1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Chương trình xử lý hình ảnh GNU

602 4,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 602
Dung lượng 7,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trình biên tập các phím tắt Bây giờ bạn có thể biên tập các phím tắt của mình trong một hộp thoại dành riêng cho chức năng này, cũng như vẫn có thể tiếp tục sử dụng tính chất các phím t

Trang 1

Chương Trình Xử lý Hình Ảnh GNU Cẩm nang người dùng GIMP

Bản quyền © 2002, 2003, 2004, 2005 Nhóm biên soạn tài liệu GIMP

Giấy phép Tài liệu Tự do GNU

Trang 2

Table of Contents

Chương Trình Xử lý Hình Ảnh GNU 1

Cẩm nang người dùng GIMP 1

Chương 1 Giới thiệu 20

1 Chào mừng bạn đến với GIMP 21

1.1 Các nền hệ điều hành được biết 21

1.2 Hệ thống trợ giúp của GIMP 21

1.3 Ngôn ngữ 21

1.4 Các tính chất và các khả năng 22

1.5 Các tác giả 22

2 Có gì mới trong GIMP? 22

2.1 Mới trong GIMP 2.2 23

2.2 Điểm mới trong GIMP 2.0 26

3 Lịch sử GIMP 31

4 Báo cáo lỗi và yêu cầu các cải tiến 32

4.1 Đảm bảo rằng đó là một lỗi 33

4.2 Báo cáo lỗi 35

4.3 Điều gì xảy ra với một báo cáo lỗi sau khi bạn gửi 36

Chương 2 Các Khái niệm về Gimp 39

1 Khởi động GIMP lần đầu tiên 40

2 Chạy GIMP 43

Các đối số Dòng lệnh 44

3 Sử dụng GIMP căn bản 45

3.1 Giới thiệu 46

3.2 Hộp Công cụ Chính 48

Trang 3

3.3 Cửa sổ Ảnh 49

3.4 Các Hộp thoại và Gắn 52

3.5 Các Khái niệm căn bản về GIMP 58

4 Làm việc với các Ảnh 61

4.1 Các loại Ảnh 61

4.2 QuickMask 63

4.3 Các Lớp 64

4.4 Phép chọn 68

4.5 Quay ngược lệnh 70

4.6 Ô lưới và Đường chỉ dẫn 73

4.7 Đường dẫn 76

4.8 Các cọ vẽ 80

4.9 Gradient 89

4.10 Kiểu 91

4.11 Bảng màu 94

4.12 Chữ và Phông chữ 97

4.13 Đánh một phép chọn hoặc đường dẫn 98

5 Plugin 98

5.1 Giới thiệu 98

5.2 Sử dụng Plugin 99

5.3 Cài đặt các Plugin mới 100

5.4 Viết các Plugin 102

6 Sử dụng các Tập lệnh Script-Fu 102

Script-Fu? 102

Cài đặt các Script-Fu 102

Những điều Nên và Không nên 103

Trang 4

Các loại Script-Fu khác nhau 103

Các tập lệnh độc lập 103

Các Tập lệnh phụ thuộc vào ảnh 105

Chương 3 Sử dụng Gimp 106

1 Làm thế nào thiết lập Tile Cache 108

2 Các Hộp thoại và Dock 110

2.1 Tạo các Hộp thoại 110

2.2 Loại bỏ các Thẻ 112

3 Sử dụng Quickmask 112

4 Tạo các Lớp mới 112

5 Các Đường dẫn 113

5.1 Đánh một đường dẫn 113

5.2 Chuyển đổi Đường dẫn 114

6 Thêm các cọ vẽ mới 115

7 Chữ 116

7.1 "Trang điểm" cho Chữ 116

7.2 Thêm các phông chữ 117

7.3 Các trục trặc về Phông chữ 118

8 Thể hiện (render) một lưới 119

9 Tập tin 119

9.1 Tạo các tập tin mới 119

9.2 Mở các tập tin 120

9.3 Lưu các tập tin 123

10 Gỡ rối 123

10.1 Mắc kẹt! 124

10.2 Những nguyên nhân phổ biến khiến GIMP bị "treo" 124

Trang 5

11 Làm việc với hình chụp từ máy ảnh số 128

11.1 Giới thiệu 129

11.2 Cải thiện bố cục 129

11.3 Cải thiện màu sắc 130

11.4 Điều chỉnh độ sắc nét (Sharpness) 134

11.5 Loại bỏ các đối tượng không mong muốn khỏi một ảnh 136

11.6 Lưu các kết quả của bạn 137

12 Chuẩn bị các ảnh của bạn cho web 138

12.1 Ép nhỏ kích thước tập tin thêm chút nữa 139

13 Một hướng dẫn sử dụng Script-Fu 140

13.1 Làm quen với Scheme 140

13.2 Các Biến và các Hàm số 143

13.3 Danh sách, Danh sách và lại thêm Danh sách 145

13.4 Tập lệnh Script-Fu đầu tiên của bạn 149

13.5 Cho tập lệnh của chúng ta vài thứ có giá trị 153

13.6 Mở rộng tập lệnh Text Box 157

Chương 4 Hộp Công cụ 160

1 Hộp Công cụ 162

1.1 Các tùy chọn công cụ 163

2 Các Công cụ Chọn 164

2.1 Tính chất chung 164

2.2 Công cụ chọn Hình chữ nhật 168

2.3 Công cụ chọn hình Ellipse 170

2.4 Công cụ chọn Tự do (Lasso) 173

2.5 Công cụ chọn Fuzzy (Cây đũa thần) 175

2.6 Công cụ Chọn theo Màu 177

Trang 6

2.7 Công cụ Kéo 179

3 Các Công cụ Cọ vẽ 181

3.1 Tính chất chung 181

3.2 Các Công cụ Vẽ (Pencil, Paintbrush, Airbrush) 185

3.3 Công cụ Pencil 188

3.4 Công cụ Paintbrush 191

3.5 Công cụ Eraser 194

3.6 Công cụ Airbrush 196

3.7 Công cụ Ink 199

3.8 Công cụ Clone 201

3.9 Công cụ Convolve (Làm mờ/Nét) 205

3.10 Công cụ Dodge-Burn 208

3.11 Công cụ Smudge 210

4 Các Công cụ Chuyển đổi 212

4.1 Công cụ Move 212

4.2 Công cụ Crop 214

4.3 Công cụ Rotate 217

4.4 Scale Tool 219

4.5 Công cụ Shear 222

4.6 Công cụ Perspective 224

4.7 Công cụ Flip 226

5 Các Công cụ Màu sắc 227

5.1 Công cụ Color Balance 228

5.2 Công cụ Hue-Saturation 229

5.3 Công cụ Colorize 230

5.4 Công cụ Brightness-Contrast 231

Trang 7

5.5 Công cụ Threshold 232

5.6 Công cụ Levels 233

5.7 Công cụ Curves 236

5.8 Công cụ Posterize 238

6 Các Công cụ khác 239

6.1 Công cụ Path 239

6.2 Công cụ Bucket Fill 243

6.3 Công cụ Gradient 245

6.4 Công cụ Color Picker 249

6.5 Công cụ Magnify 251

6.6 Công cụ Measure 252

6.7 Texttool 254

7 Màu và vùng Chỉ thị màu 257

Vùng màu 257

Vùng chỉ thị 258

Chương 5 Các Hộp thoại 258

1 Giới thiệu về Hộp thoại 261

2 Hộp thoại Layers 261

2.1 Kích hoạt Hộp thoại 262

2.2 Sử dụng hộp thoại Layer 262

2.3 Các mặt nạ lớp 265

3 Hộp thoại Channels 266

3.1 Gọi hộp thoại 268

3.2 Sử dụng hộp thoại Channels 268

3.3 Menu Channels 270

3.4 Các mặt nạ chọn 271

Trang 8

3.5 Mặt nạ nhanh 272

4 Hộp thoại Paths 275

4.1 Gọi hộp thoại 275

4.2 Sử dụng Hộp thoại Paths 276

4.3 Các nút lệnh 277

4.4 Menu Paths 279

5 Hộp thoại Indexed Palette 282

Các Bản đồ màu và các Ảnh chỉ mục 283

6 Hộp thoại Histogram 285

Về các Biểu đồ (Histogram) 286

7 Hộp thoại Navigation 289

Tổng quát 289

Kích hoạt hộp thoại 290

Sử dụng hộp thoại Navigation 290

8 Hộp thoại Undo History 290

Sử dụng Hộp thoại Undo History 292

9 Hộp thoại Colors 292

Tổng quát 293

Kích hoạt Hộp thoại 293

Trình chọn GIMP 293

CMYK 293

Triangle 293

Watercolor 293

Scales 293

Color picker 293

10 Hộp thoại Brushes 294

Trang 9

Các chế độ Grid/List 295

Sử dụng hộp thoại Brushes (Chế độ Grid) 295

Sử dụng hộp thoại Brushes (Chế độ List) 296

Trình Chỉnh sửa Cọ vẽ 297

11 Hộp thoại Patterns 297

Các chế độ Grid/List 298

Sử dụng hộp thoại Patterns (chế độ Grid) 298

Sử dụng Hộp thoại Patterns (xem ở chế độ List) 299

12 Hộp thoại Gradients 299

12.1 Các chế độ Grid/List 300

12.2 Sử dụng hộp thoại Gradients 301

12.3 Trình Chỉnh sửa Gradient 302

13 Các bảng màu (Palettes) 309

13.1 Hộp thoại 309

13.2 Menu Palettes 311

13.3 Palette Editor 313

13.4 Menu Palette Editor 315

14 Hộp thoại Fonts 316

Các chế độ Grid/List 317

Sử dụng hộp thoại Fonts 317

15 Hộp thoại Buffers 318

Các chế độ Grid/List 319

Sử dụng hộp thoại Buffers 319

16 Hộp thoại Document History 320

Các tùy chọn 320

17 Hộp thoại Tools 321

Trang 10

Các chế độ Grid/List 321

Sử dụng hộp thoại Tools 322

18 Preferences 322

18.1 Giới thiệu 323

18.2 New Image Preferences 324

18.3 Default Image Grid 325

18.4 User Interface - Giao diện người dùng 326

18.5 Theme - Chủ đề 328

18.6 Help System-Hệ thống Trợ giúp 329

18.7 Tool Options 331

18.8 Toolbox- Hộp Công cụ 333

18.9 Image Windows-Cửa sổ Ảnh 335

18.10 Image Window Appearance-Diện mạo cửa sổ ảnh 337

18.11 Image Window Title and Statusbar Tiêu đề cửa sổ ảnh và Thanh trạng thái 338

18.12 Display-Hiển thị 340

18.13 Window Managment-Quản lý cửa sổ 343

18.14 Environment-Môi trường 345

18.15 Folders-Các thư mục 347

18.16 Các Thư mục Dữ liệu 349

Chương 6 Các Menu 350

1 Menu Hộp Công cụ 354

2 Menu File 357

2.1 New 358

2.2 Lệnh Open 362

2.3 Lệnh Open Recent 363

