1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hệ thống cán cân thanh toán việt nam

32 257 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 404,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích hệ thống cán cân thanh toán việt nam

Trang 1

I Lời mở đầu

Hình 1 – hệ thống cán cân thanh toán

II Nội dung:

1 Cán cân vãng lai

Thành phần cán cân vãng lai

 Cán cân vãng lai (current balance) gồm:

 Cán cân thương mại (trade balance - TB)

- Xuất khẩu hàng hóa (export - X)

- Nhập khẩu hàng hóa (import - M)

 Cán cân dịch vụ (services - Se)

- Thu từ xuất khẩu dịch vụ

- Chi cho nhập khẩu dịch vụ

Trang 2

 Cán cân thu nhập (income - Ic)

1.1 Cán cân thương mại

a Tổng quan cán thương mại trong 10 năm qua

Cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam luôn có xu hướng thâm hụt (nhập khẩucao hơn xuất khẩu), con số thâm hụt ngày một tăng lên Nếu như vào năm 2000, chúng ta

có thăng dư là 376 triệu USD thì đến năm 2010 lại thâm hụt 7097 triệu USD Nhìn vào xuhướng đó có thể thấy thâm hụt cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam ngày càng giatăng

Nhìn lại giai đoạn 2001 - 2010, có thể thấy mức nhập siêu đã tăng quá nhanh, vượt xa sovới định hướng kế hoạch 2001 - 2010 của Chính phủ, hàng loạt giải pháp nhằm mang lạihiệu quả trong ngắn hạn đã được ban hành như hạn ngạch thuế quan, áp dụng cấp phépnhập khẩu tự động, tăng thuế nhập khẩu nhưng chuyển biến chưa rõ rệt

Trang 3

Hình 2 – Cán cân thương mại trong 10 năm trở lại đây

Theo đánh giá tổng thể, trong 10 năm trở lại đây cán cân vãng lai của nước ta luôn

ở trong tình trạng thâm hụt Đáng chú ý trong hai năm 2000 và 2001, cán cân vãng lai củaViệt Nam thặng dư sau nhiều năm trong tình trạng thâmhụt kể từ khi Việt Nam mở cửanền kinh tế Mặc dù mức thặng dư còn khiêm tốn ($1107 triệu - 2000 và $682 triệu -2001)nhưng cho thấy nỗ lực cố gắng của Việt Nam trong chính sách chú trọng xuất khẩu vàkiềm chế nhập khẩu Nhưng ngay sau đó từ 2002-2010 cán cân vãng lai của Việt nam liêntục bị thâm hụt và đạt mức kỷ lục vào năm 2008 với mức thâm hụt lên tới $10787 triệutương đương tăng 52% so với năm 2007 Mặc dù vậy nhìn chung xu hướng ngày cànggiảm thâm hụt cán cân vãng lai Đây là một dấu hiệu đáng mừng cho Việt Nam

Đánh giá riêng cán cân bộ phận, trạng thái cán cân vãng lai của Việt Nam chịu tácđộng mạnh từ trạng thái cán cân thương mại, do các giao dịch về hàng hóa chiếm tỷ trọnglớn trong tổng thu và chi của tài khoản vãng lai (chiếm 70-80%)

Trang 4

Hình 3 - Cán cân thương mại trong 10 năm (2000-2010)

Hơn 10 năm trở lại đây Việt nam đạt được những kết quả tích cực trong phát triểnkinh tế, giá trị xuất khẩu tăng lên không ngừng nghỉ, với định hướng phát triển nền kinh tếxuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu Việt nam tăng liên tục với mức trung bình khoảng 20%/năm, riêng năm 2009 do tác động của khủng hoảng kinh tế tỷ lệ xuất khẩu giảm xuốngkhoảng 10%, dù vậy tính chung cả giai đoạn (2000-2010) xuất khẩu vẫn tăng trung bìnhkhoảng 17% Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là các sản phẩm nôngnghiệp, hàng may mặc, dày da, dệt, dầu thô…

Trang 5

Hình 4 – Xuất khẩu Việt Nam trong 10 năm (2000-2010)

Mặc dù kim ngạch xuất khẩu có mức tăng trưởng khá nhanh nhưng không bì kịpvới tốc độ tăng trưởng nhập khẩu, rào cản thuế quan dần được xóa bỏ Hàng hóa nướcngoài tràn vào Việt Nam chủ yếu là máy móc thiết bị, hàng công nghệ cao… tốc độ tăngnhập khẩu trung bình trên 20% trong 10 năm qua Riêng chỉ có năm 2009 tỷ lệ nhập khẩugiảm xuống -13% do chính sách kích cầu nội địa trong bối cảnh nền kinh tế khủng hoảng

