập WINS server Một nhà quản trị có thể định cấu hình DHCP server để định cấu hình cho cc1 loạituỳ chọn khác phụ thuộc vào loại cliẹnt nhận được thuê bao
*Các lớp user Windows 2000 có thể được sử dụng theo các cách sau:
Các máy tính client DHCP có thể bao gồm tuỳ chọn lớp user DHCP khi gửi các thông điệp yêu cầu DHCP đối với DHCP server
Các DHCP server chạy dịch vụ DHCP Microsoft có thể nhận ra và thông dịch tuỳ chọn lớp DHCP user từ các client và cung cấp các tuỳ chọn bổ sung ( hoặc một tập chỉnh sửa của các tuỳ chọn DHCP) dựa trên thành phần lớp user của client
4- Quyền ưu tiên các tuỳ chọn.
*Dịch vụ DHCP sử dụng hệ thống bottom-up trong việc xác định tuỳ chọn nào thi hành Điều này chỉ ra sự quản lý DHCP và cho phép một sự quản trị linh hoạt có thể sắp xếp từ việc thiết lập mặc định server rộng cho đến việc thiết lập client cá nhân khi cần cho những tình huống đặc biệt
*Theo các luật cơ bản sau để biết các tuỳ chọn được sử dụng như thế nào: {Các tuỳ chọn toàn cầu chủ động luôn luôn áp dụng trừ phi được quá tải bởi tầm vực , lớp hoặc các tuỳ chọn dự trữ
{ Các tuỳ chọn tầm vực chủ động luôn luôn áp dụng cho bất cứ các máy tính nàonhận được thuê bao từ tầm vực đó, trừ phi được quá tải bởi một tuỳ chọn dự trữ
{ Các tuỳ chọn dự trữ quá tải các tuỳ chọn có thể khác
{ Các giá trị định cấu hình tĩnh trên một client quá tải bất cứ các tuỳ chọn DHCP của bất cứ loại hoặc mức nào
Chương II: Cài đặt và cấu hình
Trang 25Trước tiên ta phải nâng cấp win 2k3 lên domain để sau này các máy client join domain và lấy ip tự động từ server.
Triển khai thực hiện:
- Start -> run gõ lệnh: services.msc và ok
Trang 26- Tìm dịch vụ Windows Firewall -> Properties Click nút Stop
- Và chỉnh card mạng về ip tĩnh 10.0.0.101 255.255.255.0
- Mở phần chỉnh IP card mạng lên cấu hình địa chỉ IP như hình trên và ok
- Bỏ địa source cài đặt Windows Server 2003 vào ổ đĩa Sau đó
vào menu Start -> run gõ lệnh : DCPROMO và ok