2.4 Save 363

Trang 11

2.5 Save as 363

2.6 Save a Copy 365

2.7 Save as Template 366

2.8 Revert 366

2.9 Close 366

2.10 Quit 367

3 Edit 367

3.1 Undo 368

3.2 Redo 368

3.3 Undo History 369

3.4 Cut 369

3.5 Copy 369

3.6 Copy Visible 369

3.7 Paste 370

3.8 Paste Into 370

3.9 Paste as New 371

3.10 Buffers 371

3.11 Clear 372

3.12 Fill with 372

3.13 Fill with FG Color 372

3.14 Fill with BG Color 373

3.15 Fill with Pattern 373

3.16 Stroke Selection 374

3.17 Stroke Path 376

4 Select 378

4.1 Select All 378

Trang 12

4.2 None 379

4.3 Invert 379

4.4 From Path 379

4.5 Float 380

4.6 By Color 380

4.7 Feather 380

4.8 Sharpen 381

4.9 Shrink 381

4.10 Grow 382

4.11 Border 382

4.12 Toggle QuickMask 382

4.13 Save to Channel 383

4.14 To Path 383

5 View 383

5.1 New View 384

5.2 Dot for Dot 385

5.3 Zoom 385

5.4 Shrink Wrap 386

5.5 Full Screen 387

5.6 Cửa sổ thông tin Ảnh 387

5.7 Cửa sổ Navigation 388

5.8 Show Selection - Hiển thị Phép chọn 389

5.9 Show Layer Boundary-Hiển thị ranh giới lớp 389

5.10 Show Guides - Hiện thị đường chỉ dẫn 389

5.11 "Cắn" vào đường chỉ dẫn 390

5.12 Hiển thị Lưới 390

Trang 13

5.13 "Cắn" vào lưới 390

5.14 Hiển thị thanh menu 390

5.15 Hiển thị Thước đo 390

5.16 Hiển thị các Thanh cuộn 391

5.17 Hiển thị Thanh trạng thái 391

6 Image 391

6.1 Duplicate 392

6.2 Mode 392

6.3 Transform 395

6.4 Canvas Size-Kích thước Canvas 396

6.5 Scale Image 398

6.6 Crop Image 400

6.7 Autocrop Image 401

6.8 Merge Visible Layers 401

6.9 Flatten Image 402

6.10 Configure Grid-Cấu hình Lưới 403

7 Layers 403

7.1 Menu chính 404

7.2 Stack 407

7.3 Colors 409

7.4 Mask 412

7.5 Transparency 415

7.6 Transform 416

8 Tools 418

8.1 Tools 419

9 Filters-Các bộ lọc 419

Trang 14

Repeat Last-Lặp lại lệnh cuối cùng 421

Re-show Last - Hiển thị lại lệnh lần cuối 421

Reset All Filters- Tái lập lại tất cả các bộ lọc 421

Chương 7 Các Bộ lọc 422

1 Giới thiệu về Bộ lọc 426

2 Các bộ lọc Blur 427

2.1 Giới thiệu 427

2.2 Blur 429

2.3 Gaussian Blur 429

2.4 Selective Gaussian Blur 430

2.5 Motion Blur 431

2.6 Pixelise 432

2.7 Tileable Blur 433

3 Color filters 434

3.1 Color filters introduction 434

3.2 Adjust FG-BG Điều chỉnh màu tiền cảnh-hậu cảnh 434

3.3 Alien Map 435

3.4 Alien Map 2 437

3.5 Two Colors Exchange-Hoán đổi hai màu 438

3.6 Colormap Rotation-Xoay Bản đồ Màu 440

3.7 Map Color Range-Sắp xếp phạm vi màu 442

3.8 Sample Colorize 443

3.9 Gradient Map 446

3.10 Border Average-Trung bình đường biên 446

3.12 Color Cube Analysis 447

3.13 Colorify 448

Trang 15

3.14 Color to Alpha-Màu thành kênh alpha 448

3.15 Compose 449

3.16 Decompose - Phân tách 450

3.17 Filter Pack 452

3.18 Hot 454

3.19 Max RGB 455

3.20 Semi-Flatten 456

3.21 Smooth Palette 457

3.22 Value invert 457

4 Các Bộ lọc gây nhiễu 458

4.1 Giới thiệu các bộ lọc gây nhiễu-chưa viết 458

4.2 Hurl 458

4.3 Noisify 459

4.4 Pick 460

4.5 Scatter HSV 461

4.5 Scatter HSV 462

4.5 Scatter HSV 464

5 Các Bộ lọc phát hiện mép 465

5.1 Giới thiệu việc phát hiện mép 465

5.2 Edge 466

5.3 Difference of Gaussians 467

5.4 Laplace 468

5.5 Sobel 469

6 Các Bộ lọc cải tiến 469

6.1 Giới thiệu các bộ lọc cải tiến 469

6.2 Deinterlace 469

Trang 16

6.3 Despeckle-Khử đốm 470

6.4 Destripe-Khử sọc 471

6.5 NL Filter 473

6.6 Sharpen 475

6.7 Unsharp Mask 476

7 Các bộ lọc tổng quát 477

7.1 Giới thiệu các bộ lọc tổng quát 477

7.2 Convolution matrix-Ma trận chập 478

7.3 Dilate-Giãn 482

7.4 Erode-Ăn mòn 484

8 Các Bộ lọc các hiệu ứng Kính 484

8.1 Giới thiệu các bộ lọc các hiệu ứng kính 484

8.2 Apply Lens-Áp dụng thấu kính 485

8.3 Glass Tile-Gạch thủy tinh 486

9 Các Bộ lọc các hiệu ứng ánh sáng 486

9.1 Giới thiệu các bộ lọc các hiệu ứng ánh sáng 486

9.2 FlareFX 487

9.3 Gflare 488

9.4 Lighting Effects 492

9.5 Sparkle 495

9.6 SuperNova 497

10 Các Bộ lọc gây méo 498

10.1 Giới thiệu các bộ lọc gây méo 498

10.2 Blinds 499

10.3 Curve Bend 500

10.4 Emboss 503

Trang 17

10.4 Emboss 504

10.6 Mosaic 505

10.7 Page Curl 507

10.8 Polar Coords 508

10.9 Ripple 510

10.10 Shift 511

10.11 Newsprint 512

10.12 Video 515

10.13 Value Propagate 516

10.14 Waves 519

10.15 Whirl and Pinch 520

10.16 Wind 522

11 Các Bộ lọc Nghệ thuật 525

11.1 Giới thiệu các Bộ lọc Nghệ thuật 525

11.2 Apply Canvas 525

11.3 Cubism 526

11.4 GIMPressionist 527

11.5 GIMPressionist- Orientation Map Editor Trình Chỉnh sửa Bản đồ Định hướng 532

11.6 GIMPressionist- Size Map Editor Trình Chỉnh sửa Bản đồ Kích thước 534

11.7 Oilify 535

12 Các bộ lọc Render 535

12.1 Giới thiệu các bộ lọc render 536

12.2 Plasma 536

12.3 Solid Noise 537

12.4 Flame 539

12.5 IFS Compose 543

Trang 18

12.6 Diffraction Patterns 548

12.7 Grid 549

12.8 Jigsaw 551

12.9 Maze 553

12.10 QBist 555

12.11 Sinus 556

13 Các Bộ lọc kết hợp (Combine) 558

13.1 Giới thiệu về các bộ lọc kết hợp 559

13.2 Depth Merge 559

13.3 Film 560

Chú giải thuật ngữ 563

A 563

B 563

C 564

D 568

F 568

G 569

H 570

I 570

J 571

L 573

M 574

P 579

S 581

T 581

U 581

Trang 19

X 582

Tài liệu tham khảo 582

Sách 582

Các nguồn trực tuyến 582

Appendix A GNU Free Documentation License 583

Version 1.2, November 2002 583

Phụ Lục B (Một phần giúp đỡ bị thiếu) 589

Chỉ mục 590

A 590

B 590

C 590

D 590

E 592

F 592

G 595

I 596

L 597

M 597

N 597

O 597

P 597

Q 598

R 598

S 598

T 599

U 601

Trang 20

V 601

W 601

Z 602

Chương 1 Giới thiệu Mục lục 1 Chào mừng bạn đến với GIMP 21

1.1 Các nền hệ điều hành được biết 21

1.2 Hệ thống trợ giúp của GIMP 21

1.3 Ngôn ngữ 21

1.4 Các tính chất và các khả năng 22

1.5 Các tác giả 22

2 Có gì mới trong GIMP? 22

2.1 Mới trong GIMP 2.2 23

2.2 Điểm mới trong GIMP 2.0 26

3 Lịch sử GIMP 31

4 Báo cáo lỗi và yêu cầu các cải tiến 32

4.1 Đảm bảo rằng đó là một lỗi 33

4.2 Báo cáo lỗi 35

4.3 Điều gì xảy ra với một báo cáo lỗi sau khi bạn gửi 36

Trang 21

1 Chào mừng bạn đến với GIMP

GIMP là một công cụ xử lý hình ảnh chạy trên nhiều hệ điều hành khác nhau GIMP là tên viết tắt của Chương trình Xử lý Hình ảnh GNU GIMP sử dụng được cho nhiều tác vụ xử lý hình ảnh khác nhau, bao gồm chỉnh sửa hình ảnh, phối hợp hình ảnh và thiết kế hình ảnh

Chương trình này có nhiều khả năng Nó có thể được sử dụng chỉ đơn giản như một chương trình

vẽ hình, một chương trình chỉnh sửa hình ảnh cấp chuyên nghiệp, một hệ thống xử lý batch trực tuyến, một chương trình thể hiện (render) hình ảnh số lượng lớn, một chương trình chuyển đổi định dạng hình ảnh,

GIMP là chương trình có thể mở rộng Nó được thiết kế để có thể thêm các plug-in và các

chương trình mở rộng để có khả năng làm bất cứ thứ gì Giao diện lập trình tập lệnh (script) nâng cao cho phép các tác vụ xử lý hình ảnh từ đơn giản nhất cho đến phức tạp nhất đều có thể lập trình được

Một trong những điểm mạnh của GIMP là nó miễn phí từ nhiều nguồn khác nhau và chạy trên các hệ điều hành khác nhau Hầu hết các bản phân phối GNU/Linux đều đưa GIMP vào như một ứng dụng căn bản GIMP cũng có thể chạy được trên các hệ điều hành khác như Microsoft Windows™ hoặc Apple's Mac OS X™ (Darwin) GIMP không phải là phần mềm miễn phí Nó

là một ứng dụng phần mềm nguồn mở theo Giấy phép công cộng chung (GPL license) GPL cho phép người dùng sự tự do truy cập và thay đổi mã nguồn tạo ra các chương trình trên máy tính