Tỷ lệ nhập siêu trong giai đoạn này gần bằng 70% GDP Chính hoàn cảnh này đã đẩy cáncân thương mại Việt Nam vào tình thế ngày càng thâm hụt lên tới 13,8% GDP năm 2008

b Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nhập siêu như hiện nay:

Báo cáo của Bộ Công Thương cho thấy, năm 2010 xuất khẩu ước đạt 72,1 tỷ USD,tăng 26.4% so với năm 2009 Tuy nhiên, mức tăng trưởng này vẫn không “bù” được tốc

độ tăng của nhập khẩu Ước cả năm 2010 Việt Nam nhập siêu 79,3 tỷ USD; Tuy mứcnhập siêu đã chuyển biến theo hướng giảm dần nhưng kim ngạch và tỷ lệ nhập siêu củagiai đoạn 2006 - 2010 đều cao hơn giai đoạn 2001 - 2005 Chính vì vậy mức chênh lệchnày khó có thể giảm nhanh trong vòng 5 năm tới

Trang 6

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nhập siêu cao.

Thứ nhất là do cơ cấu kinh tế Thông thường, khi chọn ngành trọng điểm, phải xemxét đến hai yếu tố là chỉ số lan tỏa nội địa và chỉ số kích thích nhập khẩu Nhưng ở nước

ta, một số ngành như công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng vốn đầu tư khá lớn nhưng chỉ

số lan tỏa nội địa thấp, trong khi chỉ số kích thích nhập khẩu lại cao bất thường

Hiệu quả sản xuất kinh doanh sụt giảm khá mạnh là nguyên nhân thứ hai dẫn đếnnhập siêu tăng Theo các bảng cân đối liên ngành của Tổng cục Thống kê, chỉ tiêu năngsuất đóng góp vào tăng trưởng khoảng 22 - 25%, nhưng trong ba năm 2007 - 2010, đónggóp của chỉ tiêu này vào GDP chỉ khoảng 7 - 14%

Nguyên nhân thứ ba không kém phần quan trọng là chính sách bảo hộ Trong thực

tế, chính sách này của Việt Nam còn nhiều cảm tính Những ngành có thể cạnh tranh thì hệ

số bảo hộ hữu hiệu - bảo hộ sản xuất ngày càng giảm, thậm chí có những nhóm còn có tỷ

lệ âm Ngược lại, với những ngành không thể cạnh tranh thì hệ số bảo hộ hữu hiệu cho sảnxuất lại ngày càng tăng

Phân tích của giới chuyên gia cho thấy, những bất ổn của giai đoạn vừa qua khiến việc cânbằng cán cân thương mại không thực hiện được vẫn sẽ tiếp tục tồn tại Không những thế,trong thời gian tới còn xuất hiện thêm nhiều tác nhân mới duy trì đà nhập siêu Nước tađang hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đã có không ít chính sách, chiến lược nhằm kíchthích các ngành kinh tế mũi nhọn Nhưng dường như các chính sách này chưa phát huyđược tác dụng trước làn sóng hàng Trung Quốc đa dạng và giá rẻ Chưa kể đến hàng ràothương mại (thuế và phi thuế) do các nước dựng lên thì hàng hóa của Việt Nam cũng đã ởthế bất lợi do hạn chế về giá cả, mẫu mã, chủng loại… Việt Nam vẫn xuất khẩu chủ yếucác mặt hàng thô như cao su, than, dầu thô… và nhập khẩu từ Trung Quốc máy móc cơkhí với tỷ trọng lớn, trên 90% giá trị nhập khẩu Thêm vào đó, việc các nhà thầu TrungQuốc thắng thầu hàng loạt các dự án lớn ở Việt Nam đã tác động không nhỏ đến tỷ lệ nhập

Trang 7

siêu từ Trung Quốc, do các nhà thầu này mang vào Việt Nam hầu như toàn bộ phươngtiện, thiết bị và vật tư.

c Cán cân thương mại Việt Nam và quốc tế các năm gần đây (2007-2008)

Đặc biệt hai năm 2007 – 2008, cán cân thương mại của Việt Nam bị thâm hụt trầmtrọng (10.360 triệu USD năm 2007 và 12.782 triệu USD năm 2008, tương ứng với mứctăng 115% và 72% so với năm trước), mức thâm hụt này vượt trội hơn hẳn so với giaiđoạn từ 2006 trở trước So với năm 2002, thâm hụt năm 2007 gấp 10 lần và năm 2008 gấp