1.1 Các nền hệ điều hành được biết

The GIMP là chương trình xử lý hình ảnh được hỗ trợ rộng rãi nhất hiện nay Các nền hệ điều hành mà GIMP có thể chạy được bao gồm GNU/Linux™, Apple Mac OS X (Darwin)™,

Microsoft Windows 95, 98, Me, XP, NT4, và 2000™, OpenBSD™, NetBSD™, FreeBSD™, Solaris™, SunOS™, AIX™, HP-UX™, Tru64™, Digital UNIX™, OSF/1™, IRIX™, OS/2™,

và BeOS™

GIMP có thể dễ dàng chuyển (port) sang các hệ điều hành khác nhau vì mã nguồn của nó mở

1.2 Hệ thống trợ giúp của GIMP

Hệ thống giúp đỡ của GIMP cung cấp cho bạn các thông tin cần thiết để biết cách sử dụng GIMP Bạn có thể xem phần giúp đỡ theo tình huống (context sensitive help) ngay khi đang sử dụng GIMP bằng cách bấm phím F1 Phần giúp đỡ trên từng nội dung trên các menu có thể xem được bằng cách giữ phím F1 trong khi đang trỏ chuột vào nội dung cần xem giúp đỡ Hãy đọc phần Giúp đỡ để bắt đầu chuyến du hành GIMP của bạn

1.3 Ngôn ngữ

GIMP phát hiện ra ngôn ngữ hệ thống tốt Tuy nhiên nó cũng có thể thất bại trên một số loại máy tính và bạn cũng có thể muốn thay đổi ngôn ngữ Nó cũng có khả năng thay đổi ngôn ngữ:

Trang 22

Trong LINUX: ở chế độ console, gõ LANGUAGE=en gimp hoặc LANG=en gimp thay en bằng fr, de, tương ứng với ngôn ngữ bạn muốn

Trong WINDOWS XP: Control Panel/System/ Advanced/nút "Environment" / Trong phần

"System Variables": "nút Add" : Nhập LANG vào phần Name và fr hay de để nhập giá trị Cẩn thận! Bạn phải nhắp chuột vào OK ba lần liên tiếp để khẳng định phép chọn của bạn

Trong Windows Me: Start/Programs/ Accessories/System Tools/System

Informations/Tools/System Configuration Utility/chọn tab "Environment" /nút "New" button: Nhập LANG vào phần name và fr hay de vào phần Value

Trong Mac: Di chuyển đến mục System Preferences, nhắp chuột vào biểu tượng

International, và trong tab Language , ngôn ngữ ta muốn sử dụng phải nằm trên hàng đầu tiên

1.4 Các tính chất và các khả năng

Dưới đây chỉ là vắn tắt danh sách các tính chất của GIMP:

 Có đầy đủ bộ công cụ để vẽ bao gồm các cọ vẽ, bút chì, cọ hơi, nhân bản, v.v

 Khả năng quản lý bộ nhớ xếp kề (tile-based) do vậy kích thước ảnh chỉ bị giới hạn bởi dung lượng ổ đĩa

 Có khả năng lấy mẫu dưới cấp điểm ảnh đối với tất cả các công cụ vẽ nhằm đảm bảo chống răng cưa với chất lượng cao

 Hỗ trợ hoàn toàn kênh Alpha

 Các lớp và các kênh

 Có cơ sở dữ liệu có thủ tục để gọi các hàm của GIMP từ các chương trình ngoài, ví dụ như Script-Fu

 Các khả năng viết tập lệnh được cải tiến

 Trả ngược/lập lại nhiều lần (undo/redo) (chỉ bị giới hạn bởi dung lượng đĩa)

 Các công cụ chuyển đổi bao gồm xoay, chỉnh tỷ lệ, làm méo và lật

 Các định dạng tập tin được hỗ trợ bao gồm GIF, JPEG, PNG, XPM, TIFF, TGA, MPEG,

PS, PDF, PCX, BMP và nhiều định dạng khác

 Nạp, hiển thị, chuyển đổi và lưu nhiều định dạng tập tin khác nhau

 Các công cụ chọn bao gồm chọn hình chữ nhật, chọn hình ellipse, chọn tự do, chọn fuzzy, chọn bezier và phép chọn thông minh

 Các plug-in cho phép dễ dàng thêm các định dạng tập tin mới và các bộ lọc hiệu ứng mới

1.5 Các tác giả

Phiên bản đầu tiên của GIMP được Peter Mattis và Spencer Kimball viết Gần đây có nhiều nhà lập trình khác cũng đóng góp công sức vào phát triển phần mềm này Các phiên bản của GIMP hiện nay đang được "nhạc trưởng" Sven Neumann và Mitch Natterer cùng với nhiều người khác dẫn dắt và được gọi là nhóm GIMP

2 Có gì mới trong GIMP?

Trang 23

GIMP 1.0 'tiến hoá' từ từ cho đến phiên bản rất ổn định và được sử dụng rộng rãi 1.2 Ba năm sau, khi việc phát triển tiến gần đến phiên bản ổn định tiếp theo, nhóm phát triển đã quyết định rằng mức độ thay đổi căn bản nội tại của chương trình đủ mức để đưa nó lên phiên bản ổn định nhằm vào việc "xoay vòng nhanh" (short cycle), thêm một số tính chất quan trọng không đòi hỏi phải mới 2.0 GIMP 2.0.0 được phát hành tháng Ba năm 2004 Đối với GIMP 2.2, các nhà phát triển có các thay đổi ở mức độ thấp buộc phải ổn định GIMP 2.2.0 được phát hành ngày 19 tháng Mười hai năm 2004 Phần này trình bày vắn tắt các tính chất mới được thêm vào GIMP 2.2, cũng như các tính chất đã được đưa vào GIMP 2.0

2.1 Mới trong GIMP 2.2

Dưới đây tóm tắt một số tính chất quan trọng nhất được giới thiệu trong GIMP 2.2 Có nhiều thay đổi nhỏ khác mà những người dùng GIMP lâu sẽ nhận thấy và "biết ơn" (hoặc than phiền!) Cũng có những thay đổi quan trọng ở mức độ lập trình plugin và tạo script-fu nhưng không được trình bày ở đây

Tương tác giữa các phần và hỗ trợ các tiêu chuẩn

Bạn có thể kéo-và-thả hoặc sao-chép-và-dán các dữ liệu ảnh từ GIMP sang bất kỳ ứng dụng nào khác hỗ trợ việc "thả" (drop) ảnh/png (hiện tại Abiword là ứng dụng duy nhất chúng tôi biết) và

"thả" ảnh/xml+svg (Inkscape hỗ trợ điều này) Do vậy bạn có thể chép-và-dán các đường cong từ

GIMP vào Inkscape, và kéo một phép chọn vào Abiword để đưa nó vào tài liệu của mình Các kiểu bây giờ có thể là bất kỳ định dạng nào được hỗ trợ bởi GtkPixbuf, kể cả png, jpeg, xbm

và các định dạng khác

GIMP có thể nạp các gradient từ các tập tin SVG, và các bảng màu từ các tập tin ACT và RIFF Việc hỗ trợ kéo-và-thả được mở rộng Bây giờ bạn có thể thả tập tin và các URL lên một cửa sổ ảnh, tại đó chúng sẽ được mở trong ảnh hiện hành dưới dạng các lớp mới

Trình biên tập các phím tắt

Bây giờ bạn có thể biên tập các phím tắt của mình trong một hộp thoại dành riêng cho chức năng này, cũng như vẫn có thể tiếp tục sử dụng tính chất các phím tắt động ít được biết đến (đã có từ phiên bản 1.2)

Khái quát về Plug-in

Chúng tôi đã cung cấp một widget xem trước tiêu chuẩn cho các tác giả viết, plug-in nhờ đó làm giảm bớt số lượng mã cần thiết để hỗ trợ xem trước David Odin đã tích hợp widget này vào tất

cả các bộ lọc hiện tại, nhờ vậy hiện giờ có thêm nhiều bộ lọc của GIMP có chức năng xem trước được cập nhật theo thời gian thực, và nhiều phép cho xem trước đã "cư xử" một cách thống nhất hơn

Trang 24

Xem trước theo thời gian thực các phép chuyển đổi

Các công cụ chuyển đổi (làm méo, thay đổi tỷ lệ, phối cảnh và xoay) bây giờ có thể cho xem trước theo thời gian thực kết quả của lệnh khi các công cụ này ở chế độ "Traditional" Trước đây, chỉ có lưới chuyển đổi thể hiện

Hướng dẫn Giao diện Người dùng (HIG) GNOME phù hợp

Rất nhiều công sức đã được bỏ ra để khiến cho giao diện của GIMP đơn giản hơn và dễ dùng hơn đối với người mới sử dụng Hầu hết các hộp thoại hiện nay tuân theo GNOME HIG với khả năng cao nhất của chúng tôi Ngoài ra, hầu hết các hộp thoại đã được tách ra hoặc loại bỏ các tùy chọn "Advanced", và thay thế chúng bằng các chế độ mặc định đúng mức hoặc ẩn chúng trong một mục có thể mở rộng

Sự "di trú" sang GTK+ 2.4

 Các menu sử dụng GtkUIManager để tạo ra cấu trúc menu động từ các tập tin dữ liệu XML

 Một trình chọn tập tin (File Chooser) hoàn toàn "tân trang" lại được dùng ở mọi chỗ trong GIMP cho việc mở và lưu các tập tin Điều hay nhất của nó là cho phép bạn tạo ra một bộ các "đánh dấu" (bookmark), khiến cho ta có thể nhanh chóng và dễ dàng định vị đến các thư mục thường được sử dụng

 GIMP hiện giờ hỗ trợ các con trỏ ARGB "đẹp mắt" nếu chúng có trên hệ thống

Hỗ trợ vector cơ bản

Bằng plug-in GFig, GIMP hiện giờ hỗ trợ các chức năng căn bản của các lớp vector Plug-in GFig hỗ trợ một số tính chất đồ họa vector như đổ màu bằng gradient, các đường cong Bezier và đánh đường cong Nó cũng là cách dễ dàng nhất để tạo ra các đa giác thường hoặc bất thường trong GIMP Trong GIMP 2.2, bạn có thể tạo ra các lớp GFig, và sau đó chỉnh sửa lại các lớp này trong GFig sau này Tuy nhiên, mức độ hỗ trợ vector này vẫn còn nguyên thủy, so với các chương trình dành riêng cho Dưới đây tóm tắt một số tính chất quan trọng nhất được giới thiệu trong GIMP 2.2 Có nhiều thay đổi nhỏ khác mà những người dùng GIMP lâu sẽ nhận thấy và

"biết ơn" (hoặc than phiền!) Cũng có những thay đổi quan trọng ở mức độ lập trình plugin và tạo script-fu nhưng không được trình bày ở đây

Bạn có thể kéo-và-thả hoặc sao-chép-và-dán các dữ liệu ảnh từ GIMP sang bất kỳ ứng dụng nào khác hỗ trợ việc "thả" (drop) ảnh/png (hiện tại Abiword là ứng dụng duy nhất chúng tôi biết) và

"thả" ảnh/xml+svg (Inkscape hỗ trợ điều này) Do vậy bạn có thể chép-và-dán các đường cong từ

GIMP vào Inkscape, và kéo một phép chọn vào Abiword để đưa nó vào tài liệu của mình

Các kiểu bây giờ có thể là bất kỳ định dạng nào được hỗ trợ bởi GtkPixbuf, kể cả png, jpeg, xbm

và các định dạng khác

GIMP có thể nạp các gradient từ các tập tin SVG, và các bảng màu từ các tập tin ACT và RIFF

Trang 25

Việc hỗ trợ kéo-và-thả được mở rộng Bây giờ bạn có thể thả tập tin và các URL lên một cửa sổ ảnh, tại đó chúng sẽ được mở trong ảnh hiện hành dưới dạng các lớp mới

Bây giờ bạn có thể biên tập các phím tắt của mình trong một hộp thoại dành riêng cho chức năng này, cũng như vẫn có thể tiếp tục sử dụng tính chất các phím tắt động ít được biết đến (đã có từ phiên bản 1.2)

Chúng tôi đã cung cấp một widget xem trước tiêu chuẩn cho các tác giả viết, plug-in nhờ đó làm giảm bớt số lượng mã cần thiết để hỗ trợ xem trước David Odin đã tích hợp widget này vào tất

cả các bộ lọc hiện tại, nhờ vậy hiện giờ có thêm nhiều bộ lọc của GIMP có chức năng xem trước được cập nhật theo thời gian thực, và nhiều phép cho xem trước đã "cư xử" một cách thống nhất hơn

Các công cụ chuyển đổi (làm méo, thay đổi tỷ lệ, phối cảnh và xoay) bây giờ có thể cho xem trước theo thời gian thực kết quả của lệnh khi các công cụ này ở chế độ "Traditional" Trước đây, chỉ có lưới chuyển đổi thể hiện

Rất nhiều công sức đã được bỏ ra để khiến cho giao diện của GIMP đơn giản hơn và dễ dùng hơn đối với người mới sử dụng Hầu hết các hộp thoại hiện nay tuân theo GNOME HIG với khả năng cao nhất của chúng tôi Ngoài ra, hầu hết các hộp thoại đã được tách ra hoặc loại bỏ các tùy chọn "Advanced", và thay thế chúng bằng các chế độ mặc định đúng mức hoặc ẩn chúng trong một mục có thể mở rộng

 Các menu sử dụng GtkUIManager để tạo ra cấu trúc menu động từ các tập tin dữ liệu XML

 Một trình chọn tập tin (File Chooser) hoàn toàn "tân trang" lại được dùng ở mọi chỗ trong GIMP cho việc mở và lưu các tập tin Điều hay nhất của nó là cho phép bạn tạo ra một bộ các "đánh dấu" (bookmark), khiến cho ta có thể nhanh chóng và dễ dàng định vị đến các thư mục thường được sử dụng

 GIMP hiện giờ hỗ trợ các con trỏ ARGB "đẹp mắt" nếu chúng có trên hệ thống

Bằng plug-in GFig, GIMP hiện giờ hỗ trợ các chức năng căn bản của các lớp vector Plug-in GFig hỗ trợ một số tính chất đồ họa vector như đổ màu bằng gradient, các đường cong Bezier và đánh đường cong

Nó cũng là cách dễ dàng nhất để tạo ra các đa giác thường hoặc bất thường trong GIMP Trong GIMP 2.2, bạn có thể tạo ra các lớp GFig, và sau đó chỉnh sửa lại các lớp này trong GFig sau này Tuy nhiên, mức độ hỗ trợ vector này vẫn còn nguyên thủy, so với các chương trình

đồ họa vetor như Inkscape

Ngoài ra

Có nhiều tính chất khác mà người dùng có thể thấy Danh sách tóm tắt nhanh những tính chất này như sau:

 Bây giờ đã có thể chạy GIMP ở chế độ batch mà không cần X Server

 Có phần nhị phân của GIMP (gimp-console) hoàn toàn độc lập với GTK+

 Giao diện được cải thiện cho các thiết bị đầu vào mở rộng

Trang 26

 Hộp công cụ có thể chỉnh sửa được: Bây giờ bạn có thể quyết định những công cụ nào hiển thị trong hộp công cụ, và thứ tự của chúng Đặc biệt là bạn có thể thêm bất kỳ hoặc tất cả các công cụ Color vào hộp công cụ nếu muốn

 Biểu đồ (Histogram) chồng các biểu đồ R, G và B trên biểu đồ Giá trị, và chỉ tính toán biểu đồ cho các nội dung của phép chọn

 Các phím tắt bây giờ được chia xẻ trên tất cả các cửa sổ của GIMP

2.2 Điểm mới trong GIMP 2.0

Trước hết, một con số thống kê: cơ sở mã của GIMP bao gồm khoảng 230.000 dòng mã C, và hầu hết những dòng đã được viết lại khi "tiến hoá" từ bản 1.2 lên bản 2.0 Tuy nhiên, theo quan điểm người dùng, về mặt cơ bản giống như GIMP 1; các đặc điểm tương tự nhau đủ để người dùng GIMP 1 không cảm thấy bị lạc lõng Là một phần của công tác tái cấu trúc lại chương trình, các nhà phát triển đã "dọn rác" mã chương trình rất nhiều, một công sức bỏ ra mà người dùng không thấy, nhưng lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc "bảo dưỡng" chương trình cũng như làm cho việc bổ sung tính năng trong tương lai đỡ "đau khổ hơn" Do vậy, cơ sở mã lệnh của GIMP 2 được tổ chức tốt hơn rất nhiều và dễ "bảo dưỡng" hơn so với GIMP 1.2

Các công cụ cơ bản

Các công cụ cơ bản trong GIMP 2 không khác biệt nhiều so với "người tiền nhiệm" GIMP 1 Công cụ " Chọn vùng theo màu" ở đây được thể hiện trong hộp công cụ của GIMP, nhưng trước đây đã có trong GIMP 1 ở dạng một menu tuỳ chọn trong menu Select Công cụ Chuyển đổi (Transform) đã được chia ra thành một vài công cụ chuyên biệt: Xoay (Rotation), Thay đổi tỷ lệ (Scale), Làm méo (Shearing) và Phối cảnh (Perspective) Các lệnh về màu sắc được đưa vào các lệnh về lớp trong menu "Layer ->Colors", nhưng đây đơn thuần chỉ là việc "dọn dẹp" lại: trước đây chúng hiện diện trong menu Image (là điều bất hợp lý, vì chúng là các lệnh về lớp) Như vậy, không có các công cụ hoàn toàn mới trong phiên bản này, tuy nhiên có hai công cụ đã được tân trang lại hoàn toàn so với các phiên bản trước đây: công cụ Text (gõ chữ) và công cụ Path (đường dẫn) Phần dưới sẽ trình bày thêm về chúng

Giao diện người dùng đối với các công cụ cũng được thay đổi một cách đáng kể Hộp thoại Tool Options đã được điều chỉnh để không bị thay đổi kích thước khi có một công cụ được chọn Hầu hết người dùng đều thấy rằng cửa sổ thay đổi kích thước khi chọn một công cụ là điều phiền nhiễu Bây giờ theo mặc định hộp thoại Tool Options luôn được mở ra và được "gắn" dưới hộp công cụ, là nơi dễ dàng tìm thấy nó

Tool options-Các tùy chọn công cụ

Trong hộp thoại Tool Options, nhiều công cụ có các khả năng mới không có trong GIMP 1 Nói một cách tóm tắt, dưới đây là những cải tiến đáng kể nhất

Tất cả các công cụ chọn bây giờ đều có nút chế độ: Replace (thay thế), Add (thêm), Subtract (trừ ra) và Intersect (giao nhau) Trong GIMP 1, cách duy nhất để thay đổi chế độ của phép chọn là dùng các phím Ctrl hoặc Shift, điều rất dễ gây nhầm lẫn bởi những phím trên cũng có các chức năng khác Ví dụ, bấm và giữ phím Shift khi dùng công cụ chọn Rectangle (hình chữ nhật) sẽ

Trang 27

buộc hình chữ nhật thành hình vuông Do vậy, để thêm một phép chọn hình vuông, trước tiên bạn phải bấm phím Shift, sau đó nhắp chuột, sau đó thả phím Shift, sau đó lại bấm phím Shift lại, thực hiện phép chọn bằng chuột, sau đó thả phím Shift Việc làm như vậy bây giờ có thể thực hiện được một cách dễ dàng hơn

Đối với các công cụ chuyển đổi, các nút bấm bây giờ kiểm soát được đối tượng nào (lớp, phép chọn hoặc đường dẫn) chịu ảnh hưởng của phép chuyển đổi Ví dụ bạn có thể chuyển đổi một phép chọn hình chữ nhật thành nhiều hình dạng tứ giác khác Phép chuyển đổi đường dẫn (path transformation) bây giờ dễ dàng hơn rất nhiều so với trước đây

Các lệnh Fade out (làm mờ dần) và Paint Using Gradient (vẽ bằng gradient) bây giờ đã có trong tất cả các công cụ vẽ Thực ra, tất cả các công cụ vẽ bây giờ đã có cọ vẽ, gradient và các thiết lập kiểu (pattern) riêng của chúng, khác với GIMP 1 trước đây chỉ có một thiết lập toàn cục áp dụng cho tất cả các công cụ vẽ Bây giờ bạn đã có thể chọn các cọ vẽ khác nhau cho công cụ Pencil và công cụ Paintbrush, hoặc các kiểu khác nhau cho các công cụ Clone và Fill Bạn có thể thay đổi các thiết lập này bằng cách dùng chuột chọn các nút lệnh (đây là điều rất hữu ích giúp nhanh chóng và dễ dàng chọn một cọ vẽ)

Giao diện người dùng

Những thay đổi dễ nhận thấy nhất trong GIMP liên quan đến giao diện người dùng GIMP bây giờ dùng bộ công cụ đồ họa GTK2+ thay vì GTK+ Một trong những tính chất hay có được nhờ các thư viện mới là các hộp thoại có thể gắn được (dockable dialog), và sự định vị theo các thẻ (tab navigation) giữa các hộp thoại gắn trong cùng một cửa sổ một tính chất có trong một vài trình duyệt web phổ biến GIMP 1 nổi tiếng về chuyện nó mở các hộp thoại ở bất kỳ nơi nào trên màn hình, GIMP 2 có thể nói rằng nó dùng các hộp thoại cố định Các hộp thoại bây giờ có một menu tùy biến theo tab (tab-customization), cho bạn sự linh động tối đa trong việc tổ chức không gian làm việc