12 lần Cán cân thương mại thâm hụt tăng lên mặc dù giá trị ngạch xuất khẩu vẫn tăngnhanh, mức tăng trung bình khoảng 18,7% (2000 – 2010) Cùng lúc đó, Campuchia vàThái Lan cũng đang phải chịu tình trạng tương tự Giai đoạn 2000 – 2010, cán cân thươngmại của Campuchia luôn bị thâm hụt Đặc biệt, mức thâm hụt này đạt mốc kỷ lục khoảng1.800,4 triệu USD (gấp 3 lần so với năm 2002) Giá trị xuất khẩu năm 2008 tăng 15,2% sovới 2007 nhưng giá trị nhập khẩu tăng đến 19,8% Đối với Thái Lan, nhìn một cách tổngthể, Thái Lan luôn có xu hướng ngược lại là thặng dư thương mại, nhưng vẫn bị thâm hụttrong 2008 (khoảng 371 triệu USD), thấp hơn so với năm 2005 (8.254 triệu USD) Nếutính trên GPD thì năm 2008, thâm hụt thương mại của Việt Nam khoảng 14%, Campuchiakhoảng 17,4% và Thái Lan khoảng 0,1% Như vậy, tình hình cán cân thương mại của TháiLan tốt hơn rất nhiều so với Việt Nam và Campuchia

Vì cán cân thương mại là thành phần quan trọng cấu thành nên và phản ánh kịp thờilên cán cân vãng lai – một trong những bộ phận chính của cán cân thanh toán - nên thặng

dư hay thâm hụt thương mại có ảnh hưởng rất nhiều đến cán cân thanh toán của quốc gia,

và từ đó ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối và cung cầu ngoại tệ trên thị trường Tình trạngnhập siêu kéo dài gây một sức ép rất lớn lên dự trữ ngoại hối (kết hợp với ngoại tệ đi vào

từ các nguồn đầu tư gián tiếp, FDI, kiều hối…) để đảm bảo cho nhu cầu nhập khẩu

Nếu như năm 2009, cán cân thanh toán tổng thể thâm hụt 8,8 tỷ USD, thì năm 2010

đã có sự cải thiện đáng kể Phần thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai năm 2010 trên thực tế

Trang 8

có thể được bù đắp hoàn toàn bởi thặng dư trong cán cân tài khoản vốn Tuy nhiên, dự báocán cân thanh toán năm 2010 vẫn thâm hụt khoảng trên 2 tỷ USD do phần “lỗi và sai sót”trong cán cân tài khoản vốn gây ra Thực tế, tình trạng căng thẳng trên thị trường ngoại hối

và việc giá vàng liên tục leo thang khiến doanh nghiệp và người dân găm giữ đô la vàvàng Như vậy, việc bố trí lại danh mục đầu tư của doanh nghiệp và người dân sang cácloại tài sản bằng ngoại tệ và vàng sẽ tiếp tục gây ra vấn đề “lỗi và sai sót” và thâm hụttrong cán cân thanh toán trong năm 2010 Bên cạnh đó, mặc dù cán cân thanh toán đượccải thiện trong năm 2010, lượng dự trữ ngoại hối vẫn không tăng một mặt do Ngân hàngnhà nước can thiệp vào thị trường để giữ ổn định tỷ giá, mặt khác có một lượng ngoại tệlớn đang lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng

Năm 2010, xuất nhập khẩu khẩu của Việt Nam có nhịp độ tăng trưởng đáng khích

lệ trong bối cảnh kinh tế của những nước vốn là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Namnhư Mỹ, Nhật Bản, EU… vẫn phục hồi chậm chạp Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010ước đạt khoảng 70,8 tỷ USD, tăng 24,9% so với năm 2009 Xuất khẩu tăng là do sự đónggóp lớn của những mặt hàng công nghiệp chế biến cộng với sự phục hồi của kinh tế thếgiới làm cho xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản được lợi về giá Vấn đề tồn tại lớn nhấtcủa xuất khẩu đã bộc lộ trong nhiều năm qua là việc vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặthàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản, dệt may, da giầy… Hơn nữa, các mặt hàngcông nghiệp chế biến vẫn mang tính chất gia công Như vậy, xuất khẩu chủ yếu vẫn dựavào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa xây dựng được các ngành công nghiệp cómối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn

Dự báo xuất nhập khẩu năm 2011: Trên cơ sở ước thực hiện năm 2010 và phân tíchcác yếu tố tác động đến thương mại quốc tế trong năm tới: Năm 2011, nền kinh tế thế giớitiếp tục phục hồi; vốn đầu tư nước ngoài khả quan hơn; các chính sách phát triển thươngmại, dịch vụ và thị trường trong nước thuận lợi, kim ngạch xuất, nhập khẩu năm tới sẽcùng tăng trên 10% Cụ thể, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2011 dự kiến đạt khoảng 78 tỷUSD, tăng hơn 10% so với năm 2010, trong đó xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài

Trang 9

(không kể dầu thô) đạt khoảng 38 tỷ USD, chiếm khoảng 48,7% tổng kim ngạch xuất khẩu

và tăng 13 % so với năm 2010 Tổng kim ngạch nhập khẩu năm tới dự kiến khoảng 92 tỷUSD, tăng hơn 11% so với năm 2010, trong đó nhập khẩu của các doanh nghiệp đầu tưtrực tiếp nước ngoài đạt khoảng 41,5 tỷ USD, chiếm 45% tổng kim ngạch nhập khẩu vàtăng 15,3% so với năm 2010

Trang 10

d Nguyên nhân dẫn đến thực trạng thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam

Trang 11

 Tình hình xuất nhậu khẩu của Asean

Theo số liệu thống kê, kim ngạch nội khối ASEAN tăng gấp 3 lần trong thập kỷ từ1996-2006 , đạt hơn 300 tỷ USD, chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch thương mại 1,44nghìn tỷ USD của ASEAN Trong đó quyết định ưu tiên đẩy nhanh hội nhập trong 12ngành, bao gồm nông nghiệp, cao su, sản phẩm gỗ, hàng không, ôtô, điện tử, ngư nghiệp,hậu cần, dệt may, du lịch, điện tử và y tế Theo số liệu mới thống kê, 9/12 ngành hàng này

đã chiếm hơn 50% tổng lượng thương mại hàng hoá nội khối

Tới năm 2008 khi khủng hoảng diễn ra Trong khi các nước đang lội trong vũnglầy khủng hoảng thì Asean với kinh nghiệm từng trải qua cuộc khủng hoảng năm 2007 đãphục hồi lại nhanh chóng Năm 2009, tăng trưởng kinh tế của ASEAN giảm 1,6%, nhưngbước sang năm 2010, tăng trưởng kinh tế khu vực này đã tăng trở lại với mức 7,4% Việcđối phó thành công với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã khiến các nước ASEAN trànđầy lòng tin trong việc đối phó với tác động đến từ khủng hoảng nợ công hiện nay của cácnước phát triển

Các nước thành viên ASEAN đã đạt được tiến bộ nổi bật về xóa bỏ hàng rào đầu tưthương mại Tính đến cuối năm 2010, giữa các nước Brunây, Inđônêxia, Malaixia,Philíppin, Singapo và Thái Lan đã thực hiện cắt giảm 99,11% thuế quan, giữa các nướcCam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam đã cắt giảm thuế quan từ 98,86% xuống dưới5% Ngoài ra, việc ASEAN và các nước đối tác gồm Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc vàNewZeland thực thi hiệp định thương mại tự do, việc cắt giảm thuế quan và mở rộng thâmnhập thị trường cũng sẽ tạo thêm nguồn động lực tăng trưởng kinh tế nhiều hơn cho cácnước thành viên ASEAN

Thương mại hàng hóa ASEAN đã tăng 32,9%, kim ngạch thương mại tăng đạt trên2.000 tỉ USD Thu hút vốn đầu tư trực tiếp của ASEAN cũng tăng rõ rệt Năm 2010, vốnđầu tư vào ASEAN đạt 75,8 tỉ USD, tăng gấp đôi so với năm 2009 Vốn đầu tư trực tiếpgiữa các nước thành viên ASEAN trong năm 2010 đạt mức tăng 131,8% Vốn đầu tư trực

Trang 12

tiếp vào ngành dịch vụ tiếp tục chiếm vị trí chủ đạo, đạt 49,2 tỉ USD, chiếm 65,7% vốnđầu tư trực tiếp vào cả khu vực ASEAN