Cửa sổ ảnh bây giờ đã có một số tính chất mới Những tính chất này không nhất thiết phải được kích hoạt theo mặc định, nhưng có thể đánh dấu chúng như các tùy chọn trong menu

Preferences->Interface->Image Windows Ví dụ với tùy chọn Show Brush Outline (thể hiện đường viền của cọ vẽ), cho phép bạn xem đường viền của cọ vẽ khi đang sử dụng các công cụ

vẽ Trong phần phụ Appearance, bạn có thể bật/tắt việc hiển thị một thanh menu trên đầu các cửa

sổ ảnh Bạn có thể thiết lập một tùy chọn để làm việc ở chế độ toàn màn hình Các tùy chọn xem cụng có ở tất cả các cửa sổ ảnh bằng cách nhắp chuột phải để mở ra một menu, sau đó chọn View Cái gọi là menu "ảnh" cũng có thể dùng được bằng cách nhắp chuột vào một hình tam giác nhỏ ở góc trên bên trái của không gian vẽ Thiết lập bạn chọn trong hộp thoại Preferences được dùng làm giá trị mặc định, và các tùy chọn bạn thiết lập từ một ảnh chỉ dùng cho ảnh đó (Bạn cũng có thể bật/tắt chế độ toàn màn hình bằng cách dùng phím F11; phím Esc cũng giúp thoát chế độ toàn màn hình)

GIMP 2 có các phím tăng tốc (accelerator) từ bàn phím giúp cho việc mở các menu dễ dàng Nếu bạn thấy rằng di chuyển giữa các menu bằng chuột là phiền hà, giải pháp là có thể dùng bàn phím Ví dụ, nếu có thanh menu, để tạo một ảnh mới chỉ cần nhấn Alt-F-N Nếu không có thanh menu, nhấn Shift-F10 để mở menu ở góc trên bên trái, và dùng các phím mũi tên hoặc F và sau

Trang 28

đó là N để tạo ra một ảnh mới Các phím tăng tốc khác với các phím tắt (shortcut): các phím tăng tốc hữu ích trong việc di chuyển giữa các menu, trong khi đó các phím tắt gọi trực tiếp một mục nào đó trong menu Ví dụ Ctrl-N là một tổ hợp phím tắt và là cách nhanh nhất để mở một ảnh mới

Để tạo thuận lợi cho việc truy nhập vào các mục menu thường sử dụng nhất, GIMP cho ta các phím tắt từ các phiên bản trước đây Khi một menu mở ra, bạn có thể di chuyển đến mục cần thiết và giữ tổ hợp phím tắt của nó Tính chất này vẫn còn hiện diện nhưng không được kích hoạt

ở chế độ mặc định trong GIMP 2, để tránh việc sơ ý gán lại các phím tắt đã có

GIMP cũng có một số bộ "gắn phím" (key-binding) cho các menu của nó Ví dụ bạn có thể thay thế bộ gắn phím mặc định của GIMP bằng bộ của Photoshop, bằng cách di chuyển tập tin

"menurc" trong thư mục dữ liệu người dùng của bạn thành "oldmenurc", và thay thế "ps-menurc" thành "menurc"

Quản lý các Thẻ và Dock

GIMP 2 đưa vào một hệ thống hộp thoại có các thẻ để cho phép bạn điều chỉnh không gian làm việc của bạn theo ý muốn Hầu hết các hộp thoại đều có thể kéo được vào một cửa sổ hộp thoại khác và thả vào đó để trở thành một bộ hộp thoại theo thẻ

Hơn nữa, dưới cùng mỗi hộp thoại có một vùng có thể gắn được, kéo và thả vào đó để gắn các hộp thoại ngay vào nhóm thẻ phía dưới

Viết tập lệnh

Python-fu hiện giờ là giao diện tập lệnh ngoài tiêu chuẩn trong GIMP 2 Điều này có nghĩa là bạn có thể sử dụng các chức năng của GIMP trong các tập lệnh Python, hoặc ngược lại dùng Python để viết các plug-in cho GIMP Python tương đối dễ hiểu ngay cả đối với người mới bắt đầu, đặc biệt là nếu so sánh với ngôn ngữ Sheme tương tự như Lisp được dùng cho Script-Fu trong GIMP 1 Các kết nối với Python được tăng cường nhờ một bộ các lớp (class) dùng cho các thao tác thông thường, do vậy bạn không còn buộc phải tìm kiếm trong Cơ sở dữ liệu Thủ tục của GIMP để thực hiện các thao tác cơ bản Hơn nữa, Python đã tích hợp các môi trường phát triển và một thư viện khổng lồ, và không chỉ chạy trên Linux mà cả trên Microsft Windows và Macintosh OS X Hạn chế lớn nhất, đối với GIMP 2, là giao diện người dùng tiêu chuẩn của Python-fu không sử dụng hoàn hảo sức mạnh của ngôn ngữ Python Giao diện này hiện nay được thiết kế để hỗ trợ các tập lệnh đơn giản, nhưng một phiên bản phức tạp hơn chính là mục tiêu cho việc phát triển trong tương lai

Gimp-Perl không còn được phân phối chung với bản phân phối GIMP 3 tiêu chuẩn nữa, nhưng

có ở dạng gói độc lập Hiện tại, Gimp-Perl chỉ được hỗ trợ trên các hệ điều hành tương tự Unix

Nó bao gồm một ngôn ngữ viết tập lệnh đơn giản, và khả năng mã hoá các giao diện bóng bẩy hơn bằng cách dùng module Gtk2 perl Khả năng xử lý điểm ảnh trực tiếp cũng có thông qua việc dùng PDL

Trang 29

Script-fu, dựa trên Scheme, có chung mặt hạn chế như trước đây: không trực quan, khó dùng và thiếu một môi trường phát triển thực sự Tuy nhiên, nó lại có một ưu điểm lớn so với Python-fu: các tập lệnh của Script-Fu được GIMP diễn giải một cách trực tiếp và không cần phải cài đặt phần mềm bổ sung Python-fu đòi hỏi bạn phải cài đặt gói phần mềm cho ngôn ngữ Python

Công cụ Text

Khó khăn lớn nhất đối với công cụ gõ chữ trong GIMP 1 là chữ không thể thay đổi được sau khi

nó được thể hiện (render) Nếu bạn muốn thay đổi bất kỳ thứ gì trong chữ, tất cả những gì bạn có thể làm là "undo" và thử lại (nếu bạn đủ may mắn có đủ bộ nhớ cho lịch sử quay ngược lệnh, và sau đó tất nhiên là bạn cũng phải "undo" tất cả những gì mà bạn đã làm trong cùng thời gian đó) Trong GIMP 1.2 cũng có một plug-in là Dynamic Text (chữ động) cho phép bạn tạo ra các lớp chữ đặc biệt và giữ chúng vô thời hạn, ở một dạng có thể thay đổi được, nhưng nó có lỗi và sử dụng rất kỳ cục Công cụ Text thế hệ thứ hai là sự phối hợp cải tiến của công cụ Text cũ và plug-

in Dynamic Text Hiện giờ tất cả các tùy chọn đều có trong hộp thoại Tool Options: kiểu chữ, kích thước chữ, màu chữ, canh thẳng, chống răng cưa, thụt lề, cách dòng Để tạo ra một đối tượng chữ mới, nhắp chuột vào ảnh và một chương trình chỉnh sửa nhỏ xuất hiện Chữ xuất hiện trên ảnh khi bạn chỉnh sửa (và dấu xuống dòng đã được quản lý một cách "nghiêm ngặt"!) Một lớp mới được tạo ra, lớp này thay đổi kích thước động để phù hợp với chữ bạn đã gõ vào Bạn có thể nhập chữ trơn (plain text) từ một tập tin, và bạn thậm chí có thể làm những chuyện như viết

từ phải qua trái giống như tiếng Ả Rập Nếu bạn chọn một lớp chữ, nhắp chuột vào nó sẽ mở trình biên tập, và bạn có thể thay đổi chữ của bạn

Công cụ Path

Công cụ Path (đường dẫn) thế hệ thứ hai này có một giao diện hoàn toàn mới Sự khác biệt chính đầu tiên mà bạn nhận thấy là các đường dẫn không bị buộc phải khép kín Một đường dẫn có thể được tạo thành từ nhiều đoạn cong không nối nhau Sự khác biệt lớn tiếp theo là bây giờ công cụ đường dẫn có ba chế độ khác nhau: Design (thiết kế), Edit (chỉnh sửa) và Move (di chuyển) Trong chế độ Design bạn có thể tạo ra đường dẫn, thêm các nốt vào một đường dẫn đã có và thay đổi hình dạng của một đường cong hoặc bằng cách kéo các cạnh của đường cong hoặc bằng cách kéo các "tay cầm" của một nốt

Trong chế độ Edit bạn có thể thêm các nốt vào giữa các cạnh của đường cong, loại bỏ các nốt hoặc các cạnh, cũng như thay đổi hình dạng của đường cong Bạn cũng có thể nối hai thành phần của một đường dẫn lại

Ở chế độ thứ ba, Move, như bạn nghĩ, được dùng để di chuyển các thành phần của đường dẫn Nếu đường dẫn của bạn có vài thành phần, bạn có thể di chuyển từng thành phần một cách độc lập Để di chuyển tất cả các thành phần cùng một lúc, dùng phím Shift

Có hai tính chất mới liên quan đến đường dẫn có trong GIMP 2.0 GIMP không thể nhập một ảnh SVG thành một ảnh raster, nhưng nó cũng có thể giữ các đường dẫn SVG không thay đổi giống như các đường dẫn của GIMP Điều này có nghĩa là GIMP hiện giờ có khả năng hơn bao giờ hết trong việc bổ sung cho công cụ vẽ bằng vector ưa thích của bạn Một tính chất khác khiến

Trang 30

cho công cụ đường dẫn tốt hơn rất nhiều là việc đưa vào chức năng đánh dựa trên vector based stroking) Trong các phiên bản trước, đánh đường dẫn và các phép chọn chỉ là việc vẽ một đường đánh cọ vẽ (brush-stroke) chạy theo đường dẫn Chế độ này hiện vẫn có, nhưng bây giờ

(vector-đã có thể đánh một đường cong một cách chính xác, bằng cách dùng thư viện vector libart

 Hộp thoại Layers mạch lạc hơn, trong đó không có các chức năng bị ẩn đi và chỉ có thể truy cập được bằng cách nhắp chuột phải trên các ảnh thu nhỏ của các lớp xuất hiện ở đó như trước đây nữa Bây giờ bạn có thể quản lý các lệnh về lớp một cách trực tiếp từ menu ảnh: các lệnh Layer Mask, Transparency, Transformation và Layer Color bây giờ nằm trực tiếp trong menu con của Layers

 Các bộ lọc hiển thị màu sắc hiện giờ đã có trong menu ảnh "View->Display Filters" Sử dụng chúng bạn có thể bắt chước lại được các giá trị gamma khác nhau, các độ tương phản khác nhau, hoặc thậm chí một cái nhìn thiếu màu (color deficient vision), mà không làm thay đổi ảnh gốc của bạn Đây thực ra là một tính chất trong các phiên bản phát triển của GIMP từ lâu, nhưng chưa bao giờ đủ ổn định để được đưa vào phiên bản chính thức của GIMP trước đây

 Hộp thoại chọn màu có chế độ mới CMYK, liên quan với biểu tượng máy in

 Dữ liệu lưu trữ trong các thẻ EXIF của các máy ảnh số bây giờ được quản lý ở chế độ đọc

và ghi đối với các tập tin JPEG

 Các ảnh động MNG bây giờ đã được hỗ trợ Định dạng tập tin MNG có thể được coi như

là ảnh PNG động Nó có tất cả các ưu điểm của PNG so với GIF, ví dụ như nhiều màu hơn, 256 mức độ trong suốt, và có lẽ quan trọng nhất là, mất đi gánh nặng về bản quyền Định dạng này là tiêu chuẩn web và tất cả các trình duyệt web phổ biến hiện nay đều hỗ trợ nó

 Gói phần mềm Gimp Animation hiện tại làm được chuyện bóc vỏ hành (onion-skinning), tính chất bluescreen được thêm vào cũng như hỗ trợ âm thanh

Trang 31

 Một bộ lọc trộn kênh (channel mixer filter), trước đây có được từ web dưới dạng add-on, nay xuất hiện trong "Filters->Colors"

bị bỏ xa, tuy nhiên vẫn còn kiềm chế được.

Và sau đó thế là nó xảy ra LISP quen thuộc kết xuất nhân một cách loạn xạ khi không thể định

vị 17M nó cần để tạo ra một parser cho một cú pháp đơn giản sử dụng yacc Một khoảnh khắc không thể tưởng tượng được trôi qua, cả hai chúng tôi cùng chia xẻ một cái nhìn căm phẫn, và rồi dự án của chúng tôi đã tan tành thành mây khói Chúng tôi phải viết một cái gì đó BẤT KỲ CÁI GÌ có ích Một thứ gì bằng ngôn ngữ C Một thứ gì đó không phụ thuộc vào nested-list để hiển thị một ảnh bitmap Và thế là GIMP được ra đời.

Tương tự như loài chim phượng hoàng, thật lộng lẫy, cuộc sống mới nảy sinh từ đống tàn tích bị cháy rụi của LISP và yacc Các ý tưởng bay bổng, các quyết định được thực hiện, và GIMP bắt đầu định hình.

Một chương trình xử lý hình ảnh được chúng tôi thống nhất sẽ viết Một chương trình ít ra cũng làm giảm được việc phải sử dụng các phần mềm thương mại chạy trên 'Windoze' và 'Macintoy' (chơi chữ: Windows và Macintosh) Một chương trình có thể cung cấp các đặc tính không có ở các công cụ xử lý hình ảnh và tô màu chạy trên X khác Một chương trình có thể giúp duy trì được truyền thống lâu dài của các ứng dụng UNIX tuyệt vời và miễn phí.

Sáu tháng sau, chúng tôi hoàn tất giai đoạn đầu của bản beta Chúng tôi muốn công bố ngay để

có thể bắt tay vào làm việc với các vấn đề về tính tương thích và sự ổn định chạy trên các nền khác nhau Ngoài ra, lúc bấy giờ chúng tôi cảm thấy chương trình thực sự có ích và muốn xem các lập trình viên khác phát triển các plug-in cùng với việc hỗ trợ các định dạng tập tin khác nhau"

Phiên bản 0.54 được công bố vào tháng Hai năm 1996, và đã có một ảnh hưởng quan trọng như

là một chương trình quản lý hình ảnh miễn phí thực sự chuyên nghiệp Đây là chương trình miễn phí đầu tiên có thể cạnh tranh được với các chương trình xử lý hình ảnh thương mại to lớn khác Bản 0.54 là bản công bố beta, nhưng nó ổn định đến mức bạn có thể sử dụng nó cho công việc hàng ngày Tuy nhiên, một trong những mặt trở ngại của 0.54 là bộ công cụ (các thanh trượt, các menu, các hộp thoại, ) được xây dựng trên Motif, một bộ công cụ thương mại Đây là một trở ngại lớn đối với các hệ thống như Linux, bởi vì bạn phải mua bản Motif nếu muốn sử dụng chương trình GIMP chạy nhanh hơn, liên kết cơ động hơn Nhiều nhà phát triển cũng đã từng là các sinh viên sử dụng Linux, những người không có khả năng mua Motif

Trang 32

Khi bản 0.60 được phát hành vào tháng Bảy năm 1996, nó do S và P (Spencer và Peter) phát triển trong vòng bốn tháng Các điểm thuận lợi chính là những bộ công cụ mới, GTK (GIMP Toolkit) và gdk (GIMP Drawing Kit), loại bỏ hẳn việc phải phụ thuộc vào Motif Đối với người làm công tác nghệ thuật đồ hoạ, bản 0.60 có rất nhiều tính chất mới như: các lớp căn bản; các công cụ sơn vẽ được cải thiện (khả năng lấy mẫu dưới cấp điểm ảnh (sub-pixel), khoảng cách của cọ vẽ); cọ vẽ airbrush tốt hơn; các chế độ sơn vẽ; Bản 0.60 chỉ là bản dành cho các nhà phát triển phần mềm, và không nhằm dành cho việc sử dụng rộng rãi trong công chúng Nó đóng vai trò như một workbench cho bản 0.99 và bản 1.0 sau cùng, do vậy các chức năng và cải tiến

có thể được kiểm nghiệm và bỏ đi hoặc thay đổi Bạn có thể coi bản 0.60 như là bản alpha của bản 0.99

Vào tháng Hai năm 1997, bản 0.99 xuất hiện trên 'sàn diễn' Cùng với các nhà phát triển khác, S

và P đã thực hiện một vài thay đổi cho GIMP và thậm chí thêm các đặc tính mới Sự khác biệt chính là API mới và PDB, khiến cho ta có thể viết các tập lệnh; Script-Fu (hoặc các macro) có thể tự động hoá những việc mà bình thường bạn phải làm thủ công GTK/gdk cũng thay đổi và lúc bấy giờ được gọi là GTK+ Ngoài ra, bản 0.99 sử dụng một dạng mới của việc quản lý bộ nhớ xếp kề (tile-based memory handling) khiến cho nó có thể mở những ảnh khổng lồ trong GIMP (mở một ảnh 100MB trong GIMP không có khó khăn gì cả) Bản 0.99 cũng cũng giới thiệu một định dạng tập tin mới bản địa của GIMP gọi là XCF API mới làm cho việc viết các chức năng mở rộng và plug-in mới cho GIMP thật dễ dàng Một số plug-in và phần mở rộng mới được tạo ra khiến cho GIMP càng trở nên hữu ích (ví dụ như SANE, chương trình cho phép quét ảnh trực tiếp vào GIMP)

Vào mùa hè năm 1997, GIMP đã đạt đến phiên bản 0.99.10, S và P hầu như ngừng hỗ trợ phát triển chương trình vì họ đã tốt nghiệp và bắt đầu đi làm Tuy nhiên, các nhà phát triển GIMP khác vẫn tiếp tục dưới sự điều khiển của 'nhạc trưởng' Federico Mena để khiến cho GIMP sẵn sàng vào giờ cao điểm

GTK+ được tách ra khỏi GIMP vào tháng Chín năm 1997 GTK+ được công nhận là một bộ công cụ tuyệt vời, và các nhà phát triển khác bắt đầu sử dụng nó để xây dựng các ứng dụng riêng của họ

GIMP rơi vào thời kỳ 'đóng băng' tháng Mười năm 1997 Điều này có nghĩa là không có thêm các đặc điểm mới được bổ sung vào các thư viện nhân và chương trình GIMP GUM phiên bản 0.5 cũng đã được phát hành tháng Mười năm 1997 Công việc phát triển được tiếp tục để giúp cho GIMP ổn định và sẵn sàng cho phiên bản 1.0

Phiên bản 1.0 được phát hành tháng Sáu năm 1998 Cuối cùng, GIMP được coi là đủ ổn định để đảm bảo công bố trên toàn thế giới và sử dụng chuyên nghiệp

4 Báo cáo lỗi và yêu cầu các cải tiến

Điều đáng buồn phải nói là, không có phiên bản nào hiện nay của GIMP hoàn hảo tuyệt đối Điều đáng buồn hơn nữa là có lẽ sẽ không có phiên bản nào như vậy cả Bất kể mọi nỗ lực để làm cho mọi thứ hoạt động, một chương trình phức tạp như GIMP đôi khi cũng làm hỏng việc, hoặc thậm chí "sập"

Trang 33

Tuy nhiên có một thực tế là việc không tránh khỏi lỗi không có nghĩa là chấp nhận lỗi một cách tiêu cực Nếu bạn tìm thấy "bọ" trong GIMP, các nhà phát triển muốn biết về chúng để ít nhất họ cũng tìm cách chữa nó

Vậy thì, giả sử rằng bạn đã tìm ra một lỗi, hoặc ít nhất là bạn nghĩ như vậy: bạn cố gắng làm một điều gì đó và kết quả không như bạn mong đợi Vậy bạn phải làm gì? Bạn báo cáo nó như thế nào?