1.2 Cán cân dịch vụ, thu nhập

Về cán cân dịch vụ và thu nhập cũng chung tình trạng với cán cân thương mại, luôntrong tình trạng thâm hụt, tuy nhiên tỷ lệ cán cân thu nhập và dịch vụ trong tổng cán cânthanh toán vãng lai nhỏ nên ảnh hưởng của nó là không đáng kể Trong 10 năm trở lại đâymức độ thâm hụt cán cân này càng gia tăng, đặc biệt trong 2 năm 2007 và 2008 tương ứngmức thâm hụt tăng 115% và 72% so với năm trước Theo biểu đồ, xu hướng chung của haicán cân này là mức độ thâm hụt ngày càng tăng

Từ năm 2000 tới 2007 xuất khẩu dịch vụ của việt nam còn thấp, năm 2007, Việt Nam gianhập WTO, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của việt nam tăng lên đồng thời với sự tăng lênmạnh mẽ của kim ngạch nhập khẩu dịch vụ Các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu cuảdịch vụ là vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng… Trong năm 2001 tới 2005trung bình tăng 15,7%/năm, chiếm tỷ trọng 10,8% GDP của 5 năm này Tốc độ tăng xuấtkhẩu dịch vụ luôn thấp hơn xuất khẩu hàng hóa

Trang 13

Hình 3- cán cân dịch vụ và thu nhập

1.3 Cán cân chuyển giao vốn một chiều

Cán cân cuối cùng ảnh hưởng mạnh tới cán cân vãng lai sau cán cân thương mại, đó

là cán cân chuyển giao vốn một chiều, là các khoản viện trợ không hoàn lại, biếu tặng vàcác khoản chuyển giao khác bằng tiền Từ năm 2000 trở lại đây, cán cân này luôn ở trongtình trạng thặng dư Hằng năm Việt nam nhận được một khoản viện trợ từ nước ngoàitương đối lớn, góp phần làm giảm thâm hụt cán cân vãng lai Mặc dù có biến động ngượcchiều và năm 2009 cán cân này giảm xuống 12% nhưng nhìn chung xu hướng là tăng,trung bình khoảng 20%/năm

Hình 4 - cán cân chuyển giao một chiều

Một thành phần quan trọng trong chuyển giao vốn một chiều là nguồn viện trợkhông hoàn lại ODA Vốn ODA cam kết tài trợ VN năm sau luôn cao hơn năm trước chothấy sự ủng hộ của cộng đồng thế giới đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của VNsau khi đổi mới Tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân còn khá thấp trung bình chỉ bằng 60% vốn camkết và bằng khoảng 80% vốn ký kết Tỷ lệ vốn ký kết thấp hơn vốn cam kết cũng cho thấy

Trang 14

VN cần phải nỗ lực hơn nữa để nhận được sự tin tưởng của các nhà tài trợ vào các

dự án phát triển của VN Tỷ lệ giải ngân thấp còn thể hiện sự khả năng hấp thụ yếu kém

của thể chế đối với sự quan tâm của cộng đồng thế giới.Năm 2008 ODA của Việt nam đạt

kỷ lục 5426 tỷ USD

Mặc dù tốc độ tăng của nguồn vốn ODA tương đối lớn nhưng cũng không đủ để bù đắp

thâm hụt trong cán cân thương mại, dịch vụ và thu nhập

-Hình – Bảng thống kê thay đổi của các cán cân bộ phận từ 2000-2010

Như vậy cán cân vãng lai của Việt Nam trong 10 năm trở lại đây luôn trong tình

trạng thâm hụt chịu tác động chủ yếu từ cán cân thương mại, trong hai năm 2009-2010

tình trạng thâm hụt đã có xu hướng giảm và hi vọng những năm tiếp theo Việt Nam sẽ có

những chính sách làm tăng tỷ lệ xuất khẩu và giảm tỷ lệ nhập khẩu góp phần làm cho cán

cân vãng lai được cải thiện

Trang 15

Hình 8-Các bộ phận chi tiết trong cán cân vãng lai

Nguyên nhân thâm hụt cán cân vãng lai

Ta có thể thấy từ năm 2002, ở Việt Nam đã xuất hiện thâm hụt thương mại gia tăngmang tính chất hệ thống và càng ngày mức thâm hụt lại càng bị đào sâu thêm Thâm hụtthương mại mang tính chất cơ cấu là gánh nặng lớn đối với Cán cân thanh toán (BoP) quốcgia, và kết quả là cán cân vãng lai đã rơi vào tình trạng thâm hụt trong những năm gần đây.Mặc dù tình hình BoP của Việt Nam không bị coi là đáng báo động, nhưng nó cũng yêucầu cần phân tích sâu và có những biện pháp tích cực nhằm loại bỏ bất cập này