Ghi chú

Quy trình để đưa một yêu cầu cải tiến - tức là, yêu cầu các nhà phát triển thêm một tính

chất bị thiếu nào đó - gần giống như quy trình báo cáo lỗi Chỉ có điều bạn làm khác ở đây là đánh dấu báo cáo đó là "cải tiến" đúng chỗ, giống như mô tả dưới đây

Tương tự như nhiều dự án phần mềm tự do khác, GIMP sử dụng cơ chế báo cáo lỗi được gọi là

Bugzilla Đây là một hệ thống dựa trên nền tảng web rất mạnh, có khả năng quản lý hàng nghìn

báo cáo lỗi mà không mất "phương hướng" Trong thực tế, GIMP chia xẻ cơ sở dữ liệu Bugzilla của nó với toàn bộ dự án Gnome Vào thời điểm tài liệu này được viết, Bugzilla Gnome có

148632 báo cáo lỗi - không, hãy cho là 148633 rồi

4.1 Đảm bảo rằng đó là một lỗi

Trước khi báo cáo một lỗi, điều trước tiên bạn nên làm là cố gắng kiểm chứng những gì bạn gặp

thực sự là lỗi Thật khó đưa ra một phương pháp làm điều này có thể áp dụng được cho mọi tình

huống, tuy nhiên đọc tài liệu hướng dẫn sử dụng là điều có ích, và thảo luận thắc mắc của bạn trên IRC hoặc trên một danh sách mail (mailing list) cũng có thể rất có ích Nếu bạn thấy một lần GIMP bị "sập", ngược với việc xảy ra "chuyện lạ", khả năng những bất thường đó là lỗi khá cao:

các chương trình được viết kỹ càng không được thiết kế để bị "sập" trong bất kỳ tình huống nào

Dù sao đi nữa, nếu bạn đã nỗ lực thật sự để xác định đó có thật phải là lỗi hay không, và cuối cùng vẫn không chắc chắn, thì hãy tiến lên và báo cáo lại nó: điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là bạn

sẽ làm phí mất một ít thời gian của nhóm phát triển mà thôi

Ghi chú

Thực ra có một số yếu tố được biết khiến cho GIMP bị "sập" nhưng hoá ra chúng quá bất tiện để đáng được sửa chữa Một trong số đó là yêu cầu GIMP làm một điều gì đó đòi hỏi lượng bộ nhớ khổng lồ, ví dụ như bắt GIMP tạo một ảnh hàng triệu pixel on a side

Bạn cũng cần đảm bảo rằng mình đang sử dụng phiên bản cập nhật của GIMP: báo cáo các lỗi đã được sửa chữa rồi chỉ làm mất thời gian của mọi người (GIMP 1 không còn được duy trì nữa, vì thế nếu bạn sử dụng nó và phát hiện lỗi, thì hoặc là nâng cấp lên GIMP 2 hoặc là "chung sống" với chúng) Đặc biệt nếu bạn dùng phiên bản phát triển (development version) của GIMP, đảm bảo rằng bạn có thể nhận ra lỗi trong các bản phát hành mới nhất trước khi viết báo cáo

Nếu sau khi đã xem xét thỏa đáng, bạn vẫn nghĩ rằng mình có một báo cáo lỗi hoặc yêu cầu cải tiến chính đáng, thì bước tiếp theo là vào trang truy vấn bugzilla của GIMP

Trang 34

(http://bugzilla.gnome.org/query.cgi), và cố gắng tìm xem có ai đã báo cáo điều gì tương tự hay chưa Trang truy vấn cho phép bạn tìm kiếm cơ sở dữ liệu lỗi theo rất nhiều cách Điều không may là trang này phức tạp hơn mức mà lẽ ra nó nên có, tuy nhiên dưới đây là những điều cơ bản bạn nên làm:

Product:

Thiết lập mục này thành "GIMP"

Component:, Version:, Target:

Đừng làm điều gì trong các phần này

Text information:

Lúc này đừng đụng đến phần này Nếu tìm kiếm của bạn không đưa lại kết quả gì, có lẽ

đó là lúc đáng để và nhập các thuật ngữ tìm kiếm trong phần "comments" (bình luận) ở đây, nhưng thường là kết quả tìm kiếm sẽ cho bạn rất nhiều thứ hoặc là chẳng có gì cả Status:

Trường này mã hoá trạng thái của một báo cáo lỗi: cho biết nó vẫn còn đang mở, hoặc là

đã được giải quyết, Nếu bạn muốn thấy các báo cáo lỗi quan trọng, bất kể trạng thái của chúng, thì bạn nên giữ chuột và chọn hết tất cả các mục Chừa lại phần này sẽ không có tác dụng

Sau khi bạn đã thiết lập những mục trên, nhắp chuột vào nút "Search" (tìm kiếm) ở phần đầu hoặc phần cuối trang, chúng có tác dụng giống nhau cả thôi Kết quả sẽ là hoặc một danh sách các báo cáo lỗi - hy vọng là không quá dài - hoặc là một thông báo nói rằng "Zarro boogs found" Nếu bạn không tìm thấy một báo cáo lỗi liên quan bằng cách thực hiện trên, bạn có thể thử tìm kiếm lại bằng chữ khác Nếu bất kể các nỗ lực tốt nhất của bạn, bạn báo cáo một lỗi và nó kết thúc bằng việc lỗi đó đã được coi là "Duplicate" (lặp), thì bạn cũng đừng quá thất vọng: điều này xảy ra thường xuyên với tác giả của tài liệu này, người làm việc với GIMP Bugzilla gần như hàng ngày

Trang 35

4.2 Báo cáo lỗi

Được rồi, bạn đã làm mọi thứ có thể để chắc chắn, và bạn vẫn nghĩ rằng đó chắc là một lỗi Như vậy bạn nên tiến tới và làm một báo cáo lỗi Để thực hiện điều này, bắt đầu bằng việc đến trang http://bugzilla.gnome.org/enter_bug.cgi, và duyệt trang đó cho đến khi bạn có thể chọn được phần "Gimp"

Ghi chú

Lần đầu tiên khi bạn làm tập tin báo cáo lỗi, bạn sẽ được yêu cầu tạo một tài khoản Bugzilla Quá trình này dễ dàng và không đau khổ gì, và chắc chắn là bạn sẽ không bị spam đâu

Việc này sẽ dẫn bạn đến phiếu báo cáo lỗi, mà bạn sẽ phải điền vào như hướng dẫn dưới đây Lưu ý rằng hầu hết thông tin mà bạn nhập vào có thể bị thay đổi bởi các nhà phát triển nếu bạn làm sai, vì thế hãy cố gắng làm cho đúng nhưng cũng đừng bị ám ảnh quá bởi điều đó

Summary (Tóm tắt)

Viết một tóm tắt một câu đủ tính chất mô tả sao cho một người nào muốn tìm các lỗi tương tự sẽ tìm thấy báo cáo lỗi của bạn dựa trên cơ sở các từ có trong tóm tắt đó

Các bước để ghi nhận lỗi

Làm theo các hướng dẫn Càng cụ thể càng tốt, và đưa vào tất cả các thông tin mà bạn nghĩ là có thể quan trọng Một báo cáo lỗi điển hình mà hoàn toàn vô dụng là "GIMP

"sập" Chương trình này thật đáng nguyền rủa" Không có hy vọng gì để các nhà phát triển có thể giải quyết một trục trặc nếu họ không biết nó là gì Nếu được, hãy trình bày quy trình để có thể lập lại lỗi đó một cách đáng tin cậy nhất, và cung cấp đủ chi tiết để một người khờ khạo cũng có thể làm theo

Component (Thành phần)

Đưa vào mục này phần nào của GIMP bị tác động bởi lỗi Bạn phải chọn một nội dung gì

đó trong phần này, nhưng nếu bạn không chắc, cứ đoán thử và đừng lo lắng về nó Severity (mức độ nghiêm trọng)

Trong hầu hết các trường hợp, hoặc là bạn để nó ở mức mặc định "Normal" (bình

thường) hoặc chỉnh nó thành "Enhancement" (cải tiến), nếu nó là một yêu cầu cải tiến hơn là hoạt động lỗi Những người bảo trì trang này sẽ điều chỉnh mức độ nghiêm trọng khi họ thấy nó được xác nhận

Priority (mức độ ưu tiên)

Trang 36

Trong hầu hết các trường hợp, bạn nên giữ nguyên nó là "Normal", và để cho những người bảo trì giữ nó Thiết lập mức độ ưu tiên là "Immediate" (ngay tức khắc) hoặc

"Urgent" (khẩn) chỉ làm phiền người khác mà thôi

Version (phiên bản)

Thiết lập trong phần này phiên bản GIMP mà bạn đang sử dụng Không cần chỉ định phần phiên bản Gnome

Operating System (Hệ điều hành)

Thiết lâp mục này là hệ điều hành của bạn trừ khi bạn có lý do chính đáng để nghĩ rằng lỗi này xuất hiện trên tất cả các hệ điều hành

Bạn có thể bỏ qua phần còn lại Khi bạn đã điền đầy đủ những mục trên, bấm nút "Commit" và báo cáo lỗi của bạn sẽ được gửi Nó sẽ được gán một con số, bạn có thể ghi chú lại; tuy nhiên bạn sẽ nhận được email bất kỳ khi nào một người nào đó có một nhận xét gì đó về báo cáo lỗi của bạn hoặc thay đổi nó, do vậy thế nào đi nữa thì bạn cũng sẽ nhận được lời nhắn Bạn có thể xem tình trạng hiện tại báo cáo lỗi của bạn bất kỳ lúc nào tại http://bugzilla.gnome.org và, ở cuối trang này, trong phần "Actions:", nhập con số của báo cáo lỗi và nhắp chuột vào nút "Find" Đôi khi cũng rất hữu ích nếu thêm vào báo cáo lỗi một ảnh chụp màn hình hoặc vài thông tin khác Nếu bạn muốn làm điều này, mở trang web trên ra và tìm đến báo cáo lỗi của bạn, nhắp chuột vào liên kết "Create a New Attachment" (tạo bản đính kèm mới) và làm theo các chỉ dẫn Tuy nhiên đừng làm điều này trừ khi bạn nghĩ nội dung đính kèm thực sự hữu ích-và nếu bạn cần đính kèm một ảnh chụp màn hình, đừng để cho nó lớn hơn kích thước cần thiết Các báo cáo lỗi

có thể ở trên hệ thống hàng năm trời, vì thế thật vô nghĩa khi phí phạm bộ nhớ

4.3 Điều gì xảy ra với một báo cáo lỗi sau khi bạn gửi

Bất kỳ thời điểm nào sau khi được gửi đi, mỗi một báo cáo lỗi đều có một "Trạng thái" (Status)

cho biết nó đang được xử lý như thế nào Dưới đây là một số giá trị có thể của phần Status và ý

nghĩa của chúng:

Unconfirmed (không xác định)

Đây là trạng thái đầu tiên của một báo cáo lỗi, từ thời điểm nó được gửi cho đến khi những người quản trị đọc nó và quyết định xem nó có thực sự đúng là một báo cáo lỗi hay không Đôi khi các quản trị viên không chắc chắn, và đồng thời giữ nguyên trạng thái

là "Unconfirmed" (không xác định) Trong trường hợp xấu nhất, một báo cáo lỗi có thể

có tình trạng không xác định một năm hoặc lâu hơn, tuy nhiên đây được coi là điều tồi tệ

và không thường xảy ra

New (mới)

Trang 37

Điều này có nghĩa là báo cáo lỗi đã được một trong các quản trị viên đọc, và được coi, ít nhất là vào thời điểm đó, là báo cáo đúng Điều đó không nhất thiết có nghĩa là một điều

gì đó sẽ được thực hiện để xử lý nó ngay lập tức: một số báo cáo lỗi, đặc biệt là các yêu cầu cải tiến, có thể cực kỳ đúng đắn và vẫn tồn tại một thời gian dài trước khi một người nào đó có thể xử lý chúng Mặt khác, nhiều lỗi lại được xử lý chỉ trong vòng vài giờ sau khi được ghi nhận

Assigned (được chỉ định)

Điều này có nghĩa là một người cụ thể nào đó đã đồng ý xem xét lỗi Tuy nhiên nó

không, thế giới này chính là thế giới mà nó có nghĩa như vậy, có nghĩa là người đó sẽ

thực sự làm một điều gì đó cụ thể, do vậy về mặt thực tế trạng thái này gần tương tự như

"New" (mới)

Reopened (bắt đầu lại)

Điều này có nghĩa là báo cáo lỗi vào một thời điểm nào đó đã được các quản trị viên coi như đã giải quyết xong (tức là kết thúc), nhưng các thông tin mới bổ sung khiến cho họ thay đổi ý kiến: điều thường xảy ra nhất là một thay đổi nào đó nhằm khắc phục lỗi đó đã không hoạt động hoàn hảo

Needinfo (cần thông tin)

Đây là một trạng thái mà bạn cần đặc biệt chú ý Điều này có nghĩa là bạn đã không cung cấp đầy đủ thông tin trong báo cáo lỗi của mình để có thể làm một điều gì đó với lỗi ấy Trong hầu hết các trường hợp, sẽ không có chuyện gì được xúc tiến thêm cho đến khi bạn cung cấp thông tin bổ sung (bằng cách thêm một ghi chú) Nếu một thời gian quá lâu trôi qua mà không có thông tin thêm từ bạn, sau cùng báo cáo lỗi sẽ được coi như

"Incomplete" (không hoàn chỉnh)

Resolved (đã giải quyết)

Điều này có nghĩa là các quản trị việc tin tưởng rằng họ đã hoàn tất việc xử lý báo cáo lỗi Nếu bạn không đồng ý, bạn có thể bắt đầu lại nó, nhưng bởi vì bạn không thể bắt buộc bất kỳ người nào xử lý một lỗi khi họ không muốn, bạn phải có lý do chính đáng trước khi làm như vậy Các lỗi có thể được giải quyết theo nhiều cách khác nhau Dưới

đây là một số giá trị có thể của phần Resolution (Giải pháp) và ý nghĩa của chúng:

Fixed (đã được sửa chữa)

Báo cáo lỗi được coi là đúng, và GIMP đã được thay đổi theo một cách được coi như đã sửa được lỗi đó

Wontfix (không sửa chữa)

Trang 38

Các quản trị viên đồng ý báo cáo lỗi là đúng, nhưng tốn quá nhiều công sức để sửa chữa,

so với mức độ quan trọng của nó, và nó không đáng để coi là khó khăn

Duplicate (lặp)

Điều này có nghĩa là một lỗi giống hệt vậy đã được một người nào đó ghi nhận Nếu bạn thấy giải pháp này, bạn cũng sẽ nhìn thấy một con trỏ chỉ đến báo cáo lỗi trước đây, thông thường sẽ cho bạn rất nhiều thông tin hữu ích

Notabug (Không phải là lỗi)

Điều này có nghĩa rằng "tập tính" được mô tả trong báo cáo lỗi là có "ác ý" Điều có vẻ như là lỗi đối với bạn (và có thể có nhiều người đồng ý với bạn), nhưng chương trình đã làm việc theo đúng cách mà nó được thiết kế để làm như vậy, và các nhà phát triển chương trình không muốn thay đổi nó

NotGnome (không phải là Gnome)

Báo cáo lỗi đúng, nhưng nó không thể giải quyết được bằng cách thay đổi GIMP Các lỗi trong các hệ điều hành, các chương trình quản lý cửa sổ, hoặc các thư viện mà GIMP phụ thuộc vào thường là sẽ được đưa ra cho giải pháp này Đôi khi bước đi đúng đắn tiếp theo

là ghi nhận một báo cáo lỗi cho một phần mềm khác nào đó thực sự có lỗi

Incomplete (không hoàn chỉnh)

Báo cáo lỗi không chứa đầy đủ thông tin cần thiết để có thể làm gì đó với lỗi, và người gửi báo cáo đã không phản hồi các yêu cầu cần có thêm thông tin Thông thường một báo cáo lỗi sẽ được mở ra trong một vài tháng trước khi nó được xử lý theo cách này

Invalid (không đúng)

Có một điều gì đó sai trong khi điền phiếu báo cáo lỗi: thông thường nhất là người ghi nhận vô tình nộp một báo cáo lỗi nhiều lần (Điều này có thể dễ dàng xảy ra với một số trình duyệt web) Các báo cáo lỗi nào mô tả không đúng đắn chương trình hoạt động như thế nào cũng có thể được coi là Invalid (không đúng)

Ghi chú

Nếu bạn không đồng ý với giải pháp cho một báo cáo lỗi, bạn có quyền tự do để thêm nhận xét về nó Bất kỳ nhận xét nào thêm vào bất kỳ báo cáo lỗi nào, đã được xử lý hay chưa, đều khiến cho một thư điện tử được gửi vào danh sách mail GIMP Bugzilla, do vậy ít nhất nó cũng được các quản trị viên thấy Tất nhiên điều này không có nghĩa là họ nhất thiết phải trả lời nó

Trang 39

Chương 2 Các Khái niệm về Gimp

Mục lục

1 Khởi động GIMP lần đầu tiên 40

2 Chạy GIMP 43 Các đối số Dòng lệnh 44

3 Sử dụng GIMP căn bản 45 3.1 Giới thiệu 46 3.2 Hộp Công cụ Chính 48 3.3 Cửa sổ Ảnh 49 3.4 Các Hộp thoại và Gắn 52 3.5 Các Khái niệm căn bản về GIMP 58

4 Làm việc với các Ảnh 61 4.1 Các loại Ảnh 61 4.2 QuickMask 63 4.3 Các Lớp 64 4.4 Phép chọn 68 4.5 Quay ngược lệnh 70 4.6 Ô lưới và Đường chỉ dẫn 73 4.7 Đường dẫn 76 4.8 Các cọ vẽ 80 4.9 Gradient 89 4.10 Kiểu 91 4.11 Bảng màu 94 4.12 Chữ và Phông chữ 97 4.13 Đánh một phép chọn hoặc đường dẫn 98

Trang 40

5 Plugin 98 5.1 Giới thiệu 98 5.2 Sử dụng Plugin 99 5.3 Cài đặt các Plugin mới 100 5.4 Viết các Plugin 102

6 Sử dụng các Tập lệnh Script-Fu 102 Script-Fu? 102 Cài đặt các Script-Fu 102 Những điều Nên và Không nên 103 Các loại Script-Fu khác nhau 103 Các tập lệnh độc lập 103 Các Tập lệnh phụ thuộc vào ảnh 105

1 Khởi động GIMP lần đầu tiên

Lần đầu tiên bạn khởi động GIMP, nó sẽ chạy qua một chuỗi các bước để thiết lập các tuỳ chọn

và các thư mục Quá trình này cũng tạo ra một thư mục con trong thư mục gốc (home directory) của bạn có tên là .gimp-2.0 Tất cả các thông tin mà những tuỳ chọn mà bạn thực hiện đều nằm trong thư mục đó Nếu sau này bạn xoá đi thư mục đó, hoặc giả dụ thay đổi nó thành một tên khác, ví dụ như.gimp-2.0.bak, nếu vậy lần sau bạn khởi động GIMP, nó sẽ lại chạy qua toàn bộ trình tự thiết lập trở lại, và tạo ra một thư mục .gimp-2.0 mới Bạn có thể khai thác điều này bằng cách tìm hiểu tác động của các tuỳ chọn khác nhau và một ảnh hưởng đến cài đặt hiện hành của bạn, hoặc nếu bạn đã "quậy" hỏng mọi thứ một cách thật tệ hại đến nỗi cài đặt hiện tại của bạn cần phải "tiêu huỷ" (nuked)

Đối với phần lớn các mục, việc thiết lập GIMP rất dễ dàng, và bạn có thể chỉ cần chấp nhận các thiết lập mặc định tại mỗi bước, và có thể điều chỉnh các thiết lập sau này bằng hộp thoại

Preferences Vấn đề chính mà bạn cần phải cân nhắc một chút lúc bắt đầu này là xác định lượng

bộ nhớ cần thiết cho bộ nhớ xếp kề của GIMP

Dưới đây là giới thiệu vắn tắt về quá trình thiết lập

Chào mừng

Ngày đăng: 03/12/2015, 05:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4.11. Bảng màu - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
4.11. Bảng màu (Trang 94)
Hình 3.1.  Bốn đường dẫn được minh họa lúc đầu, mỗi cái được đánh theo một kiểu khác  nhau - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
Hình 3.1. Bốn đường dẫn được minh họa lúc đầu, mỗi cái được đánh theo một kiểu khác nhau (Trang 113)
Hình 3.3.  Hộp thoại File Open. - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
Hình 3.3. Hộp thoại File Open (Trang 120)
Hình 3.5. Ví dụ về hộp thoại Export - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
Hình 3.5. Ví dụ về hộp thoại Export (Trang 123)
Menu này cho bạn tùy chọn "ép" hình dạng của hình chữ nhật theo ba cách. - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
enu này cho bạn tùy chọn "ép" hình dạng của hình chữ nhật theo ba cách (Trang 170)
Menu này cho bạn tùy chọn "ép" hình dạng của hình ellipse theo ba cách. - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
enu này cho bạn tùy chọn "ép" hình dạng của hình ellipse theo ba cách (Trang 173)
Bảng 4.1.  Minh họa các tác dụng của ba tùy chọn lặp gradient, sử dụng gradient - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
Bảng 4.1. Minh họa các tác dụng của ba tùy chọn lặp gradient, sử dụng gradient (Trang 188)
Hình học (geometry) của kiểu ngòi bút có thể điều chỉnh được bằng cách giữ nút 1 của  chuột trên hình vuông nhỏ tại tâm của biểu tượng Shape và di chuyển quanh nó - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
Hình h ọc (geometry) của kiểu ngòi bút có thể điều chỉnh được bằng cách giữ nút 1 của chuột trên hình vuông nhỏ tại tâm của biểu tượng Shape và di chuyển quanh nó (Trang 201)
Bảng màu được nhập sẽ được thâm vào hộp thoại Palettes, và tự động được lưu trong thư mục - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
Bảng m àu được nhập sẽ được thâm vào hộp thoại Palettes, và tự động được lưu trong thư mục (Trang 313)
  Hexagons: (hexa = 6) hình sáu cạnh - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
exagons (hexa = 6) hình sáu cạnh (Trang 507)
Bảng 7.1.  Hai ví dụ của các kiểu nhiễu xạ (diffraction patterns). - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
Bảng 7.1. Hai ví dụ của các kiểu nhiễu xạ (diffraction patterns) (Trang 548)
Bảng 7.2.  Ba ví dụ ít nhiều ngẫu nhiên của các phép render qbist. - Chương trình xử lý hình ảnh GNU
Bảng 7.2. Ba ví dụ ít nhiều ngẫu nhiên của các phép render qbist (Trang 555)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w