Trong những năm đầu thiên niên kỉ, các dòng vốn nước ngoài đa số tập trung vào cácngành sản xuất phục vụ thị trường trong nước mà không tạo ra tiềm năng đến xuất khẩu,không những thế nó còn cần phải nhập khẩu thiết bị, công nghệ… để đầu tư Điều này đãđẩy cán cân tài khoản vãng lai ngày một xấu đi và thâm hụt ngày một tăng dần những năm

từ 2002 trở về sau Tuy nhiên trong khoảng 5 năm trở lại đây, dòng vốn đầu tư nước ngoài

Trang 16

đã chuyển hướng tập trung nhiều hơn vào xây dựng, du lịch, thị trường bất động sản mặc

dù làm tăng thêm nhu cầu nhập khẩu vật liệu xây dựng và máy móc công nghiệp nặngđồng thời chỉ tạo ra chút ít lợi thế cho tăng xuất khẩu Tuy nhiên điều này sẽ gián tiếp giatăng khả năng xuất khẩu trong tương lai khi mà hệ thống hạ tầng đã được hoàn thiện Bêncạnh đó, với nguồn nhân công giá rẻ và trình độ ngày càng được nâng cao, Việt Nam đang

là điểm đến của rất nhiều tập đoàn công nghệ cao trên thế giới trong xu hướng giảm thiểuchi phí của mình Giai đoạn đầu các dự án của các tập đoàn này sẽ tạo áp lực lên tài khoảnvãng lai (VD: nhà máy sản xuất chip của Intel với vốn đầu tư ban đầu lên tới 1 tỷ USD).Tuy nhiên sau đó các dự án này khi đi vào hoạt động sẽ mang lại một khoản thặng dư xuấtkhẩu rất lớn

Một lý do khác làm cho khoảng cách xuất nhập khẩu gia tăng chóng mặt đó là việcgia nhập WTO năm 2006 Việc giảm thuế nhập khẩu theo chính sách của WTO bên cạnhviệc các công ty trong nước vẫn còn non yếu và tâm lý sính ngoại của người dân Việt đãtạo điều kiện thuận lợi cho các công ty nước ngoài tràn vào thống trị thị trường trong nướclàm cho thâm hụt tài khoản vãng lai từ -164 triệu USD năm 2006 tăng vọt lên -7092 triệuUSD năm 2007 Đến năm 2008 khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, sự mất lòng tin vào tiền tệ

và chứng khoán đã làm gia tăng đột biến lượng vàng nhập khẩu (một loại tài sản an toàn).Bên cạnh đó, khủng hoảng toàn cầu đã làm sụt giảm nghiêm trọng nhu cầu đối với hàngxuất khẩu của Việt Nam làm cho sản lượng xuất khẩu giảm mạnh từ 62685 triệu USD năm

2008 xuống còn 57096 triệu USD năm 2009

Ngày đăng: 02/12/2015, 15:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 – hệ thống cán cân thanh toán - Phân tích hệ thống cán cân thanh toán việt nam
Hình 1 – hệ thống cán cân thanh toán (Trang 1)
Hình 2 – Cán cân thương mại trong 10 năm trở lại đây - Phân tích hệ thống cán cân thanh toán việt nam
Hình 2 – Cán cân thương mại trong 10 năm trở lại đây (Trang 3)
Hình 3 - Cán cân thương mại trong 10 năm (2000-2010) - Phân tích hệ thống cán cân thanh toán việt nam
Hình 3 Cán cân thương mại trong 10 năm (2000-2010) (Trang 4)
Hình 4 – Xuất khẩu Việt Nam trong 10 năm (2000-2010) - Phân tích hệ thống cán cân thanh toán việt nam
Hình 4 – Xuất khẩu Việt Nam trong 10 năm (2000-2010) (Trang 5)
Hình 3- cán cân dịch vụ và thu nhập - Phân tích hệ thống cán cân thanh toán việt nam
Hình 3 cán cân dịch vụ và thu nhập (Trang 13)
Hình 8-Các bộ phận chi tiết trong cán cân vãng lai - Phân tích hệ thống cán cân thanh toán việt nam
Hình 8 Các bộ phận chi tiết trong cán cân vãng lai (Trang 15)
Hình 5- Cán cân vốn Việt Nam qua các năm - Phân tích hệ thống cán cân thanh toán việt nam
Hình 5 Cán cân vốn Việt Nam qua các năm (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w